1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu văn học triều Nguyễn (Tập 2): Phần 1

123 4 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Văn Học Triều Nguyễn (Tập 2): Phần 1
Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 28,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 1 của cuốn sách Văn học triều Nguyễn (Tập 2) cung cấp cho bạn đọc những nội dung về: văn học đại cương triều Nguyễn; đặc tính văn học đời Nguyễn; Phạm Thái - chân dung người tình; Nguyễn Du (1765-1820) - Liên Chi;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 2

DÒNG VIỆT SỐ 23

Trang 3

DÒNG VIỆT - SỐ 23

Mùa Xuân năm 2009

VAN-HOC TRIEU NGUYEN

Trang 4

VAN- HOC TRIEU NGUYEN

TAP 2

TU VUA GIA-LONG DEN 1884

DONG VIET SO 23

2009

Trang 5

LỜI TÒA SOẠN

Để thực-hiện số báo này, Dòng Việt đã

thu-thập bài vở của các vị cựu Giáo-sư,

các vị học-giả cũng như thân hữu gần

xa của Ban biên-tập

Vì hoàn-cảnh đặc biệt chúng tôi đã không thể trực-tiếp xin phép tất cả các tác-giả và nha xuất-bản liên hệ đến một số bài đăng trong đặc-san này Chúng tôi mong, với lòng yêu mến văn- hóa Việt-Nam, quý vị sẵn sàng thứ lỗi

cho Ban biên-tập

DONG VIET tôn-trọng quyển tự-do phát biểu của các tác-giả và không

chịu trách-nhiệm về những ý-kiến đã

đuọc phát biểu

Ban Biên-tập DÒNG VIỆT

Trang 6

MUC LUC

-o0o-

I.- Phan NHAN DINH.-

“Văn như Sïiếu Quát vô Tiền Hán

“ Thi dao Tung Tuy that Thinh Duong

Dong Viét

II.- Phan DAI CUONG

1 Văn học đại cương triều Nguyễn

Phạm Văn Diêu

2 Đặc tính văn học đời Nguyễn

Nguyên Thiên Thụ

IlI.- Phan TAC GIA TIEU BIEU

3 Phạm Thái: chân dung người tình

Y Phuong

4 Nguyễn Du (1765-1820) - Liên Chỉ

5 Hoàng đề Thiệu Trị và hồi chuông giác ngộ

Nguyễn Phước Chúc Thiện

6 Cao Ba Quat (1809-1854) ,- Vit Khiéu

7 Nguyễn Công Trứ (1778-1858)

8 Nguyễn Dinh Chiều : nhà thơ yêu nước

của dân tộc - Hồ Sĩ Hiệp — Hoài Anh

214-222

Trang 7

IV.- Phan GIO BON PHUONG,-

9 Bài tựa “Lịch Triều Hiến Chương

Loại Chí” - Phan Huy Chủ 225-227

10.Bạch Viên Tôn Các: thơ Nôm đầu thế kỷ 20

Nguyên Văn Sâm phiên âm 229-272

11, Người Mỹ đầu tiên đến Việt Nam

12 Thơ Nam Kỳ : kể chuyện Tây chiếm

Luc Tinh nam 1862 - V6 danh

Ng Văn Sâm giới thiệu 298-318

13 Tiền và thân phận làm người trong

văn chương Việt Nam thê kỷ 19.-

14 Danh sách độc giả ủng ho tir 1 thang 3

Trang 8

-000-PHẢN I

NHẠN ĐỊNH

Trang 10

“NHẬN ĐỊNH”

“Văn như Siêu Quát ”

“Thi dao Tung Tuy ”

“Văn như Siêu Quát, vô Tiền Hán

Thi đáo Tùng Tuy, thất Thịnh Đường”

(Duc Téng Anh Hoang Dé)

Lời nhận định của Đức Dực Tông Anh Hoàng Đế (Tự Đức 1829-

1883) về nền văn học triều Nguyễn từ 1802 đến 1883 phản ảnh chăng những biểu hiện văn chương và mỹ cảm nghệ thuật

đương thời khi Đế Nghiệp đã được tựu thành từ Gia Long đến

Tự Đúc?

7

0 ừ Thủy Tổ Nguyễn Bặt (924-979) phò tá Đinh Bộ Lĩnh

với ngọn cờ lau, qua Triệu Tổ Nguyễn Kim (1468- 1545) phục hồi đế nghiệp cho nhà Lê Trung Hưng, đến Thái Tổ Nguyễn Hoàng (1525-1613) trấn nhậm “Hoành

Sơn”, khởi nghiệp từ miền Thuận Hóa cùng tám đời Chúa, thực

hiện cuộc Nam Tiến oai hùng, mở mang bờ cõi, lập ra tân quốc

“Đàng Trong”, với một nền văn minh tiến bộ gần 3 thế kỷ, họ

Nguyễn đã thực hiện một hành trình lịch sử trong năng lực xây dựng một địa bàn lãnh thổ và phát triển dân tộc của nước Việt Nam hiện đại ngày nay

Trang 11

Tuy nhiên sau các thẩm họa phân tranh Trịnh-Nguyễn, Tây

Sơn, Nguyễn Ánh thống nhất sơn hà và xây dựng Đế Nghiệp từ

1802, bản chất của nền văn minh tiến bộ của các chúa Nguyễn

trên đây đã dân dan suy thoái, cho đến khi toàn dân tộc bị ngoại bang xây chiếm Việt Nam một nền thống trị của thực dân

đế quốc cho đến giữa thế kỷ XX! Đau thương của Đế Nghiệp

nhà Nguyễn là mối họa xâm lăng lại do chính Đồng Minh của

Gia Long thực hiện, khi triểu đình nhà Nguyễn từ Hoàng Đế

đến quân thần suốt gần nửa thế kỷ đã không có một chính sách

ngoại giao cụ thể, không thông suốt được tình hình thế giới, chỉ giữ chặt các cơ chế chính trị phong kiến của Tống Nho, nên chỉ biết thần phục Trung Hoa và nhìn toàn cầu như mối hoa “man

đi”, cần phải diệt!

Trong khi đó, Nhật Bản cũng cùng một thời gian, tiếp thu được sức mạnh của Tây Phương, sau khi các hạm đội Hoàng gia Anh,

Y Pha Nho, và cả Hoa Kỳ đến “viếng thăm” Mạc phủ từ 1805

đến 1852 Ý thức được khả năng tiến bộ đa diện từ bên ngoài, các phiên hầu Nhật Bản đều thức tỉnh về mối hiểm nguy, và nghĩa rằng nếu đối thoại với Tây Phương phải có một nền văn minh tiến bộ như Âu Mỹ! Điều đó các Chúa Nguyễn Pang

Trong đã xây dựng từng giai đoạn, gần suốt 300 năm để mở mang kỹ nghệ, quân sự, thương mãi, ngoại giao với các nước

muốn bang giao, kể cả vấn để tôn giáo;Tây Sơn cũng thực hiện

một tiến trình như vậy, nhưng không đạt được kết quả khả quan

như Nguyễn Ánh Nhưng khi Đế Nghiệp đã được tựu thành, Gia Long, Minh Mạng, rồi đến Tự Đức đã bị cơ chế Tống Nho

mê hoặc, để xây dựng những hệ thống triều đình toàn trị không

quan tâm đến ngoại giao và các nền văn minh tiến bộ toàn cầu

Tại Nhật Bản, hành trình đã hoàn toàn biến đổi khi từ 1853

đến 1856, Mạc Phủ chịu mở cửa để đón nhận sự giao thương

với Hoa Kỳ, mở đầu cho một giai đoạn lịch sử duy tân, khi các phiên hầu lật đổ Mạc Phủ và thực hiện lại khẩu hiệu “Tôn

Quân, Phản Mạc”

Minh Trị Thiên Hoàng lên cầm quyền chính thức từ đó (1868)

sau 6 thế kỷ Triểu đình bị Mạc phủ khống chế để chỉ có hư vị

¬ 2 =

Trang 12

mà thôi Chỉ trong vòng 30 năm, các sĩ phu Nhật Bản đã thoát được mạn lưới tối đen của Tống Nho phong kiến, hăng hái học

tập theo Tây Phương, canh tân xứ sở về mọi mặt, từ văn hóa,

chính trị, kinh tế đến quân sự Không có một môn học nào mà

các sĩ phu lại không cổ võ thanh niên theo học để canh tân cho

kịp đà tiến bộ của Tây Phương! Tống nho đã hoàn toàn suy thoái khi năm 1889 Nhật Bản công bố ban Hiến Pháp đều tiên

và một nền Quân Chủ Lập Hiến, mở rộng chính trị cho cả nước

cùng tham gia! Đó cũng là giai đoạn Việt Nam hoàn toàn mất

nước khi Nhật Bản đã có một nền kỹ nghệ nặng, các thành phố

lớn được xây dựng và mối bang giao quốc tế gần như là đứng hàng đầu ở Viễn Đông! Hai mươi bốn năm sau khi Minh Trị

