Nhiễm trùng phần trên của đường hô hấp là loại nhiễm trùng thông thường nhất, gây ra bởi siêu vi khuẩn, vi khuẩn hoặc các loại vi sinh khác.. Các vi sinh gây nhiễm trùng đường hô hấp thư
Trang 1Nhiễm Trùng Đường Hô Hấp
Bài viết này chỉ đề cập đến phần trên của bộ phận hô hấp (upper respiratory tract); phần này bao gồm: mũi, miệng, cổ họng kể cả thanh quản (larynx), pharynx (yết hầu?)
Nhiễm trùng phần trên của đường hô hấp là loại nhiễm trùng thông thường nhất, gây ra bởi siêu vi khuẩn, vi khuẩn hoặc các loại vi sinh khác Hầu hết những sự nhiễm trùng này dẫn đến cảm lạnh, hoặc cúm nhẹ; ngắn hạn và không nguy hại đến sức khỏe Đôi khi, trận cúm có thể trầm trọng, việc nhiễm trùng dẫn đến viêm phổi (pneumonia)
Các vi sinh gây nhiễm trùng đường hô hấp thường lan tràn qua:
• Tiếp xúc trực tiếp (từ tay-đến-miệng)
• Gián tiếp qua không khí (airborn): Ho hoặc hắt hơi (những nước mũi, nước miếng bắn
ra ngoài
Chứng cảm lạnh (common cold)
Chứng cảm lạnh, danh từ y khoa gọi là “infectious nasopharyngitis”, là chứng nhiễm trùng đường hô hấp thường thấy nhất Trên 200 loại siêu vi khuẩn có thể gây chứng cảm lạnh Loai siêu vi khuẩn thường thấy nhất là rhinovirus Tc bắt trong thờigian 1-3 ngày sau khi nhiễm trùng
Cơn cảm lạnh thường diễn tiến như sau:
• Bắt đầu là ngứa cổ và ngạt mũi
• Sau vài giờ, các triệu chứng khác xuất hiện: hắt hơi, rát cổ, lên cơn sốt, nhức đầu, ê ẩm
Trang 2Triệu chứng của cúm: Bệnh nhân thường ngã bệnh từ 1-4 ngày sau khi nhiễm trùng, và trận cúm thường diễn tiến như sau:
• Triệu chứng xuất hiện thình lình, gồm nhức đầu, ê ẩm bắp thịt, mệt mỏi và lên cơn sốt cao độ (103 độ F)
• Ho (khan nhưng dữ dội), đôi khi ngạt mũi và rát cổ
• Trẻ em thường ói mửa, tiêu chảy, nhiễm trùng tai và các triệu chứng cúm khác
• Triệu chứng kéo dài 4-5 ngày, có thể đến 2 tuần lễ Đôi khi trận cúm có thể trở nên trầm trọng hoặc khiến các chứng bệnh (có sẵn) khác trầm trọng hơn
Dẫn truyền siêu vi khuẩn
Trang 3Siêu vi khuẩn cúm truyền từ người nọ sang người kia qua các hạt nước mũi, miệng từ việc ho đến hắt hơi Người lớn truyền bệnh cho người lân cận trong thời gian ngày -1 (1 ngày trước khi chính người bệnh đầu tiên có tc của cúm) đến ngày 5 (sau khi đã có triệu chứng), nghĩa là người bệnh dễ truyền bệnh cho kẻ khác trong vòng 6 ngày đầu tiên của cơn cúm Trẻ em có thể truyền bệnh sớm hơn nữa, khoảng 6 ngày trước khi chính chúng
có triệu chứng của cúm Những người suy hệ miễn nhiễm như tiểu đường, suy thận… có thể truyền siêu vi khuẩn nhiều tuần lễ hoặc nhiều tháng sau khi chính họ bị nhiễm trùng Những chủng siêu vi khuẩn flu
Một siêu vi khuẩn bao gồm nhiều di thể “gói” trong một màng protein Màng này được bọc bởi một lớp chất béo chứa các phân tử có tên “glycoprotein” Chủng loại siêu vi khuẩn được nhận diện, rồi đặt tên qua số màng protein và loại glycoprotein
Hai loại siêu vi khuẩn flu chính được đặt tên là A và B:
• Influenza A lan tràn mạnh mẽ nhất, gây nhiễm trùng cho cả thú vật lẫn con người Influenza A là nguyên nhân của những trận dịch cúm toàn cầu mà ta biết đến Chủng siêu
