1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích giáo trình “minna no nihongo sơ cấp” và một số đề xuất cải thiện khi học bộ giáo trình này đối với sinh viên chuyên ngành tiếng nhật

62 31 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích giáo trình “Minna No Nihongo Sơ Cấp” và một số đề xuất cải thiện khi học bộ giáo trình này đối với sinh viên chuyên ngành tiếng Nhật
Người hướng dẫn Cô, Giáo viên hướng dẫn
Trường học Trường Đại Học Lạc Hồng
Chuyên ngành Ngôn ngữ Nhật
Thể loại Báo cáo nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 2,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (10)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu đề tài (11)
  • 3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu (12)
    • 3.1 Mục tiêu (12)
    • 3.2 Phạm vi nghiên cứu (12)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (12)
  • 5. Những đóng góp của đề tài (13)
    • 5.1 Ý nghĩa khoa học (13)
    • 5.2 Giá trị thực tiễn (13)
    • 5.3 Những đóng góp mới của đề tài (13)
  • 6. Cấu trúc của đề tài (14)
  • CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ GIÁO TRÌNH “MINNA NO NIHONGO SƠ CẤP” (15)
    • 1.1 Tác giả và nhà xuất bản (15)
      • 1.1.1 Chủ biên (15)
      • 1.1.2 Nhà xuất bản 3A Corporation (16)
      • 1.1.3 Nhà xuất bản Trẻ (17)
    • 1.2 Quá trình hình thành và sửa đổi của giáo trình (19)
      • 1.2.1 Sách giáo khoa (19)
        • 1.2.1.1 Bản cũ (19)
        • 1.2.1.2 Bản mới (27)
      • 1.2.3 Sách bài tập (31)
      • 1.2.4 Sách bài tập mẫu câu (33)
      • 1.2.5 Sách “25 bài đọc hiểu sơ cấp” (34)
      • 1.2.6 Sách “25 bài nghe hiểu sơ cấp” (36)
    • 1.3 So sánh sự cải tiến của giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” bản mới so với bản cũ (37)
    • 1.4 Tiểu kết (39)
  • CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH GIÁO TRÌNH “MINNA NO NIHONGO SƠ CẤP”31 (40)
    • 2.1 Ưu điểm (41)
      • 2.1.1 Ngôn ngữ biên soạn (41)
      • 2.1.2 Từ vựng (41)
      • 2.1.3 Ngữ pháp cơ bản, thường gặp (42)
      • 2.1.4 Nội dung (42)
      • 2.1.5 Mục tiêu kỹ năng (42)
      • 2.1.6 Giáo trình có đa dạng bài tập (43)
    • 2.2 Hạn chế (44)
      • 2.2.1 Việc sử dụng song song hai quyển giáo trình (44)
      • 2.2.2 Lối hành văn chưa “thuần Việt” (44)
      • 2.2.3 Từ vựng lỗi thời (45)
      • 2.2.4 Hạn chế trong giải thích đáp án bài tập (46)
      • 2.2.5 Hệ thống câu hỏi và bài tập chưa tương thích với cấu trúc đề thi JLPT (46)
      • 2.2.6 Hạn chế về số lượng bài đọc (47)
    • 2.3 Tiểu kết (48)
  • CHƯƠNG III: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CẢI THIỆN KHI HỌC GIÁO TRÌNH “MINNA NO NIHONGO SƠ CẤP” (49)
    • 3.3 Đề xuất cập nhật từ vựng đương thời (50)
    • 3.4 Đề xuất cải thiện phần giải thích chi tiết đáp án bài tập (50)
    • 3.5 Đề xuất bổ sung số lượng bài đọc (51)
    • 3.6 Tiểu kết (51)
  • KẾT LUẬN (52)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (55)
  • PHỤ LỤC (57)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH GIÁO TRÌNH “MINNA NO NIHONGO SƠ CẤP” VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CẢI THIỆN KHI HỌC BỘ GIÁO TRÌNH NÀY ĐỐI VỚI SINH VIÊN C[.]

Lịch sử nghiên cứu đề tài

“Minna no Nihongo sơ cấp” là một trong những giáo trình dành cho người nước ngoài học tiếng Nhật Tuy nhiên, những báo cáo khoa học liên quan đến giáo trình này không nhiều Một trong số ít những nghiên cứu có đề cập đến giáo trình “Minna no Nihongo” là cuốn “Phó từ tiếng Nhật trong giáo trình “Minna no Nihongo” trình độ sơ cấp Một số dạng bài tập đề xuất về sử dụng phó từ trong giờ dạy tiếng Nhật sơ cấp tại Hải Phòng” 4 Tuy nhiên, đề tài này chỉ giới hạn trong việc phân tích về một yếu tố cụ thể trong tiếng Nhật là phó từ, chưa thấy triển khai nghiên cứu về cấu trúc hay đánh giá tính hiệu quả của giáo trình Những đề tài đề cập đến giáo trình tiếng Nhật như “Nghiên cứu việc sử dụng giáo trình, tài liệu bằng tiếng Nhật trong dạy và học các môn chuyên ngành Nhật Bản học: Thực trạng và giải pháp” 5 hay bài báo khoa học “Dạy và học tiếng

3 Khánh Nguyễn (2020), Gần 20 trường đại học Việt Nam có khoa/bộ môn tiếng Nhật,

Nhật Bản học, Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam, (ngày truy cập: 20/03/2022),< https://vtv.vn/giao-duc/gan-20-truong-dai-hoc-viet-nam-co-khoa-bo-mon-tieng-nhat- nhat-ban-hoc-20201020164544034.htm>

4 Phạm Thị Huyền (2018), Phó từ tiếng Nhật trong giáo trình “Minna no Nihongo” trình độ sơ cấp Một số dạng bài tập đề xuất về sử dụng phó từ trong giờ dạy tiếng Nhật sơ cấp tại Hải Phòng, Luận văn cao học, Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

5 Thân Thị Mỹ Bình (2021), Nghiên cứu việc sử dụng giáo trình, tài liệu bằng tiếng Nhật trong dạy và học các môn chuyên ngành Nhật Bản học: Thực trạng và giải pháp,

Tạp chí Nghiên cứu nước ngoài, số 5, tr 30-44

Nhật trong thời đại toàn cầu” 6 cũng chưa nghiên cứu sâu về ưu điểm và hạn chế của một bộ giáo trình một cách toàn diện và hệ thống

Do đó, chúng tôi chọn đề tài “Phân tích giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” và một số đề xuất cải thiện khi học bộ giáo trình này đối với sinh viên chuyên ngành tiếng Nhật” với mong muốn nghiên cứu kĩ hơn về ưu điểm và hạn chế một bộ giáo trình nổi tiếng như “Minna no Nihongo sơ cấp” Trong đề tài nghiên cứu của bản thân, chúng tôi cố gắng tìm, khảo sát và phân tích có chọn lọc các ưu điểm và hạn chế của giáo trình

Từ những hạn chế đã nêu trong bài nghiên cứu, chúng tôi sẽ đưa ra một số đề xuất nhằm cải thiện chất lượng sử dụng giáo trình này.

Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

Mục tiêu

Trong quá trình sử dụng giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” để học tiếng Nhật tại trường Trong quá trình học, chúng tôi nhận ra những ưu điểm rõ rệt của bộ giáo trình này, nhưng song song đó cũng nhận thấy một vài hạn chế cần cải thiện để có thể khai thác triệt để những lợi ích của giáo trình cho việc học tiếng Nhật của người nước ngoài nói chung và sinh viên Việt Nam nói riêng

Mục tiêu của đề tài này là sau khi thông qua kinh nghiệm cá nhân của bản thân và khảo sát ý kiến của các bạn sinh viên đã và đang sử dụng giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” để học tiếng Nhật, chúng tôi mong muốn sẽ đưa ra một cái nhìn khách quan, minh bạch nhất về ưu điểm và hạn chế của bộ giáo trình này và bên cạnh đó sẽ đề xuất một số cách giải quyết các hạn chế đã được nêu lên.

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ tập trung chủ yếu vào hai phiên bản của bộ giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” Đối tượng khảo sát là các sinh viên và cựu sinh viên của ngành Nhật Bản học, khoa Đông Phương học, trường Đại học Lạc Hồng.

Phương pháp nghiên cứu

Trong bài nghiên cứu, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp điều tra xã hội học Chúng tôi lập ra một bảng điều tra ý kiến của mọi người về ưu điểm, hạn chế của

6 Cao Lê Dung Chi (2017), Dạy và học tiếng Nhật trong thời đại toàn cầu, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 4, tr 58-59 giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” mà mọi người phát hiện ra trong quá trình học tiếng Nhật ở giảng đường và đề xuất cải thiện hạn chế đã nêu Trong bảng điều tra chủ yếu sẽ là các câu hỏi mở để người tham gia điều tra đưa ra ý kiến cá nhân đóng góp cho đề tài, bên cạnh đó cũng có câu hỏi trắc nghiệm để định hướng cách trả lời cho phù hợp với ý nghĩa của câu hỏi và nguyện vọng của chúng tôi

Phương pháp thu thập thông tin, số liệu từ các tài liệu liên quan đến giáo trình

“Minna no Nihongo sơ cấp”, việc học và dạy tiếng Nhật, soạn giáo trình tiếng nước ngoài như luận văn đã được công bố, các bài báo khoa học đã được đăng tải trên tạp chí, các giáo trình, sách đã được xuất bản, nhằm tạo ra cơ sở khoa học vững chắc cho bài nghiên cứu

Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp logic để phân tích và tổng hợp thông tin một cách khoa học, tránh đưa ra ý kiến cá nhân mang tính chủ quan, phiến diện Chúng tôi chọn lọc ra các thông tin, số liệu có độ chính xác, tính khoa học cao, những ý kiến mang tính khả thi, phù hợp với nội dung đề tài đưa vào bài viết của bản thân nhằm nêu lên những ưu điểm, hạn chế của giáo trình một cách minh bạch nhất.

Những đóng góp của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Đề tài làm rõ những ưu điểm và hạn chế của giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” đối với sinh viên khi học tiếng Nhật, từ đó giúp cho việc biên soạn giáo trình giảng dạy, thiết kế chương trình đào tạo, kế hoạch học tập tiếng Nhật trở nên khoa học và toàn diện hơn.

Giá trị thực tiễn

Đề tài đưa ra một số đề xuất mang tính chất tham khảo có giá trị khoa học cho sinh viên năm nhất, năm hai khi sử dụng giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” giúp các bạn có được những thông tin bổ ích về phương pháp sử dụng giáo trình này một cách hiệu quả để học tiếng Nhật trong giảng đường Đại học Từ đó giúp sinh viên có thể sử dụng giáo trình một cách hiệu quả nhất.

Những đóng góp mới của đề tài

Đây là nghiên cứu khoa học đầu tiên tại Việt Nam trình bày và phân tích những ưu điểm và hạn chế của bộ giáo trình này Đề tài gợi mở ý tưởng cho các đề tài nghiên cứu sau này có thể mở rộng phạm vi ra các bộ giáo trình phổ biến khác như “Shinkanzen Master”, “Mimi kara Oboeru”, hay mở rộng hơn về đối tượng nghiên cứu hướng tới như du học sinh, thực tập sinh, tu nghiệp sinh, những người đi xuất khẩu lao động, ở Nhật Bản, cũng như không chỉ bó hẹp phạm vi ở trình độ sơ cấp mà có thể nghiên cứu ở trình độ trung cấp, thượng cấp hay cao cấp.

Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần dẫn luận, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành ba chương như sau:

Chương I trình bày khái quát về giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp”

Chương II phân tích giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp”

Chương III nêu lên một số đề xuất cải thiện khi học giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp”

KHÁI QUÁT VỀ GIÁO TRÌNH “MINNA NO NIHONGO SƠ CẤP”

Tác giả và nhà xuất bản

Giáo sư Ishizawa Hiroko sinh năm 1945 tại thành phố Yokohama, tỉnh Kanagawa, Nhật Bản 7 Bà tốt nghiệp ngành Ngôn ngữ và Văn học Nhật Bản, khoa Giáo dục học, trường Đại học Waseda 8 (Nhật Bản) vào năm 1968

Hình 1.1: Giáo sư Ishizawa Hiroko 9

Từ năm 1968 đến năm 1971, Giáo sư Ishizawa Hiroko là giáo viên dạy tiếng Nhật tại trường liên cấp THCS – THPT Yamawaki Gakuen Đến năm 1971, bà trở thành giáo

7 Thành phố Yokohama (横 浜 市) thuộc tỉnh Kanagawa (神 奈 川 県), Nhật Bản Yokohama nằm bên vịnh Tokyo, phía nam Tokyo, trong vùng Kanto (関東地方) của đảo chính Honshu (本州)

8 Trường Đại học Waseda (早稲田大学) là một trong những trường đại học tư thục nổi tiếng hàng đầu Nhật Bản và Châu Á, nằm ở phía bắc Shinjuku (新宿), Tokyo

9 Ảnh chụp từ trang chủ của Học viện Quốc tế KOYO, Kanagawa, Nhật Bản, truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2022, https://www.koyojca.com/vietnam/ viên tiếng Nhật tại Hiệp hội Dịch vụ Giao lưu Quốc tế (IHCSA) – một tổ chức trực thuộc