Thiên Hoàng lên ngôi (1868-1892), Nhật Bản đã hội nhập được

cùng các trào lưu văn minh tiến bộ trên toàn thế giới, có đủ khả năng bang giao đa diện với bất cứ cường quốc quân sự, kinh tế,

chính trị nào

2

Sự thức tỉnh ấy Triều đình nhà Nguyễn hoàn toàn không thông

đạt được Không một cải cách nào được quan tâm, không một

ý kiến nào từ các bản điều trần được triểu đình nghiên cứu từ

ngoại giao, chính trị, thương mãi, giáo dục, tôn giáo đều bị bổ qua - Theo giáo sư Dương Quảng Hàm,sau khi đã lược trích

các bản điều trần về một chính sách Cải Cách Duy Tân của các

sĩ phu đương thời như Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn Trường Tộ,

Nguyễn Điều vào giai đoạn 1868 (Tự Đức thứ 19) luôn luôn

bị Triều Đình bác bỏ chỉ vì đã nghìn năm theo cơ chế chính trị Tống Nho của Trung Hoa và lại được nhà Thanh phong vương (các Chúa Nguyễn trước đây, không bao giờ chịu thụ phong,

đến Gia Long mới xin triểu cống, thụ phong, nên tự đặt chế

độ và quốc gia dưới sự chế ngự tinh thần của các triểu đình

Trung Quốc); lòng tự cao kiêu mạn, tự coi mình là văn minh

bậc nhất, nên gọi Tây Phương là “Bạch quỉ”; khả năng nghi ky

cổ truyền như một tập tục nên sợ hãi các máy móc và tư tưởng

Trang 13

ngoại bang, sinh tâm bài ngoại, chủ trương cấm đạo, cấm giao

thương, giết hại giáo sĩ; sợ hãi ngoại giao nên lần lượt chấm

dứt mối bang giao với Pháp cùng các nhân sĩ đồng minh đã tận

lực giúp Gia Long thống nhất giang sơn! Giáo dục hoàn toàn không được mở mang, chỉ có học cử nghiệp đế tiến thân vào

chế độ quan lại, quanh quấn trong nền học thuật không được khai phóng để trí tuệ được phát triển tự do trong khẩ năng sáng tạo của con người

Do đây từ 1802 đến 1883, trước khi toàn quốc đi vào nên bảo

hộ, thuộc địa, toàn trị của Pháp, văn chương triều Nguyễn

không mở được một phương hướng nào cho mỹ cảm nghệ thuật

sáng tạo như các nền văn học Lý-Trần hay Hậu Lê - Về văn

tự, không chấp nhận từ bỏ Hán tự, để chuyển chữ Hán sang một

“Văn tự quốc văn” như Nhật Bản, Đại Hàn mà phần chủ yếu

là chữ Nôm đã được hình thành và xử dụng từ các thế kỷ trước

Điều thứ tư trong “Tế Cấp Bát Điều” của Nguyễn Trường Tộ

về mẫu tự “Quốc Âm Hán Tự” này cũng bị triều đình loại bỏ,

nên mọi cải cách đều không có phương hướng nào để tiến bộ,

theo kịp với thời đại phát huy các Nguồn Năng Lực #í Tuệ trên

toàn thế giới từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 19, và Nhật Bản đang nỗ

lực cải tạo quốc gia trên một hành trình duy tân khẩn cấp từ

triều đình đến sĩ thứ dân!

3

Trong một tình hình lịch sử thế giới vận chuyển tiến bộ như thế,

để hình thành một nền văn minh khoa học - kỹ thuật trong mọi

phương hướng tự do từ mọi khả năng sáng tạo, Việt Nam vẫn

duy trì cơ chế chính trị, gia đình, xã hội theo hệ thống lãnh đạo

Tống Nho cổ truyền từ nghìn năm trước đây của Trung Hoa

khi luôn luôn chịu nhận sự thụ phong chư hầu của “Thiên triều Phong Kiến”!

Văn chương triều Nguyễn vì thế chỉ còn “qui phục” các khuôn

phép của Trung Hoa từ ngôn từ đến văn tự, nên nên giáo dục

Trang 14

không có cơ hội để mở mang, và nghệ thuật cũng bị giới hạn

trong các nguồn mỹ cẩm sáng tạo

Từ thời Lê mạt đến Tây Sơn, ngôn ngữ văn tự đã xuất hiện

sáng ngời bằng “4uốc âm” (chữ Nôm, qua nhiều tác phẩm

của Nguyễn Gia Thiểu (1741-1798) “Cung Oán Ngâm Khúc”, bản dịch “Chinh Phụ Ngâm” của Đoàn Thị Điểm, “Hoa Tiên

Truyện” của Nguyễn Huy Tự (1743-1790) và tác phẩm lừng

danh của nên văn học Việt Nam “Đoạn Trường Tân Thanh”

của Nguyễn Du Vào giai đoạn 1797-1799 trước khi Gia Long thống nhất Sơn Hà; Phạm Thái (1777-1813) với “Sơ Kính Tâm

Trang;Chiến Tụng Tây Hồ Phú (1800)

Đấnkhi Nguyễn Ánh phục quốc, mở đầu cho giai đoạn Nguyễn

Sơ, nền văn chương Triểu Nguyễn chỉ lơ thơ mấy đóa hồng xưa

như Phạm Quý Thích, Phạm Thái, Nguyễn Du, vận dụng tài năng

nghệ thaut - của bản thân để đồng hòa với các biến chuyển của

tân triều, khai thị một vài nguồn sáng tạo có giới hạn trong tương quan học thuật của triều đình! Phạm Qui Thich (1760-1825) chỉ sáng tác bằng Hán văn Thảo Đường Thi Tập, Lập Trai Văn Tập,

Phạm Thái sáng tác bằng chữ Nôm từ Tây Sơn đến Sơ Nguyễn,

và Nguyễn Du, ngoài Đoạn Trường Tân Thanh và một số tác phẩm hạn chế bằng chữ Nôm, còn lưu lại Thanh Hiên Tiền Hậu Tập (trước 1802) Nam Trung Tạp Ngâm và Bắc Hành Tạp Lục

(1802-1813) — Sáng tác của thời Nguyễn Sơ cũng bao gồm các

văn thần, võ tướng của Nguyễn Ánh sau khi đã thống nhất sơn

hà như Đặng Đức Liêm tác giả Văn Tế Phò Mã Chướng Hậu Quốc Võ Tánh và Lễ Bộ Thượng Thư Ngô Tùng Châu tử tiết ở

thành Bình Định, và Hồi Loan Khẩu Ca (1801-1802) — Tiền quân

Nguyễn Văn Thanh, cũng có bai Van Tế Trận Vong Tướng Sĩ

Sau Nguyễn Sơ đến thời triều đình nhà Nguyễn thực hiện chính sách thủ cựu “Bế quan tỏa cảng”, miệt mài với cổ học Trung

Hoa đã suy thoái mà lại luôn luôn tự đắc, kiêu mạn như nhận định về văn học bấy giờ của Hoàng Đế Tự Đức

“Văn như Siêu Quát vô Tiên Hán

“Thi đáo Tùng Tuy, thất Thịnh Đường”

Trang 15

-Nhận định ấy phải chăng đã đi quá xa những phạm trù lịch

sử của Á Châu, nhân loại, Trung Hoa và chính bản quốc Việt Nam?