vi khuẩn này còn được phân loại theo 2 chất hiện diện trên màng protein: hemagglutinin (H) và neuraminidase (N)
• Influenza B gây nhiễm trùng trong con người, không thường thấy như Influenza A, nhưng thấy trong các trường hợp đặc biệt như tại trung tâm chăm sóc người già (nursing home)
Hầu hết các cơn cúm đều do Influenza A; loại này gây nhiễm trùng trầm trọng hơn so với
B Tuy nhiên vì loại B ít gây nhiễm trùng nên ít người có kháng thể để đề kháng, do đó khi trận dịch xảy ra, có thể gây nhiễm trùng nặng hơn
Cúm gia cầm (Avian influenza, bird flu)
Mặc dù sự nguy hại của cúm gia cầm khá thấp, các chuyên gia vẫn lo ngại về chủng cúm gia cầm H5N1 Từ năm 1997, H5N1 đã tạo nhiều trận dịch gà toi trên nhiều quốc gia Á Châu Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới, tính đến ngày 15 tháng Giêng năm 2008, 350 người
đã bị nhiễm trùng do H5N1 gây ra, trong số này 217 người đã chết Chưa có trường hợp nhiễm trùng nào tại Hoa Kỳ
Loại nhiễm trùng này truyền từ thú vật sang con người, chưa có trường hợp truyền nhiễm giữa người và người Tuy nhiên các chuyên gia vẫn theo dõi và tìm cách chặn đứng sự nhiễm trùng do H5N1 gây ra Các phương cách này bao gồm việc giết bỏ các gia cầm nhiễm trùng, chế tạo thuốc chủng ngừa và dự trữ kháng sinh như oselfarmivir Những quốc gia đang phát triển đã chịu gánh nặng HIV-AIDS, nếu H5N1 biến thái và trận dịch bùng vỡ, hậu quả khó có thể lường
Trang 4Tháng Tư 2007, cơ quan FDA của Hoa Kỳ cho phép bán loại thuốc chủng ngừa cúm gia cầm nhưng đây là một thứ thuốc chủng ngừa chỉ dùng trong trường hợp đặc biệt, khi cúm gia cầm có thể lan truyền giữa con người
Chẩn đoán
Sự khác biệt giữa cảm lạnh và cúm khó có thể phân biệt rõ ràng, nhưng nói chung, triệu chứng của cảm lạnh thường nhẹ hơn cúm
This image has been resized Click this bar to view the full image
The original image is sized 542x236
*Theo National Institute of Allergy and Infectious Disease
Chẩn đoán cúm
Ta có thể dùng nhiều loại thử nghiệm để chẩn đoán chứng cúm nhưng thường không cần thiết vì các triệu chứng khá rõ ràng Tuy nhiên khi cần, bác sĩ vẫn có thể xác nhận bệnh trạng qua việc thử nghiệm nước mũi (dùng bông gòn thấm nước mũi hoặc màng nhày cổ họng (nose hoặc throat swab) và gửi đến phòng thí nghiệm
Việc cấy chất lỏng từ mũi-họng (Nasopharyngeal culture) sẽ nhận dạng vi sinh gây nhiễm trùng và thường dùng để tìm loại vi khuẩn Bordetella pertussis và Neisseria meningitidis Kết quả thử nghiệm giúp bác sĩ chọn chính xác loại kháng sinh để chữa trị
Một số loại thử nghiệm có thể cho kết quả trong vòng 90 phút, nhưng chỉ có thể nhận diện một vài chủng siêu vi khuẩn Cấy siêu vi khuẩn có kết quả chính xác hơn nhưng cần
từ 3-10 ngày Thử máu cũng giúp bác sĩ chẩn đoán căn bệnh
Chẩn đoán cúm gia cầm
Trang 5Tháng 2 năm 2006, cơ quan FDA cho phép bán một loại thử nghiệm cúm gia cầm có tên
“Influenza A/H5 Virus Real-time “, TR-PCR Primer & Probe Set Loại thử nghiệm này cho kết quả trong vòng 4 tiếng Những loại thử nghiệm khác cho kết quả trong 2-3 ngày Các loại thử nghiệm này nhận dạng siêu vi khuẩn Influenza A, loại H5 Nếu hiện diện, bác sĩ sẽ cần dùng các loại thử nghiệm khác để xác quyết chi tiết hơn về chủng loại, như H5N1