Bộ ngoại giao Nhật Bản

Năm 1972, Giáo sư Ishizawa Hiroko tham gia Hiệp hội Học bổng Kỹ thuật nước ngoài (AOTS) với tư cách là giáo viên tiếng Nhật toàn thời gian Đến năm 1999, bà là Trưởng khoa đầu tiên của Khoa Tiếng Nhật được thành lập bởi Hiệp hội AOTS, và đóng góp rất nhiều vào việc giáo dục tiếng Nhật, đào tạo giáo viên và phát triển tài liệu giảng dạy tiếng Nhật Bà là chủ biên của giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” cũng như tham gia vào việc phát triển nhiều bộ giáo trình tiếng Nhật khác

Sau khi nghỉ việc tại AOTS vào năm 2006, Giáo sư Ishizawa Hiroko đã tham gia khởi động khóa học tiếng Nhật dành cho sinh viên Quốc tế (JALP) theo như nguyện vọng của Đại học Mejiro 10 từ tháng 9 năm 2008 Từ năm 2009, bà đã giữ nhiều chức vụ tại trường Đại học Mejiro như Trưởng khoa Du học sinh, Trưởng trung tâm giáo dục Nhật ngữ, giáo viên khoa tiếng Nhật Giáo sư Ishizawa Hiroko đã nghỉ hưu tại trường Đại học này từ năm 2016 Từ tháng 4 năm 2019 đến nay bà đang giữ chức Hiệu trưởng của Học viện Quốc tế Koyo, có trụ sở đặt tại thành phố Yokohama, tỉnh Kanagawa – quê hương của Giáo sư

Nhà xuất bản được thành lập vào ngày 28 tháng 7 năm 1973, tại quận Chiyoda, Tokyo, Nhật Bản Bà Masako Fujisaki hiện đang giữ chức vụ Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của nhà xuất bản này Cuốn sách dạy tiếng Nhật đầu tay được xuất bản bởi nhà xuất bản 3A là “Nihongo no Kiso” do Hiệp hội Học bổng Kỹ thuật Hải ngoại biên tập, cuốn sách chủ yếu dành cho thực tập sinh các ngành kĩ thuật

Trong những năm qua, do thay đổi của xã hội cũng như nhu cầu của thời đại và nhu cầu thực tế của nền giáo dục, nhà xuất bản đã lên kế hoach và xuất bản nhiều tài liệu và sách dạy các ngôn ngữ khác nhau tập trung vào mục tiêu “dễ học”, “dễ dạy” Đặc biệt trong số đó có bộ giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” – bộ giáo trình được sử dụng rộng rãi ở cả trong và ngoài nước Nhật như một giáo trình tiếng Nhật cơ bản

Ngoài ra, nhà xuất bản 3A Corporation cũng đang phát triển các giáo trình dạy ngoại ngữ dành cho người Nhật hoặc người nói tiếng Nhật như các cuốn sách luyện thi

10 Trường Đại học Mejiro (目白大学), là một trường Đại học tư thục nằm ở Shinjuku (新宿), Nhật Bản chứng chỉ TOEIC, luyện thi tiếng Anh từ cơ bản đến nâng cao Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của nhà xuất bản 3A – Bà Masako Fujisaki đã phát biểu rằng sẽ tiếp tục mở rộng phạm vi kết nối mọi người và đóng góp một phần cho hòa binh thế giới thông qua việc xuất bản các tài liệu giảng dạy ngôn ngữ và các cuốn sách cần thiết trong một xã hội đa văn hóa

Trên tinh thần thành lập một nhà xuất bản với mục tiêu ban đầu là in sách phục vụ cho phong trào thiếu nhi thành phố, ngày 24 tháng 3 năm 1981, Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ký quyết định thành lập nhà xuất bản Măng Non trực thuộc Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh Sau gần năm năm hoạt động, ngày 3 tháng 2 năm

1986, nhà xuất bản Măng Non được Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ký quyết định đổi tên thành nhà xuất bản Trẻ với chức năng và nhiệm vụ được mở rộng là đơn vị xuất bản dành cho thanh thiếu nhi thành phố và khu vực Nam Bộ

Hình 1.2: Trụ sở chính nhà xuất bản Trẻ 11

Những năm gần đây, nhà xuất bản Trẻ luôn là một trong những thương hiệu dẫn đầu trên cả nước trong lĩnh vực xuất bản Với tiêu chí làm sách để nuôi dưỡng tâm hồn và khơi nguồn tri thức cho bạn đọc, nhà xuất bản Trẻ đã không ngừng giới thiệu những

11Ảnh chụp từ bài viết của Đoàn Thạch Biền (2013), “Trở về mái nhà xưa”, Báo Tuổi Trẻ Online, (ngày truy cập: 03/05/2022), https://tuoitre.vn/tro-ve-mai-nha-xua-585628.htm tác phẩm văn học có giá trị dành cho thanh thiếu nhi, những cuốn sách về kĩ năng hoạt động Đoàn, Hội, Đội dành cho cán bộ hoạt động phong trào, những tác phẩm nhiều thể loại, đề tài liên quan đến việc nâng cao tri thức và kĩ năng sống

Tiêu chí hàng đầu mà nhà xuất bản Trẻ luôn nêu cao là chất lượng Cũng từ tiêu chí này mà bạn đọc dần dần nhận ra giá trị mà thương hiệu Trẻ xây dựng trong suốt quá trình hoạt động xuất bản của mình Với nội dung phong phú trên nhiều lĩnh vực, gắn với tôn chỉ phục vụ cho thanh thiếu nhi, tổ chức Đoàn các cấp và bạn đọc rộng rãi, các xuất bản phẩm của nhà xuất bản Trẻ được chăm chút cẩn thận từ hình thức đến nội dung và không ngừng đổi mới

Quá trình hình thành và sửa đổi của giáo trình

Sau hơn 3 năm lên kế hoạch, biên tập, nhà xuất bản 3A Corporation đã cho ra đời bộ sách giáo khoa cơ bản cho người bắt đầu học tiếng Nhật mang tên Minna no Nihongo, cuốn sách với vai trò giúp người ngoại quốc học tiếng Nhật hiệu quả, giống như Shin Nihongo no Kiso – sách học tiếng Nhật dùng cho đối tượng tu nghiệp sinh ngành kĩ thuật Trong bối cảnh những năm 90, việc học tiếng Nhật đang dần đa dạng hóa Theo xu thế toàn cầu hóa, việc học ngoại ngữ cũng trở nên phổ biến hơn Số lượng người ngoại quốc muốn tìm hiểu về xã hội Nhật Bản với nhiều lí do và mục đích khác nhau ngày càng tăng Tháng 6 năm 1998, nhà xuất bản 3A Corporation đã quyết định xuất bản bộ sách giáo khoa “Minna no Nihongo sơ cấp” gồm 2 tập: tập I gồm 25 bài từ 1 đến

25, tập II cũng bao gồm 25 bài từ 26 đến 50 để đáp ứng nhiều ý kiến, nguyện vọng của mọi người, phù hợp với thực tiễn về việc dạy tiếng Nhật trong nước Ngành Nhật Bản học, khoa Đông Phương học, trường Đại học Lạc Hồng cũng đã bắt đầu sử dụng bộ giáo trình này trong công tác giảng dạy từ năm 2006 và đến nay đã được hơn 15 năm

Mở đầu sách là lời nói đầu của tác giả, phương pháp sử dụng giáo trình hiệu quả, giới thiệu nhân vật xuất hiện trong cuốn sách và mục lục Ở tập I còn có phần kiến thức cơ bản cho người mới bắt đầu như: bảng chữ cái, trường âm, xúc âm, nhấn âm, các câu chào hỏi,

Hình 1.3: Bảng chữ cái Hiragana 13 Hình 1.4: Bảng chữ cái Katakana 14

Hình 1.5: Những câu chào hỏi hàng ngày trong tiếng Nhật 15

13 Ishizawa Hiroko (1998), Sách giáo khoa Minna no Nihongo sơ cấp I, nhà xuất bản 3A Corporation, Nhật Bản, trang 2

14 Ishizawa Hiroko (1998), Sách giáo khoa Minna no Nihongo sơ cấp I, nhà xuất bản 3A Corporation, Nhật Bản, trang 3

15 Ishizawa Hiroko (1998), Sách giáo khoa Minna no Nihongo sơ cấp I, nhà xuất bản 3A Corporation, Nhật Bản, trang 5

Mỗi bài của sách giáo khoa “Minna no Nihongo sơ cấp” thường bao gồm bảy phần: mẫu câu (文型 - bunkei), ví dụ (例文 - reibun), hội thoại (会話 – kaiwa), luyện tập A, B, C (練習A, B, C - renshuu A, B, C) và bài tập (問題 – Mondai)

Mẫu câu là phần giới thiệu những mẫu câu cơ bản được học trong bài

Hình 1.6: Phần mẫu câu 16 Phần ví dụ là những mẩu hội thoại ngắn để người học hình dung được các mẫu câu cơ bản sẽ được dùng như thế nào trong thực tế Ngoài ra, phần này cũng giới thiệu cách sử dụng của một số phó từ, liên từ mới xuất hiện hoặc những nội dung ngoài các mẫu câu cơ bản

16 Ishizawa Hiroko (1998), Sách giáo khoa Minna no Nihongo sơ cấp I, nhà xuất bản 3A Corporation, Nhật Bản, trang 14

17 Ishizawa Hiroko (1998), Sách giáo khoa Minna no Nihongo sơ cấp I, nhà xuất bản 3A Corporation, Nhật Bản, trang 56

Hội thoại: Nhiều nhân vật trong bài hội thoại là người nước ngoài sống ở Nhật xuất hiện ở nhiều ngữ cảnh khác nhau Nội dung thường bao gồm những điều được học trong bài chính, cộng với những câu nói trong giao tiếp hàng ngày như chào hỏi,

Hình 1.8: Phần hội thoại 18 Luyện tập: Phần này được chia thành ba loại là A, B, C

18 Ishizawa Hiroko (1998), Sách giáo khoa Minna no Nihongo sơ cấp I, nhà xuất bản 3A Corporation, Nhật Bản, trang 57

19 Ishizawa Hiroko (1998), Sách giáo khoa Minna no Nihongo sơ cấp I, nhà xuất bản 3A Corporation, Nhật Bản, trang 40

Luyện tập A được biên soạn dưới dạng sơ đồ và theo hướng giúp người học định hình được các mẫu câu cơ bản, cũng như dễ nắm bắt các biến đổi các từ, cách nối các phần của câu

Hình 1.10: Luyện tập B 20 Luyện tập B sử dụng nhiều mẫu câu luyện tập khác nhau với mục đích củng cố kiến thức cho người học Có nhiều dạng bài tập như nhìn tranh và đặt câu, đặt câu hoàn chỉnh từ những từ vựng cho trước, trả lời câu hỏi,

20 Ishizawa Hiroko (1998), Sách giáo khoa Minna no Nihongo sơ cấp I, nhà xuất bản 3A Corporation, Nhật Bản, trang 49

21 Ishizawa Hiroko (1998), Sách giáo khoa Minna no Nihongo sơ cấp I, nhà xuất bản 3A Corporation, Nhật Bản, trang 61

Luyện tập C là những bài hội thoại ngắn giúp người học nâng cao năng lực hội thoại của mình thông qua việc lý giải các mẫu câu được dùng trong những tình huống cụ thể, trong mỗi tình huống như thế các mẫu câu có chức năng gì Không chỉ luyện tập hội thoại bằng cách lặp lại những mẫu câu đã có mà còn thay thế các bộ phận của những câu này để làm phong phú thêm nội dung của câu cũng như phát triển tình huống trong câu

Phần bài tập bao gồm các bài tập nghe, bài tập ngữ pháp và bài tập đọc hiểu Phần bài tập nghe có thể là nghe câu hỏi và trả lời, nghe nội dung và chọn tranh, chọn đúng / sai Phần này nhằm tăng cường khả năng nghe của người học

Hình 1.12: Bài tập nghe câu hỏi và trả lời 22 Ở phần bài tập nghe và trả lời câu hỏi, người học sẽ được nghe câu hỏi, người học sẽ viết câu trả lời thích hợp tương ứng vào mỗi dòng Nội dung câu trả lời không hạn chế ở một đáp án nhất định mà người học có thể trả lời theo ý mình sao cho phù hợp với nội dung câu hỏi

22 Ishizawa Hiroko (1998), Sách giáo khoa Minna no Nihongo sơ cấp I, nhà xuất bản 3A Corporation, Nhật Bản, trang 62 Ở phần nghe nội dung và chọn tranh phù hợp, người học sẽ được nghe một đoạn hội thoại ngắn hoặc một đoạn băng và người học sẽ chọn một bức tranh phù hợp với nội dung mình vừa nghe

Hình 1.13: Bài tập nghe và chọn tranh 23 Ở phần nghe và chọn đúng / sai, CD sẽ phát một đoạn băng và có câu chốt Nếu câu chốt phù hợp với nội dung câu hỏi thì sẽ điền kí hiệu đúng (〇), nếu không phù hợp thì sẽ điền kí hiệu sai (×) vào chỗ trống

Hình 1.14: Bài tập nghe và chọn đúng / sai 24

Phần bài tập ngữ pháp giúp người học kiểm tra được mức độ nắm vững bài học của mình đối với các nội dung ngữ pháp và từ vựng Phần này bao gồm nhiều dạng bài tập khác nhau như chọn đáp án đúng, trả lời câu hỏi, điền trợ từ, nội dung phù hợp,

23 Ishizawa Hiroko (1998), Sách giáo khoa Minna no Nihongo sơ cấp I, nhà xuất bản 3A Corporation, Nhật Bản, trang 62

24 Ishizawa Hiroko (1998), Sách giáo khoa Minna no Nihongo sơ cấp I, nhà xuất bản 3A Corporation, Nhật Bản, trang 52

Hình 1.15: Bài tập ngữ pháp 25 Ở phần bài tập đọc, người học sẽ đọc những đoạn văn dễ hiểu, có sử dụng từ vựng và ngữ pháp đã học để trả lời câu hỏi được đặt ra

So sánh sự cải tiến của giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” bản mới so với bản cũ

STT TÊN SÁCH BẢN CŨ BẢN MỚI

Phần thay vào dấu gạch chân hầu hết là chữ

Sử dụng hình ảnh và hạn chế sử dụng chữ để thay vào phần gạch chân giúp người học tăng khả năng sáng tạo tình huống

Chủ đề hội thoại mới mẻ hơn

3 Sách giáo khoa Có 11 bài ôn tập tổng hợp kiến thức

Số lượng bài ôn tập tổng hợp kiến thức nhiều hơn, có

4 Sách giáo khoa tập II

Không có bài ôn tập tổng hợp kiến thức từ bài 1 đến bài 50

Có bài ôn tập tổng hợp kiến thức từ bài 1 đến bài 50

5 Sách bản dịch và giải thích ngữ pháp – Tiếng Việt

Có thêm phần giải thích các kí hiệu dùng trong cuốn sách

6 Sách bản dịch và giải thích ngữ pháp – Tiếng Việt

Loại bỏ một số từ vựng lỗi thời như: テレホンカード (terehon kado – thẻ điện thoại)、 カ セ ッ ト テ ー プ (kasetto tepu – băng cát- sét)、v.v

7 Sách bài tập Sử dụng từ vựng khác so với giáo trình cũ cho cùng một dạng bài tập

8 Sách bài tập từ vựng

Loại bỏ một số mẫu ngữ pháp không còn phù hợp, có thêm một số mẫu ngữ pháp mới hơn so với bản cũ

Ví dụ: Bản mới – Bài 27 có thêm hai mẫu ngữ pháp mới mà bản cũ không có là 「 できます」và「しか」

9 Sách “25 bài đọc hiểu sơ cấp”

Có 27 bài đọc phụ Chủ đề mới mẻ và có nhiều bài đọc phụ hơn bản cũ, bản mới có 29 bài đọc phụ

10 Sách “25 bài nghe hiểu sơ cấp”

Số lượng bài tập luyện nghe nhiều hơn bản cũ

Ví dụ: Bản cũ – Bài 8 có 3 bài tập luyện nghe; Bản mới

– Bài 8 có 4 bài tập luyện nghe

Bảng 1.1: So sánh sự cải tiến của giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” bản mới so với bản cũ

Tiểu kết

Giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” được nhà xuất bản 3A Corporation xuất bản lần đầu vào năm 1998 Trải qua hơn một thập kỉ, cùng với sự thay đổi của xã hội Nhật Bản và thế giới, nhà xuất bản 3A quyết định cho ra đời phiên bản mới của giáo trình này vào năm 2006 Nhận thấy nhu cầu học tiếng Nhật của người dân Việt Nam đang tăng dần thông qua việc nhiều người đi du học và xuất khẩu lao động sang Nhật Bản từ giữa những năm 2000, nhà xuất bản Trẻ đã làm việc với nhà xuất bản 3A Corporation để được nhượng quyền xuất bản tại Việt Nam bộ giáo trình này từ năm

Bộ giáo trình có nhiều cuốn sách giúp phát triển đầy đủ các kĩ năng nghe – nói – đọc – viết tiếng Nhật Qua hai phiên bản cũ và mới, chúng ta có thể thấy được bộ giáo trình này đã thay đổi khá nhiều về nội dung cũng như hình thức trình bày như: hạn chế trình bày bằng chữ thay vào đó là bằng hình ảnh giúp bài học được sinh động hơn, tăng khả năng luyện tập tiếng Nhật của người học Chủ đề hội thoại cũng như từ vựng đã được cập nhật cho phù hợp với tình hình xã hội sau hơn một thập kỉ kể từ khi cuốn sách đầu tiên trong bộ giáo trình được xuất bản.

PHÂN TÍCH GIÁO TRÌNH “MINNA NO NIHONGO SƠ CẤP”31

Ưu điểm

“Minna no Nihongo sơ cấp” là giáo trình dùng để dạy và học tiếng Nhật nên việc được viết hoàn toàn bằng tiếng Nhật giúp người học có thể bước đầu làm quen với tiếng Nhật nhiều hơn Nếu giáo trình có thêm tiếng Việt hoặc tiếng Anh thì có thể làm chuyển hướng sự tập trung của người học vào tiếng Việt hoặc tiếng Anh mà ít tập trung vào tiếng Nhật hơn Đối với câu hỏi “Theo Anh/Chị, ưu điểm của giáo trình “Minna no Nihongo” là gì?”, đã có 34% câu trả lời cho rằng việc giáo trình được biên soạn hoàn toàn bằng tiếng là một ưu điểm (51/150)

Liên quan câu hỏi “Theo Anh/Chị, ưu điểm của giáo trình “Minna no Nihongo” là gì?” đã được nhắc tới ở trên, đã có 61.3% câu trả lời cho rằng từ vựng chính là một ưu điểm của bộ giáo trình này (92/150) Từ vựng được coi là một trong những thành phần quan trọng nhất khi học ngoại ngữ, nếu vốn từ vựng hạn chế thì giao tiếp cũng rất khó khăn Con người thường có xu hướng ghi nhớ những sự vật, hiện tượng gần gũi xung quanh, do đó, từ vựng gần gũi với sinh hoạt hàng ngày thì dễ tiếp thu và ghi nhớ lâu hơn Từ vựng tiếng Nhật trong giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” có ưu điểm là

Anh/Chị hãy đánh giá khái quát về bộ giáo trình này?

7-8 gần gũi với sinh hoạt hàng ngày như từ vựng về các đồ dùng, thành viên trong gia đình, trường học,

2.1.3 Ngữ pháp cơ bản, thường gặp

Khi giao tiếp với người bản xứ, ngữ pháp đôi khi không cần quá chú trọng nhưng nếu nghe hiểu ngữ pháp chính xác sẽ giúp bản thân diễn đạt trọn vẹn điều mình suy nghĩ, hiểu đúng ý của người nói, từ đó tránh những hiểu lầm không đáng có 71.3% câu trả lời cho rằng ngữ pháp cơ bản cũng là một ưu điểm của bộ giáo trình khi được hỏi “Theo Anh/Chị, ưu điểm của giáo trình “Minna no Nihongo” là gì?” (107/150) Giáo trình

“Minna no Nihongo sơ cấp” giúp bạn có được một nền tảng ngữ pháp cơ bản và thường gặp trong giao tiếp hằng ngày ngay từ những bài học đầu tiên như: Mẫu ngữ pháp 「 Danh từ (1) は Danh từ (2) です。」để miêu tả danh từ (1) là danh từ (2), trợ từ 「は

」(đọc là “wa”) trong mẫu ngữ pháp trên thường được dịch là “là” trong tiếng Việt

Trả lời cho câu hỏi “Theo Anh/Chị, ưu điểm của giáo trình “Minna no Nihongo” là gì?”, có đến 78.7% người nhận xét rằng nội dung dễ hiểu là ưu điểm của giáo trình này, đây cũng là câu trả lời được nhiều người đồng tình nhất (118/150)

Khi bắt đầu học một ngoại ngữ, nếu nội dung giáo trình quá khó hay mang tính hàn lâm sẽ gây choáng ngợp, về lâu dài sẽ khiến người học chán nản, mất động lực học ngoại ngữ Nội dung của giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” xoay quanh những chủ đề thường gặp trong cuộc sống như: chào hỏi (bài 1), mua sắm (bài 3), công sở (bài 13), lễ hội (bài 12) phù hợp cho người bắt đầu học tiếng Nhật

Học ngoại ngữ không chỉ dừng ở mức biết đọc, biết viết mà còn phải nghe hiểu nội dung một cách chính xác cũng như giao tiếp được với người bản xứ Dù là kĩ năng nào, giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” cũng giúp người học rèn luyện từ những điểm cơ bản nhất Không chỉ luyện tập từ sách giáo khoa mà bộ giáo trình còn có những cuốn sách riêng giúp người học luyện tập sâu hơn vào từng kĩ năng, như sách bài tập, sách “25 bài nghe hiểu sơ cấp”, “25 bài đọc hiểu sơ cấp”, 45.3% câu trả lời cho rằng bản thân họ cũng nhận thấy rằng giáo trình này có ích cho việc phát triển cả bốn kĩ năng nghe – nói – đọc – viết (68/150)

2.1.6 Giáo trình có đa dạng bài tập

Như đã trình bày ở trên, giáo trình có khả năng giúp người học rèn luyện được cả bốn kĩ năng nghe – nói – đọc – viết Một trong những cách luyện tập hiệu quả là áp dụng những điều đã được học, trước hết là thông qua các bài tập 40% người đã từng sử dụng giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” nhận xét các bài tập của giáo trình rất đa dạng và nó là một ưu điểm lớn khi được nhận câu hỏi về ưu điểm của giáo trình (60/150)

Bài tập trong giáo trình đa dạng về kĩ năng được luyện tập, về từng dạng bài của mỗi kĩ năng Chẳng hạn như trong sách giáo khoa, có các bài luyện tập về ngữ pháp, mẫu câu, hội thoại, nghe hiểu, đọc hiểu, Trong các phần luyện tập ngữ pháp, có luyện tập hoàn thành câu hoàn chỉnh, luyện tập trả lời câu hỏi, Trong phần bài tập nghe hiểu, có dạng bài nhìn ảnh và chọn đáp án đúng, nghe câu hỏi và ghi câu trả lời,

Biểu đồ 2.3: Ưu điểm của giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp”

(Nguồn: Xử lý kết quả thu được từ khảo sát)

Nội dung dễ hiểu, phù hợp với người mới bắt đầu

Giáo trình được biên soạn hoàn toàn bằng tiếng Nhật

Từ vựng gần gũi với cuộc sống hàng ngày

Ngữ pháp cơ bản, thường gặp trong giao tiếp hàng ngày

Giáo trình giúp người học phát triển cả 4 kĩ năng nghe - nói - đọc - viết

Có đa dạng bài tập

Theo Anh/Chị, ưu điểm của giáo trình Minna no Nihongo là gì?

(Có thể chọn nhiều đáp án)

Hạn chế

Bên cạnh những ưu điểm đã nêu phía trên, bộ giáo trình này vẫn có một số điểm hạn chế theo như đánh giá của những người đã từng sử dụng giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” để học tiếng Nhật Tuy nhiên, cũng có người tham gia khảo sát cho rằng đây là một giáo trình hoàn hảo, không có hạn chế nào Chúng tôi sẽ trình bày chi tiết quá trình đưa ra những kết luận này trong phần dưới đây

2.2.1 Việc sử dụng song song hai quyển giáo trình

Giáo trình được soạn hoàn toàn bằng tiếng Nhật là một ưu điểm lớn của giáo trình

“Minna no Nihongo sơ cấp”, tuy nhiên đây cũng được xem là một hạn chế So với các giáo trình tiếng Nhật khác như Shinkanzen Master, Soumatome, tiếng Việt được dịch ngay phía dưới nội dung tiếng Nhật, phần dịch tiếng Việt của giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” được làm thành một cuốn sách riêng với tựa đề Bản dịch và Giải thích Ngữ pháp – Tiếng Việt

Khi sử dụng giáo trình, người học cần sử dụng song song cả hai cuốn sách và điều này được 40% người tham gia khảo sát cho rằng gây bất tiện hơn so với tiếng Việt được dịch ngay phía dưới tiếng Nhật (60/150)

2.2.2 Lối hành văn chưa “thuần Việt”

40.7% người tham gia nhận xét cuốn “Bản dịch và giải thích ngữ pháp – tiếng Việt” ở một số điểm có lối hành văn chưa “thuần Việt” (61/150) khi nhận được câu hỏi

“Theo Anh/Chị, hạn chế của giáo trình “Minna no Nihongo” là gì?” trong bài khảo sát của chúng tôi về giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp” với đối tượng là sinh viên và cựu sinh viên

Giáo trình được dịch sang tiếng Việt nhằm hỗ trợ cho người học dễ hiểu được nội dung của các bài học Tuy nhiên, một số câu văn có lối hành văn chưa phù hợp với người Việt, giải thích ngữ pháp chưa thật sự rõ ràng, một số câu – từ chưa phù hợp với thực tế Như trong bài 2, phần giải thích ngữ pháp 「これ/それ/あれ」, bản dịch ghi 「これ」「それ」「あれ」là những “đại từ chỉ thị” nhưng từ đúng trong tiếng Việt là “đại từ chỉ định”

Hình 2.1: Giải thích ngữ pháp 37 Hay trong phần dịch hội thoại bài 4, người dịch sử dụng quá nhiều hậu tố “ạ” gây nên cảm giác không tự nhiên

Hình 2.2: Phần dịch hội thoại 38

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

37 Vũ Tuấn Khải (2008), Sách Bản dịch và Giải thích Ngữ pháp – Tiếng Việt, NHÀ XUẤT BẢN 3A, Nhật Bản, trang 22

38 Vũ Tuấn Khải (2008), Sách Bản dịch và Giải thích Ngữ pháp – Tiếng Việt, NHÀ XUẤT BẢN 3A, Nhật Bản, trang 32

39 Nguyệt Lãng, Hoàng Lân (2011), Giáo sư - Tiến sĩ Ngôn ngữ học Nguyễn Đức Dân:

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

2.2.4 Hạn chế trong giải thích đáp án bài tập

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

2.2.5 Hệ thống câu hỏi và bài tập chưa tương thích với cấu trúc đề thi JLPT

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

II tương đương với N4 của kì thi này Tuy nhiên, các bài tập, câu hỏi trong bộ giáo trình này chưa phù hợp với cấu trúc đề thi JLPT Cấu trúc của bài thi JLPT là các câu hỏi trắc nghiệm với 4 đáp án được đưa sẵn, nhưng đa phần bài tập trong giáo trình theo dạng tự luận Đối với câu hỏi “Theo Anh/Chị, hạn chế của giáo trình “Minna no Nihongo” là gì?” của chúng tôi, 50.7% trả lời rằng hệ thống bài tập của giáo trình chưa tương thích với cấu trúc đề thi JLPT cũng là một hạn chế lớn (76/150)

Hình 2.3: Câu hỏi mẫu đề thi JLPT 40

2.2.6 Hạn chế về số lượng bài đọc Đọc hiểu là một kĩ năng quan trọng khi học bất kì một ngôn ngữ nào Một trong những cách luyện đọc hiểu hiệu quả là đọc nhiều lần, đọc nhiều sách, báo, tạp chí, tin tức, Cuốn sách “25 bài đọc hiểu sơ cấp” giúp người học luyện tập kĩ năng này Tuy nhiên số lượng bài đọc vẫn còn hạn chế và nội dung cũng như từ vựng thường mang tính học thuật, hoặc chưa cập nhật được tin tức mới theo sự thay đổi của xã hội Nhật Bản Đây cũng là một câu trả lời được đưa ra cho câu hỏi về hạn chế của giáo trình

“Minna no Nihongo sơ cấp” bởi 61/150 người tham gia khảo sát, chiếm 40.6% trong

150 câu trả lời mà chúng tôi nhận được

40 Hình ảnh được lấy từ trang web chính thức của Kỳ thi Năng lực Nhật ngữ JLPT, truy cập ngày 5/5/2022, < https://www.jlpt.jp/e/samples/n5/index.html>

Biểu đồ 2.4: Hạn chế của giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp”

(Nguồn: Xử lý kết quả thu được từ khảo sát)

Tiểu kết

“Minna no Nihongo sơ cấp” có nhiều ưu điểm như nội dung dễ hiểu, phù hợp với người bắt đầu học tiếng Nhật, ngữ pháp và từ vựng trong giáo trình đều liên quan, gần gũi với giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày Giáo trình này được biên soạn hoàn toàn bằng tiếng Nhật và giúp người học phát triển đầy đủ cả bốn kĩ năng nghe – nói – đọc – viết Bên cạnh đó, để rèn luyện nhiều hơn về các nội dung đã được học, bộ giáo trình này cũng có đa dạng bài tập, Tuy nhiên, cùng với những ưu điểm đã nêu, giáo trình vẫn còn một số điểm hạn chế như từ hệ thống câu hỏi, bài tập chưa phù hợp với Kỳ thi Năng lực Nhật ngữ JLPT, giáo trình được soạn hoàn toàn bằng tiếng Nhật nên cần sử dụng song song với sách dịch, một số từ vựng lỗi thời,

Giáo trình được soạn hoàn toàn bằng tiếng

Nhật nên phải sử dụng thêm cuốn sách

Hệ thống câu hỏi và bài tập chưa phù hợp với cấu trúc đề thi JLPT

Một số từ vựng lỗi thời

Không có phần giải thích chi tiết mà chỉ có đáp án của bài tập

Trong cuốn sách Bản dịch, có một số câu văn có lối hành văn chưa giống với tiếng Việt

Số lượng bài đọc trong cuốn sách Đọc - hiểu vẫn còn ít

Giải thích ngữ pháp chưa thật sự rõ ràng, nhiều từ vựng, cách dùng từ không phù hợp với thực tế

Theo Anh/Chị, hạn chế của giáo trình Minna no Nihongo là gì? (Có thể chọn nhiều đáp án)150 câu trả lời

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CẢI THIỆN KHI HỌC GIÁO TRÌNH “MINNA NO NIHONGO SƠ CẤP”

Đề xuất cập nhật từ vựng đương thời

Theo sự thay đổi của thời gian, bối cảnh xã hội, ngôn ngữ cũng thay đổi Từ vựng rất dễ trở nên lỗi thời, không còn được sử dụng thường xuyên trong xã hội hiện đại Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay, việc người học ngoại ngữ cập nhật những từ vựng mới không còn quá khó khăn, Internet phát triển đồng thời tạo điều kiện cho các mạng xã hội như Facebook, Line, Instagram, cũng phát triển theo

Việc kết bạn với giới trẻ bản xứ thông qua mạng xã hội cũng là một trong những cách nhanh chóng để người học ngoại ngữ có thể bắt kịp xu hướng sử dụng từ vựng của ngôn ngữ đó Các hội nhóm liên quan đến ngoại ngữ, các hội nhóm du học sinh trên mạng xã hội Facebook cũng là một nơi lý tưởng để người học trau dồi thêm từ vựng, vì những du học sinh đang sinh sống ở đất nước bản địa, họ được giao tiếp với người bản xứ hàng ngày nên phần nào hiểu được sử dụng từ nào trong thời đại này là hợp lý Một số hội nhóm ngoại ngữ nổi tiếng hiện nay như: “Tôi yêu ngoại ngữ” với gần 9,000 thành viên, “Ở đây không ai Giỏi tiếng Nhật cả!” với khoảng 45,600 thành viên, Giảng viên có thể tổ chức các buổi giao lưu trực tuyến giữa sinh viên đang học cùng các du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản để các bạn sinh viên có thể hiểu thêm về cách sử dụng các từ vựng của người Nhật bản xứ.

Đề xuất cải thiện phần giải thích chi tiết đáp án bài tập

Sau khi làm bài tập và tự kiểm tra tính đúng / sai của đáp án người học đã làm, nếu vẫn còn những điểm chưa rõ, hãy trình bày với giáo viên trong các tiết sửa bài tập, nếu thời gian tiết học có hạn, giáo viên không thể giải đáp tất cả thắc mắc, hãy trao đổi với bạn bè trong lớp, các anh chị đi trước, hoặc thông qua các trang mạng xã hội như HiNative, Mazii, Người học có thể trao đổi thông qua nhiều hình thức như học nhóm, các câu lạc bộ học thuật, thông qua tin nhắn, Nếu anh chị tiền bối hay bạn bè vẫn chưa giải đáp được hết những vấn đề mà bạn đưa ra, hãy liên lạc với giáo viên sau giờ học để được hỗ trợ.

Đề xuất bổ sung số lượng bài đọc

Luyện tập kĩ năng đọc hiểu là một cả một quá trình, muốn hiểu được dụng ý của tác giả qua một ngôn ngữ khác chưa bao giờ là điều dễ dàng nếu người đọc không hiểu hết về nền văn hóa và xã hội của nước bản địa, về ý nghĩa chính xác của từ vựng, cấu trúc ngữ pháp được sử dụng

Cuốn sách “25 bài đọc hiểu sơ cấp” giúp người học luyện tập nâng cao thêm một bậc với kĩ năng đọc hiểu so với bài luyện đọc trong sách giáo khoa, tuy nhiên nó vẫn còn hạn chế về số lượng bài đọc cũng như một số bài không còn phù hợp với xã hội hiện tại Muốn luyện đọc tiếng Nhật nhiều hơn, người học có thể thông qua sách, tiểu thuyết, được viết bởi người bản xứ Hay qua trang báo điện tử của Nhật Bản như NHK News Easy với mức độ phù hợp cho những người bắt đầu học ngoại ngữ này Giảng viên có thể giúp sinh viên nâng cao khả năng đọc – hiểu thông qua việc dịch các tin tức ngắn trên trang báo điện tử này Truyện cổ tích, truyện dân gian Nhật Bản cũng là một cách thức tuyệt vời để bạn luyện đọc, vì những loại truyện này thường được viết cho các em thiếu nhi nên nội dung vẫn chưa quá khó.

Tiểu kết

Minh bạch, thẳng thắn trong việc nhìn nhận những hạn chế của một giáo trình là điều vô cùng quan trọng, vì giáo trình là phương tiện cơ bản nhất để người học bắt đầu tiếp xúc với một ngoại ngữ nào đó Từ việc thẳng thắn nhìn nhận hạn chế của bộ giáo trình “Minna no Nihongo sơ cấp”, có thể đề xuất được những phương pháp hữu ích nhằm cải thiện giúp việc học tiếng Nhật hiệu quả hơn Trong thời đại công nghệ phát triển, thông qua internet, các trang mạng xã hội, người học dễ dàng kết nối, trao đổi kiến thức với cộng đồng những người cùng học tiếng Nhật, người bản xứ hay các du học sinh người Việt đang sinh sống và học tập, làm việc tại Nhật Bản hơn trước đây Không những thế, thông qua các tiểu thuyết, truyện cổ tích, truyện dân gian Nhật Bản, người học còn có thể hiểu thêm về nền văn hóa và xã hội Nhật Bản được nhắc tới bên trong các tác phẩm.

Ngày đăng: 27/11/2022, 08:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cao Lê Dung Chi (2017), Dạy và học tiếng Nhật trong thời đại toàn cầu, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 4, tr. 58-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tiếng Nhật trong thời đại toàn cầu
Tác giả: Cao Lê Dung Chi
Nhà XB: Tạp chí Khoa học giáo dục
Năm: 2017
2. Phạm Thị Huyền (2018), Phó từ tiếng Nhật trong giáo trình “Minna no Nihongo” trình độ sơ cấp. Một số dạng bài tập đề xuất về sử dụng phó từ trong giờ dạy tiếng Nhật sơ cấp tại Hải Phòng, Luận văn cao học, Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phó từ tiếng Nhật trong giáo trình “Minna no Nihongo” trình độ sơ cấp. Một số dạng bài tập đề xuất về sử dụng phó từ trong giờ dạy tiếng Nhật sơ cấp tại Hải Phòng
Tác giả: Phạm Thị Huyền
Nhà XB: Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN
Năm: 2018
3. Thân Thị Mỹ Bình (2021), Nghiên cứu việc sử dụng giáo trình, tài liệu bằng tiếng Nhật trong dạy và học các môn chuyên ngành Nhật Bản học: Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Nghiên cứu nước ngoài, số 5, tr. 30-44.Tài liệu điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu việc sử dụng giáo trình, tài liệu bằng tiếng Nhật trong dạy và học các môn chuyên ngành Nhật Bản học: Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Thân Thị Mỹ Bình
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu nước ngoài
Năm: 2021
1. Ban biên tập (2021), Nhật Bản tặng Việt Nam thêm 400.000 liều vaccine AstraZeneca, Cổng thông tin điện tử Bộ Y Tế, (ngày truy cập: 17/03/2022), https://moh.gov.vn/tin-lien-quan/-/asset_publisher/vjYyM7O9aWnX/content/nhat-ban-tang-viet-nam-them-400-000-lieu-vaccine-astrazeneca Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản tặng Việt Nam thêm 400.000 liều vaccine AstraZeneca
Tác giả: Ban biên tập
Năm: 2021
2. Chí Hiếu (2021), Thủ tướng: “Sẽ có một dòng vốn ODA mới của Nhật vào Việt Nam”, Báo điện tử Thanh Niên, (ngày truy cập 17/03/2022), https://thanhnien.vn/thu-tuong-se-co-mot-dong-von-oda-moi-cua-nhat-vao-viet-nam-post1404613.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tướng: “Sẽ có một dòng vốn ODA mới của Nhật vào Việt Nam”
Tác giả: Chí Hiếu
Nhà XB: Báo điện tử Thanh Niên
Năm: 2021
3. Khánh Nguyễn (2020), Gần 20 trường đại học Việt Nam có khoa/bộ môn tiếng Nhật, Nhật Bản học, Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam, (ngày truy cập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gần 20 trường đại học Việt Nam có khoa/bộ môn tiếng Nhật
Tác giả: Khánh Nguyễn
Nhà XB: Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam
Năm: 2020
4. Ngọc Tuyết (2019), Nhà xuất bản Trẻ phát hành độc quyền bộ sách “Tiếng Nhật dành cho mọi người - bản mới”, Trang tin điện tử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, (ngày truy cập: 20/03/2022), &lt; https://www.hcmcpv.org.vn/tin-tuc/nhàxuất bản-tre-phat-hanh-doc-quyen-bo-sach-tieng-nhat-danh-cho-moi-nguoi-ban-moi-1491853732 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Nhật dành cho mọi người - bản mới
Tác giả: Ngọc Tuyết
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
Năm: 2019

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w