Với nhà Tiền Hán@06 trước công nguyên - 25 dương lịch), Hán

Cao Tổ Lưu Bang vốn là một nông dân vô học, làm đỉnh trưởng

(cai trạm) thời nhà Tần, nhờ văn thần võ tướng như Tiêu Hà, Trương Lương, Hàn Tín, Trần Bình mà thắng được Hạng Võ; Lưu Bang lại cho đó là thắng lợi của chính bản thân nên sau đó

ra tay sát hại công thần, còn mắng Lục Giả: “Ta ngồi trên mình

ngựa, mà được thiên hạ, đâu cần đọc Thi, Thư” thậm chí nhà vua còn lột mũ các nho sinh, liệng xuống đất, rồi tiểu tiện vào

mũ! Chỉ có Trương Lương, nhân vật thổi địch cho Lưu Bang

thắng Hạng Võ trên Ô giang là thoát chết, vì đã bỏ hết danh

lợi mà rong chơi sông núi như Phạm Lãi thời Xuân Thu Lưu

Bang còn tiếp tục cấm Khổng giáo, không bỏ lệnh đốt sách của

Tân Thủy Hoàng, chỉ mê bói toán đồng bóng, tìm phép trường

sinh bất tử! Loạn Lữ Hậu tiếp theo, kéo dài đến thời Văn Đế,

Cảnh Đế (179 trước công nguyên đến 139 trước CN) mới dứt Mãi đến thời Võ Đế (140-87 TCN) mới chấn chỉnh được triều cương thì phát sinh hiện tượng Vương Mãng biến pháp, aư một cuộc cách mạng xã hội, chỉ được 15 năm thì Lưu Tú khởi binh đánh bại Vương Mãng và lập nên nhà Hậu Hán! Trong lúc đó Cao Bá Quát là một thiên tài văn học, đi thi cử nhân vốn

đổ thứ nhì, lại bị Bộ duyệt quyển văn truất xuống hạng chót

theo lệnh của quần thần đình nghị, chỉ làm được giáo thọ ở

Quế Oai (Sơn Tây) đến 1854 theo Lê Duy Cự khởi binh chống lại triều đình, thua trận bị án tử hình năm ấy Thời Tiền Hán

có ai anh dũng và tài hoa như vậy đâu: “Tươi nét mặt thư sinh

lô lộ, bưng mắt trần toan đạp cửa phù đô; nửa buông gan du

tử nhơn nhơn, giương tay tạo rắp xong cơn khí số!” (Tài Tử Đa

Cùng Phú - Cao Bá Quat) Chua kể họ Cao khi bị mang cùm,

xích sắt còn coi thường Nghiệp Đế như gông cùm xiểng xích trấn áp con người:

“Một chiếc cùm lim chân có Đế

Ba vòng xích sắt bước thì Vương!”

2 =

Trang 16

So sánh Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương qua thi văn thời Thịnh Đường lại còn cao ngạo hơn, khi thời Thịnh Đường được

xem như thời đại thịnh trị văn chương, nghệ thuật và đạo lý tuyệt vời, không những nhất Trung Hoa mà còn sáng ngời khắp thế giới khi Châu Âu còn ở trong thời Trung Cổ lạc hậu!

(Marcel Granet Văn minh Trung Quéc 1948 Will Durant — Van

minh, van hoc Trung Quéc 1950)

Đến thời kỳ quân Pháp đã tiến vào Việt Nam, khởi binh xâm

lang Lục Tỉnh, tiến đánh Thăng Long, trấn áp cả kinh đô, “zhế

mà những người giữ các trách nhiệm chính trị nước mình bàn

đến quốc sự thì phi Nghiêu Thuấn Thương chu, việc mấy nghìn

năm trước cứ đem làm gương cho thời hiện tại, rồi cứ nghễu nghện tự xưng mình hơn người, cho thiên hạ là dã man Thành

ra người không biết thì cứ một niềm tự đắc, người biết phải làm

câm làm điếc, không thở ra với ai được, phải giả khoanh tay mà

chịu” Trần Trọng Kim - Việt Nam Sử Lược — Tập II trang 239)

Suốt thời kỳ này, đã xẩy ra ba vụ án kết tội công thần:

1/ Hàng đầu công thần Nguyễn Văn Thành phải tự vẫn vì con

trai Nguyễn Văn Thuyên làm một biểu thơ nổi loạn ở Thanh

Hóa vào thăm đất kinh sư có chữ phạm húy!

2/ Đặng Trần Thường: tội xử giảo

3/ Lê Văn Duyệt và Lê Chất: sau khi hai vị công thân này đã

chết, bị san bằng lăng tẩm, dựng bia xiểng xích lại với lời ghi

chú: “Chỗ này là nơi quyên yêm Lê Văn Duyệt phụ pháp” hay

“Chỗ này là nơi Lê Chất phụ pháp ”

Đến năm Tự Đức nguyên niên (1847) ba vị công thần này mới được phục hồi danh dự — chứng tỏ triểu đình nhà Nguyễn chỉ lo

xây dựng Đế Nghiệp mà không có ý thức dân tộc về các mặt nhân nghĩa đạo lý khi đã đứng vững trên thế lãnh đạo quốc gia,

cho nên suốt hơn nửa thế kỷ này, nội loạn, giặc giã, kể cả soán

nghịch xảy ra khắp nơi cho đến khi nước Pháp thực hiện nền

Bảo Hộ với hai hòa ước Quí Mùi 1883 và Giáp Thân 1884

Trang 17

Chỉ với một bài thơ mời bạn vào kinh chơi, có 2 câu “khẩu

khí”:

“Thụ hồi nhược đắc sơn trung tể

Tá ngũ kinh luân chuyển hóa ky”

Giúp nhau xoay đổi cơ hội này”

(Trần Trọng Kừm - Việt Nam Sử Lược)

Nguyễn Văn Thuyên đã bị tội chém, đại công thần võ tướng Nguyễn Văn Thành phải uống thuốc độc mà chết; hay chỉ mới một quẻ thẻ có 4 câu thơ:

“Tá hán tranh tiên chư Hán tướng

Phù Chu minh hậu thập chu thân

Tha niên tái ngộ Trần Kiều sự

Nhất đán hoàng bào bíu thử thâu”

Dịch:

“Giúp Hán há thua cùng tướng Hán

Phò Chu nào kém bọn tôi Chu

Tran Kiều nếu gặp cơn binh biến

Mảnh áo hoàng bào để ép nhau!

:

Trang 18

là sáng tác, nên triều đình nhà Nguyễn đã thu thập được nhiều

bộ Sử ký, Địa chí, cùng một bộ Bách Khoa Toàn Thư về nước Nam Thời Cổ:

Các tập sử, truyện này đều chú trọng về các Chúa Nguyễn các

đời vua Nguyễn, các truyện trong cung đình, danh nhân địa phương

* Bộ Gia Định Thông Chí của Trịnh Hữu Đức

*Bộ Bắc Thành Địa Dư Chí của Tổng Trấn Bắc Thành Lê

Chất

* Bộ Phương Đình Địa Chí Loại do Nguyễn Văn Siêu soạn năm

1862

Ngoài ra có Bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí là một bộ

bách khoa toàn thư về các chế độ, điển lệ của tất cả các triểu

đại Việt Nam cũng như nên văn hóa, văn minh trải qua các triéu dai do Phan Huy Chú (1782-1840) soạn — Phan Huy Chú

cũng xuất thân từ thời Lê mạnh, và được vời ra tham chính, đến

năm 1833 thì cáo bệnh về hưu

*

Trang 19

`

Nhận định về thời đại này của Văn Chương Triều Nguyễn từ

1802 đến 1883, giáo sư Dương Quảng Hàm ghi nhận:

“Trong thời kỳ này nho học vẫn được tôn sùng như ở đời

Hậu Lê Về phần Hán văn thì, trừ những sách chép về

sử ký, đại chí, hiến chương, còn phần nhiều là thơ, văn

ngâm vịnh - vì lối học cử nghiệp càng ngày càng tệ, nên phần từ chương càng ngày càng thịnh, mà phần đạo lý càng ngày càng suy” (Việt Nam Văn Học Sử Yếu) Tuy nhiên với sự hiện diện của người Âu Châu, các “tân sĩ phu” trong nước bắt đầu ý thức vì một cuộc cải cách toàn diện từ tư tưởng đến học thuật, từ chính trị đến xã hội trong một tương

quan “hòa đồng” giữa truyền thống và văn minh tiến bộ, để có

thể từng thời kỳ đối phó với một thế giới đang dần dân thay đổi

lúc bấy giờ Nhưng kỳ vọng ấy không bao giờ thực hiện được

vì cuộc xâm lăng quân sự và chính trị của người Pháp, để từ

1883 trở đi trấn áp nước Việt Nam bằng một chế độ thực dân,

vừa thuộc địa, vừa bảo hộ trong viễn trình phân chia để cai

trị, không những về khả năng lãnh đạo của ngoại quốc ở Việt

Nam, mà còn trên toàn cõi Đông Dương

Nhưng đó cũng là cánh cửa mở ra, từ cả nghìn năm lịch sử, để

toàn thể người Việt Nam có thể khám phá thêm những chân

trời mới, mở rộng cánh tay và tầm nhìn, tiếp thu thêm nhiều

nguồn kiến thức, để phát huy trí tuệ của mình ngay trên lãnh vực mỹ cảm sáng tác nghệ thuật văn chương