Những nguyên nhân khác gây ngạt mũi
Viêm màng mũi do dị ứng (Allergic rhinitis): Triệu chứng bao gồm mũi ứ nước, khó thở, tương tự như khi bị cảm lạnh Tuy nhiên khi bị dị ứng, sẽ có những triệu chứng khác như:
• Nước mũi trong, loãng
• Ngứa ngáy trong mắt, mũi và cổ họng
• Hắt hơi liên tục
Có hai loại viêm mũi dị ứng:
• Triệu chứng xuất hiện theo thời tiết, có tên là seasonal allergic rhinitis (hya fever hoặc rose fever)
• Triệu chứng xuất hiện quan năm vì dị ứng với môi trường sống như bụi, nấm, mốc, lông chó mèo…, loại này có tên là “perennial allergic rhinitis”
Không nên lầm lẫn với viêm xoang (sinusitis), triệu chứng của viêm xoang gồm có:
• Ứ nước trong mũi sau khi cơn cảm lạnh đã dứt
• Nước mũi đục, đặc
• Không bớt ngạt mũi sau khi dùng các loại thuốc “thông” như “decongestant” và
antihistamine
• Đau trên hàm răng hoặc một bên mặt
• Đau ở hốc mắt khi cúi đàu
Trẻ em thường không cảm thấy đau trên mặt hoặc nhức đầu nhưng lên cơn sốt cao và ho liên miên cả chục ngày với những triệu chứng của nhiễm trùng đường hô hấp
Những nguyên nhân khác gây ho
Viêm khí quản cấp tính (acute bronchitis): thường do siêu vi khuẩn gây ra và tự khỏi bệnh Cơn ho kéo dài 7-10 ngày, nhưng trong 50% người bệnh, cơn ho có thể kéo dài đến
3 tuần, 25% trong số này, cơn ho kéo dài đến cả tháng
Trang 6Sưng phổi (atypical pneumonia): do loại vi khuẩn khác thường như Mycoplasma
pneumonia, Chlamydia, Legionella, gây triệu chứng tương tự như bị cúm Cần thử nghiệm để chẩn bệnh chính xác
Những chứng nhiễm trùng siêu vi khuẩn trầm trọng do siêu vi khuẩn Respiratory
syncytial virus (RSV) và human parainfluenza viruse là những siêu vi khuẩn gây nhiễm trùng trầm trọng trong trẻ em, người già và những người suy hệ đề kháng RSV gây triệu chứng tương tự như cúm
Pertussis hay “whooping cough” (bạch hầu?) là căn bệnh thường thấy trong trẻ em vào thế kỷ trước Việc chủng ngừa đã giảm nguy cơ bị bạch hầu rất nhiều Năm 1980 tại Hoa
Kỳ chỉ có 180 trường hợp bạch hầu nhưng tỷ lệ chứng bệnh này gia tăng rất cao, 30,000 trường hợp, trong những năm 1997-2000 và 17 trẻ em tử vong Trên thế giới tỷ lệ bạch hầu cũng gia tăng, lý do tại sao thì ta chưa rõ
Hiện nay, khoảng 50% các ca bệnh thấy trong bệnh nhân 10 tuổi trở lên, có thể do kháng thể đã sút giảm (từ khi được chủng ngừa) Khoảng 25% người lớn bị ho không dứt do chứng bạch hầu, và thường không được ghi nhận vì người lớn thường không bị ho với tiếng ho “nghẹn gió “ như trẻ em Dù người lớn không đau nặng khi bị bạch hầu nhưng
có thể truyền bệnh cho trẻ em, nhất là những đứa trẻ không được chủng ngừa hoặc đã chủng ngừa nhưng không đủ kháng thể
Những nguyên nhân khác gây rát cổ
• Strep throat: viêm cổ họng do streptococcus gây ra
• Nhiễm trùng từ thực phẩm hay nguồn nước (do Streptococcus C và G)
• Vi khuẩn Arcanobacterium haemolyticum: hiếm thấy nhưng khi nhiễm trùng gây rát cổ
và nổi ban trên da
• Infectious mononucleosis (“mono”)
Viêm cổ họng do Streptococcus (strep throat) là gì?
Vi khuẩn nhóm A Streptococcus là loai vi khuẩn gây viêm cổ họng trầm trọng Thường thấy trong trẻ em đến tuổi đi học Triệu chứng gồm có:
Trang 7Khoảng 50% bệnh nhân có triệu chứng rõ rệt, ngược lại 50% những người bị rát cổ
không bị viêm cổ họng do Streptococcus
• Cấy vi khuẩn (bacterial culture) từ cổ họng sẽ xác nhận bệnh trạng
Cấy vi khuẩn là cách xác nhận bệnh trạng chính xác nhất, và cần 24-48 tiếng
Cách thử nghiệm khác là tìm kháng sinh của vi khuẩn “strep”, loại thử nghiệm này có tên
“rapid strep antigen test”, dùng hóa chất để nhận diện kháng sinh trong vòng mươi phút Một kết quả (+) luôn luôn xác nhận sự nhiễm trùng Nhưng loại thử nghiệm này “bỏ qua” khoảng 10-20% trường hợp nhiễm trùng, nghĩa là bệnh nhân bị nhiễm trùng nhưng kết quả thử nghiệm là (-) Do đó, việc cấy vi khuẩn vẫn cần thiết để xác nhận bệnh trạng Viêm cổ họng do Streptococcus nguy hại như thế nào?
Việc dùng kháng sinh đã giảm thiểu sự nguy hại của hầu hết các biến chứng từ việc nhiễm trùng do Streptococcus gây ra Tuy nhiên khi không chữa trị hoặc chữa trị không đầy đủ, bệnh nhân sẽ chịu một hoặc nhiều biến chứng sau:
• Bọc mủ (abcess) trong tonsil (amidal)
• Scarlet fever
• Rheumatic fever (hiếm thấy tại Hoa Kỳ)
Viêm cổ họng do Streptococcus được chữa trị ra sao?
Cần dùng thuốc kháng sinh
Thuốc kháng sinh ngăn ngừa biến chứng nguy hại nhất của nhiễm trùng vi khuẩn
Streptococcus là rheumatic fever, có thể hủy hoại van tim Khi chữa trị sớm, kháng sinh hoàn toàn ngăn ngừa biến chứng kể trên Ngoài ra, thuốc kháng sinh khiến cơ thể hồi phục nhanh hơn từ cơn nhiễm trùng
• Nhóm Penicillin là loại kháng sinh thông dụng nhất trừ khi bị dị ứng Cần dùng thuốc
đủ 10 ngày Amoxicillin, là một loại Penicillin, rất hiệu quả khi dùng đủ 10 ngày, mỗi
ngày 1 lần
Trang 8• Nhóm Macrolide: Erythromycin là loại thông dụng nhất trong nhóm thuốc này, và là
loại thuốc được chọn khi bệnh nhân dị ứng với Penicillin Cần dùng thuốc đủ 10 ngày
Một loại macrolide khác, azithromycin có thể dùng trong 5 ngày, mỗi ngày 1 lần
• Nhóm Cephalosporin cũng rất hiệu quả
Thuốc kháng sinh thường bị sử dụng một cách lầm lẫn hoặc bừa bãi cho những trường hợp nhiễm trùng cổ họng không do Streptococcus gây ra Một cuộc quan sát của chính phủ đã ghi nhận rằng trong thời gian 1989-1999, 6.7 triệu người Hoa Kỳ đi khám bệnh vì
bị viêm cổ họng và 73% bệnh nhân được cho thuốc kháng sinh Nhiều cuộc quán sát cũng ghi nhận rằng người lớn và cả trẻ em với triệu chứng viêm cổ họng không bị viêm
cổ họng do Streptococcus và các chuyên viên Y Tế lo ngại rằng thuốc kháng sinh bị lạm dụng
Phụ huynh nên an tâm chờ đợi: hoãn dùng thuốc kháng sinh trong chờ đợi kết quả thử nghiêm không tạo hậu quả nào cho con em, kể cả các biến chứng lâu dài như rheumatic fever Trừ khi bệnh nhân đau nặng, có thể dùng kháng sinh trong khi chờ đợi kết quả thử nghiệm Nếu thử nghiệm cấy vi khuẩn cho thấy không nhiễm trùng, bác sĩ có thể ngưng thuốc kháng sinh
Trẻ em bị rhumatic fever trong quá khứ khi bị viêm cổ họng cần dùng thuốc kháng sinh ngay lập tức, trước khi có kết quả thử nghiệm Trẻ bị viêm cổ họng và có thân nhân bị viêm cổ họng do Streptococcus cũng cần bắt đầu thuốc kháng sinh ngay
Ngăn ngừa
Cảm lạnh và cúm dễ truyền nhiễm, tất cả mọi người cần rửa tay trước khi ăn uống và sau khi ra ngoài trời Rửa tay với xà bông thông thường là đủ Các loại sản phẩm dùng để rửa tay có chứa alcohol cũng hiệu quả
Những sản phẩm chống vi khuẩn (antibacterial products)
Những sản phẩm này không mấy hiệu quả trong việc ngăn ngừa siêu vi khuẩn Loại xà bông thông dụng hiệu quả hơn trong việc ngừa siêu vi khuẩn so với các sản phẩm chống
vi khuẩn RSV Lau rửa các mặt bàn, quầy với hợp chất chứa nước pha thuốc tẩy (1 phần thuốc tẩy như chlorine hòa tan trong 10 phần nước) rất hiệu quả trong việc diệt siêu vi khuẩn
Cảm lạnh không do việc mặc quần áo không đủ ấm hoặc ra ngoài trời lạnh trong khi tóc
còn ướt
Các yếu tố về dinh dưỡng
Trang 9Thực phẩm chứa Lactobacilli: Các chuyên gia khảo cứu đang tìm hiểu về tác dụng của lactobacilli giống vi khuẩn tìm thấy trong ruột, đặc biệt chủng acidophilus dùng để làm sữa chua (yogurt), Theo một bài tường trình từ Phần Lan, trẻ em ở nhà giữ trẻ ăn uống sữa chứa lactobcacilli GG từ 10-20% ít bị nhiễm trùng hơn so với các đứa trẻ khác
Sinh tố: Kết quả về sinh tố dùng trong việc chữa trị cảm cúm rất mâu thuẫn Sinh tố C được xem như thu ngắn thời gian bị cảm cúm, trong khi cũng sinh tố này không ngăn ngừa được sự nhiễm trùng Tuy nhiên các chuyên gia tạm kết luận rằng ở người thiếu dinh dưỡng, sinh tố C hữu ích
• Súp gà giảm ngạt mũi, cũng như tất cả mọi thức ăn uống bốc hơi nóng như trà nóng, sữa nóng
• Những món ăn cay nồng sẽ giúp "mở" các xoang bị ngạt nước
• Thực phẩm chứa sinh tố A và C có thể giúp cơ thể: cam, kiwi và cà chua chứa nhiều sinh tố C; khoai lang, rau dền, broccoli chứa nhiều sinh tố A
Sinh tố: Một số tài liệu cho rằng dùng nhiều sinh tố C sẽ giúp trận cúm qua nhanh Tuy nhiên, cần nhớ rằng khi dùng quá nhiều sinh tố C, có thể chịu những phản ứng phụ sau:
• Nhức đầu, tiêu chảy và cả sạn thận
• Sinh tố C gia tăng sự hấp thụ của sắt Những người bị những chứng bệnh về máu như hemochromatosis, thalassemia, hoặc sideroblastic anemia cần tránh dùng một lượng sinh
tố C quá cao
• Sinh tố C có thể tương tác với các loại thuốc làm “loãng máu, các loại thử nghiệm đường huyết và thử phân, nghĩa là có thể tạo ra kết quả thử nghiệm sai lạc
• Sinh tố E hoặc hỗn hợp nhiều sinh tố không giúp gì cho cơ thể khi bị cảm cúm
Zinc (kẽm?) rất quan trọng cho hệ đề kháng và có thể có tác dụng trên siêu vi khuẩn.Tuy nhiên chưa có tài liệu nào nói về cách hoạt động của Zinc Zinc được bán dưới dạng thuốc ngậm và thuuốc nhỏ mũi để chữa cảm cúm Các thử nghiệm về Zinc dùng trong khi cảm cúm có kết quả mâu thuẫn Tóm lại là một người khỏe mạnh với đầy đủ dinh dưỡng không cần dùng thêm zinc khi bị cảm cúm
Phản ứng phụ: nhất là dưới dạng thuốc ngậm, gồm có:
Trang 10• Giảm sự hấp thụ của một số thuốc kháng sinh
• Thực pphẩm chứa nhiều calcium hoặc phosphorus có thể giảm sự hấp thụ của zinc
• Ở lượng cao và dùng lâu dài, zinc có thể gây thiếu copper
Thuốc men dùng giảm cơn sốt và ê ẩm: Hầu hết mọi người dùng aspirin, ibuprofen hoặc acetaminophen Với trẻ em, phụ huynh cần để ý những điều sau:
• Dùng acetaminophen hoặc ibuprofen để làm hạ cơn sốt 101° F
• Tránh aspirin hoàn toàn Trẻ bị cúm hoặc chicken pox (thủy đậu?) có thể bị chứng Reye khi cho uống aspirin
Vật dụng kẹp mũi: (như Breathe Right) giúp kéo lỗ mũi mở lớn, được bán để giúp dễ thở khi bị ngạt mũi Tuy nhiên không có tài liệu nào xác định tác dụng của các vật dụng kể trên
Súc mũi: Súc mũi bằng nước ấm pha muối (1 thìa cà phê muối trong nửa lít nước) có thể giúp rửa sạch đờm nhớt Loại nước pha sẵn bán tự do có thể chứa chất benzalkonium chloride (preservative) có thể gây dị ứng và thêm ngạt mũi
Súc mũi bằng cách sau:
• Cúi đầu trên chậu
• Đổ một ít nước muối vào lòng bàn tay và hít nước vào mũi
• Hỉ mũi cho sạch
Hoặc có thể dùng vật dụng bơm mũi để súc mũi
Những loại thuốc trị ngạt mũi (bơm vào mũi): Loại thuốc này tác dụng nhanh chóng hơn
so với thuốc uống, và cũng ít phản ứng phụ hơn Món thuốc này được bán tự do và bao gồm những loại sau:
Tác dụng lâu dài: Tác dụng bắt đầu trong vòng vài phút và kéo dài từ 6-8 tiếng; các nguyên liệu chính gồm có: