Phần 1 của cuốn sách Văn học Nam kỳ lục tỉnh (Tập 1) cung cấp cho bạn đọc những nội dung về: lược khảo Phong trào văn chương ở Nam kỳ; miền Nam khai phóng; tác phẩm Tâm trạng Đồ Chiểu; tìm hiểu Đồ Chiểu qua Lục Vân Tiên; tâm lý dân chúng xuyên qua văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu; thân thế và sự nghiệp cụ Phan Thanh Giản;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 2DÒNG VIỆT SỐ 19
Trang 5LỜI TÒA SOẠN
Để thực-hiện số báo này, Dòng Việt đã
thu-thập bài vở của các vị cựu Giáo-
sư, các vị học-giả cũng như thân hữu
gần xa của Ban biên-tập
Vì hoàn-cảnh đặc biệt chúng tôi đã không thể trực-tiếp xin phép tất cả các tác-giả và nhà xuất-bẩn liên hệ đến một số bài đăng trong đặc-san này Chúng tôi mong, với lòng yêu mến văn-hoá Việt-Nam, quý vị sẵn sàng thứ lỗi cho Ban biên-tập
DÒNG VIỆT tôn-trọng quyền tự-do
phát biểu của các tác-giả và không chịu trách-nhiệm về những ý-kiến đã
được phát biểu
Ban Biên-tập DÒNG VIỆT
Trang 6MỤC LỤC
-o0o-
I.- Dai-cwong -
1.-Lược-khảo Phong-trào Văn-chương ở Nam-Kỳ
2.- Miễn Nam khai-phóng (Nguyễn Vy Khanh) 31
HI.- Tác-giả và Tác-phẩm -
3.- Tâm-trạng Đồ Chiểu (BS Ngô Quang Lý) 71
4.- Tìm hiểu Đồ Chiểu qua “Lục Vân Tiên” (Võ Lang) 93 5.- Tam-ly dân chúng xuyên qua văn thơ của
Nguyễn Đình Chiểu (Phù Lang, Trương Bá Phát) 125 6.- Le Taoisme dans le “Lục-Vân-Tiên”
(Trần Cửu Chấn) 144
7.- Thân-thế và sư-nghiệp Cụ Phan Thanh Giản
(Huỳnh Khắc Dụng) — 153
8.- Phan Thanh Giản đi sứ ở Paris (Trương Bá Cẩn) — 175
9.- Phan Thanh Giản dưới mắt người Pháp
qua vài tài-liệu (Nguyễn Thế Anh) 195
10.- Lời Tòa-soạn về Trương Vĩnh Ký 208
11.- P.J.B Trương Vĩnh Ký, người đã mở đầu một
kỷ-nguyên văn-học Việt-nam mới (Viên Đài
và Nguyễn Đông) 209
12.- Trương Vĩnh Ký di-cảo (Đoàn Khoách) 229
Trang 713.- Kiếp phong trần (Trương Vĩnh Ký - 1882
Nguyễn Văn Sâm giới thiệu và sơ chú)
14.- Qua quyén “Cours d’Annamite Parlé” cia
Trương Vĩnh Ký thử xem tiếng Việt đã thay
17.- Hồ Biểu Chánh and the Early Development
of the Vietnamese Novel (Cao Thi Nhu-
Quynh & John C Schafer)
III- Từ Bốn Phương Trời -
18.- Những hòn Vọng Phu ở Việt-Nam
(Trần Nhâm Thân)
19.- Phiêu-bồng “Theo Ngọn Mây Tần” của
Hoàng Mịch Điển (Tường Phong) 20.- Danh-sách độc-giả ủng-hộ Dòng Việt kể từ
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
“NON LINH ĐẤT PHƯỚC ”
“Non Linh Đất Phước trổ hoa thần” Sương Nguyệt Anh (1864-1921)
(Hoa Mai)
“Hoành Sơn Nhất Đới, Vạn Đợi Dung Thân ”
Lời sấm truyền của Nguyễn bỉnh Khiêm, sau 500
năm lịch sử, vẫn còn vang đội, từ cuộc nội chiến “TRONG- NGOÀI”, qua hành trình Nam Tiến, đến các cuộc chấp tranh
nội bộ, ngay cảỉ trong khả năng Thống Nhất và những giai
đoạn “tam liệt ngũ phân” của tương quan Việt Nam với nhiều
thế lực quốc tế ! Cho đến nay, gần 30 năm sau khi Miễn Nam
Quốc Gia bị sụp đổ, Hoành Sơn vẫn luôn luôn giữ một bản
chất uy nghiêm của tiến trình lịch sử tuần hoàn trong bao
nhiêu Tỉnh Anh của con đường “Dung Thân” luôn đấu tranh
để thực hiện
Do đấy, cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 một luận án
Tiến sĩ được trình tại Đại Học Quốc Gia Úc Đại Lợi và được
Ban Nghiên Cứu Đông Nam Á Châu của Đại Học Cornell -
Hoa Kỳ xuất bản, ghi nhận chính xác một Vương Quốc “Đàng
Trong” do Li Tana sưu tập, kết hợp sự hình thành của “Xứ
Dang Trong” (The Inner Region), từ chính trị, quân sự để
xây dựng, phát triển một nền kinh tế, một hệ thống xã hội
mới ô Việt Nam từ hai thế kỷ I7 và 18 !
Trang 9Tác giả tuy không để cập cụ thể đến một nền văn
minh sáng tạo cùng một tiến trình văn hóa độc lập trong bao nhiêu sinh hoạt của một vùng đất mới, nhưng sáng lên
từ kinh tế, xã hội và khả năng hội nhập, đã phát huy
những suy tư, những tình cảm của một nguồn sống mới khác
biệt với “Đàng Ngoài” tuy vẫn giữ gìn và tôn trọng nền đạo
lý, văn minh cổ truyền của Dân Tộc Dưới sự lãnh đạo của
Vương Triểu các Chúa Nguyễn khả năng phát triển ấy càng
ngày càng mạnh mẽ, và cho đến thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20,
từ khi có sự thống nhất đến những giai đoạn bị xâm lăng,
“Đàng Trong” như vượt lên, tạo cho bẩn chất “Đầng Trong”
một nên văn hóa mới, hoàn toàn Tự Do trong Sáng Tạo, sắn
sàng tiếp thu và hội nhập với thế giới bên ngoài, trong tương
quan thuận lý hay nghịch lý, để có thể tự bản thân xây dựng
bản sắc “Vạn Đại Dung Thân” của mình ! Như thế, cũng có
nghĩa Miền Nam, từ Hoành Sơn trở vào, muốn có một “tự
thể” quốc gia, vì từ Minh Vương (1675-1725) đã đặt tên
nước là “Đại Việt và danh xưng “Quốc Chúa”, được tấn phong
từ 1693 do chính Vượng Triểu Đàng Trong thực hiện, không
có sự yểm trợ chính trị chư hầu của Trung quốc như “An
Nam Quốc Vương” ở Đàng Ngoài ! Với khả năng “hoàn toàn độc lập” đó như đã được xác định từ Triéu Đình các Chúa
Nguyễn đến sinh hoạt kinh tế, xã hội của toàn dân, nguồn tiếp thu, hội nhập và sáng tạo từ các nên văn minh, tiến
bộ trên thế giới được tự do phát triển, để dần dần vượt
qua mọi biến chuyển nội bộ, hình thành được một nếp sống
tư duy phong phú, đặc sắc của Đàng Trong Mạch sống Đàng Trong ấy được dinh dưỡng qua suốt thế kỷ 19 đến
đầu thế kỷ 20 khi “bản chất” Dung Thân đó đã trở thành
một khả năng “tự thể” của một miễn Nam tự lập đang luôn luôn m đạt mọi phương tiện để phát huy và phát triển trong
lịch trình của bản thân các Nguồn Sống của mình ! Và cũng
do đấy, sự khai phóng được tiểm tàng qua hơn ba thế kỷ, được từ từ thực hiện suốt thế kỷ 19 đến thế kỷ 20 Chữ nôm,
Trang 10chữ quốc ngữ, chữ Pháp vì thế cũng là những phương tiện tiếp thu và sáng tạo, để đào luyện những trí tuệ mới cho Miễn Nam và thực hành cho đến 1975 Sau 1975, lịch sử tuy biến chuyển với những tương quan và hệ lụy quốc tế, nhưng cho đến đầu thế kỷ 21 này, sau gần 30 năm sụp đổ, Miễn
Nam vẫn vững ving đứng dậy trên mọi bình diện để luôn
luôn thực hiện lời sấm ký “Vạn Đại Dung Thân” của lịch sử
địa phương mình : “Non Linh Đất Phước Trổ Hoa Thần”
Do đấy, giới thiệu cùng các thân hữu và bạn đọc khung trời Miễn Nam trong tự thể quốc gia của một Xứ
Đàng Trong, Dòng Việt chỉ mới ghi nhận một vài hình
ảnh, tâm cảnh của một tiến trình “Văn học Nam Kỳ Lục Tỉnh”
chứ chưa để cập đến lịch sử thâm sâu của giải đất Hoành Sơn từ Sông Gianh đến mũi Cà Mau đã phát xuất nhiễu nguồn sáng tạo suốt 500 năm qua và hôm nay vẫn nổ lực
vướn mình qua bao nhiêu thử thách từ trong nước đến hải ngoại, với kỳ vọng thắp lên ánh sáng của Trí Tuệ cho bao nhiêu thế hệ mai sau./
Miền Viễn Phương Ấn Độ _ Đêm Trăng Tròn Tháng 10, Hy Mã Lạp Sơn
DÒNG VIỆT
Trang 11NHỚ TÌM ĐỌC TRONG NĂM 2006
các số DÒNG VIỆT đã xuất-bản hiện còn rất ít :
Số2.- Tuyển-tập Ngôn-ngữ và Văn-học Việt-nam
(2 tập).- $ 16.00
Số 3.- Chữ nghĩa tiếng Việt - $ 12.00
Số 6.- Đại-học Văn-khoa Saigon (Tap I) - $ 12.00
Số 8.- Đại-học Sư-phạm Huế (Tập I) - $ 12.00
Số 9.- Đại-học Văn-khoa Saigon (Tập 3) - $ 12.00
Số 10.- Đại-học Sư-phạm Huế (Tập 2) - $ 12.00
Số 14.- Kỷ niệm 200 năm Cố-đô Huế (Tập 3) - $ 12.00
Số 15.- Vua Quang-Trung Nguyễn Huệ - $ 12.00
Số 16.- Tuyển-tập phê-bình Đoạn-Trường Tân-Thanh
(Tập 2) - $ 12.00
Số 17,- Cuộc Nam-tiến của Dân-tộc Việt - $ 12.00
Số 18.- Tuyển-tập phê-bình Đoạn-Trường TânThanh
(Tập 3) - $ 12.00
Số 19.- Văn-học Nam-kỳ Lục Tỉnh - $ 12.00
Thư từ, chỉ-phiếu xin dé : SEACAEF
17212 Blue Fox Circle.- Huntington Beach, CA 92647
Phone : (714) 842-7589 - E-mail : SEACAEF@socal.rr.com
Trang 12I- ĐẠI - CƯƠNG
Trang 14LƯỢC-KHẢO
Phong-trào văn-chương ở Nam kỳ
(1865 - 1942)
Hải Đường.- Chim Hải-Yến
Từ ngàn xưa với Sĩ-Nhiếp, thái thú người Tầu sang cai- trị quận Giao-Chỉ (187-226), qua đến Hàn-Thuyên và Nguyễn-
sĩ-Cố nhà Trân, thế-kỷ thứ XI; đời Lê-Hỗng-Đức (1460-1497)
và mãi đến Triều Nguyễn, gồm thâu thiên-hạ về một mối, dân-
tộc Viê-nam trải qua biết bao trang lịch-sử, hay cũng nhiều mà
dở cũng lắm, nhưng giữ được tiếng Việt-nam, cdi hén chung còn sống mãi đến ngày nay Đời nọ sang đời kia, cái hồn ấy vẫn bao trùm cả non sông đất Việt và chan thấm trong văn- chương ở khắp ba Kỳ:
“Vơ-vẩn tơ vương hồn Đại-Việt
“Thanh-tao thép lột giọng Hàn-Thuyên
Người nào đọc hai câu nay, - dầu người ấy ở vùng núi
Nùng sông Nhị, núi Ngự sông Hương, hoặc ở cánh Đồng-Nai, -
lại không bâng-khuâng, cảm-động?
Vậy, trong văn-học-sử, chẳng có văn-chương Bắc, Trung hay Nam Người Việt-nam chỉ có văn-chương Việt-nam
Trên giải đất Việt, đời sống của dân ở vùng nầy, dính-
dấp mật-thiết với dân vùng khác, vì ý-kiến về xã-hội, chính-trị, gây thành phong-trào lôi cả một xứ đi Dầu vậy, mỗi vùng cũng
có một phong-trào nhỏ và riêng về xã-hội, chính-trị, của nội vùng ấy Nên văn-chương Việt-nam đi đến vùng nào, tuy còn
giữ nguyên-vẹn bản-sắc về sự hòa-hợp âm-điệu của tiếng Việt-
nam, cũng bị ảnh-hưởng không nhiễu thì ít của vùng ấy Văn-
chương Việt-nam, như văn-chương của các dân-tộc trên trái đất,
là bức tranh vẽ cảnh-tượng của người Việt-nam, ghi lại cho đời
Trang 15sau những cuộc thay đổi liên tiếp trong xã-hội Việt-nam, chép lại các luồng tư-tưởng của văn-nhơn; văn-chương Việt-nam cũng đi theo thời-đại như hình với bóng; văn-chương Viét-nam
là di-tích của ngày xưa
Mấy hàng sau nầy chỉ lược-khảo các giai-đoạn phong-
trào văn-chương ở Nam-kỳ Phong-trào nây được vẽ lại, phỏng
theo sức lôi cuốn mãnh-liệt của các văn-nhơn có thinh-danh ở
đất Bắc và của phái tân-học, do âu-học thành tài và khuynh-
hướng theo văn-học Pháp
Hơn nửa thế-kỷ nay, xã-hội đi, văn-chương ở Nam-kỳ
cũng tuân theo luật tiến-hóa mà đi, đi kể theo sức phát-triển của sanh-hoạt mới trong mọi phương-diện, đi đến một nơi mà
người tạm cho là đầy hứa hẹn:”điểu-hòa cái khí-vị êm-đểm của
nên học-thuật cổ Trung-hoa với tư-tưởng xán-lạn của văn-học Pháp”
-o0#0o-
Văn-chương Việt-nam, ở Nam-kỳ, từ Trương-vĩnh-Ký
đến ngày nay, trải qua năm thời-kỳ
Giai-đoạn thứ nhứt đi từ 1865, năm sanh của Gia-định
báo ở Sà¡-gòn, đến 1917, năm ra đời của tạp-chí Nam-phong ở
Tháng ba năm 1864 Đoàn sứ-giả Phan-Thanh-Giản
sang Pháp điểu-đình hòa-ước với Hoàng-đế Napoléon III, dang
chuộc lại ba tỉnh mất, đã về tới Sài-gòn Vua Tự-Đức có phái
Trang 16theo sứ-quan thông-ngôn Trương-vĩnh-Ký Trương tiên-sanh đi
xa, thấy người; trở về nhà, xét mình, rồi mong được theo dõi người Mà phải làm thế nào bây giờ? Phải có ai ra lãnh trọng-
trách cổ- động, truyển-bá quốc-ngữ đã; rồi, lân lần, giáo-dục quốc-dân Mãi đến 1869, Trương-vĩnh-Ký mới được ông Ernest
Poteau chủ-bút và chủ-nhiệm tờ Gia-định bdo từ 1865, giao
chính-thức tờ báo đầu của nước Nam
Chữ quốc-ngữ, nhân đó và từ đó, được phổ-thông mau
lẹ cùng làng, khắp tổng ở xứ Nam-kỳ
Sau chén thuốc độc nhân-đạo và anh-hùng của nhà chí-
sĩ Phan-Thanh-Giản, có một nhóm người hiểu rõ tình-thế ,
thành-thật đưa tay hợp-tác với chánh-phủ mới Trong đạo-binh tiên-phong, có Pétrus Trương-vĩnh-Ký, Paulus Huỳnh-tịnh-Của
và Trương-minh-Ký, một mực cố gắng, dùng cây viết mở-mang
dan-tii ding nâng cao trình-độ của dân Đã nhận được là bậc
học-giả, sáng-suốt trong thời, các ông viết sách chữ quốc-ngữ
vịn theo cốt-truyện tây hay tầu; các ông dịch sách tây, sách tàu
ra tiếng ta Ý-tưởng mới lạ, lần hồi được thâu-nhập
Ba nươi mấy năm qua Lối 1900, ông Canavaggio lập
ra tỜ Nông-cổ mín-đàm; và lối 1906, ông Schneider cho ra hai
tờ Lực-tỉnh tân-văn và Nam-trung nhựt-báo Mấy tờ báo nầy,
tuy chẳng giúp được nhiều về mặt tinh-thần, chớ có công lớn
trong việc phổ-thông văn quốc-ngữ
Trong thời đó, những nhà văn là nhà viết báo Những
tay kỳ-cựu đã tận tâm trong báo-giới phần đông có nho-học
Lối hành-văn của các ông nhái theo văn-thể tàu Điệu văn cân đối, đọc lên rườm-rà êm tai, lại được người cho là hay và bắt
chước theo
Văn-học trong thời nầy nhuộm một màu sắc bi-quan,
gần như chán cả sự đời Đó là giọng văn lâm-ly thống-thiết của
một hạng văn-nhơn “ẩn-dật”, ôm chặt chủ-nghĩa “giữ sách một mình, ngày tháng vui cùng nước, mây, hoa, cổ" Họ gieo rắt
2»
trong văn-chương “nỗi lòng khó tổ” của họ.
Trang 17Tiêu-biểu cho phái nầy có cụ Cử-Trị và tác-giả quyển
“Lục-vân-Tiên”, cụ Đồ Chiểu
Cụ Đồ Chiểu đã nói:
“Công danh chỉ nữa, ăn rồi ngủ,
“Mặc lượng cao dày xử với dân
Cũng như cụ Cử Trị đã than:
“Uốn khúc sông rồng mù mịt khói,
“Văn-que thành phụng ủ xào hoa
“Tan nhà cắm nỗi câu ly-hận
Mấy câu thơ chỉ ra được cái lòng ủ-rũ của thi-nhân đối với thế-sự, cái mối thương-tiếc thiết-tha của thi-nhân đối với
giang-son
Từ 1908 trở đi tới 1917, nhiều nhà văn ở Nam-kỳ chịu
sức xô-đẩy của nhóm trí-thức Bắc Trung, đua nhau dịch truyện Tầu, in thành sách hoặc đăng lên báo —- Nhắc lại trong thời-kỳ
nay, dân-gian vô-sự, thái-bình, kiếm sách đọc mua vui Trong các gia-đình, ít lắm, cũng có một vài bộ: 7ây-Du, Phong-Thân,
Téng-Dich-Thanh
Tiếng nói rằng dịch truyện Tàu, chớ thật sự nhà văn chỉ
diễn ý theo họ, nương cốt chuyện mà kéo ra cho dài Sách dịch
bằng thế nầy, mất cả giá-trị văn-chương vì lối văn dùng mà dịch không có quy-tắc Người ta chuyên-chú về lượng chớ
không quan-tâm đến phẩm Dịch-giả giúp độc-giả giết được
thì-giờ là mãn-nguyện rồi
Đây là văn xuôi, thứ văn còn phải chịu thay đổi nhiều mới xứng-đáng làm nền-tẳng văn-chương một nước
Về văn vẫn, có lối đặt theo điệu “về”, “tho”, “phu” va
“ca”, gọi “ca trù thể cách”
Nhà văn nương theo một chuyện thật, xảy ra gần họ, đã
làm xôn-xao dư-luận rỗi viết: về “Đỗ-hữu-Phương”, về “Đốc
phủ Ca”, về “Con Cúc”
Chúng tôi xin trích một đoạn:
Trang 18“Nghe vẻ nghe ve nghe về con Cúc,
“Trâu ăn mấy chút, bắt chủ tôi đn
“Nắm tóc tôi lên, đau đầu cha-chả
Còn “thơ” thì tác-giả vịn theo cổ-tích mà đặt Trong
thời-kỳ bấy giờ, ai lại không biết thơ “Lâm-sanh Xuân-nương”, thd “Nang Ur’, thơ “Chàng Nhái”, thơ “Bạch-viên Tôn-Các”
Có khi nhà văn, muốn khen hay chê ai, cũng dùng lối
thơ mà gieo ý-tứ trong dân-gian như thơ “Thông Chánh” hay thơ “Bảy Tài”, đến trẻ con cũng thuộc lòng
Tác-giả viết:
“Trà-vinh nhiều kẻ kỳ tài
“Có thây Thông Chánh thiệt là khôn ngoan”
*Đêm nằm nát một lá gan
hay là:
“Bảy Tài tính toán gần xa,
“Đánh lượng bổn lợi vậy mà cầu âu,
“Tài-phú cầm chén khui nhâu
Còn lối “phú”, thì đặc-sắc có “Con Cua phí”, và ban
“Túy-Kiêu phú”, được làm biểu-hiệu cho văn-thể nầy:
“Thấy hang nọ đôi cua ẩn bóng,
“Kiếm mdi ăn, ngày tháng nuôi nhau;
“Cua cdi bèn mình lột chịu đau,
“Cua đực lại toan bề dưỡng-dục
“Chông nằm ngoài giữ loài ác-tục,
“Vợ nằm trong lánh chốn ngưu đầu
“Dạ hiểm sâu dĩ oán báo ân:
“Đem trai vào cắn ruột ngoe càng
“Kéo miệng lỗ ăn tươi nuốt sống
Trang 19“†rương-Thủ-Chí thấy bèn cảm-động;
“Nghĩ cuộc đời “nhơn vật dữ đồng”
Ta lóng tai nghe Túy-Kiểu than, sau khi Từ-Hải vì nàng
mà chết đứng:
“Từ vương i!
“Duyên tưởng vậy nào hay đâu vậy,
“Tấm lòng nây phải quấy có ông trời hay
“Duyên thấm duyên chưa mấy nhiêu ngày,
“Nghĩa nặng ngĩa tôi còn mang ơn đó
“Từ nghe mấy lời Kiều khuyên dứi,
“Day mặt nhìn giọt lụy ngã xiêu
Thì Hồ-Tôn-Hiến tiếp:
“Quân bây ôi!
“Chén rượu đào, quân bây rót mời khuyên,
“Nay nây uống chắp-chút, rồi đờn chơi vài chặp”
Liên theo đó:
“Kiều vâng dạy, nhỏ ròng lụy ngọc
“Trổi khúc đờn đau thấu về đâu!
“Rao một câu gió tham mua sdu,
“Bốn giây chảy máu đầu năm ngón
Hồ-Tôn-Hiến nói:
“Ờ ờ, hèn chỉ Từ thác cũng là xiéu;
“Té ra lực tam quân bây thua giọng nàng Kiều,
“Xô chẳng rúng, Kiều than mà ng
“Gái quốc sắc như con sóng lượn,
“Mặt yêng-hùng như chiếc thuyên cây
“Lực hông-nhan mỏng-mảnh mấy nhiêu ngày
Bản 7úy-Kiêu phú (1) nầy đáng cắm một cột trụ trong
văn vẫn ở thời-kỳ đó
Trang 20Còn lối ca, gọi là “ca-trù thể-cách”, diễn ra được nhiều
ý-nghĩa ngộ Những bài văn nôm đó vịn theo truyện tàu hay là
một ý-nghĩ gì về cuộc đời như:
“Đức Thánh-quan Hạ-bì thuở nọ; Thấy “Trương-
Liêu ra dụ hàng Tào Đức Thánh-“quan rằng có lời giao; Tào có khứng để “cho ta nghĩ: Một là đừng
lân-la nơi đôi chị; “Hai là ta hàng Hớn bất hàng
Tào; Ba là “nghe ông Huyền-Đức ở nơi nao Dầu ngàn “đặm cũng tìm cho biết Lời gắn vó định-“ninh chí quyết; Chẳng nghe ta, ta cũng đục xông
“So trong Tam-quốc anh-hùng
Hay là:
“Ba vạn sáu ngàn ngày thấm-thoát, từ mọc “răng cho đến thuở bạc đầu Cái nhục vinh “góp lại chữa bao lâu, ngôi thử ngấm thợ “Trời nên khéo qud Nui
tự tại cớ sao sông “bất xóa ( 2)
Cũng trong tập “Ca-irà” của Paulus Của, có mấy bài văn-tế thành những áng-văn tuyệt-tác: Văn-tế Thủ-khoa Ngãi tế
vg; văn-tế con Cóc; văn-tế bằu rượu; văn-tế vong-hồn mộ nghĩa
Còn một lối viết nữa, người gọi là “tuồng” Như tuông
“Thằng Lãnh bán heo”, ai mà không biết trong thời đó Thằng
“Lãnh” thành một nhơn-vật trường-sanh nữa Trong câu chuyện
hằng ngày, hai tiếng “thằng Lãnh” để chỉ “anh chỗng sợ vợ” — Văn viết còn thường lắm; lối viết như nói chuyện mà có van tiếp hoài Tỉ như;
“Giáo đầu.- Ông cha xưa để lại, con cháu “chẳng có sửa-sang, làm phiền tướng phá “quân, sanh con nên
bất hạnh, đặt tên tôi là “thằng Lãnh, nào có lãnh
phân chỉ, vợ tôi “thiệt họ Hà, ai có đi ghe mới biết
Tác-giả viết điệu nây như “kịch”, nhưng ý-tứ không
khít-khao và nhứt là cách sắp-đặt còn vụng-về lắm
-o0*0o-
Trang 21Tóm lại, văn-chương ở Nam-kỳ từ 1865 đến 1917 có tính-cách phổ-thông chữ quốc-ngữ bằng lối dịch sách Tàu và
Tây Cách hành-văn còn đạo theo văn-thể Tàu: cân đối, rườm-
rà, êm tai Ý-tứ diễn ra không có thứ-tự và nhứt là còn lờ-mờ
lắm
Nếu có bản văn nào đây ý-nghĩa thì giọng văn đi từ
lâm-ly thống-thiết đến cười cợt ngạo đời
Văn-xuôi chưa được dổi-dào về hình-thức và tư-tưởng thì văn vần cũng không tiến được một cách đặc-sắc
Chúng ta tạm cho thời-kỳ nây (1865- 1917) là thời-kỳ
phôi-thai của văn quốc-ngữ ở Nam-kỳ
-o0*0o-
Giai đoạn thứ hai đi từ 1918, năm ấy trường Đại-học
Đông-Dương mở cửa, tới năm 1926 hai cụ Phan về nước
Nhắc lại, Tạp-chí Nam-Phong, một cơ-quan truyền-bá danh-từ mới và điểu-hòa phân chữ hán với phần quốc-văn, đã
Nam một cách mạnh-mẽ Học-sanh, người Nam-kỳ ra Bắc ở
trường Đại-học trong mấy năm, có dịp chịu ảnh-hưởng sâu-xa
của những luông tư-tưởng mới, được diễn ra bằng danh-từ mới
trong một tạp-chí đứng-đắn về mặt văn-chương: Nam-Phong
Trở về Sài-gòn, mấy cựu sanh-viên cao-đẳng đem theo cách viết văn quốc-ngữ mơi-mới và cái hay trong chỗ mới đó mà
phân phát cho gia-đình tức là cho xã-hội Nam-kỳ
Với Nam-phong, ông Phạm-Quỳnh cổ-động bảo-tổn
quốc-túy, hòa tân cựu, lập nên một kho tài-liệu chín-chắn cho những bậc học-giả muốn biết đại-khái về văn-chương học-thuật của Tây-phương hay tinh-thần văn-hóa của Đông Á
Tiếp theo ông, - mười năm sau - có Hoàng-tích-Chu
một cựu du-học-sanh ở Pháp, dạn-dĩ thực-hành lối văn xuôi
mới, viết theo điệu văn Pháp trong tờ Đông-Tây
Trang 22Văn “Nam-Phong” khô-khan, đây chữ hán, thi văn
“Đông Tây” gọn-gàng nhưng hơi “sống-sượng” vì nó theo văn Pháp từ ý-tứ đến cách hành-văn
Năm 1915 ở Bắc, năm 1918, ở Trung, thi Hương đã bãi Mộng làm quan đã tàn, các nho-sĩ phải tìm nẻo xoay hẳn qua
địa-hạt quốc-văn Tản-Đà Nguyễn-khắc-Hiếu tiêu-biểu cho phái “cất bút lông vào hòm sách cũ và bắt đầu câm bút sắt” Tiên-sanh gieo “cái buồn thẩm của một phẩn-tử của giai-cấp
quý-tộc ở thời-kỳ sắp trúc đổ” trong văn-chương Tiên-sanh
“réo-rắt cung đàn” ra những tiếng “toàn một điệu buồn-bã, tức-
bực, ủ-ê, chán-nần, bi-quan” Quyển Khối tình con và những bài
“luận-thuyết con con, lý-thú, ngộ-nghĩnh” của Tản-Đà đã đăng
trong Mam-Phong và Đông-Dương tạp-chí rải mầm lãng-mạn
trong văn-chương Nam-kỳ Ảnh-hưởng của Tần-Đà đối với lớp
tân-học đã ra ngoài cái kết-quả mong đợi
Người yêu văn-chương ở Nam-kỳ đua nhau viết đạo- mạo theo lối “Nam-Phong”, réo-rắt theo lối “khối-tình”, “giấc
mộng” hoặc mới-mẻ như Hoàng-tích-Chu sau nầy Một nhà văn
ở Nam-kỳ, ông Đông-Hồ đã cho đăng bài lệ-ký Linh Phượng ở một số Nam-Phong năm 1928
Ở thời-kỳ nây, văn-nhơn ở Nam-kỳ còn ít lắm Văn- chương đương chuyén-bién dif-d6i ding thành một thứ văn-
chương ứng-dụng, bên-bỉ
Rủi thay! Một nguồn văn-chương đây ý- -nghĩ dâm-ô, uế-trược đổ ra chan cả mấy tỉnh Nam-kỳ Trên giải đất Đồng-
Nai, làn văn-chương ác-hại đó thổi rất mạnh Tiểu-thuyết “tình”
điệu “Hà-Hương phong nguyệt", “Người bán ngọc”; tiểu-thuyết
“trinh-thám”, “kiếm-hiệp” điệu “Một mặt hai lòng”, “Cái nhà
bí-mật”, “Châu về hiệp phố”, “Lửa lòng” xuất-bản dễ-dàng và
bán chạy như “tôm tươi”
Người ta, nhứt là con trẻ, phải mê-mệt vì hoan nghênh
lắm Và văn-chương nây cũng theo luật tự-nhiên mà bị bd
quên mất
Trang 23Sau lể Đình-chiến trận giặc Âu-châu (1914-1918)
Ngày 24/08/1919, nổi lên ở Nam-kỳ phong-trào “tẩy chay
khách trú”
Lần thứ nhứt, trong lịch-sử báo-giới Nam-kỳ, chúng ta
thấy hiện ra lối văn “đánh lộn” Các nhà viết báo đồng-tâm hiệp-lực kêu gào và cổ-động buộc người Nam-kỳ - trong sáu
bẩy tháng thôi! — kết “thành dây đoàn-thể, để binh-vực quyển lợi An-nam đối với khách ngoại-bang.”
Cũng trong lối đó, Nguyễn-háo-Vĩnh, người Nam-kỳ
đậu cử-nhân tiếng Anh, về Sài-gòn ông viết quốc-ngữ mắng
"Annam điếc hay là cục đất.” Chủ-bút tờ Lục-tÏnh tân-văn, bấy
giờ dưới quyển chỉ-huy của Nguyễn-văn-Của, bất bình, sanh ra một trận bút-chiến “đài nhằng”
Duyên-cớ ấy là vì '“Tố-Tâm” mới, mới lắm
Tác-giả nó là ông Hoàng-ngọc-Phách, một cựu sinh-
viên trường Cao-đẳng Sư-phạm, gặp “trở lực” của phái “đạo-
đức” Ông Phách nhiễm sâu phong-vị của óc lãng-mạn các
th-sĩ Pháp Tâm-lý các vai truyện được tả đúng Ái-tình
của họ được diễn-đạt một cách châu-đáo từ lúc mới sinh
đến lúc kết-liễu tàn-ác một đời người Tác-giả quyển Phê-bình
và Cảo-luận nói: “văn mới, truyện mới, cách bố-cuộc có trật-
tự, có cơ-mưu, có lý-do, hành-động theo tâm-lý và giải-cấu hợp tự nhiên - Thật là cuốn sách của người có học và viết nghề.”
Trang 24“Tố-Tâm” tương-tợ “Khối tình con”, nhưng “Tố-Tâm
gieo giống lãng-mạn bằng phương-pháp Âu-tây, còn “Khối tình con” gieo bằng văn-thể Tàu
Ông Hoàng-ngọc-Phách đi cùng với Tần-Đà trong chủ-
nghĩa “than mây khóc giớ" khi “cánh hông bay bổng, tin nhạn vắng tênh” và đã làm cho nhiều nhà văn Nam-kỳ để ý một cách
đặc-biệt
Điệu “văn Tan-Da” âu-hóa ấy được làm khuôn mẫu
trong một thời-gian khálâu.”
Kế đó, ông Hổ-biểu-Chánh, một văn-nhơn Nam-kỳ, chuyên môn về lối văn-chương tả-chân Nói đến tác-giả của
những quyển: Tỉnh-mộng gia-đình, Ngọn cỏ gió đừa, Thây
thông-ngôn, Chút phận linh-đinh nhà phê-bình Thiếu-Sơn
cho ông Hồ là “một người có kinh-nghiệm, hiểu rộng, biết nhiều về nhân-tình thế-thái, có quan-sát, đã thâu vào cặp mắt
tỉnh-thần được nhiều bức tranh xã-hội, một nhà tâm-lý đã khám
phá được nhiễu điều bí-ẩn ở tâm-giới người đời ”
Lối văn Hồổ-biểu-Chánh rõ-ràng vì thiết-thật, diễn ra
được một “luân-lý xưa” đối chọi lại lối văn Hoàng-ngoc-Phách
bóng-bảy mà lãng-mạn Có người nói điệu văn của tác-giả
“Tỉnh-mộng gia-đình” có tính-cách dung-hòa, nhưng “lượt-
bượt”, và, cùng với thời-gian, sẽ mất Dầu sao, sự-nghiệp văn- chương của Hồ-biểu-Chánh cũng làm vang-động một thời Ông Hồ-biểu-Chánh là một nhà văn đáng nhắc-nhở vì cũng cắm
đặng một viên đá trên nền-tảng văn-chương ở Nam-kỳ
-o0*0o-
Vậy thì, văn-chương ở Nam-kỳ từ 1918 tới 1926, trải qua mấy lân thay đối, bị những phong-trào xã-hội in vào Văn- chương đương tìm đàng đặng được phong-phú thêm lai bi lan
tư-tưởng ô-uế làm trở nên ủy-mị, lỏng-lẻo Nhưng cái ảnh-
hưởng sâu-xa của văn Tần-Đà, Hoàng-ngoc-Phách, tuy gieo rắt
Trang 25mầm lãng-mạn trong dân-gian mà níu văn-chương được ở trong vòng trật-tự Lân-lần, văn-chương đượm màu chánh-trị, rồi đi
qua lối tả-chân của Hồ-biểu-Chánh Thời-kỳ nầy, văn xuôi ở Nam-kỳ đương thay đổi thì văn vần nằm một chỗ
Văn Pháp khởi sự được làm khuôn mẫu cho văn-chương Việt-nam rồi; nên cách hành-văn đã trở nên gọn-gàng và có
thứ-tự, dễ-hiểu
-o0*0o-
Giai đoạn thứ ba đi từ 1926 đến 1935, ngày báo Sống
ra đời, nghĩa là hai năm sau khi tờ Đồng-Nai chết
Đồng-Nai là một cơd-quan truyển-bá tư-tưởng mới, theo điệu mới, của hạng người mới, - đám trí thức du-học ở nước
ngoài về Nam-kỳ
Lối năm 1926-27-28-29, thiên-hạ đua nhau gởi con, em
qua tận Chánh-quốc tìm cách học “mau” và “tắt” Thình-lình
nạn kinh-tế khủng-hoảng hãi-hùng đưa đến Từ 1930 trở đi,
giá lúa gạo sụt xuống quá sức tưởng-tượng Nhiều điển-chủ phải bỏ hoang đất ruộng, chịu thiếu-thốn mọi bể, rút cả con cháu đang học ở Pháp về nhà
Một nhóm tân-học, trẻ-tuổi, hăng-hái xuất-hiện Nhóm người chỉ quen với văn-chương Pháp từ lúc còn nhỏ, lại bị
thời-cuộc ép tập viết quốc-ngữ Sẵn có sức học, sẵn có tư- tưởng chín-chắn, sẵn có lối viết theo văn Pháp, các ông cứ
viết văn quốc-ngữ theo cách hành văn âu-tây Phái văn-nhơn
mới gồm có các ông xuất-thân ở trường Đại-học, nào là y-khoa
tấn-sĩ, nào cử-nhân văn-chương, cử-nhân luật, cấp-bằng Đại- học triết-lý, kỹ-sư hợp thành một khối tinh-vi để làm việc
đúng-đắn, theo một lối mới, có phương-pháp và trật-tự
Các ông muốn phổ-thông một thứ văn-chương âu-hóa
mà gọn hơn của Hoàng-tích-Chu Thứ văn-chương mới, đi từ
cá-nhân ích-kỷ -với Tố-Tâm -đến chỗ gia-đình xã-hội Văn-thể
có “mùi khoa-học” quyết giết chết cái lối viết của tác-giả “nhìn
Trang 26đối-tượng bằng con mắt bao-quát để tả một cách lờ-mờ cái gì
có thể tả tỉ-mỉ được”
Chiu ảnh-hưởng văn Pháp, lối văn “Đồng-Mai” là lối
văn tả-chân, buộc nhà văn “bỏ hàng ngũ mình đi sâu vào xã-hội
để quan-sát”, “làm quen với mỗi lớp ở xã-hội, nghĩ với họ, ước-
vọng với họ, sống cái đời hoàn-toàn của họ.” Người ta muốn nhiều quá, muốn làm thế nào bất-cứ với người Việt-nam nào,
người cũng nói được câu:
“Anh tưởng tôi không phải là anh sao?”
Năm 1933 Nhóm “Đồng-Nai” lập ra một cuộc thi văn- chương và đăng tờ thông-cáo sau này:
“Cuộc thi của Déng-Nai
“Chúng tôi mở một cuộc thi lấy để như vây:
“Thơ của một người thất-nghiệp thuật cách “tranh-đấu
của mình để chống lại sự đói “chết, gởi cho “tạp-chí Déng-Nai
“Điều-kiện:
“Chúng tôi muốn tìm cái giọng thiết-thật,
* cái tâm-hôn thiết-thật của con người thất- “nghiệp
ÄS45-GHSXERSOEIIGAEEDEGSIGIGSESEISISSSÿGSiOBMi Đ.N
Đó là văn-chương đi theo sự sống-còn của xã-hội, nhứt
là xã-hội năm 1933: nạn thất-nghiệp làm một đám thanh-niên
có học, không công ăn việc làm, đâm ra chán-nản cuộc đời
Cũng vì sự chán-nẩn ấy mà họ đưa ra những ý-kiến buốn-bã, ủy-mi
Trong lúc nhóm “Đồng-Nai” hoạt-động thì tờ Phụ-nữ
tân-văn đã ra đời, từ ngày 2 tây tháng năm 1929, đem “phấn
son tô-điểm sơn-hà; làm cho rõ mặt đàn-bà nước Nam”, sau khi
tờ Thần-Chưng bị nghỉ, nghỉ luôn
Tờ Phụ-nữ tân-văn chiếm một địa-vị khá cao trong
văn-giới ở thời-kỳ này Số độc-giả rải khắp ba kỳ Được như vậy là nhờ có “một văn-thể mới, rõ-ràng, đọc lên thì hiểu
liền, không dùng chữ cao-kỳ mà câu văn có lý-thú và xác-thực”
Trang 27của ông Phan-Khôi, một nhà học-giả có sức nho-học, biết đem
“cái học cũ sẩn có” hòa với “cái học mới vào”
Những bài của ông viết, đầy tư-tưởng, lý-luận, đã gây
ra một dư-luận ngộ-nghĩnh về văn-chương
Như tiên-sanh kết-án phái “học-phiệt”, (một hạng
người cũng sao có học-vấn, có tư-tưởng, nhưng phải cái tánh tự-
cao tự-phụ quá, dường như muốn chuyên-chế dư-luận, chỉ lên mặt làm thấy người ta chớ không chịu người ta chỉ-trích đến
mình) (3) bằng một bài tựa đề: “Cảnh-cáo các nhà “học-phiệt”
sau khi đọc bài trả lời của Trân-trọng-Kim về sự phê-bình cuốn
Nho-giáo (4)
Tờ Phụ-nữ tân-văn gây được phong-trào phụ-nữ Ở
Nam-kỳ với ngòi viết của Nguyễn-thị Manh-Manh tức Nguyễn-thị-Kiêm Các vấn-để: “Nam nữ bình quyên”; “Phụ-nữ
chức-nghiệp”; “Tư-do kết-hôn” đều được bàn đến Những
trạng-cáo nho-nhỏ mà Manh-Manh đưa ra chõi với phái
vực lối “thơ mới” vì nó hay, nó hợp thời, là “vì nó phẩn-động
cái tình-trạng thời-thế hiện-thời” (5)
Việc nây làm thành một vấn-để hay-hay: “Thơ mới, Thơ cũ” nên người ta đã đăng đàn diễn-thuyết; người ta binh vực “Thơ cũ” và “gây-gổ” với nhau
Phụ-nữ tân-văn chẳng những săn-sóc nữ-giới mà thôi
Phụ-nñ tân-văn lại còn một cách thiết-thật lo cho xã-hội; một
“hội chợ phụ-nữ” long-trọng được tổ-chức cách châu-đáo ở Sài- gòn Tiển thâu vào quỹ hội chợ được truất ra “lập học bổng”
Việc nầy đã thành thiệt-sự và hôm nay cũng kết-quả: anh học-
trò tốt phước được lựa du-học bên Pháp vào trường Đại-Học lâu r6i
Ảnh-hưởng tờ Phụ-nữ tân-văn đối với văn-chương ở Nam-kỳ không ít Văn-nhơn viết ra lối văn mới, dễ, gọn và đầy
ý-nghĩa Đến ngày 20 tháng chap 1934, báo nầy đình bản với
mấy lời kỉnh-cáo tha-thiết:
Trang 28“Sáu năm trời, ở trong hoàn-cảnh chật-hẹp khó-
“khăn Một tờ báo để binh-vực lợi-quyên cho phái
“yếu, tờ Phụ-nữ tân-văn cũng đã đạt được nhiều
“nguyện-vọng Nào lập học-bổng để giúp học-
“sanh nghèo sang Pháp du học, nào xướng lập
“Hội Dục-Anh", nào xướng-xuất các cuộc đấu-xảo
“về nữ-công, đặt ra “bữa cơm bình-dân để giúp
“cho những người lỡ chơn hụt bưã "
Trên đàn văn, giọng “chim Manh” đã vắng thì Văn-
đoàn Trí-đức 3 Ha-tién ứng tiếng tiếp tục Ngày 22 tháng giêng
1935, báo Sống ra đời muốn “gây cho cuộc đời .một sự sống tươi-cười, ấm-áp, mạnh-mẽ, hoạt-động hơn một cuộc đời đây
bông hoa và ánh sáng ; khuyên “ta luôn luôn phải biết vui
sống, biết yêu đời” vì “có biết vui sống, có biết yêu đời thì mới
nghĩ làm cho cuộc đời cho sự sống càng ngày càng sáng-sủa
vẻ-vang”
Báo Sống chào sự sống với tôn-chỉ nhứt-định:
Sống “trình-bày cho quốc-dân cái dư-luận, cái khuynh-
hướng chung của người trong nước, làm cho quốc-dân biết cái địa-vị, cái thân-phận mình trong trường sanh-hoạt ganh đua của thế-giới; gây cho nước , có một nền văn-chương sáng-sủa, giản-dị, vui-vẻ, hợp với sự sống trong thời-kỳ đó; tùy lúc, đem
văn-chương mà bày-tỏ, tả vẽ những cái hay cái đẹp của phong-
cảnh non sông, đất nước nhà để khiến cho ai ai cũng có lòng
yêu nòi giống, yêu đất nước một cách giản-dị mà thành-thật ”
Báo Sống có nhiều bài bàn đến vấn-để thực-tế như :
“Nghề làm ruộng”, “Dân cày với thầy giáo” “ Vấn-đề tơ-lụa"
Báo Sống đưa ra một điệu văn nửa cũ nửa mới : cũ của phái nho-học chín-chắn; mới của phái tân-học viết không sống-
sượng Báo Sống chỉ ra được 31 số rồi đến 15 tháng mười 1935
phải đình-bản Tuẳn-báo như Sống đáng lẽ phải sống thêm vì
được các bậc học-giả ở Nam-kỳ chủ-ý một cách đặc-biệt Báo
Trang 29Sống dầu có một cái duyên ngắn-ngủi với nhà văn nhưng nhà
văn không bao giờ quên nó và vẫn giữ những cảm-tnh êm-dịu với nó vì nó đã có một khuôn mặt “bảnh-bao” trên văn-đàn
Từ 1926 đến 1935, chúng ta có thể nói văn-chương ở
Nam-kỳ tiến nhiều và nhuộm màu sắc quốc-gia, xã-hội thấy
TÕ-rỆI
Sở-dĩ văn-chương ở Nam-kỳ trong giai-đoạn nây được
tấn bộ như vậy là vì, một phần, nhờ ảnh-hưởng tốt của nhóm
“Tự-lực văn-đoàn” ngoài Bắc
Các nhơn-vật trường sanh như “Lý-Toét”, “Xã-Xệ”,
“Bang Bạnh” của phái Nguyễn-tường-Tam tạo ra, các nhân-vật
ấy được các nhà văn tân-học ở Nam-kỳ hoan-nghênh lắm Với
giọng khôi-hài chua cay, với lối văn “âu-hóa” mới của “Hồn
bướm mơ tiên” nó mở một kỷ-nguyên mới trong văn-giới Nam-
kỳ Nhà văn đua nhau viết “lối mới” đi một lượt với các tờ
Mai, Đông-Nai, Phụ-nữ tân-văn, Sống, như tờ Đông-Dương và với tờ Văn-Lang ở mấy năm sau nầy
Buổi nầy nhà văn dường như biết dung-hòa “văn-thể tàu” với “văn-thể tây” làm ra một thứ văn-chương riêng cho
người Việt-nam: lối tả tình bằng giọng văn gọn-gàng dẽ-hiểu; tư-tưởng xưa và nay quan-niệm có thứ-tự của khoa-học; cốt-
chuyện mà nhà văn đưa ra gần giống với cuộc sống-còn của thế-gian; tâm-lý của các nhân-vật được hiểu rõ cách tinh-tường
hơn Những bộ itỂu-thuyết tình, về gia-đình, như Mảnh trăng
thu, Người vợ hiền đăng ở báo Phụ-nữ tân-văn trước khi xuất-
bản thành sách, cặm được một cột trụ lớn trong văn-giới ở Nam-kỳ
Tờ Loa cũng đáng nhắc-nhở như tờ Tiểu-thuyết thứ bảy Hai tờ nẫy chiếm một số độc-giả cao trong Nam-kỳ Tờ “Tiểu- thuyết thứ bẩy” được các lớp ở xã-hội Nam-kỳ đọc một cách
mê-mẩn “Mốt” “Cát-Tường” và mục “Ông tơ bà nguyệt” của Loa còn được người ta thỉnh-thoảng nói lại Nó ghi lại một thời-
Trang 30đại của xã-hội tân-tiến Người ta mến yêu hai tờ nầy như tờ
Hà-nội báo với giọng văn không tân, không cựu
-o0*0o-
Giai-đoạn 1935 — 1939:
Giữa lúc kinh-tế khủng-hoảng, các giai-cấp tranh-đấu
kịch-liệt Thế-giới đang chới-với ở giữa những luồng sóng
phẩn-động Phong-trào bình-dân gây nên một lối văn-học bình-
dân Văn-chương trong thời-kỳ 1935 — 1936, nhuộm một mầu
sắc khác thường Người ta lo “đánh-lộn” Người ta đi ngay vào
sự sống của kẻ nghèo đói, cặn-bã của xã-hội Người ta lo-lắng cho những công-cuộc xã-hội Tờ 7ranh-Đấu là cơ-quan của đám tự gọi là “vô-sản”, nói năng “dữ”, “kích-bác” không kiêng-
vị, phải bị chết yêu cũng như tờ 7hẩy rhợ, cd-quan của nghiệp- đoàn quan-lại, bị ngộp và chết không một tiếng vang
-00*00-
Dén ngay mét tay théng sdu 1937, ltic dy phong-trao
bình-dân gần tàn đã in sâu vào phong-trào văn-chương, tạp-chí
Nay ra đời với hoài-bảo là “lo cho cá-nhân” được phát-triển
dang lam phan-sy tét-yéu cho Van-H6éa Nay lo cho tinh-than
và vật-chất luôn, nghĩa là Nay bàn triết-lý để nuôi tính-thần, bàn về y-học để giúp sự kháng-kiện cho vật-chất
-o0*0o-
Văn-chương lúc nây có thể ra vẻ một văn-chương phong-phú rõ-rệt
Văn-chương quốc-ngữ ở Nam-kỳ có thâu-nhập lúc sau
nây, một lối văn của văn-chương Pháp: lối văn phong-sự
Trang 31Sau khi cuốn Paris-Khám-lớn—Saigon và cuốn Ngồi
tù Khám-lớn ra đời thì có quyển Sàigon —Thượng-hải -Hoành-
tân và các bài phóng-sự đăng báo Saigon về “chién-tranh Trung-Nhật” Sau cùng, lại có một tap-chí chuyên môn về phóng-sự lấy tên là Phóng-sự Tờ báo nầy điểu-tra nhiều việc
ở thời-đại cũ và hiện-tại Cách viết gọn, ngộ-nghĩnh, có khi lại
đưa ra cái giọng khôi-hài cay-đắng
-o0*0o-
Văn-chương quốc-ngữ ở Nam-kỳ từ lâu cũng khuynh-
hướng về tôn-giáo
Sau khi bị những luỗng sóng chánh-trị xô-đẩy và bị nạn
kinh-tế khủng-hoảng dổn-dập, nhơn-dân đã mỏi-mệt, tinh-thân
mắt: kẻ giàu, trong một thời-gian ngắn-ngủi, lại thấy sự-nghiệp
tan-tành; kể nghèo lại còn nghèo khổ thêm Có người lợi-dụng thời-thế gây ra phong-trào “Đạo” Họ quyết đưa người lên tận trên trời, vào cõi “hư vô” mà tìm an-ủi Một “Đạo” mới cho An-nam, nẩy-nở ra một cách công-khai lấy tên là “Đại Đạo Tam-kỳ Phổ-độ” hay là “Đạo Cao-đài”
Đạo mới này, từ 1926 trở đi, được người chuộng “lạ”
“mới” đi theo hàng vạn Tín-đổ của họ rải-rác trong các lớp
ở xã-hội Hành-vi của “Đạo” ấy bị các nhà văn vạch chỉ ra:
“Cái án Cao-đài” và “Cao-đài đàm” xuất-hiện làm phẩn-động
quyển-lợi cá-nhân của các giáo-chủ Nương theo óc còn phân-
vân của dư-luận đang “say mùi đạo”, có người đứng ra tự xưng theo chủ-nghĩa “Chấn hưng Phật-giáo” Họ vạch đường đi ngượpc lại với “đạo Cao-đài”
Ai cũng biết Phật-giáo được thâu-nhập vào nước Nam
đã lâu đời Mầm đạo Phật nhờ người khêu gợi vun quén đặng
đâm chổi lại một cách manh-mẽ lạ thường “Phật-giáo” thịnh
lại Các tín-đồ - về đám thanh-niên hăng-hái có lòng sùng-tu
Trang 32Phật-giáo — gây dựng tờ tạp-chí Miếf-bàn Từ ngày 15 tháng
mười 1933, họ đã tuyên bố “đem chơn-lý của Phật dậy thuở xưa mà cống hiến cho đời đặng diệt các sự thống khổ” Họ nói:
“chỉ sợ một điểu là “quá bạo” Miếï-bàn ra đời với tôn-chỉ:
“giúp cho một ánh sáng trong đường đạo.”
“Nó” dùng những câu văn tầm-thường mà giải-bẩy ý-
kiến của “nó” về mục-đích cuộc đời “Con người là ai?”
“Bổn phận con người ở cõi trần, phải làm làm sao cho hạp với
cơ trời?” “Luật luân-hổi quả-báo trả cách nào?” “Nó” chỉ cho
độc-giả yêu-quí rõ “sự thống-khổ của con người bây giờ là cái
kết-quả những sự lầm lạc của con người trong mấy kiếp
trước "
Họ khuyên:
“Không tham danh lợi khỏi ưu phiên
“Niệm Chí từ-bi dứt nghiệp duyên
“Vớt kẻ trằầm-luân nơi khổ hải,
“Noi theo tôn-chỉ hội Quân-Tiên ”
Kế Niết-bàn tạp-chí có các tờ khác cũng thiên về Phật-
giáo như Duy-tâm, Tiến-hóa, Bát-nhã âm, Pháp âm và Từ-bi
âm Hiện thời tạp-chí nầy còn sống, nó đã sống từ năm 1932
mà vẫn một lòng chấn-hưng Phật-giáo
Sách Phật-giáo, có nhà xuất-bản chuyên-môn lo dịch
và viết ra rất nhiễu: “Đạo lý nhà Phật”, “Giáo lý nhà Phật”
Người ta cũng có đăng đàn “thuyết pháp”; người ta cũng để cho các nhà viết báo phỏng-vấn Văn-chương ở Nam-
kỳ, trong thời-kỳ nầy, dâu muốn hay không, cũng bị ảnh-hưởng
của Tôn-giáo Ảnh-hưởng ấy duy-trì nhơn-tâm và đánh đổ mấy
cái “tính vui, lẽ sống mới ổn-ào vì bể ngoài hào-nháng” của hạng người “ăn không ngồi rồi”, lại bắt chước, - một cách thiếu
tỉnh-thần! -cái náo của người Âu mà nghịch với người Á
-o0*0o-
Trang 33Sống theo “Phật” nghĩa là sống nương nhờ hy-vọng vào cõi Niết-bàn, có “thuyển bát-nhã đưa sang”, riết rồi người ta
cũng xét thấy “phàm tục” cũng còn “phàm tục”; người ta chán
ngắt Trong lúc này, xuất diện một phái văn-nhơn tân-học sống
thiết-thật hơn Họ muốn sống theo “luật vật-chất của vũ-trụ”
bao la, họ muốn đi kế bên “khoa-học” Đám văn-nhơn nây
hoàn-toàn lãnh ảnh-hưởng sâu-xa của văn Pháp Người ta không chịu sống một cách lờ-mờ, u-ám nữa Cuộc đời đối với
các ông là sự “tai nghe mắt thấy” Lẽ đó cũng hạp với thời-đợi
“xe tăn, tàu lặn, máy móc “của xã-hội âu-tây -Luồng văn-
minh vật-chất lan qua khắp cả xứ Việt-nam Xứ Nam-kỳ không
ra khỏi sự đụng chạm ấy và văn-chương ở Nam-kỳ cũng phải ảnh-hưởng theo
Tờ Khoa-học tạp-chí ra 1924 chết 1926; tờ Điễn —xa
tạp-chí ra 1928 đến 1929; Khoa-học phổ-thông, ngày 1 tay
tháng chín 1931, đến nay, vẫn còn sống
Các tờ tạp-chí này tiêu-biều phái văn-nhơn chuyên-chú
về khoa-học Các ông có công với văn-chương trong chỗ dùng
chữ thường mà phổ-thông “khoa học”, căt nghĩa các điều phát-
minh trong giới khoa-học mà dân-tộc đi trễ như dân-tộc An- nam chưa rành và hiểu
-o0*0o-
Nếu mùi “đạo” và “khoa-học” có phẩn-ảnh với văn- chương thì nghề hát, - hát “cải lương” , hát bộ kim-thời đến cả
màn-ảnh, - trong hai mươi mấy năm qua, từ 1920, cũng gây một
ảnh-hưởng sâu-xa rõ-rệt Một nhà cự-phú ở miệt Hậu-giang
trong thời-kỳ đó có mỹ-ý lập ra điệu “ca ra bộ” nghĩa là về ca hoặc bản “tứ-đại”, bản “văn-thiên-tường”, “vọng-cổ” .mà vẽ mặt mày bộ tịch của ca-nhi phải hợp theo tâm-trạng của nhơn-
vật ở bài ca Ông lập một điệu bát mới kêu là “cải lương”
Người ta đem lên sân-khấu những bức tranh như cảnh có thiệt ở
Trang 34trong đời sống nhơn-vật: cảnh rừng núi xum-xê, chất-ngất; cảnh nguy-nga trángt-lệ của lâu-đài cung-điện, cảnh bát-ngát bao-la
của trời biển minh-mông, cảnh vách nát cột xiêu của hạng người thiếu hụt
Có một đám người cầm viết, viết ra những tuồng hát về
ca, vé nói lối, theo phương pháp âu-tây (nhưng còn sút kém
nhiều đối với thế-hệ nghệ-thuật của người)
Những “ngôi sao” trong làng hát cải lương hay làng hát
bộ kim-thời, nghĩa là lối hát ở trong cảnh Tàu mà diễn theo nay, thì có nhiều đào kép đáng chú-ý Những bài ca “giọng Bạc-
liêu”, “Cần-thơ” được in ra và bán khắp hàng sách
Về “kịch-bản” có Hội mỹ-thuật ái-hữu dưới quyền chi-
huy của ông Bourrin đưa ra nhiễu tác-phẩm, những phiên-dịch của kịch lang-sa theo điệu Molière Công-chúng thưởng-thức
những thành-công đáng kể ấy của nhóm người vui vì nghệ- thuật Có người còn phỏng theo những tác-phẩm kiệt-tác của
Pháp nhu La Dame aux Camélias mà viết ra tuồng Tơ vương
đến thác để diễn lại tại nhà “Hát Tây”
Sau này có nhiều bài hát vịn theo điệu tây được rải
khắp trong dân-gian Nam-kỳ Có nhiều nhà đủ hằng tâm hằng
sản đua nhau lo chấn-hưng nghề hát theo cho kịp sự đòi hỏi
thiết-thật của khán-giả mấy năm sau có vài gánh hát-bộ mới
làm tiêu-biểu cho lối hát-bộ “xưa” được chấn-hưng một cách
những lể-lối cũ, theo điệu hát và tạo nên nền nghệ-thuật mới,
đi có nhịp-nhàng với văn-chương
-o0*0o-
Trang 35Vậy từ 1935 tới 1939, phong-trào của văn-chương Việt-
nam ở Nam-kỳ đã trải qua nhiễu cuộc thay đổi lớn trong xứ vì
phong-trào xã-hội
Văn-chương nhuộm màu quốc-gia, kế xã-hội bình-dân, tín-ngưỡng của các “Đạo”, các lối hát, triết-lý, và chịu luôn không-khí “khoa-học” Văn-chương một chiều đi mãi không
ngừng Văn-chương Việt-nam có tiến-bộ nhưng bị văn-chương
Pháp kêm-thúc từ ý-tứ đến hình-thể nhiều hơn văn-chương Tàu Văn-chương quốc-ngữ lúc nầy, đổi hẳn cả hình-thức và ý-tứ:
gọn-gàng và chặc-chịa hơn
-o0*0o-
Từ 1939 đến 1942, văn-chương Viét-nam 6 Nam-ky
dường trở lại thời-kỳ “Phục-hưng”
Tháng chín 1939, giặc “Pháp Đức” đã khởi Động binh cũng khởi thình-lình trong khi ấy làm không-khí cả một xứ
nặng-nể kinh-hãi Người ta bị lôi cuốn theo làn binh khói thì
văn-chương đưa ra một lối văn khuyến-khích nhơn-dân phải
nhẫn-nại Các báo-chí bàn-bạc về việc năm châu thế-giới Văn-chương dường như ngừng lại, nhìn hướng mà đi
Ngày 5 tây tháng ba, 1940, tờ Mghệ-thuật ra đời, sau
đổi tên là Bút mới Nó đặc-sắc vì cuộc bàn cãi về ngôn-ngữ học, lại vé mẹo tiếng an-nam
Mãi đến tháng sáu 1940, cuộc đình-chiến giặc “Pháp
Đức” đem văn-chương trở về chủ-nghĩa gia-đình Gia-quyến
được nói nhiễu và binh-vực cũng lắm: phong-trào thanh-niên và hướng-đạo mạnh-mẽ đi vào cuộc sống của hàng tân-học trẻ
tuổi Các lời giáo-hóa của Thống-chế Pétain đăng dịch ra và gởi cùng khắp nơi Tôn-chỉ của Chánh-phủ mới là cứu-vãn nên-tẩng của tổ-quốc bằng cách cứu-vãn nển-tẩng của gia-
đình
Trang 36Nước Xiêm lăm-le xâm-phạm biên-giới Đông-Pháp Ở
vùng trên Cao-Mên, có máu rơi thịt đổ Thêm một phen nữa, nhơn-dân sợ-hãi vì lẽ động binh và vì lẽ nạn “bôm rơi mưa
đạn”
Khẩu-hiệu “Gia-đình, Cần-lao, Tổ-quốc” được thực-
hành một cách siêng-năng Dân Việt-nam sắp đầu trở lại
“Khổng giao” và lật lại những quyển sách của nhà nho mà người người trong mấy năm về trước đã cho là “bất hợp thời”
Văn-chương ở Nam-kỳ nhuộm máu lịch-sử với những
bài vé “Phan-thanh-Gidn”, “Quan-lén Cdi-da”, “Nguyễn-
trường-Tộ” và thứ nhứt nhờ tài-liệu của tạp-chí Tri-tân ở đất
Bắc Tạp-chí nây đang nối gót Nam-Phong độ nọ
Hội Khuyến-học Nam-kỳ treo giải-thưởng văn-chương
cho một cuốn sách hay trong năm 1941 Quyển “Chẳng Con”
được chấm hạng nhứt và trình trong tập kỷ-yếu của hội Khuyến-học Nam-kỳ, số tháng giêng 1942
Hội muốn hưởng-ứng và ủng-hộ lễ kỷ-niệm của Nguyễn-Du, nên tổ-chức một cuộc diễn-thuyết về “Kiểu” và bán “Tập văn-hoạ Nguyễn-Du” góp tiền sửa mộ nhà đại thi-hào
lại
Hội hiệp với nhà sách Nguyễn-khánh-Đàm lập một
cuộc triễn-lãm báo-chí và các quyển “Kim-Vân-Kiểu” đã xuất bản từ xưa đến nay Nhơn dịp ấy, Hội có chưng bản dé của
“Kiểu” trong 15 năm luân-lạc Hội do theo địa-đổ Tau vẽ
phỏng nó lại với bản đồ của sứ-quán Nguyễn-Du đã qua Tàu
Ngày 3 Septembre 1920, “Wam-kỳ tuân báo” ra đời với
“mục-đích là bổi-đắp nên trí-dục, đức-dục và thể-dục cho quốc-
dân” và với một bộ biên-tập” gêm có thanh-niên tân-học mà cũng có lão-thành cựu-học đầy-đủ nhiệt-tâm yêu nước, yêu nha ” (6)
Tiếp theo Nam-kỳ tuần báo, Đại-Việt rạp-chí xuất bản
ngày l tây tháng mười 1942, cũng dưới quyển chỉ-huy của một chủ-nhiệm, muốn cho quốc-dân Đông Pháp “được với Chánh-
Trang 37quốc” - Đại-Việt tạp-chí muốn trở nên “một cơ-quan giáo-dục
hiệp-thời và thiết-thiệt”, nghĩa là “sẽ chuyên lo phổ-thông các
Đông-Tây học-thuật, sẽ chuyên lo khẩo-cứu, dịch-thuật và
nghị-luận các khoa-học cẳn-thiết với sự mở rộng trí-thức ,
chuyên lo chấn-hưng luân-lý cố-hữu tô-điểm quốc-văn cho
thêm thanh-cao rực-rỡ lo liệu làm cho một ngày người Việt-
nam, dẫu chỉ biết đọc sách quôc-văn thôi cũng có thể nung
trình-độ học-thức lên cao bằng trình-độ học-thức của dân-tộc văn-minh .”
Tôn-chỉ chánh, chương-trình rộng
Nếu tờ Đaj-Việt tạp-chí cứ đi theo phương-pháp đã
định thì văn-học Việt-nam sẽ chịu ảnh-hưởng không ít Đã biết
vạch con đường mà đi, con đường phục-hưng là con đường chánh
Bổn-phận đó, lương-tâm đã sẵn chỉ: Một dân-tộc không
còn văn-chương, tiếng nói, là một dân-tộc chết lần hồi
-o0*0o-
Văn-chương từ 1939 đến 1942 đã xây hướng Văn-
người ta vào chốn mịt-mờ, bụi-lấp của di-vãng Văn-chương
tìm hiểu người xưa và — nếu được —minh-oan cho các bậc-tiền bối Trào-lưu văn-học là trào-lưu cũ: nhà văn tiếp-tục nghiên-
cứu, sưu-tập tài-liệu, đính-chánh những sự sai lầm về lịch-sử
Những xu-hướng văn-học nây rất rõ-rệt Nhà văn còn đi, đi
Trang 38Từ 1917 đến 1926, văn-chương ở Nam-kỳ đương mượn
danh-từ mới đặng trở nên phong-phú Văn-thể tàu và ý-tứ của
văn-hóa tàu ăn sâu vào văn-chương trong thời Lối hành-văn
của các nhà cẩm viết chưa được gọn-gàng; ý-kiến diễn ra còn
lờ-mờ
Từ 1926 tới 1935, văn-chương bị sức xô đẩy của phong- trào xã-hội Nạn kinh-tế khủng-hoảng, nạn thất-nghiệp sanh ra
lối văn ủy-mị “yểm-thế” Làn “Đạo” thổi vào nhơn-tâm bớt
xao-xiến Nghề hát và “Hội Mỹ-thuật ái hữu” đã gây một
phong-trào êm-dịu và không ngừng trong văn-giới Thời-kỳ
nây các văn-nhơn đã cẩm viết hơi “cứng” Văn-thể Tàu bị văn-
chương Pháp đàn-áp một cách rõ-rệt Một lối văn, dáng mặt
“vău chương” đã thiệt nhận Ý-kiến diễn ra rõ-ràng, “khoa
học” hơn
1935 qua tới 1939, văn-chương một mực tiến-bộ
Hình-thể văn-chương của mấy năm trước được gìn lại
Nhà văn cũng gắng chí đi mãi làm cho văn-chương trở nên dổi-dào thêm, dẫu rằng chậm-chạp Gió “khoa-học” thổi vào văn chương và định nghĩa cái nào còn lờ- mờ
Từ 1939 đến ngày nay, văn-chương đi theo chủ- nghĩa “gia-đình phục-hưng”, trở lại văn-hóa Tàu với nên
“Khổng Mạnh”, nhưng vẫn giữ hình-thể của văn-chương
Pháp
Hơn lúc nào, văn-chương nhuộm màu lịch-sử và triết-lý
và được các văn-nhơn ủng-hộ bằng cách biểu-diễn ở xã-hội:
các hội-học gồm các học-giả lại làm việc cho tương-lai của văn-chương Việt-nam, vì họ còn nghĩ như Nguyễn-văn-Vĩnh tiên-sanh
“Nước Nam ta sau nầy hay dé là ở chữ quốc-ngữ`
-o0*0o-
Gần một thế-kỷ qua, dâu ai khó tính cũng phải nhìn nhận rằng văn-chương Viét-nam & Nam-kỳ đã tiến-bộ
Trang 39nhiễu nhưng cũng còn xa trình-độ của xứ người —Ta hãy hy- vọng vào các bậc học-giả và các bạn mến yêu văn-chương đern
một lòng phụng-sự cho văn-chương đặng mởổ-mang dân-trí
Văn-chương là hồn dân-tộc Người ta suy văn-chương
(1) Ban Tuy-Kiéu phi nay do hai ông Phụng-hoàng-Sang và
V6-thanh-Ky soan; nhà in Đức-lưu-Phương Saigon, có ¡n lại
lần thứ 12 - 400cuốn
(2) Quấc-âm thi tập (Ca-trù thể-cách) của Paulus Của soạn, in
tai “Imprimerie Commerciale Marcellin Rey — C Ardia
Trang 40Miễn Nam Khai Phóng
Nguyễn Vy Khanh
I- Miền Nam
Không phải chỉ từ khi đất nước chia đôi ở vĩ tuyến 17
sau Hội nghị Genève 1954 hoặc sau cuộc "thống nhất" năm
1976, vấn để Nam Bắc mới được đặt ra trong các sinh hoạt
chính trị, xã hội cũng như văn học nghệ thuật Năm 1558 (1),
khi Nguyễn Hoàng đem gia đình và quần thần vào trấn Thuận
Hóa gây phân tranh Trịnh Nguyễn và mở đầu cuộc nội chiến
dài nhất của lịch-sử đất nước, việc phân biệt Đàng Trong-Đàng
Ngoài và Nam-Bắc đã bắt đầu từ đó Rồi với thời gian, việc
phân biệt đó có khi trầm trọng có khi nhẹ nhàng, nhưng đến
thời hiện đại, tiếng nói của miền Nam hình như đã bị lấn áp và
theo thiển ý, đây là một thiệt hại cho cả nước Việt Nam
Chúng tôi có một số quan sát, xin được đóng góp, không nhất
thiết vì những tranh luận dân chủ hóa ở trong nước hiện nay,
mà đã từ lâu chúng tôi vẫn có nhiều dịp thấy những bất công,
ngộ nhận đó trong cuộc sống dân tộc cũng như trong những sinh hoạt văn hóa
Dù nhìn dưới lăng kính nào đi nữa, lịch sử cũng đã ghi
công các chúa và các vua nhà Nguyễn phát triển và làm lớn
mạnh miền Nam từ sông Gianh (Quảng Bình) trở vào Do đó
không có gì lạ nếu dân chúng miền Nam ưu ái trung thành với vua nhà Nguyễn hơn người Đàng Ngoài và triều đình nhà
Nguyễn cũng thiên vị miễn Nam hơn dù người dân từng thất vọng về vua Minh Mạng và triểu đình Huế không đẹp với mổ
mả tổng trấn Lê Văn Duyệt Hoàng hậu và hoàng phi triểu
đình Huế có nhiều người Nam và các công thân từ Bắc hà vào làm quan có người bị kỳ thị - thi hào Nguyễn Du là một trong
số các nạn nhân đó Nhưng đến đầu thế kỷ XX, hiện tượng có
thời ngược hẳn với số quan lại khoa bảng Bắc hà đông đảo
nhưng tính trọng Nam vừa nói vẫn đóng vai quan trọng