Miền Đông Bắc Đại Tây Dương — Hoa Kỳ

Tháng Chạp 2008

Bộ Biên Tập DÒNG VIỆT

“ TỦ =

Trang 20

PHẢN II

ĐẠI CƯƠNG

Trang 21

12

Trang 22

-đại-cương văn-học triểu Nguyễn

Phạm Văn Diêu

I Giới thuyết

Ta đã biết rằng đời Nguyễn Gia Long còn được mệnh

danh là thời Nguyễn sơ, xã hội Việt Nam bấy giờ trên nhiều

phương diện nói chung vẫn không khác gì thời Lê mạt xưa Những cố gắng liên tiếp của người anh hùng khai sáng nhà Nguyễn trong khoảng thời gian trị vì để tổ chức lại sơn hà, đã xúc tiến sự hình thành nể nếp một triểu đại mới sau này kể

từ đời Minh Mạng : Thời Thịnh-Nguyễn Nhân ấy, thời đại

văn học triều Nguyễn - gọi tắt là nhà Nguyễn - chính thức có thể khởi thủy vào quãng từ đời vua Minh Mạng và tổn tại mãi

cho đến khi ý thức phong kiến không còn đủ năng lực thúc

đẩy sáng tác văn chương nữa mà đành phải nhường bước cho dòng tư tưởng trung lưu lãng mạn của thế kỷ XX Văn chương đời Nguyễn có thể xem như một nễển văn chương thuần túy

phong kiến, và tính cách chung của thời kỳ cũng đã biểu hiện

rõ rệt cả một tình trạng liên tiếp suy vi của ý thức hệ phong

kiến từ Minh Mạng đến khoảng nửa đầu thế kỷ XX Trong giới thuyết này, Tản Đà là nhà thơ cuối cùng của nhà Nguyễn

đã tiếp tục cái nể nếp sáng tác từ Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Vũ Phạm Hàm và cũng trong tỉnh thân của giới thuyết, ta không thể sắp xếp nên văn chương ái quốc cách mạng bằng tén van biểu lộ tỉnh thần quật khởi văn

thân chống thực dân Pháp (văn chương thời Đông kinh Nghĩa

thục, văn chương của các nhà chí sĩ : Phan Bội Châu, Lê Văn

Huân, Phan Châu Trinh v.v ) trong nền văn chương vàng son

của Nguyễn triểu được, vẫn hay rằng bấy nhiêu tác phẩm hãy

còn mang nặng di sản của ý thức nho gia Cũng trong tinh thần

~ WŠ «=

Trang 23

ấy, ta không thể nào qui liệt vào thời đại nhà Nguyễn các

nhà văn tiền bối của nền quốc văn mới như Trương Vĩnh Ký, Paulus Của mà ý thức đã xoay đổi chiểu hướng và không còn chỉ mấy là ý thức phong kiến nghìn xưa nữa

II Đời Nguyễn là một thời đại văn chương ngưng trệ, không

bạo dạn, không ngang tàng

Từ Nguyễn Công Trứ đến Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, văn chương Việt Nam đã phản ánh trung thực tư tưởng và

nghệ thuật của giai tầng Nho gia trên bước đường suy vong,

và nạn vong quốc Tác giả tuy đông, tác phẩm tuy nhiều,

nhưng nội dung lẫn hình thức, nhìn chung, đểu tỏ ra khô

khan, gò ép, không bạo dạn, thiếu sinh sắc, kém hẳn thi đàn buổi Nguyễn sơ

A.-Nội dung

Lần lượt xét qua các tác phẩm đời Nguyễn, tính cách

căn bản rõ rệt nhất là văn chương thời này là một nền văn

chương tàn cuộc Các nhà thơ đã tự cắt cụt cánh mình đi, và

quanh quẩn chỉ bằng lòng với những để tài của thi ca thù

phụng, của câu chuyện trà dư tửu hậu, vụn vặt, của uuưng

tư tưởng chính yếu nghìn năm trong hệ thống giáo lý nhà nho “trung, hiếu, tiết, nghĩa” Về tình cảm, thì toàn là những

tình cảm lạc loài, nhạt thếch của những tâm hồn khô cằn, thiên

trọng đạo lý, những tình thương nổi nhớ bơ vơ hoặc kiểu sức, những khóc mướn thương vay vô bổ cho mình và cho người

Thậm chí cả những nụ cười ở giai đoạn cuối đều thiếu cái phần

trong sáng, thiếu tính cách xây dựng; trái lại chứng hàm chứa

sự pha phách và nhiều tính cách chịu đựng, chua cay

Nguyên nhân của bấy nhiêu hiện tượng đã bắt nguồn

từ những đâu? Ta nên nhớ rằng bấy giờ là vào thời đại Khổng giáo phục hưng, Hán văn được trọng dụng : chế độ, phép tắc học và thi rất khắt khe, thủ tiêu triệt để mọi cá tính, mọi sắc

thái độc đáo của nhân tài Kẻ sĩ và nhà văn hầu hết thic hẳn

- 14

Trang 24

-tinh thần nhân văn của dân tộc, và về mặt kinh tế quốc gia,

tình trạng xã hội nông nghiệp trong khuôn khổ tam cương ngũ

thường không giải quyết nổi cái thúc bách của sự tiến triển

mới nào, ngược lại còn gây thêm bao nỗi trầm trệ hơn xưa,

để rồi sụp đổ trước sức xâm nhập vũ bão của Phương Tây Cứ

theo Lê Quí Đôn đời Lê mạt, thì sự suy tàn của ý thức hệ

phong kiến đã bắt đầu xa lắm từ đời Lê Trung Hưng Trên quá

trình suy vong của giai tầng nho gia Việt Nam, đời Nguyễn

là thời kỳ xuống dốc, phơi bày cả một chân tướng già nua,

bất lực, nhất là khi tiếp xúc với chủ nghĩa tư bản Âu-Tây bức

bách đòi thông thương, thì vỡ lở hẳn So với các thời trước, văn

chương đời Nguyễn mang một bộ mặt có phần thiết thực hơn,

để tài sáng tác bắt nguồn trong đời sống riêng tây của nhà thơ, hay trong đời sống xã hội, nhân dân, và phản chiếu được

quá trình suy vong ấy của phong kiến về phương diện ý thức

Các tác phẩm văn thơ, trên mọi khía cạnh, đều đã ghi chép các

khuynh hướng đa dạng đồng phát sinh trên con đường mạt vong

ấy của hàng ngũ Nho gia phong kiến đương thời.Khuynh hướng thứ nhất là khuynh hướng bênh vực và củng cố đạo lý, tất

cả cho ý thức hệ phong kiến Khuynh hướng thứ hai là khuynh

hướng thoát ly cuộc đời bằng con đường ưu du hưởng thụ

Thứ ba là khuynh hướng chủ trương sự trào lộng, chế giễu của các nhà nho trong giai đoạn cuối tiêu vong, mất tin tưởng ở chỗ dựa tinh thần của mình : Nho giáo Thứ tư là khuynh hướng

ưu hoài thương nhà nhớ nước Thứ năm là khuynh hướng văn chương tài tử có ý nghĩa thoát ly và giàu tính cách hữu ngã, Thứ sáu là phái Nho gia thỏa hiệp Sáu khuynh hướng nhưng

tựu trung chỉ một ý thức nhà nho trong buổi suy tàn, nên văn chương không sao dổi dào sinh khí, khởi sắc Ta cũng nên ghi nhận thêm rằng sáng tác để binh vực cho một đạo lý cũ mòn chính nhà văn ấy cũng nhiều lúc hoài nghi đã thành vô công

hiệu, thì chỉ còn làm được cái công việc trát phấn tô son lên

một khuôn mặt quá già nua; mà thoát ly cuộc đời bằng phương tiện hưởng thụ, thì quanh quẩn cũng chỉ là chán đời, rồi thơ,

= 15

Trang 25

rượu, sắc đẹp của đào nương, rồi ngao du vui thú cùng cảnh trí thiên nhiên Cả đến cái cười chỉ vì lệch mũi dùi châm chọc,

cho nên tự thân đã làm giảm mất nhiều hiệu lực, và chung

qui cũng không ngoài cái “ngạo vặt” của hạng người bất trí

trước ngưỡng cửa một thời đại thay đổi khác hẳn ngày xưa

B Hình thức

Nhìn chung toàn bộ các tác phẩm đời này, về mặt hình thức, không có những cống hiến thực vững vàng và độc đáo

Về từ ngữ không đem lại gì mới Bà Huyện Thanh

Quan, Chu Mạnh Trinh tiếp tục Nguyễn Gia Thiều chọn lọc, trau chuốt chữ nghĩa cho thật thanh quí, tao nhã Trần Tế

Xương đi theo con đường Hồ Xuân Hương, nhưng đã mực thước và có nhiều tính cách dân tộc hơn Chung qui có thể nói rằng, tác giả thời Nguyễn triểu đã thừa hưởng cái gia tài

từ ngữ trưởng thành hoa mỹ của đời trước

Trong hành văn, hầu như không sáng kiến gì Mầm mống tả thực vẫn không tiến triển gì mấy với Lý Văn Phức Dòng dõi kỹ thuật gia khởi sáng với Nguyễn Gia Thiểu đã lưu hạ xuống bà Huyện Thanh Quan và Chu Mạnh Trinh Tính chất hồn nhiên và tự phát của Hồ Xuân Hương hiện lại trong thơ Đường luật của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương, cũng

như Nguyễn Du đã truyền lại cho Trần Tế Xương và Tản Da

cái sở trường vận dụng lời nói thông tục, đem cái phong vị tiêu tao và bồng bế của ca dao cùng tục ngữ vào văn chương

Tóm lại, nguyên tắc hành văn không có những đổi thay mới

lạ Sự sai biệt giữa nhau chỉ là sự sai biệt giữa các cá nhân sáng tác : Lục Vân Tiên thua tài hoa Đoạn trường tân thanh,

đều đặn trong khuôn khổ thơ Đường thì Bà Huyện Thanh Quan hơn nhà thơ mã thượng giang hồ Phạm Thái thế thôi

Về thể văn, có phần phức tạp hơn Thể văn lục bát tuổng ít như được dùng ở giai đoạn đấu, càng thấy dùng nhiều trong giai đoạn cuối Thất ngôn đường luật thì ngược lại Hiện tượng ấy bày rõ ở giai đoạn đầu và giai đoạ: cuối thời đại : Nguyễn Công Trứ không mấy khi dùng lục bát,

=- TẾ =

Trang 26

Nguyễn Khắc Hiếu rất ít chuộng thất ngôn Nội dung ý thức sa

trụy tàn héo cũng kéo theo luôn hình thức phô diễn từ chương phù phiếm Đường luật bị cột chặt vào vận mệnh của phong

kiến, của khoa cử, đến Tản Đà nó trở thành cái vỏ rỗng Tâm

hồn lãng mạn trung lưu sau này cũng không tìm được cái gì

thiết tha trong đó lại sẽ ghẻ lạnh ít khi dùng tới

Có lẽ đã linh cảm tiển đổ suy vi của Đường luật, có

lẽ cũng thấy khuôn khổ chặt chẽ ấy không sao gây nỗi cho

tâm hồn mình chút ảo tưởng rầm rộ hay huy hoàng nào, các

nhà văn thơ đời Nguyễn đã hoàn bị và sở trường một thể văn vốn xuất hiện từ thế kỷ XVI : thể ca trù Ca trù dung hợp rất nhiều thể văn: ngũ ngôn, tứ lục, cổ phong, thất ngôn, song thất lục bát và lục bát Nó mang trong bản thân nhiều tính chất bạo dạn, phóng túng, nhưng nổi bật nhất là tính chất âm nhạc

Vì nó là một điệu hát đi sóng đôi với một lối ăn chơi vương tôn rất thịnh hành ở thời cuối Lê : lối hát ả đào Hát nói thành

ra là một thứ văn chương phục vụ cho nghể xướng ca, cho

âm nhạc Nó thay đổi âm điệu, tiết tấu cho thiết hợp với cung

đàn, nhịp phách, nó hóa ra phức tạp và có vẻ như lai căng, mất tính cách độc lập của văn chương mà hầu trở thành một thứ

lời cho bài nhạc.Văn chương trong hát nói không còn bao

nhiêu là bản sắc của mình nữa, và hát nói, ca trù trên chiếu rượu chỉ còn là cái vỏ hào nhoáng hình thức Mà hình thức ấy

thì thực là huyên náo, song xét kỹ ra cũng rất là trống không

Ở đâu cũng trăng hoa, thơ rượu, cũng giai nhân, mỹ cảnh

Ở đâu cũng khoái lạc say sưa Nhưng thực tình đó chỉ là thứ

khoái lạc say sưa ở cửa hành viện, nhiều ảo ảnh hơn là thực

chất, thứ khoái lạc say sưa lừa gạt của rượu, của ái tình mua

bán : ca trù với cấu tạo của nó đã cung cấp cho lớp văn nho thời Nguyễn cái ảo tưởng của sức mạnh Phải chăng vì tâm

lý cũ nát suy vi đến cẩn phải một sự ổn ào giả tạo để che lấp cái trống không trong mình đi mà sáng tạo ra nó Phải chăng đó là cái lối “tổ ra giàu để cho dễ vay” của phong kiến Nho gia đã đến thời kỳ sa sút chiều tàn ?

Trang 27

Về thể loại, các nhà văn thời đại này không ham chuộng thể loại truyện như thời cuối Lê, mà thiên trọng về lối

ngâm vịnh Thêm vào đấy, là một thể loại đặc biệt có tác dụng

giáo dục tuyên truyền lớn, có cốt cách gây nhiều phấn khởi

là thể loại hát bội hoặc tuổng Trong cả hai thể loại ấy, văn

chương không còn thực chất bạo dạn, mãnh liệt nữa, nó đã

mất đôi cánh chim bằng vạn dặm, nó đã phẩn nào phủ

nhận mình đến phải mượn lực lượng của một ngành nghệ thuật khác : vũ, nhạc Có thể cho rằng đây cũng là một chứng cứ rõ nói lên những gắng gượng trong sự suy vi của ý thức phong kiến Nho gia trên con đường suy vong từ nữa cuối thế kỷ XIX

vé sau

Ill Cac giai doan và các xu hướng.-

Sự phân chia này không có tính cách cứng rắn và cố định,

vì bất cứ sự phân chia sắp xếp nào bao giờ cũng hàm ít nhiều tính cách cưỡng đoán Tự ấy, sau này, trong khi nghiên cứu về các tác gid, ta nên mềm dẻo và có thái độ không nên nhất thiết phải lấy sự phân loại này mà làm tiêu chuẩn cố định

A.- Giai đoạn phong kiến phục hưng dưới triều Minh Mạng

Xu hướng hưởng thụ và hành động tích cực : Nguyễn Công

Trứ, Trương Quốc Dung, Nguyễn Bá Nghi

Cả giai đoạn này, Nguyễn Công Trứ là ngôi sao sáng

nhất, làm chủ soái văn đàn Cơ cấu và giai cấp xã hội Việt

Nam thời bấy giờ có hai yếu tố chồng lên nhau: một là tư

tưởng hưởng thụ, tự do và phóng túng, cái ảnh hưởng rơi rớt lại của thời Lê mạt - Nguyễn sơ, hai là khuynh hướng hành động

tích cực để phò vua giúp nước, đặt mạnh địa vị và vai trò của nho sĩ trong cái thế phục hưng chung của giai tầng phong kiến triểu Nguyễn Cái lỏng lẻo hào hoa trong nể nếp sống, và cái thế gượng dậy của nho sĩ, hai yếu tố ấy là đặc trưng của giai

đoạn này, và đã thể hiện rành rọt vào trong tác phẩm của nhà

thơ khai phong văn chương Nguyễn triều là Nguyễn Công Trứ,

= 18 ~

Trang 28

ùng là các tác giả : Trương Quốc Dung, Nguyễn Bá Nghị,

Phạm Văn Nghị và Vũ Duy Thanh sau đó

B.- Giai đoạn suy vỉ sau Minh Mạng

Kỳ thực thì sự suy vi đã nằm phục sẵn trong cái gượng dậy của đời Minh Mạng, nhưng mãi về sau mới phơi bày ra

bên ngoài Trong sự suy vi ấy của ý thức phong kiến nhà Nguyễn đã phát sinh ra nhiều khuynh hướng phức tạp còn

để lại dấu vết trong văn chương Ta có thể tạm xếp thành sáu

loại chánh như sau :

1 Khuynh hướng đạo lý: Lý Văn Phức Chế độ phong

kiến Nho gia suy vi những từ lâu, nhưng chưa bao giờ ta lại

thấy kẻ trí thức thống trị chăm chú một cách đặc biệt đến việc

củng cố địa vị lung lay của mình như ở đời Nguyễn Mười điều răn dạy dân chúng, bao nhiêu phép tắc khắc khe về việc học, việc thi, cả công phu của nhà vua dùng thơ văn chữ Hán để phổ biến kinh điển thánh hiển cổ Trung Hoa cũng chưa đủ

Vua Dục Tông đã dùng sách Luận ngữ mà diễn ra lời ca nôm,

gọi là Luận ngữ diễn ca, và còn soạn bài ca nôm là Thập điều diễn ca Tùng Thiện Vương diễn ca Kinh Thi, và là tác giả

tuéng Thị Kính diễn nghĩa ca, Tuy Lý vương lựa chọn những

gương nữ lưu xưa của nước ta để diễn ca thành sách Nữ phạm diễn nghĩa từ Theo chỉ thị của Quốc sử quán, các nho thần Lê

Ngô Cát, Phạm Đình Toái soạn sách Đại Nam quốc sử diễn ca

Nhà văn đời bấy giờ phải dùng đến văn nôm để thực hiện cái

sứ mệnh làm văn để truyền bá đạo lý "văn dĩ tải đạo”, góp phần vào việc củng cố chung Lý Văn Phức viết Nhị thập tứ hiếu diễn âm, Bất phong lưu truyện, Phụ châm tiện lãm, Sứ

trình tiện lãm khúc, Tự thuật ký Nguyễn Đình Chiểu viết Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu, Ngư tiểu vấn đáp, Bùi Hữu

Nghĩa làm một số thơ nôm ngụ chí và bản tuồng Kim Thạch kỳ

duyên rất hữu danh Nhà danh nho Đặng Xuân Bảng thì ngâm

vịnh thơ văn hùng kính, thanh quí Một nhà văn vô danh sáng

tác tập văn hát tuồng bình dân : Lực súc tranh công, cũng như

các vở tuồng hát bội của Đào Tấn, các tuồổng Sơn hậu, Ngũ hố,

~ 19 «

Trang 29

Tam quốc rất phổ biến ở dân gian, trong một phạm vi nào đó,

đã trứ tác trong ý thức bênh vực củng cố đạo lý phong kiến đang lu mờ Cũng nhằm về ý nghĩa luân lý, Trần Văn Nghĩa

làm bài 7hế tực phú năm Minh Mạng thứ 14 (1834), lời lẽ ba

lan như bể rộng sông dài; Nguyễn Hữu Tạo làm ra khúc ca lục bát nhan để là Đài răn quân sĩ (Giới quân sĩ ca) vào năm

Nhâm tuất Tự Đức thứ 15 (1862) văn từ rất cảm động Nhìn

chung, những tác phẩm trên này, trong một giới hạn nào đó, cũng đã góp sức vào công việc duy trì uy tín và địa vị phong

kiến thống trị sắp nguy vong

2 Dòng văn chương trào phúng: Trần Tế Xương Nhà

nho Lý Văn Phức làm thơ giữa lúc nước ta hãy còn ở thời tự chủ, ý thức phong kiến tuy có suy thật, nhưng bể ngoài chính

quyển vẫn còn nắm chắc trong tay vua quan, kẻ được un đúc trong khuôn khổ Khổng-Mạnh vẫn còn có chỗ tựa để tin tường

mà gia công bênh vực cho chế độ, cho lý tưởng Nho gia Đến đời Trần Tế Xương, hệ thống phong kiến đã hoàn toàn tan rã

Triểu đình mất hết uy lực ngày trước Nho học, cái học đạo lý, ngày càng nhường bước cho một thứ học mới, tạm thời được mệnh danh là cái học “bánh tây sữa bò”, xã hội nông nghiệp

vỡ lở, xen vào yếu tố thuộc địa, nước ta bấy giờ phải trải qua bao nhiêu cảnh tượng xao động chuyển hóa gắt gao, lố lăng và

kỳ dị Trước tình trạng ấy, kẻ sĩ vốn đã theo nề nếp của Nho gia đâm ra mất cả tin tưởng Họ hết tin ở đạo lý, hết tin ở cuộc đời Họ chỉ thấy toàn cái chướng tai gai mắt hàng ngày trưng

ra trước mắt họ, nghĩa là những cái tang thương đau xót của một buổi giao thừa đây biến động Họ đâm ra mỉa mai, chế giễu, đùa cợt, họ vịn vào thực tế xã hội trước mắt mà

chế nhạo phê bình bằng nụ cười Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Nguyễn Văn Giai, Nguyễn Quý Tân, Tú Quì, Nguyễn Văn Lạc đều là những tác gia thuộc vào một khuynh hướng chung : khuynh hướng phê bình bằng trào phúng, đã nối tiếp

một cách vẻ vang truyền thống văn chương trào phúng của thế

kỷ trước Để chấm dứt tiểu mục này, ta cũng nên ghi nhận

Trang 30

thêm rằng trong thời kỳ nước ta hãy còn tự chủ, nhà nho Nguyễn Hàm Ninh cũng là một tác giả trào phúng với bài văn trào phúng biển ngẫu nhan để là Phản thúc ước rất hữu danh

3 Phóng túng tiêu cực: Cao Bá Nhạ và Nguyễn Khắc Hiếu Nguyên ủy cái khuynh hướng này là một nỗi chán ngán, bực dọc về thời thế và thân thế Cao Bá Quát và Nguyễn Khắc Hiếu cách nhau những mấy mươi năm, nhưng cả hai đều sống

chung rất sâu sắc nỗi niểm chán chường của giai cấp suy tàn, và cả hai đều có tài và có ý thức về tài năng của mình, vì gặp phải những cảnh tình ngao ngán bế tắc nên họ đều ôm một mối bất bình, bất đắc chí không thôi Thời đại Cao Bá Quát - đời Tự Đức - giai cấp phong kiến đã tỏ ra bất lực trong

khi đụng chạm với lực lượng tư bản, máy móè Âu Tây, mà

càng bất lực thì càng tỏ ra bảo thủ, hẹp hòi, khắc khe Kẻ có

tài năng tất không chịu quỳ gối để chia sớt chút danh vọng tan, và nhân thế tâm tư họ thường sinh ra hằn học, chán

chường Nguyễn Khắc Hiếu lớn lên trong thời Pháp thuộc, thời

kỳ mà giai tầng phong kiến chỉ còn biết sống gửi trên thân mình đế quốc thực dân, và rời đế quốc thực dân ra, thì không sao còn chỗ để bám víu nữa Nỗi chán chường não nùng của

nhà thơ non Tản sông Đà đã phát sinh ngay trong cái thế không chỗ tựa ấy của một giai cấp hết thời, mạt vong Từ nỗi chán

ngán về thời thế và thân thế này, cả hai thiên tài đều đi đến

phóng đãng và tiêu cực, tìm đường thoát ly ra ngoài cuộc sống

Họ Cao, về cuối đời, đã thoát ly gan dạ bằng cái chết ở Mỹ Lương, họ Nguyễn hiển lành hơn chỉ giữ thái độ ngông nghênh

Bên cạnh hai tác giả ấy, và ở một trình độ thấp kém hơn, còn

có Phan Huy Thực, Ngô Thế Vinh, Trịnh Đình Thái, Lê Ngô

Cát, Nguyễn Đức Nhu, Chu Mạnh Trinh, Trần Tế Xương, Yên

Đỗ, Dương Khuê, Tôn Thất Diệm, Dương Lâm, Tôn Thất Mỹ, Dương Tự Nhu, Ưng Bình, Tôn Thất Lương v v

4 Dòng văn chương ưu hoài: hoài Lê và thương nhà

nhớ nước Trong dong van học này, ta gặp nhiều bài thơ chứa

chan tình cảm, hoặc trữ tình hoặc tự tình kiệt xuất

=~ OY =

Trang 31

Ở giai đoạn đâu, dưới các triểu vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, chế độ phong kiến được khôi phục và cũng cố,

nhưng những khó khăn bên trong và bên ngoài nghiêm trọng

dén dập Tình thế ấy càng làm cho lòng người hoang mang Vua Minh Mạng, vua Tự Đức đều đã mượn văn chương hoặc giải sầu hoặc ngụ ý : Dw sơn, Hát nha phiến, Trông chồng,

Khóc Bằng phi, Vịnh Quan Vân Trường, Ngẫu cảm Một số

văn nho quý tộc cũ, sức tàn không đủ để thực hiện cái mộng

trung hưng nhà Lê, mà nhìn về tương lai thì thấy mịt mờ, họ không tin cậy ở chế độ nhà Nguyễn, họ chỉ biết quay về với

cái dĩ vãng lâu đài ngựa xe thời Lê thịnh trị của cha ông ngày

xưa Bà Huyện Thanh Quan khăn áo chỉnh tể làm thơ thở vấn than dài luyến tiếc cái dĩ vãng vàng son nhà Lê để khỏi

phải nhìn cái hiện tại chông chênh lây lất Trong loại này,

ta cũng có thể xếp cả Cao Bá Quát với một ít thơ văn ưu uất

của ông Ngoài ra, ở giai đoạn đâu, ta còn có thể kể một áng văn trữ tình dài, khá lâm ly, ấy là bài Trần tình khúc bằng

lục bát của người vợ Ba Đồn tướng quân làm ra để xin tha tội cho chính mình

Về giai đoạn cuối, từ Tự Đức trở về sau, thế nước lung

lay náo động và sụp đổ hẳn khi Pháp xâm lăng, nhiều nhà thơ

phản ánh cái không khí nặng nề, bế tắc, u ám, dài đặc ấy Cao

Bá Nhạ viết Tu tình khác là một áng thơ trữ tình bất hủ

trong thời gian bị lưu đày Định Nhật Thận và Ngô Điền (2),

kẻ soạn người dịch Thu dạ 18-hoài ngâm, lời lời ngậm ngài, lo

lắng, nhớ nhung Cuộc nổi loạn của Hồng Bảo ở kinh thành cũng dã lưu lại những vết tích rất sâu trong văn thơ : Tương An quận vương, tac gid bai Trdm thương và khúc Hoài cổ ngâm, Đoàn Trưng viết bài Trung nghĩa ca để nói chí mình Phan

Thanh Giản, trong cảnh non sông gió bụi, ngâm vịnh những bài thơ Đường ưu ái, Phan Văn Trị tác giả những bài ngâm

họa lại Tôn Thọ Tường, giọng yêu nước nồng nhiệt, rất đau

đớn về thời cuộc, công kích những kẻ đã quên nước cũ mà đi

theo người Bà Nguyễn Nhược Thị diễn ca sự tích Kinh thành

- 22 =

Trang 32

thất thủ năm Ất Dậu (1885), và việc vua Hàm Nghi xuất bôn,

quyển thần thao túng, dân sự điêu linh trong áng văn Hanh Thục ca Cũng có thể kể trong loại này, bài Chính khí ca của Nguyễn Văn Giai hết lời tán dương cái chết của Hoàng Diệu,

và những thơ văn ái quốc thiết tha của Nguyễn Đình Chiểu,

của Trần Cao Vân, của Phan Bội Châu (trong Sào Nam văn tập, Phan Sào Nam tiên sinh quốc văn thi tập của Phan Châu

Trình) (trong 7ây Hồ và Samté thi tập) của Huỳnh Thúc Kháng

(rải rác trong báo sách của nhà in 7ïếng dân, trong Thi tà tùng thoại), cùng là các loại thơ ca ưu hoài của nhà thơ Á nam Trần

Tuấn Khải nửa đầu thể kỷ XX về sau này

5 Dòng văn chương tài tử Gọi rằng tài rứ những tác

phẩm nôm dài hơi, văn chương hoa mỹ, dạt dào tình cảm, co“

ý thức cá nhân, gợi ta nhớ đến các sách ngoại thư như Tây

sương ký, Hoa tiên ký, v v của Trung quốc Lối văn chương này ở đời cuối Lê đầu Nguyễn rất thịnh : Nhị dé mai, Phan Trần, Quan âm thị kính, Hoa tiên, Truyện Kiểu v.v Nguyễn Triểu với sự phục hưng Nho giáo, để cao lễ giáo đạo đức phong kiến, ra sức củng cố trật tự tôn tỉ cũ, làm cho văn học

mang nặng tính chất công thức chủ nghĩa, héo hắt, khô khan

Do đó, truyện nôm dài bị hạn chế, thiếu không khí thuận lợi

để cho trăm hoa đua nở mà nối tiếp tập truyền truyện nôm

dài rất giàu giá trị tư tưởng giá trị nghệ thuật của thế kỷ trước Tuy vậy, lác đác người ta vẫn thấy xuất hiện một vài tác phẩm

giá trị nói lên giấc mơ của những con người đã hy sinh rất nhiều cho chế độ mà đành phải đánh rơi mất biếc bao nhiêu

điều thiết tha của lòng mình Hà Tôn Quyền, vị nho thần trọng vọng triều Minh Mạng, là tác giả Tập thơ vịnh Kiều giọng điệu tài hoa Lý Văn Phức, nhà nho gương mẫu, soạn giả hai tập

truyện dài bằng thơ cũng đã nói lên điểu đó Ấy là các tập

Ngọc Kiểu lê gồm 2950 câu thơ lục bát viết theo tiểu thuyết

Ngọc Kiêu Lê của Trung quốc, và tập T4y sương ký gồm 1.744

câu lục bát viết theo kịch bản Tây sương ký của Vương Thực

Phủ đời Nguyên, văn phong thực trau chuốt, thanh thoát nên

~òÖ 92 ~

Trang 33

rất gợi cảm Một nhà nho đồng thời với Cao Bá Quát tên là

Vũ Quốc Trân, có lẽ cũng chán ngán cõi đời eo xèo dâu bể,

đã viết ra chuyện Bích câu kỳ ngộ theo văn Bích câu kỳ ngộ ký

của Đoàn Thị Điểm đời Lê Cảnh Hưng để nói lên cái giấc mơ

tiên của mình, cái yêu cầu những hạnh phúc thanh bình, một

mùa xuân nghìn năm còn mãi Ngoài ra, ta có thể sắp vào dòng văn chương này, tập truyện nôm dài khuyết danh nhan

để là Truyện tứ tài tử (Bình, Sơn, Lãnh, Yến) gồm 3014 câu lục bát Nhìn chung, trừ ngoại truyện Đích câu kỳ ngộ chịu ảnh

hưởng văn Kiểu rõ rệt về các mặt ngôn ngữ, hình tượng, đến độ có rất nhiều câu giống T?ruyện Kiểu, người ta còn nhận

thấy rằng các tác phẩm Ngọc Kiểu Lê và Tây sương ký, Truyện

tứ tài tử cũng đã chịu ảnh hưởng của nhà thơ Nguyễn Du về

mặt phong cách cổ điển rất sâu xa vậy

Ngoài ra, người ta có thể cho vào loại này tập Giai

nhân kỳ ngộ diễn ca của Phan Chu Trinh viết theo lối lục bát, dài cả thảy 3620 câu, văn chương rất hùng khí, tài hoa

6 Phái Tôn Thọ Tường và Hoàng Cao Khải Trừ ngoại các khuynh hướng trên, sau hai hòa ước 18§62-1§84, người Pháp

tiến hành đặt nền đô hộ, thiết lập bộ máy thống trị dựa trên lực lượng phong kiến quan liêu bại vong, phản động (quốc

vương và nho gia thỏa hiệp đầu hàng), có một số nhà nho thư lại xôi thịt lối mới, lóc thóc chạy theo tân chủ, ca ngợi hành động thức thời của bè đảng mình, hay tán dương những gương tiết liệt trong sử sách, để che đậy hoặc biện hộ cho hành tung

bán nước của mình Ở môn phái này, trong Nam tiêu biểu có

nhóm Tôn Thọ Tường, ngoài Bắc là phe Hoàng Cao Khải Tôn Thọ Tường là tác giả 14 bài thơ Đường luật thác ngụ tâm

sự, bài song thất lục bát khi đi Tây gởi về cho vợ, bài ca lục

bát nhan đề là Tây phà nhựt ký, bài Lời truyền thị làm theo lối

ca về bình dân, cùng là một số tản văn mới Hoàng Cao Khải

soạn những cuốn : Gương sử Nam, Việt nam nhân thân giám,

các tập : Vịnh Nam sử, Làm con phải hiếu, Đàn bà nước Nam,

và hai bản tuồng : Tây Nam đắc bằng, Tượng kỳ khí xa

Trang 34

Nhưng rồi trước công luận, bọn họ cũng không sao tránh khỏi những nhát rìu búa đính đáng của một Phan Văn Trị, của một Phan Đình Phùng Để tiện việc phê phán và khảo sát, ta có thể qui các nhà văn này trong một khuynh hướng

mới, con đẻ của thời đại : phái quốc gia giả hiệu

IV Kết luận

Từ Minh Mạng đến Tự Đức, quang cảnh văn đàn

ngưng trệ, tế nhạt, không dạt dào sức sống so với giai đoạn

cuối Lê đầu Nguyễn Chỉ có Nguyễn Công Trứ, nhà thơ khai

phong của Nguyễn triểu, và Lý Văn Phúc, Vũ Quốc Trân, với

tác giả Truyện Tứ tài tử là những ngôi sao sáng lạn nhất

Ta có thể nói rằng sự hưng khởi có chừng hạn, vẫn hay rằng số lượng kể ra không ít Bình tâm mà luận, đời Nguyễn cũng đã có nhiều thành tích khả quan: thể văn ca trù, thể loại tuổng là những sáng kiến đáng kể nhất của Nguyễn triểu Văn xuôi bằng chữ nôm viết vào cuối đời Nguyễn cũng la một cố gắng mới, tiếp tục và khuyếch trương phong trào văn

xuôi vừa nhóm và tắt từ cuối đời Lê Đến như thi ca, truyện,

phú, văn tế, văn dịch làm chứng cho tài năng sử dụng

tiếng Việt của các tác giả đời Nguyễn, kể ra cũng không phải

là ít vậy Tuy nhiên, để có một nhận xét đầy đủ và chính xác,

ta hãy đem đặt nó bên cạnh văn chương đời cuối Lê Người

ta sẽ thấy rất rõ rằng, mặc dầu thời đại này số tác giả vẫn đông, số tác phẩm nhiều, nhưng dưới ách một triểu đại cũ nát trên bước đường tàn vong, nên văn chương nói chung không sao tránh khỏi tình trạng thiếu sinh lực, văn chương

bị giam hãm trong những ràng buộc khe khắt và tự cắt cụt

cánh mình đi, nên trước sau không thể nào mà "bay bổng

tuyệt vời ”, mà sản sinh ra những tác phẩm vĩ đại vượt bỏ thời trước đó cho được

Văn-Hóa Nguyệt-San, Tập XI.-Tháng 12,1962

- 95 «=

Trang 35

lớn của nền văn học Việt Nam, bao gồm văn, chương

chữ Hán và văn chương chữ Nôm Nhà Nguyễn tổn

tại 133 năm (1802-1945), nhưng thực tế, văn học cổ

điển đã ngưng lại năm 1919 vào khoa thi Hội cuối cùng, để sau đó văn học quốc ngữ và ngôn ngữ, văn tự

Pháp thay thế địa vị chủ yếu trong giáo dục và hành chánh Việt Nam Như vậy, văn học cổ điển đời

Nguyễn tồn tại hơn một trăm năm nhưng đã đào tạo

được một số tác giả đông đảo và xây dựng được một

số tác phẩm phong phú bằng hoặc hơn văn học đời Lê

đã trường trị gần 400 năm

Văn học cổ điển đời Nguyễn có nhiều sắc thái

đặc biệt Tuy nhiên ở trong bài kháơ cứu này, chúng

= 26 =

Trang 36

tôi chỉ trình bày một vài nét chính yếu, một vài nét

tiêu biểu của văn học đời Nguyễn như trữ tình, lãng

mạn, hiện thực, chiến đấu và trào phúng

I.TRỮ TÌNH

Thi ca trữ tình Việt Nam đã khởi phát từ đời Lê

Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi là một bài thơ ca tụng

cảnh nhàn nhưng âm diệu và nghệ thuật trữ tình đã

lên cao bậc nhất thời dại.Đến cuối đời Lê, Chinh Phụ

Ngâm, Cung Oán, Ai Tư Vẫn nối nhau tạo thành một

không gian màu tím ngát của buồn thương, than khóc

cho mình và thân phận con người Tính chất trữ tình

càng phát triển mạnh trong văn học đời Nguyễn

Không ai có thể phủ nhận thiên tài Nguyễn Du trong Văn tế Thập Loại Chúng sinh, Long Thành Cầm giả ca

mang màu sắc nhân bản Tự Tình Khúc của Cao Bá

Nhạ và Thu Dạ Lữ Hoài Ngâm của Đinh Nhật Thận

là tâm trạng tuyệt vọng và đau khổ thật sự của hai tù

nhân

Chúng ta còn phải kể đến Nguyễn Khuyến với

bài khóc bạn là một áng văn chương tuyệt diệu cả

Trang 37

lñ # Š # X + ñ

mR mK,

Di hi Duong dai nién,

Van thu tam huyén huyén

Hồi ức dang khoa hậu

Dĩ quân thần tịch liên

Tương kính thả tương ái

Tao phùng như túc duyên

(Văn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương Thượng thư)

Bác Dương thôi đã thôi rồi,

Nước mây man mác ngậm ngùi lỏng ta

Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,

Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau,

Kính yêu từ trước đến sau,

Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời

( Khóc bạn) Trước nay, dường như rất ít thi nhân nói về tinh g gia thất, oO doi Nguyễn, tình chị em, anh em, tình bác cháu, nhất là tình

VỢ chồng có những sắc thái nổi bật Trương Đăng Qué la một tâm gương trung hậu Ông luôn nghĩ đến vợ và chỉ là những người đã lo lắng cho ô ông khi ông ra Huế thi cử :

Trang 38

Quần áo vợ may sắm

Lương thực chị cho ta

Chị tiễn ta ra ngõ

Chúc thuận buồm xuôi gió

( Đi Trường An.- Nguyễn Thiên Thụ dịch )

Phan Thanh Giản hai vai gánh nặng Ông lo việc

nước, ông nặng tình nhà Ông nhớ ngày ra kinh dự thí,

Trang 39

Thân cô niên thất thập

Lão bệnh khởi bằng sàng

Văn ngã lai cáo biệt

Vô ngôn tồi trung tràng

Trung hiếu hữu nhị huynh

Tụ thủ tối tương ái

Tỉnh cửu nãi chi chức ( Gia biệt)

Cô già tuổi bảy mươi

Đau ốm nằm liệt giường

Nghe cháu đến cáo biệt,

Không nói lòng xót thương!

Trong họ có hai anh,

Đối dãi rất chân thành

Việc săn sóc cậu mợ,

Em ở, sẽ có anh

Vợ cưới dược bảy bữa

Lo nấu nướng suốt ngày

Nay ta phải đi vắng

Mọi việc nàng phải thay

(Giã nha - - Nguyễn Thiên Thụ dịch)

Nghệ thuật và tình cảm của các tác giả miện Nam

như Trịnh Hoài Đức, Phan Thanh Giản hoặc người

=, 30-=

Trang 40

Trung như Trương Đăng Quế rất chất phác, thành thật

Một bước trưởng thành của thi ca đời Nguyễn

là lối hát ả đào Đây là một hình thức xướng ca có nguồn gốc từ đời Lê nhưng đến đời Nguyễn thành một

phong trào, một phong thái văn nghệ mà nội dung là thi nhạc trữ tình, trong đó cũng có phần lãng mạn và

tỉnh thân Lão Trang

Il LANG MAN

Lãng mạn là một khuynh hướng mạnh mẽ trong văn chương Việt Nam, đã thể hiện trong ca dao Việt

Nam Trong thi ca của Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi,

Lê Thánh Tông chúng ta đã thấy phẳng phất nỗi nhớ thương về những giai nhân Đến đòi Nguyễn, tình yêu thầm lặng, kín đáo vẫn là những đóa hoa ướp thơm

trang văn học

Thơ Trịnh Hoài Đức mang tính cách lãng mạn

của Đường thi:

Ngày đăng: 29/11/2022, 00:21

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm