Phần 1 của cuốn sách Văn học triều Nguyễn (Tập 1) cung cấp cho bạn đọc những nội dung về: thân thế và sự nghiệp Thủy tổ họ Nguyễn; thử tìm hiểu tên chúa Nguyễn đời thứ năm; xứ Đàng Trong - vùng đất mới; Đào Duy Từ - liệt truyện, tác phẩm; hải ngoại ký sự; Mạc Thiên Tích - người giữ ải vùng địa đầu của vùng đất Nam Hà;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1VAN-HOC
TRIEU NGUYEN
DONG VEKTS0<22
2008
Trang 3DÒNG VIỆT SỐ 22
Trang 4DÒNG VIỆT - SỐ 22
Mùa Xuân năm 2008
VAN-HOC TRIEU NGUYEN
Trang 5VĂN - HỌC TRIỀU NGUYỄN
THỜI CÁC CHÚA NGUYÊN
DÒNG VIỆT SỐ 22
2008
Trang 6LỜI TÒA SOẠN
Để thực-hiện số báo này, Dòng Việt đã thu-thập bài vở của các vị cựu Giáo-sư, các vị học-giả cũng như thân-hữu gần
xa của Ban biên-tập
Vì hoàn-cảnh đặc biệt chúng tôi đã
không thể trực-tiếp xin phép tất cả các
tác-giả vả nhà xuất-bản liên hệ đến một số bài đăng trong đặc-san này Chúng tôi mong, với lòng yêu mến văn- hóa Việt-Nam, quý vị sẵn sàng thứ lỗi cho Ban biên-tập
DONG VIỆT tôn trọng quyền tự do
phát biểu của các tác-giả và không
chịu trách-nhiệm về những ý-kiến đã
được phát-biểu
Ban Biên-tập DÒNG VIỆT
Trang 7MỤC LỤC
-o0o-
Lời mở đầu.- 1-8
* truyền di tích”
“Tiên triều sự nghiệp truyền di tích
Nam quốc dư đồ nhận cựu phong”
Lê Thánh Tôn (Tư Dung Hãi Môn Lữ Thứ.- 1471)
-000-
PHAN THU NHAT 9-10
« công thiên cổ ”
“Nhị Châu sính vật công thiên cổ
Vạn lý giai nhân ngộ nhất sinh”
Ngô Thời Nhiệm
(Tích Vũ Huyền Trân) 1.- Thân thế và sự nghiệp Thủy Tổ họ Nguyễn 11-17
2.- Thử tìm hiểu Tên Chúa Nguyễn Đời Thứ Năm 19-30
Đoàn Khoách
3.- Xứ Đàng Trong -Vùng Đất Mới - L¡ Tana 31-50
4.- Các Chúa Nguyễn : Xứ Đàng Trong 51-74
Tôn Thất Thiện
Trang 85.- Đào Duy Từ : liệt truyện, tác phẩm 77-110
Léc Xuyên Đặng Quí Địch 6.- Quyết tâm phục vụ Nam Hà : Đào Duy Từ 111-120
Nguyễn Văn Sâm
7.- Hải ngoại kỷ sự - Thích Đại Sán 121-146
§.-Nguyễn Cư Trinh “Sãi vãi” - Nguyễn Văn Sâm 147-180
9.- Mạc Cữu và các Chúa Nguyễn 181-196
Nguyễn Hữu Phước 10.- Mạc Thiên Tích: Người giữ ải vùng địa đầu 197-216
của vùng đất Nam Hà.- Nguyễn Văn Sâm
~000-
PHAN THU BA.-Ti Bon Phuong Trời
11.- Hàn MạcTư : Chân dung Nguòi Tình 219-282
Y Phượng 12.- Thử đọc lại ba bài thơ cũ - Vgự Thuyết 283-304
13.- Hai Công-chúa Ngọc-Vạn và Ngọc-Khoa 305-325
Hương-Giang.- Thái Văn-Kiểm 14.- Danh sách độc giả úng hộ Dòng Việt 327-330
Trang 11= fH
Từ vị Thủy Tổ Định Quốc Công Nguyễn Bặc
(924-979), vốn cùng huynh đệ (Đinh Bộ Lĩnh - Đinh Điển -
Nguyễn Bặc) vườn đào kết nghĩa, như Lưu - Quan -Trương thời Tam Quốc; đã từng hết lòng phò tá nhà Đinh dựng nên Nghiệp Đế ở đất Hoa Lư; rồi phải vì trung liệt với nhà Đinh, tử tiết dưới lưỡi gươm của đồng sự nhiếp chánh
đại thần Lê Hoàn đang thông tình cùng Thái Hậu Dương Vấn Nga để đoạt ngai vàng của Vệ Vương Đinh Toàn; cho
đến ngày hậu duệ đời thứ 16 của Ngài, Nguyễn Hoàng
được cử vào trấn thủ đất Thuận Hóa (1558), thời gian lịch sử của dân tộc Việt Nam đã vận hành gần 6 thế kỷ !
Ngô - Đinh - Tiền Lê - Lý - Trần - Hậu Lê Lê Trung hưng ! (939-1532)
Tuy nhiên, lời sấm truyển của Nguyễn Bỉnh Khiêm :
“Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, phán xét theo Lý-
Dịch, Thái Ất Thần kinh và địa lý của miền Đông Nam Thái
Bình Dương, Việt Nam và châu Á, tương hợp với thé pha của Định Quốc Công, lại vẫn đến sau tiếng sóng Tư Dung
(Cửa Tư Hiền - Huế) gần non một thế kỷ, khi Vua Lê Thánh
Tôn vân du miễn “đất hứa” này :
3
«<i =
Trang 12“Tiên triều sự nghiệp truyền di tích
Nam quốc dự đồ nhận cựu phong”
Lê Thánh Tôn (Tư Dung Hãi Môn Lữ Thứ — 1471)
Đất Thuận Hóa, Cửa Tư Dung đang đón sóng Thái Bình, mở rộng phương trời miền Nam Hải cho biên cương Nam
Quốc ! Hội Tao Đàn của Nguyên soái Hồng Đức (niên hiệu của Lê Thánh Tôn từ 1470 đên 1497) vừa tiếp thu sự nghiệp
của các tiên triều, vừa kỳ vọng được tương lai mở rộng bản dư
đồ cho quốc gia từ những sính lễ của Công Chúa Huyền Trân
Và cơ duyên đã đến với Nguyễn Hoàng từ 1558, để rồi chỉ mới 55 “trấn thủ”, vào 1613 lúc băng hà, Chúa Tiên
đã mở rộng bờ cõi đến đất Phú Yên ! Với cuộc Nam Tiến về địa hình, địa vật thân tốc như thế, Nghiệp Chúa đương nhiên
tự lập, tự thành cho nên chưa tròn 200 năm sau khi Nguyễn
Hoàng vào Thuận Hóa, Định Vương Nguyễn Phúc Thuân, đời Chúa thứ I0 - (1754-1777) đã lãnh đạo được một xứ Đàng
Trong thịnh vượng, phát triỂn toàn diện như Một Quốc Gia với 45% lãnh thổ của quốc gia đang có hiện nay !
-3=
Khả năng ấy viên thành đương nhiên phải căn bản
trên một Nguồn Tư Tưởng Lãnh Đạo Sáng Tạo để vừa xây dựng một xã hội đa dạng của bao nhiêu thành phần đi
dân theo các Chúa, lập nghiệp ở phương Nam bằng chính tiểm lực khai phá của từng cá nhân, từng gia đình, kết hợp thành những đội ngũ có kỷ luật, kỷ thuật; vừa tiếp thu được
những truyển thống của lịch sử dân tộc; vừa hội nhập với
các hoàn cảnh mới, do đất mới, nguồn mới, phong tục mới
đang chế ngự tại các địa phương
Trang 13
-2-Luận án Tiến sĩ của tác giả Li Tana về “Xứ Đàng
Trong” được Đại Học Cornell, Hoa Kỳ ấn hành năm 1992
đã xác định các điều đó trong tương quan qui định “Đàng
Trong” thật sự là một quốc gia độc lập, phát triển tự do và
toàn diện về mọi mặt để tiến lên thành một nước, có một thể chế riêng biệt trong một nên văn hóa - chính trị, xã hội -
kinh tế đa nguyên, khai phóng, tự do để vừa tiến bộ, vừa tự
tồn Tiến trình khai phá, xây dựng, phát triển “Đàng Trong”
của toàn bộ các từng lớp di dân theo các Chúa về lập nghiệp
ở phương Nam không khác bao nhiêu những thành phan
đi dân đa chủng tộc đến Mỹ Châu để kiến tạo và lập thành
Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ trước đây và hùng mạnh cho đến
bây giờ ! Chỉ có điều đặc biệt là “Đầng Trong” thuần chất về
ngôn ngữ, chủng tộc, văn hóa vì hầu hét dai đa số vốn gốc
Việt Nam, nên hành trình tiến triển để thành lập một Vương,
quốc Thống nhất có nhiều điều kiện thuận lợi hơn cả Hiệp
Chủng Quốc ngày xưa Do đấy chỉ trong vòng 2 thế kỷ nước Đàng Trong đã xây dựng được một quốc gia riêng biệt khác hẳn với Đàng Ngoài về mọi mặt, nên Đàng Trong đã hoàn
toàn là một nước Mới với một nền văn hóa Mới, phát huy những giá trị tỉnh thần, đạo lý Mới với một tiến trình sáng tạo
trong Tư Do của ý thức đa nguyên Do đấy mà năm 1709
Chúa Nguyễn Phúc Chu tự xưng Quốc Chúa, và đúc ấn Đại Việt Quốc Chúa, và đến 1738, Chúa Nguyễn Phúc Khoát
lên ngôi Vương đúc Ấn Quốc Vương, bãi bổ mọi quan chức,
lễ nghỉ, phẩm phục do Triểu đình Vua Lê Chúa Trịnh ở Thăng Long qui định, để tự tạo cho Vương Quốc Đại Việt
một sắc thái lịch sử, chính trị của một Quốc gia Độc lập !
23
Với cuộc mở mang bờ cõi thần tốc trong vòng 2 thế
kỷ bằng mọi phương thức tùy thuận với các hoàn cảnh Từ
hội nhập, đồng hóa, thân hữu ngoại giao, quân sự, đến kinh tế
TẾ sa
Trang 14đa phương ; với một nên ngoại giao mở rộng từ Á châu, Đông
Nam đến các nước Châu Âu, hỗ trợ cho một nền kinh tế
tự do và thịnh vượng phát triển ; với một khả năng tiếp
thu các nên văn hóa, tín ngưỡng từ nhiều phương trời, Vương,
Quốc Đại Việt đã bừng lên như ánh mặt trời ở toàn vùng
Đông Nam Á từ Thái Bình Dương đến Ấn Độ Dương Đó
là một sự kiện thực tế rõ ràng nhất trong các biến chuyển
địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa xã hội toàn vùng, đến nay đã
được các nguồn sử liệu, các nhà sử học thế giới công nhận
Do đấy một nền văn học hoàn toàn độc lập, từ từ phát triển,
bắt nguồn từ các sinh hoạt của các thế hệ di dân, kết hợp
chung với các hoàn cảnh tân kỳ của Nước Mới
Nồi Tình, Nòi Thơ, chảy từ sáng tạo Thi Ca của người
đi dân xuất thân từ dân tộc Việt, bừng đậy tri ân nghĩa tình
của hành trình đất mới mà mình đang vun xới để viên thành
qua tiếng hò trên sông giữa miễn Hương giang, Thuận Hóa, hai châu Ô Lý sính vật của duyên nợ Huyễn Trân :
Nuóc non nghìn dặm ra di Mối tình chỉ ?
Mượn màu son phấn
Đền nợ Ô ly đắng cay vì
Đương độ xuân thì má hồng da tuyết
Tuyết sương dầm, thân này bao xiết
và dòng châu lệ tuôn rơi, nhớ ơn nghĩa tình Công Chúa hơn
200 năm trước đã về Chiêm Quốc cùng hoàng đế Chế Mân !
(1306) Các khúc ca mới như Nam Ai, Nam Bình, Nam Xuân,
Nam Thủy, Vọng phu lần lần được sáng tạo, nhiều nhất vào
thời Chúa Minh, Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) khi thủ phủ
Đàng Trong đã được đặt ở chính Phú Xuân
Ngôn từ của các bài ca do Chúa Minh sáng tạo, đặc biệt với tiếng Huế nhịp nhàng còn truyền lại cho đến ngày
nay:
Trang 15*Biết ai nhắn gởi đôi lời tình tự
Cái tâm sự mẫn ri, biết thấu cho chăng ?
(Ai Giang Nam)
“Ai xui cái bịnh đa tình, đa tình cho mình thiệt dỡ!
Khi đã mắc vòng trong biết gỡ cho ra
Riêng trách kẻ đường xa chỉ mà tệ, tệ bạc mà lắm ma!” (Nam Ai)
Trong khi đó, vẫn trên hành trình di dân Nam Tiến,
cuộc mở mang bờ cõi vẫn tiến bước với lời hát, câu hò :
“Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ ,sợ phá Tam Giang
(Ca Dao)
từ Tình thương đến sóng nước, từ Thuận Hóa đến Đồng Nai :
“Chẳng thà đi Đông Nai
Không thà đi phá Cầu Hai tháng mười “
(Ca Dao)
vì đi phương nào cũng phải vượt đèo, vượt suối, vượt sông,
vượt biển :
“Do Tu Hién bang qua séng Dai Hai
Đường có gập ghênh xin chịu khó băng đi
Khổ chơ chàng ơi ! Chàng đi mô mà trời túi không trăng
Em sợ quàng cây vấp đá, rồi lại trách em răng không dặn
đồ (Hát, Hồ giả gạo)
Tiến vào Nam lắm khi gặp lắm điều sợ hãi “Cọp
Khánh Hòa, Ma Bình Thuận”, khi đi đâu, vùng nào cũng gặp
phải các đàn voi, những vùng hổ đói, những nơi linh ứng của các sắc tộc địa phương :
“Muỗi kêu như sáo thổi
Đĩa lội tựa bánh canh
Có mục thành tỉnh
Rắn đồng biết gáy ”
(Ca Dao)
Trang 16tuy nhiên lại đuọc ấm no nhờ tài an dân của các danh tướng,
đại thần của chúa Nguyễn :
*Bao phen Qua nói với Diều
Cà lao ông Chưởng (*) có nhiền cá tôm”
(Hát Ru em)
(*) Chú thích : Cù lao này gọi là Cồn Sao, nơi tướng Nguyễn
Hữu Cảnh đã đánh tan sào huyệt của Nặc Thu vào năm 1799
ỏ vùng A Giang, trên sông Đông Nai
Vì thế mọi cuộc tình duyên đều mặn mà sâu nặng,
thủy chung :
“Chừng nào Bưng Bạc hết sình
Bầu Thành hết nước hai đứa mình mới xa nhau”
(Ca dao Bà Rịa)
dù phải xông pha khai phá ruộng đồng :
Anh thương em, em bóp bụng đừng phiền
Đợi xong mùa lúa, anh kiếm tiền cưới em”
(Ca dao Luc Tinh)
nên đi đâu cũng mãi mãi thương nhau :
“Bước xuống ghe, lòng buôn khắc khoải
Thương em ở nhà dầm đãi nắng mưa”
(Ca dao Tiền Giang - Hậu Giang)
Trong khi đó từ địa đầu Sông Gianh, Đào Duy Từ tài kiêm văn võ, vừa giữ chức Nội Tán, Lộc Khê Hầu, vừa xây
lũy Truồng Dục trên bờ Sông Nhật Lệ (Quảng Bình) để
kháng địch từ phương Bắc, vừa sáng chế binh pháp cho quân
lực của Vương Quốc Đại Việt “Hổ Tướng Khu Cơ”, vừa là
nhà thi sỉ Hán Nôm, đã để lại cho văn học miễn Nam hai áng thi ca chữ Nôm tuyệt tác : Mgọa Long Cương, Tư Dung Vấn
Và từ điểm biên thùy trên bờ Vịnh Xiêm La thuộc Ấn
Độ Dương, Mạc Thiên Tứ vừa sáng tac bing Han vin “Minh
¬" «
Trang 17Bật Di Ngự” và mười bài vịnh “Hà Tiên Thập Cảnh”,vừa làm đại tướng, được chính Nguyễn Cư Trinh, một tướng lãnh đại
thân khác từng bình định hai xứ Quảng miễn Trung, họa lại
đương thời Tiến trình sáng tạo của xứ Đàng Trong hội nhập
cùng các hoàn cảnh mới, nên mọi hướng nhìn đều như bao
hàm những thực thể của cuộc sống hằng ngày, của vũ trụ bao
quanh đang dần mỡ ra những chân trời mới lạ, cùng thăng hoa
với tâm thức nghệ sĩ đương thời Do đấy nghệ thuật vượt qua
khuôn sáo, và chỉ tạo duyên thêm cho những nét nhân bản
địa phương của hành trình mở mang và xây dựng một tân
quốc gia
se
Cùng trong ý hướng ấy, Phật Giáo Đại Thừa từ dòng
Thiển Lâm Tế Chánh Tông của Lục Tổ Huệ Năng đã được Thiển sư Nguyên Thiểu vượt sóng Thái Bình, chuyển pháp
luân Thiển Tông từ Nam Hoa đến Bình Định (1677) Ngài
xây chùa Thập Tháp Di Đà ở đó và 5 năm sau thuận gió lại
ra Thuận Hóa, ghé lại Hà Trung với Thánh Tượng Quan Thế
Âm ngồi trên tòa sen với đã năm bệ đá, hiện còn được tôn thờ tại địa phương này Sau đó Ngài lên Phú Xuân hội kiến
cùng Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu, phụng mạng Ngài xây Chùa Quốc Ân, rồi trở lại Nam Hoa (Quảng Đông) thỉnh các
bậc Cao tăng, tượng Phật và Pháp khí về Kinh Đô, lap dan
tuyển giáo do Hòa Thượng Thích Đại Sán chủ đàn, truyền
giới sa đi và tỳ kheo cho hơn 2.000 giới tử từ khắo nơi vân
tập về Phú Xuân Quốc Chúa cũng thọ Bổ Tát Giới, cho
thấy trong thời gian này Đạo Phật Đại Thừa được tự do
hoằng pháp ở khắp nơi, cùng với sự hội nhập của Phật
Giáo Nguyên Thủy từ các nước lân bang Cao Mên, Xiêm, Miến Điện, Tích Lan, song hành với cả Thiên Chúa Giáo,
Héi Giáo và Ấn Độ Giáo do các thương khách ngoại quốc
và nhà truyền giáo Tây phương phổ cập Do đấy, chưa bao
giớ trong lịch sử dân tộc, các Nguồn Đạo lý của gần toàn
= J=
Trang 18nhân loại đã thể nhập vào Đàng Trong, làm cho tâm thức
và trí tuệ của con người ở nước Đại Việt mới xây dựng này
được tiểp thu rộng rãi
-8-
Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên) lúc lâm chung, 20-7-1613,
chỉ căn dặn mấy điều cơ bản, dựng nên nghiệp lớn ở Đàng Trong
“Ta với các ông cùng nhau cam khổ đã lâu, muốn dựng nên nghiệp lớn Nay ta để lại gánh nặng cho con ta, các ông
nên cùng giúp đở để hoàn thành sự nghiệp Đối với gia tộc và triều đình, làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, anh em phải
thương yêu nhau Bờ cối rõ ràng khi vàng Đất Thuận- Quảng, Bắc có Hoành Sơn và Sông Gianh hiểm trở, Nam có Hải Vân
và Thạch Bi bền vững, một dãy Trường Sơn, một vàng Nam
Hải phong phú vô cùng đúng là đất dụng võ của người anh
hùng Nếu biết dạy dân, dụng binh cho khéo, thì đủ khả năng
để xây dựng sự nghiệp muôn đời ”
Với tiểm năng cụ thể, tự do khai phóng và khả năng
mỏ mang bờ cõi, chỉ chưa tròn 200 năm, vượt qua bao nhiêu hiểm họa, xứ Đàng Trong đã trở thành khả năng tự chủ,
độc lập và tiến bộ trên hành trình thống nhất cho đến 1802
với danh hiệu Việt Nam Nền văn học Đàng Trong, cơ bắn
trên tỉnh thần hội thể đa nguyên ấy đã mở đầu cho sự vẹn toàn một tiến trình “cổ điển” theo luận thuyết và ngôn từ,
đến cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, để rạng rỡ thêm vào tiền
bán thế kỷ 20
Miền Bắc Đại Tây Dương
Mùa Xuân Mậu Tý, 2008 Ban Biên tập Dòng Việt
Trang 22
om TẾ
Trang 23L- THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP
Đức Định Quốc Công húy la NGUYỄN BẶC, thân phụ (1) và thân mẫu của ngài không đuọc rõ, ngài được xem như Thủy Tổ của dòng họ NGUYEN PHUC
Thuở thiếu thời, ngài chăn trâu tập trận cờ lau ở động Hoa Lư, kết nghĩa đào viên với Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Điển, cùng lớn lên bên dòng sông quê hương Đại Hoàng (Gia Viễn,
Ninh Bình) (2)
Tương truyển ngài rất giỏi võ và có sức khỏe phi
thường Ngài đã từng dùng tay không bắt sống được cọp đem
bán cho các hào phú Tánh tình ngài thẳng thắn, bộc trực và nghĩa hiệp, luôn luôn bênh vực kẻ yếu
Vào thế kỷ thứ X, đất nứóc vừa qua ngàn năm Bắc thuộc lập được nền tư chủ dưới triểu Ngô Vương, rồi lại rơi vào tình trạng của 12 sứ quân (Sau khi Ngô Xương Ngập mất
vào năm Giáp Dan (954), Ngô Xuong Văn giữ ngôi rồi mất năm Ất Sửu (965), Ngô Xương Xí nắm binh quyển, trở thành một sứ quân giống như các sứ quân khác Lúc này, ngài đã
30 tuổi cùng Đinh Bộ Lĩnh theo phò sứ quân Trần Lãm ở vùng
Bố Hải Khẩu (nay thuộc tỉnh Thái Bình) Khi Trần Lãm mất
Định Bộ Lĩnh lên nắm binh quyển Nhận thấy địa thế Bố
Hải Khẩu bất lợi, Đinh Bộ Lĩnh đem binh lực về Hoa Lu,
cố thủ vững chắc và liên tiếp tấn công các sứ quân khác để gây thanh thế
Ngài cư xử với Đinh Bộ Lĩnh không khác gì Quan Vân Trường đối với Lưu Bị (3) Khi Đinh Bộ Lĩnh bàn việc quân
ngài cấp giáo đứng hầu giữ lễ vua tôi, có ai dâng thức ăn
ngài đều nếm trước để tránh cho Đinh Bộ Lĩnh khỏi bị đầu
độc Khi xông pha trận mạc ngài đều đi đầu để chặn mọi
= 13~
Trang 24nguy hiểm có thể xảy ra cho Đinh Bộ Lĩnh Có lần Đinh Bộ
Lĩnh bị sa vào hiểm địa lại bị trúng tên ngã ngựa, ngài một mình một gươm, cõng bạn trên lưng, leo lên núi đá dựng đứng
để thoát vòng vây
Năm Mậu Thìn (968) Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng Đế
(tức là Đinh Tiên Hoàng), đặt quốc hiệu là Đại Cổ Việt, đóng đô ở Hoa Lư Sau đó nhà vua định cấp bậc các quan
văn võ, tăng đạo và phong chức tước cho các quan Ngài được
phong tước Định Quốc Công, xếp hàng đầu các công thần
Ngày 15 tháng 8 năm Kỷ Mão (10-9-979), Định Tiên
Hoàng và Đinh Liễn bị Đỗ Thích sát hại Nghe tin ngài khóc
mãi ba ngày đêm đến hai mắt chẩy máu và râu tóc trắng như tuyết Ngài cùng đình thân tìm bắt Đỗ Thích đem giết rồi
cùng Định Điển và Lê Hoàn tôn Vệ Vương Đinh Toàn (lúc đó mới 6 tuổi) lên ngôi Ngài và Đinh Điển làm Phụ Chánh đại thân, Lê Hoàn làm Nhiếp Chính
Sau đó Lê Hoàn tự xưng là Phó Vương Đướóc sự giúp
đỡ của Thái Hậu Dương Vân Nga, Lê Hoàn tự do ra vào cung
cấm và muốn đoạt ngôi vua Hay tin, ngài cùng Đinh Điền lúc bấy giờ đang đóng quân ở Châu Ái (Thanh Hóa) đem binh về
triểu hỏi tội Lê Hoàn đưa thư phân lẽ thiệt, hơn và muốn ngài
hợp tác lập nên một triều đại mới Ngài đọc xong, xé thư mắng chửi sứ giả :”Bặc này là bậc đại trượng phu đầu đội trời, chân đạp đất, cả đời chỉ biết thờ một vua, sống không đổi lòng,
chết không đổi dạ Ta không bao giờ chịu bẩn tai nghe lời
tà ngụy của đứa tiếm ngôi Hãy về nói lại với chủ ngươi, ta quyết lấy máu hắn để tắm rửa cho ngôi báu nhà Đinh”
Sứ giả về thuật lại và tỏ ý ngạc nhiên trước sự giận dữ
của ngài Lê Hoàn nghe xong, buổn rầu nói :”Nếu Nguyễn
Bac không làm như vậy mới là điều làm ta ngạc nhiên”
Điều này chứng tổ trong thâm tâm, Lê Hoàn rất trọng khí tiết
của Ngài
- 14 —
Trang 25Lê Hoàn bèn cử đại binh chận đánh Đinh Điền bị tử
trận, Ngài bị bắt đem về Hoa Lư và bị hại (4)
Ngài mất ngày 15 tháng 10 năm Kỷ Mão (8-11-979)
thọ 56 tuổi
Sứ giả Ngô Sĩ Liên bình luận trong Đại Việt Sứ Ký
Toàn Thư : “Lê Hoàn là đại thần khác ho, tay nắm binh quyền, lại mong làm việc như Chu Công, thường tình còn nghỉ ngờ huống chỉ Nguyễn Bặc ở chức Thủ Tướng và Đinh Điển là
đại thần cùng họ với vua, việc khởi binh ấy không phải làm
loạn mà là một lòng phò tá họ Đinh, đánh không được mà chết, cái chết ấy là đúng chỗ ”
Đặng Minh Khiêm đời Lê Thánh Tông có bài thơ ca tụng ngài, hai câu cuối là :
* Phục nghĩa đương ban toàn đại tiết
Thủy chung thé bat phu Dinh Hoang”
dich nghĩa là :
“Giữ nghĩa đương lang toàn tiết lớn
Thủy chung thề chẳng phụ Đỉnh Hoàng”
Đức Thủy Tổ Nguyễn Bặt là một vị đại công thân
suốt đời hy sinh cho người bạn kết nghĩa là Đinh Tiên Hoàng, khí tiết hiên ngang, sẵn sàng lấy cái chết để bảo
vệ nhà Đinh Hơn một ngàn năm trôi qua, gốc đại cổ thụ
họ Nguyễn từ cái nôi Đại Hữu, Gia Miêu đâm chổi xanh
tươi lan khắp mọi miễn, con cháu Ngài lập nên hàng trăm chỉ phái hậu duệ, từ Bắc chí Nam, mười thế kỷ ấy đã xuất hiện nhiều danh nhân lịch sử Nguyễn Quốc, Nguyễn Nộn,
Nguyễn Đức Trung, Nguyễn Văn Lang, Nguyễn Hoằng Dụ, Nguyễn Cam, các chúa Nguyễn, các vua triểu Nguyễn
hoặc các nhà thơ : Nguyễn Thuyên, Nguyễn Phi Khanh,
Nguyễn Trải, Nguyễn Gia Thiểu, Nguyễn Du, Tùng Thiện
Vương, Tuy Lý Vương
~ 15, =
Trang 262.- LĂNG MỘ VÀ CÁC NƠI THỜ TỰ
Lăng Ngài táng ở thôn Vĩnh Ninh, làng Đại Hữu (Gia Viễn, Ninh Bình) Lăng được trùng tu lần mới nhất vào năm
Ky Ty (1989)°
Vé dén thd, ngài được thờ ở nhiều nơi :
- Chính thức là ngôi từ đường Nguyễn Tộc tại thôn
Vinh Ninh (Gia Vién, Ninh Binh)
- Tai dén thd vua Dinh Tiên Hoàng ở xã Trường Yên
(Hoa Lu, Ninh Binh, dựng từ thế kỷ XI Đền có 3 tòa : tòa
ngoài là bái đường, tòa giữa gọi là Thiên Hương thờ tứ trụ triểu đình của nhà Đinh : Đinh Điển, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ Tòa trong cùng là chính cung : thờ Đinh Tiên Hoàng, Dinh Lién, Dinh Toan va Dinh Hang Lang
- Tai thôn Vân Hà làng Đại Hữu (Gia Viễn, Ninh Bình)
có ngôi đến thờ 3 vị anh hùng đào viên kết nghĩa là Đinh Bộ Lĩnh, Nguyễn Bặc và Dinh Điền
- Tại làng Thanh Trì ngoại thành Hà Nội, cơ ngôi đến
chung của 3 xã : Cương Ngô, Cổ Diễn, Đồng Trì thờ chung hai anh em ngài Nguyễn Bặc và Nguyễn Bố; ngoài ra ở mỗi xã
đều có đình riêng thờ hai ngài
Đăc biệt, tại huyện Hoa Lư (Ninh Bình) có bốn thôn
đều có đình thờ ngài làm thành hoàmg, trong đó thôn Ngô Hạ
thờ tượng ngài Năm Canh Thân (1980) chỉ họ Nguyễn Đình
rước tuợng ngài về thờ ở từ đường của chỉ họ (cùng thôn)
- Tại kinh thành Phú Xuân (Huế) vua Minh Mệnh cho
xây miếu Lịch Đại Đế Vương để thờ các vị vua và các danh
tướng qua các triểu đại trong đó có ngài Nguyễn Bặc
= 16 =
Trang 273,.-GIA DINH.-
Về gia đình, chỉ biết ngài có hai người con là Nguyễn
Đê và Nguyễn Đạt
Ngoài ra ngài còn có một ông anh là Nguyễn Bồ
Ống là một vị tướng của Đinh Bộ Lĩnh Năm Đinh Mão (967)
ông được cử đi đánh Nguyễn Siêu, một sứ quân có binh lực lớn,
đóng ở Đông Phù Liệt (huyên Thanh Trì, Hà Nội ngày nay) và
bị tử trận
Ông được thờ chung với ngài ở các đình thuộc làng Thanh Trì (ngoại thành Hà Nội)
Trich GIA-PHA NGUYEN-PHUGC TỘC
Nhà xuất-bản Thuận-Hóa - Huế
CHU THICH.-
(1) Theo gia phả của chỉ Nguyễn Đình, thân phụ ngài là cụ
Nguyễn Thước, một gia tướng của Dương Diên Nghệ 2(2) -Một số tài liệu nói ngài cùng quê, cùng tuổi với Đnh Bộ
Lĩnh, có nghĩa là người làng Đại Hữu (Gia Viễn, Ninh-
Binh) Nhưng cũng có những thuyểt cho rằng quê hương của ngài vốn ở Gia Miêu ngoại trang từ trước
(3).- Lưu Bị, Quan Vân Trường và Trương Phi là các nhân vật
đời Tam Quốc, làm lễ kết nghĩa anh em trong vườn đào nên được gọi là Đào Viên kết nghĩa Tình anh em khắng
khít và thủy chung của ba người được người đời ca ngợi
và truyền tụng
(4).- Theo truyền thuyết thì Ngài bị hành hình trên bãi đất bên
bờ sông Chanh ở ngoại thành Hoa Lư
= 17 «
Trang 28NHỚ TÌM ĐỌC TRONG NĂM 2008
các số DÒNG VIỆT đã xuất bản, hiện còn rất ít :
Số 2.- Tuyển-tập Ngôn-ngữ và Văn-học VN.- 2 tap.- $16.00
Số 3.- Chữ nghĩa tiểng Việt - $ 12.00
s6 8.- Dai-hoc Sư-phạm Huế (Tập I) - $ 12.00
số 9.- Đại-học Văn-khoa Saigon ,- (Tap 3) - $ 12.00
S6 10.-Dai-hoc Sư-phạm Huế (Tập 2) - $ 12.00
Số 14.- Kỷ-niệm 300 năm Cố-đô Huế „- (Tap 3) - $ 12.00
Số 16.- Tuyển-tập phê-bình Đoạn-Trường Tân-Thanh
Số 22.- Văn học Triều Nguyễn - (Tập 1) - $ 12.00
Tiền cườc phí mỗi cuốn là : $ 1.90
Thư từ, chỉ-phiếu xin dé : SEACAEF
17212 Blue Fox Circle.- Huntington Beah, CA 92647.- (USA) Phone : (714) 842-7589 - E-mail : SEACAEF@socal.rr.com
- 18
Trang 29-Thử Tìm Hiểu
Tên Chúa Nguyễn Đời Thứ Năm
Đoàn Khoách
Trong khi sưu tập và giới thiệu thơ văn các chúa
Nguyễn, chúng tôi có địp tìm hiểu thêm về tiểu sử các vị
chúa này Điều làm chúng tôi phải suy nghĩ là sự bất nhất của các sử sách trong việc ghi chép tên chúa Nguyễn đời
thứ năm mà đương thời gọi là chúa Nghĩa Sử sách trước
đây hầu hết viết bằng chữ Hán Bộ Việt sử đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ là Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng
Kim đã ghi tên vị chúa này là “Hoằng Quốc Công Nguyễn Phic Tran BG #8 ŸŠ (1687-1691) truy tôn là Anh-tông Hiéu-nghia Hoang đế, đương thời gọi là Chúa Nghĩa " 0 Trong khi đó, các bản Hệ Phổ của họ Nguyễn Phúc bằng quốc văn do con cháu trong các Hệ cất giữ mà chúng tôi đã tham khảo được thi lại ghi khác Hoằng Quốc Công là Nguyễn Phúc Thái, còn Trăn là tên oll Curcing Quan Céng,
em cùng cha cùng mẹ với Chúa Nghĩa 2)
Vậy Hoằng Quốc Công được truy tôn là Anh tông
Hiếu nghĩa Hoàng để tên thật là Trăn hay là Thái ?
Thông thường thì tài liệu của các Hệ Phổ có một tín
dụng cao, vì Hệ Phổ do các vị Tư giáo sung làm Tộc trưởng các Hệ, là người có trách nhiệm ghi | chép, khai báo
và sao lục từ Tôn Phổ cho từng Hệ Có điều mấy bản Hệ Phổ trên đây mới chỉ là bản dịch ra chữ Quốc ngữ chứ chưa
phải là bản chữ Hán Trong khi đó, bộ Sử Lược của họ Trần lại được học giới tín nhiệm học hỏi và tham khảo Cứ xem
những bộ Việt sử sau đó như Việt Sử Khảo Lược của Tôn
Thất Dương Ky, Việt Sử Xứ Đàng Trong của Phan Khoang,
=119 =
Trang 30Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn, cho đến phần chú
thích trong các bản dịch Việt Sử Thông Giám Cương Mục,
Đại Nam Thực Lục Tiền Biên của Viện Sử Học Hà Nội,
cũng đều chép tên CHÚA Nghĩa là Nguyễn Phúc Trăn giống như sách của họ Tran © Cũng nên biết thêm, trước đó vào năm 1914, trong Bulletin de l'Ecole d'Extréme Orient va
trong Bulletin des Amis du Vieux Hué cũng đã ghi gan gan
như thế ®' Do đó muốn tiếp cận sự thật thiết tưởng nên tìm
hiểu thêm các chỉ tiết sau đây :
- tên Trăn và Thái bằng chữ Hán viết như thế nào ?
- những tài liệu sử sách nào thường ghi tên các vua
chúa triều Nguyễn ?
- cách ghi tên các vua chúa triều Nguyễn trong các
tài liệu sủ sách đó ra sao ?
- sự sai khác tên chúa Nghĩa giữa các tài liệu chữ Hán và các sử sách quốc văn như thế nào ?
1- Tên Trăn và Thái bằng chữ Hán viết như thế nào ?
Tài liệu và sử sách Việt Nam trước đây nói chung thường được ghi chép bằng chữ Hán Cách đọc chữ Hán của người Việt Nam tùy hoàn cảnh riêng tư, đôi lúc có chỗ hơi khác nhau Tuy nhiên ,luật phiên thiết" trong các Tự điển và Từ điển Trung Quốc vẫn là tiêu chuẩn phổ thông
tương đối chính xác cho người Việt noi theo khi đọc
Trường hợp cá biệt về nhân danh, địa danh, do sự cố ý của người đặt tên hay gọi tên, chữ và âm có thể không phù hợp
với nhau, hoặc có lúc chữ để ee tên lại không có trong các
Tự điển và Từ điển Trung Quốc mà cũng chẳng phải là chữ
Nôm ®' Tuy nhiên hai chữ Thái ÿ va Tran XŠ ở đây đều
có trong Khang Hy Tự Điển Cả hai chữ đều thuợc bộ Thủy
3 Ngoài hình bên trái là bộ Thủy 3, hình bên phải của hai chữ hơi giống nhau nhưng âm lai khác hẳn nhau môt
chữ là Thái Ä# phần bên dưới là chữ Thủy 2K, còn một chữ
là Tần % thì phần bên dưới là chữ Hòa ZK Hình chữ hơi
= FO =
Trang 31giống nhau này có thể làm cho người kém thận trọng dễ
nhìn nhằm mà phiên âm, Trăn thành Thái hoặc Thái thành Trăn chăng ? Có điều nếu nhằm là nhầm hai tên của một người, nhưng các bản Hệ Phổ của họ Nguyễn Phước lại chép hai tên của hai người riêng biệt Vậy ở đây ai tên là Tran và ai tên là Thái ?
2- Những tài liệu sử sách nào thường ghi chép tên các vua
chúa triều Nguyễn ?
Tài liệu sử sách đây là các Thần chủ, các Long vị, sách Miếu Húy Chư Tôn Tụ, các bản Tôn Phổ, Ngọc Điệp, các bộ sử Đại Nam Thực Lục, Đại Nam Liệt Truyện
Theo sự tìm hiểu của ông Nguyễn Phúc Lôi là hậu
duệ đời thứ chín của Hiền vương Nguyễn Phúc Tần, thì Thân chủ thờ các Chúa Nguyễn, trước đây có ghi rõ tên
tuổi, đã bị thất lạc trong chính biến năm Giáp Ngọ (1774)
Từ thời Gia Long về sau các Chúa được truy tôn, tên tuổi được ghi chép vào các Long vị để thờ trong Triệu miéu,
Thai miéu, Hung miếu và Thế miếu Tất cả Miếu hiệu ở
các Long vị đều được chép lại thas sách Miếu Huy Chu
Tôn Tự đễ thờ trong Điện Phụng Tiên (6
Ngoc Phổ nói chung là phổ hệ của dòng họ Nguyễn
Phúc gồm có Ngọc Điệp ghi chép dòng dõi tên tôi các vua chúa triều Nguyễn và Tôn Phổ ghi chép tên tất cả bà con trong hoàng tộc nhà Nguyễn Trước đây việc biên tu Ngọc
Điệp và Tôn Phổ cứ hai năm một lần, vào các năm Ất, Dinh, Ky, Tan, Quy do một ban biên tập gồm có Toản tu,
Ding luc, đứng đầu là một quan văn hàm Chánh nhị phẩm làm Tổng tài Ngọc Điệp duoc chép làm hai bản, bản chính
cất vào hòm vàng ở điện Càn Thành, bản phụ để vào hòm
vàng ở Quốc sử quán Tôn Phỏ được chép làm ba bản bản chính dâng vào Đại nội, hai bản phụ thì một để ở Quốc sử quán, một giao cho Phủ Tôn nhơn lưu trữ ở Phủ đường để sao thành nhiều bản cho các Hệ cất giữ và theo dõi Còn
các bộ sử như Đại Nam Thực Lục, Đại Nam Liệt Truyện,
= ØÏ =
Trang 32Đại Nam Hội Điển Sự Lệ thì đã được ấn hành tương đối
rộng rãi Gân đây các sử sách đó lại được dịch ra chữ Quôc
ngữ để lưu hành
3- Cách ghi tên các vua chúa triều Nguyễn trong các tài liệu
sử sách nói trên :
Cách ghi chép tên các vua chúa triều Nguyễn trong
các tài liệu sử sách trên đây không phải hoàn toàn giông nhau Tùy nơi, tùy lúc, tùy hoàn cảnh mà cách ghi chép có
khác nhau Để hiểu thêm vấn đề này, thiết tưởng cũng nên biết qua tục ky húy của ông cha mình thời trước "Nhập gia
vấn húy" là thái độ thận trọng trong lối xử thế tiếp vật của
người xưa Gặp nhau thường ít gọi thẳng tên, mà chỉ gọi nhau bằng thứ tự trong gia đình như bác Cả, chú Tư, anh Sáu bằng vai về trong làng xóm như cụ Hương, bác Lý „ bằng, chức tước, khoa hoạn trong xã hội như cụ Thượng, quan Doc, cau Tu, anh Phan Con cháu kiêng gọi tên tổ
tiên, dân chúng kiêng gọi tên vua chúa là để tỏ lòng kính
trọng những người trên trước, mất cũng như còn Nhưng trong chế độ quân chủ chuyên chế, việc kiêng cử trở thành điều cắm ky, câm gọi cũng như cấm viết tên vua chúa như
lối chữ viết thông thường Sách Đại Nam Hội Điển Sự Lé
có ghi rõ những phép tắc ky húy, đại để có những chữ câm
đọc chính âm mà phải đọc trại ra như "hoàng" phải đọc là
"huỳnh", "thái" phải đọc là "thới" có những chữ khi viết
phải thay bằng chữ khác như chữ "nhậm" {E phải thay
bằng chữ "dụng" FA, chit "ching" #f phai thay bang chir
"thực" ## có những chữ khi viết cần thêm nét 4 như
chit "hoa" 3, chữ "thực" #Ñ có những chữ cần bớt nét
như chữ "miên" #8 được viết là #ÿ, chữ "tông" 5 được viết là 5R ., có những chữ khi viết phải chia ra từng phần, bên trái chữ gì, bên phai chữ gì v.v để người đọc tự ghép
= 22 =
Trang 33lại mà nhận ra, như bên trái chữ "hòa" Z5 bên phải chữ
"trọng" Ji tức chữ "chủng" § ` Những ai lỡ phạm những phép tắc ky húy nói trên, tùy trường hợp nặng nhẹ phải chịu những hình phạt thích đáng Sách vở còn ghi chuyện
Đặng Huy Trứ đời Tự Đức, vì lỡ phạm húy trong kỳ Đình thí mà bị phạt một tram tru “oe và bị xóa tên trong danh
sách đỗ Tiền sĩ lẫn Cử nhân ©
Để tránh cho dân khỏi phạm lỗi nên vào năm Tự Đức thứ 14 (1861) nhà vua đã Tra lệnh cho Quốc Sử quán phải sao chép tất cả chữ quốc húy để công bố, tuy nhiên
không được ghi rõ chữ húy nào tên ai và ở vào thời nào
Một cách viết chữ ky húy khác là chỉ viết đến chữ
“huy" rồi để trống, ví như “Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đề Húy (để trống)" Sách Đại Nam Thực Lục khi viết đến tên các chúa hay các vua đều theo cách này Nhưng cũng trong Đại Nam Thực Lục, khi chép lại các Dụ buộc phải kiêng các tên húy thì lại chép theo lối tả mặt chữ "bên trái chữ gi, bên phải chữ gì" để se lại thành chữ húy, như tên húy của các chúa sau đây ©
1- bên tả bộ "thủy" _ bên hữu chữ "kim"
Trang 345- bén ta bộ "thủy" 3 bên hữu chữ "tần" #Ñ
từ các Long vị ở Triệu miếu, Thai miéu, Hung miéu và Thế
miếu Trường hợp ở Long vị của Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng Đề thờ ở án thứ hai bên hữu trong Thái miếu ghỉ :"
dé húy tả tòng Thủy hữu tòng Thái 3" ( tên húy của
vua : bên trái bộ Thủy bên phải chữ Thái, tức chữ Thái #š
Tài liệu độc nhất không theo lối tả mặt chữ "bên trái
chữ gì, bên phải chữ gì" mà được viết thẳng chữ tên húy các vua chúa triều Nguyễn là Ngọc Điệp Hai bản Ngọc Điệp trước đây để trong hòm vàng tại điện Càn Thành và Quốc sử quán, theo ông Nguyễn Phúc Lôi, hiện nay đều đã
= 24 =
Trang 35ˆ bị thất lạc Tuy nhiên bằng vào sách Tiên Nguyên Todt Yéu Phổ của Liên Đình Tôn Thất Hân viết bằng chữ Hán đã căn
cứ ở "Ngoc Điệp Tôn Đỗ, Thực Lục, Liệt Truyện cùng biên bản các nhà đề lại .", do Ưng Bình và Ưng Tôn dịch ra Quốc văn 0 thì cũng thấy được đầy đủ tên húy của các chúa Nguyễn, cụ thể như trường hợp Anh Tông Hiếu Nghĩa
Hoàng Đề " /ên là Phước Thái, lại tên Ngạn, con thứ hai
của vua Hiếu Triết, mẹ là Hoàng hậu họ Tổng "
Tóm lại, căn cứ vào : Long vị, sách Miếu Hiúy Chư
Tôn Tự, các Dụ trong Đại Nam Thực Lục, sách Tiên
Nguyên Toát Yếu Phổ, chúng ta có thể kết luận :
Chúa Nghĩa (1687-1691) tức Hoằng Quốc Công, truy
tôn là Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng Đế, có tên húy là
_ Thái 3; Nguyễn Phúc Thái Ø5 #1 A (1649-1691)
Còn Trăn là tên của ai đây? _ | ; Sách Hoàng Triêu Tôn Phô Tiên Biên quyền 4 việt
về con cháu của Thái Tông Hiếu Triết Hoàng Đế, đã ghi về bốn hoàng tử đầu nhưsau: ˆ ˆ „
- Hoàng tử thứ hai tức Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng Đế (xem Tð ở Ngọc Điệp),
- Hoàng tử trưởng húy là Diễn $M con bà Hoàng
Các sách Đại Nam Thực Lục Tiên Biên và Tiên
Nguyên Toát Yếu Phỏ cũng đều.ghỉ tương tự như thế Do
đó chúng tạ có thể nói được rằng :
a OF se
Trang 36Nguyễn Phúc Trăn Bi ŸR šš tước Cương Quận Công là em cùng cha cùng mẹ với chúa Nghĩa
4- Sự sai khác giữa các tài liêu chữ Hán và các sử sách Quốc văn gần đây :
Từ những tài liệu trích dẫn trên, tưởng cũng nên
xem lại chỗ sai khác về điểm nói trên của hai học giả tiền bối Riehard Orband và Trần Trọng Kim cùng một số
nhung lai cé 2 điểm khác với những sử liệu của triều
Nguyễn nói trên : một là ở số 2- chữ Thái Ÿ_ ghỉ ra chữ
Tran ŸŠ, hai là ở số 3- chữ šŠ ghỉ là Trăng, thiết tưởng có
phần gượng ép, bởi vì chữ B# không phải là một chữ
Nôm Trong các Tự Điển có ghi chit Nom thi chit Trang nếu có nghĩa là "mặt trăng, ánh trăng, ." thi ghi la hay
† hoặc ÄẼ , còn chữ Trăng nếu có nghĩa là "trối trăng, đóng
trăng, trói trăng" thì ghi là ## Hơn nữa, nếu đã có chi 3
là tên Chúa ở số 2-, thì theo đúng lệ ky húy, chữ 3Š ở số 3-
phải đổi thành chữ khác, như trường hợp chữ Thuần ï# ở
số 4- phải đổi thành chữ Hiệp #ð như đã ghi trong Tôn Phổ
b/ Còn sử gia họ Trần trong bản "Nguyễn Thị Thế
Phổ" của sách Việt Nam Sử Lược lại ghi chúa Hiển chỉ có
= 26
Trang 37-ba hoàng tử đâu là : Diễn 3Ấ, Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoằng Quận Công Nguyễn Phúc Trăn Bt #4 3% va Hiép tH
Chưa rõ họ Trần đã dựa vào những sử liệu nào khác những
sử liệu của triều Nguyễn nói trên để có quyết định này Riêng về Anh Tông Hiếu Nghĩa, nếu căn cứ vào hai cuốn
Việt sử xưa hơn viết bằng chữ Pháp mà họ Trần có ghi
trong phần "Những sách soạn giả dùng để kê cứu"
chúng ta vẫn thấy Chúa Nghĩa tức Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng Đề đều có tên húy là Nguyễn Phước Thới (Phước
Thới là ghi âm ky húy của Phúc Thái)
Ngoài ra, cái nhằm "Thái" ## ra "Trăn" ÄŠ ở một
số nơi trong các bản dịch Việt Sử Thông Giám Cương Mục,
Đại Nam Thực Lục, Đại Nam Liệt Truyện, của Viện Sử
Học Hà- Nội, có lẽ hoặc do sự thiếu cần trọng hoặc do sự
quá chủ quan của một số dịch giả khi chú thích (12), Trong khi đó ý hẳn để giúp độc giả đỡ tốn thì giờ về phần sưu tra
cần thiết, nên Đại Học Khánh Ứng ¿ ở Nhật Ban | da cho dién
thêm tên các vua chúa nhà Nguyễn vào chỗ trống sau mỗi chữ "húy" trong các bộ Dai Nam Thực Lục, Đại Nam Liệt Truyện trước khi đem in lai !*
Thật ra, tên Chúa Nghĩa là Nguyễn Phúc Thái và tên người em cùng cha mẹ với Chúa là Cương Quận Công Nguyễn Phúc Trăn không phải là chuyện xa lạ chỉ đối bà con trong hoàng tộc hằng lưu tâm đến dong họ
Có điều một sự thật nếu không được trình bày và pho bién sâu rộng, thì những, điều nhằm lẫn lúc đầu có thê vô tình được lặp đi lặp lại, lắm lúc dễ trở nên chân lý
Việc tìm hiểu tên húy của Chúa Nghĩa ở đây ngoài tinh cam "uống nước nhớ nguồn" của một người Việt tha
hương, còn nhằm ở một mức độ nào đó góp phần "trả sự
thực quá khứ cho lịch sử"
Trang 38
-'27-Chú thích :
(1) Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, I và II, Imprimerie Trung Bắc Tân Văn, Hà Nội, 1920
(2)- Hệ Phổ : Tài liệu chép tay của ông Tôn Thất Chi ở Hoa
Kỳ và tài liệu in của ông Tôn Thất Đông ở Việt Nam
- Hiền vương Nguyễn Phúc Tân, Tài liệu in của ông Tôn Thất Lôi ở Hué (anh 1)
(3)}- Tôn Thất Dương Ky, Việt Sử Khảo Lược, Quyền I, Tiên
Hoa, Thuận Hóa, 1949
- Phạm Văn Sơn, Việt Sử Toàn Thư, Thư Lâm ấn thư quán, Sài Gòn, 1960
- Phan Khoang, Việt Sử Xứ Đàng Trong, Khai Trí, Sài Gòn,
(5) Ở Việt Nam vào thời Nho học đang thịnh, những gia đình
có chữ nghĩa thường đặt tên con cháu theo các "Bộ chữ Hán" trong các
sách Tự Điển Tàu Ví dụ : Dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai tỉnh
„ Hà Đông một thời đặt tên theo "bộ Nhân" { , như Ngô Thi Uc fi, Ngô Thì Sĩ ‡È, Ngô Thì Nhiệm {É, Ngô Thì Chí ‡§, Ngô Thì Lữ Í5,
Ngô Thì Trí LÏ , Ngô Thì Hương #Ÿ, Ngô Thì Điển #Ä#., là cha con, anh em, chú bác, ông cháu và cũng là đồng tác giả bộ sách nỗi tiếng
Ngô Gia Văn Phái
Trường hợp các chúa Nguyễn lại đặt tên theo "bộ Thủy" 3, như
Nguyễn Hoàng ÄÄ, Nguyễn Phúc Nguyên ŠÄ , Nguyễn Phúc Lan WW,
Nguyễn Phúc Tần x ngay cả khi dùng "bộ Thủy" oe nhưng chữ đặt tên lại không có trong Tự Điển như chữ ŸŸ khi gọi tên lại dùng phần "hài thanh" củachữ ŸÑ là "khoát" BB
~ 08 ==
Trang 39Còn có trường nợp hình chữ Hán và tên gọi Việt không phù hợp nhau, ví dụ tên tác giả bộ sách /fiếu Cổ Đặc San nỗi tiếng là Vuong Héng Sén, nhung chit Han lai viét la Vuong Héng Thinh =
HB
(6) Triệu Miếu : dựng năm Gia Long t thứ 3 (1804) trong có khám thờ Triệu Tô Tịnh Hoàng Đế (húy Nguyễn Kim) Thái Miếu : dựng năm Gia Long thứ 3 (1804) trong thiết 9 án thờ 9 Đề - Hậu : Thái
Tỏ, Hiếu | Van, Hiéu Chiéu, Hiéu Triét, Hiéu Nghia, Hiếu Minh, Hiếu Ninh, Hiếu Vũ, Hiếu Định Hưng Miếu : dựng năm Minh Mạng thứ 2 (1821) trong có khám thờ Hưng Tổ Hiếu Khương Hoàng Đề (húy Nguyễn Phúc Luân, thân sinh vua Gia Long) Thế Miếu : dựng năm Minh Mạng thứ 2 (1821) trong, thiết 7 án thờ Đề - Hậu : Thế Tổ Cao Hoàng Đế, Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế, Hiến Tổ Chương Hoàng Đề, Dực Tông Anh Hoàng Đế, Giản Tông Nghị Hoàng Đế, Cảnh Tông Thuần Hoàng Đế, Hoằng Tông Tuyên Hoàng Đế Điện Phụng Tiên : Vào thời Gia Long có tên là Điện Hoàng Nhân, đến đời Minh Mạng cải tên thành Điện Phụng Tiên trong thiết 7 án thờ Đế - Hậu từ đời Gia Long đến đời Khải Định Điện Phụng Tiên cũng thờ như Thế Miếu nhưng có tính cách gia đình, các bà nội cung có thể vào cúng ky, còn ở Thế Miễu thì phụ nữ không được vào
(7) Xem Đại Nam Hội Dién Sự Lệ và Đại Nam Hội Điển Sự
Lệ Tục Biên, Ban dich của Nhà xuất bàn Thuận Hóa, Huế, 1993 (phần tránh chữ húy)
(8) Xem : - Quốc Triều Đăng Khoa Lục của Cao Xuân Dục,
Bản dịch của Trúc Viên Lê Mạnh Liêu, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Sài Gòn, 1962
- Đặng Huy Trứ, con người và tác phẩm của Nhóm
Trả Lĩnh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, _ 1990
(9) Xem Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Bản dịch của Viện
Sử Học ở Hà Nội, các tập V,VII và XXIX
(10) Trích bài "Tự Phổ Tiên Nguyên Toát Yếu" trong Tiên
Nguyên Toát Yếu Phổ (Tiền Biên) của Thái từ Thiếu phó, Cần chánh
điện Đại học si, Phè Quang Quận công, Liên Đình Tôn Thất Hân soạn Hán văn và xuất bản năm 1917, được Lễ bộ Thượng thư trí sự là Ưng Bình và Ưng Tôn dịch ra Quốc văn và xuất bản năm 1935 Tác giả và dịch giả đều là những người đức vọng cao nhất trong Hoàng tộc, lại cũng là những học giả, văn thi gia nỗi tiếng thời cận đại, có trách nhiệm viết lại lịch sử của chính tổ tiên mình Các ngài lại đã căn cứ vào những
sử liệu căn bản nhất để viết nên thiết tưởng sách phải có độ tín dụng rất cao (ảnh 2)
29
Trang 40-(I1) - Cowrs d'Histoire Annamite a l'usage des Ecoles de la Basse Cochinchine par P.J.B Truong Vinh Ky, lére édition, Saigon, Imprimerie du Gouvernement, 1877, 2é volume, p.155
- Alfred Schreiner, Abrégé de I'Histoire d'Annam, Deuxiéme édition, Revue et Augmentée de la période comprise entre
1858 et 1889 Saigon, chez l'Auteur : 37 rue de Bangkok, 1906, p.80
(12) Ví dụ trong bản dịch Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, trang
129 đã có đoạn :" Mùa thu, tháng 8, hoàng từ thứ ba là Chưởng cơ Tran (lại tên là Huyền) mắt, tặng Thuan tín công thần Hữu quân Đô đốc phủ Chưởng phủ sự Thiếu bảo Cương Quận Công ", như vậy là
đã biết hoàng tử thứ ba là Cương Quận Công Nguyễn Phúc Trăn rồi,
thế mà đến trang 132 gặp tên húy người con thứ hai của Thái Tông là Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng Đế, người dịch cũng lại chú là {Phúc
Tran} nia!
(13) Xem ví dụ trường hợp tên húy của Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng Đề ở nguyên bản in của Quốc sử quán triều Nguyễn (quyền 6 tờ la), đối chiếu với bản in lại của Đại Học Khánh Ứng ở Nhật Bản trang
§7