Cùng với đó là một số cuốn sách của tập thể các tác giả đã nghiên cứu về đời sống văn hóa của cư dân nông thôn huyện Thường Tín, Hà Nội như: - Cuốn “Các nhà khoa bảng, trí thức và nghệ n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ MẾN
Ự IẾN Đ I ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN NÔNG THÔN HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI
TRONG SỰ NGHIỆP Đ I MỚI
LUẬN VĂN THẠC Ĩ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ MẾN
Ự IẾN Đ I ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN NÔNG THÔN HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI
TRONG SỰ NGHIỆP Đ I MỚI
LUẬN VĂN THẠC Ĩ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 80 22 90 01 02
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Thị Phượng
Hà Nội – 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới
sự hướng dẫn của PGS.TS Ngô Thị Phượng Các số liệu, tư liệu và tài liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, khách quan và có nguồn gốc rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của luận văn
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Mến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn sự dạy dỗ của các thầy, cô giáo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN, đặc biệt là các thầy, cô giáo Khoa Triết học - những người trực tiếp dạy dỗ, dìu dắt tận tình cho tôi trong suốt quá trình tôi học tập và rèn luyện tại trường Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Ngô Thị Phượng, người đã dành rất nhiều tâm huyết và thời gian hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè - những người
đã luôn sát cánh bên tôi, động viên, cổ vũ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn một cách tốt nhất
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn Ban lãnh đạo và nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, những người trực tiếp tạo điều kiện và giúp
đỡ nhiệt tình tôi trong quá trình nghiên cứu, khảo sát, điền dã, để tôi có được những tư liệu quý báu hoàn thành luận văn này
Mặc dù tôi đã cố gắng bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 06 năm 2020
Học viên
Nguyễn Thị Mến
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 7
6 Đóng góp mới của luận văn 8
8 Kết cấu của luận văn 9
CHƯƠNG 1 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN NÔNG THÔN HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI TRONG SỰ NGHIỆP Đ I MỚI 10
1.1 Khái niệm và cấu trúc đời sống văn hóa 10
1.1.1 Khái niệm văn hóa 10
1.1.2 Khái niệm đời sống văn hóa 15
1.1.3 Cấu trúc của đời sống văn hóa 19
1.2 Khái quát về huyện Thường Tín và các yếu tố tác động đến đời sống văn hóa của cư dân nông thôn huyện Thường Tín, Hà Nội trong sự nghiệp đổi mới 29
1.2.1 Khái quát về huyện Thường Tín, Hà Nội 29
1.2.2 Một số yếu tố tác động đến đời sống văn hóa của cư dân nông thôn huyện Thường Tín, Hà Nội trong sự nghiệp đổi mới 36
Tiểu kết chương 1 48
CHƯƠNG 2 SỰ BIẾN Đ I ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN NÔNG THÔN HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI TRONG SỰ NGHIỆP Đ I MỚI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 49
Trang 62.1 Thực trạng biến đổi đời sống văn hóa của cư dân nông thôn huyện
Thường Tín, Hà Nội trong sự nghiệp đổi mới 49
2.1.1 Biến đổi theo chiều hướng tích cực đời sống văn hóa của cư dân nông thôn huyện Thường Tín, Hà Nội trong sự nghiệp đổi mới 49
2.1.2 Biến đổi theo chiều hướng tiêu cực đời sống văn hóa của cư dân nông thôn huyện Thường Tín, Hà Nội trong sự nghiệp đổi mới 66
2.2 Một số giải pháp chủ yếu phát huy những biến đổi tích cực và hạn chế những biến đổi tiêu cực trong đời sống văn hóa của cư dân nông thôn huyện Thường Tín, Hà Nội hiện nay 72
2.2.1 Nhóm giải pháp về liên quan đến chủ thể văn hóa 73
2.2.2 Nhóm giải pháp liên quan đến các giá trị văn hóa 80
2.2.3 Nhóm giải pháp liên quan đến các thiết chế, thể chế văn hóa và tổ chức các hoạt động văn hóa 83
Tiểu kết chương 2 92
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
UBND : Ủy ban nhân dân
VHTT&DL : Văn hóa Thể thao và Du lịch XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hơn ba mươi năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản khởi xướng, đất nước Việt Nam đã cơ bản thoát khỏi tình trạng nước nghèo, nước kém phát triển, để bước vào thời kỳ phát triển mới, nhằm từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nước Việt Nam thành một quốc gia “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Trong quá trình đổi mới, đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở Việt Nam đã có sự thay đổi căn bản theo hướng phát triển, tiến bộ Từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều thành phần kinh tế, đã khai thác được tiềm năng, thế mạnh của bản thân người lao động cũng như từng địa phương, khu vực trên lãnh thổ Việt Nam Sự thay đổi trong đời sống kinh tế là yếu tố quyết định đến sự thay đổi trong đời sống văn hóa, xã hội và sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước cũng như của từng khu vực, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng, trung du đến miền núi Tuy nhiên, sự thay đổi đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong quá trình đổi mới ở mỗi địa phương, mỗi khu vực diễn ra với mức độ không giống nhau, điều đó, tùy thuộc vào điều kiện kinh
tế, xã hội, vị trí địa lý, tiềm năng thế mạnh đặc thù và con người ở mỗi địa phương, khu vực cụ thể
Với đặc điểm là một nước nông nghiệp, nên khu vực nông thôn là địa bàn
cư trú chủ yếu người dân Việt Nam Nông thôn Việt Nam cũng là khu vực có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của đất nước Trong quá trình đổi mới, bộ mặt nông thôn Việt Nam đã có những thay đổi vượt bậc, theo hướng tiến bộ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó, đời sống văn hóa là lĩnh vực có nhiều dấu ấn đặc sắc Các giá trị văn hóa truyền thống được giữ gìn và phát huy, các giá trị văn hóa, thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại được tiếp thu trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 9Thường Tín là một huyện ngoại thành, nằm ở phía Nam của thành phố
Hà Nội Trong quá trình đổi mới, đặc biệt từ khi sáp nhập về thủ đô Hà Nội, năm 2008 đến nay, Thường Tín đang có sự thay đổi căn bản về cơ cấu kinh tế,
cơ cấu xã hội, cũng như đời sống văn hóa Từ một huyện, mà cơ cấu kinh tế cho thấy sản xuất nông nghiệp là chính chuyển sang cơ cấu kinh tế công nghiệp, xây dựng - thương mại, dịch vụ - nông nghiệp, trong đó kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp nhấp Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đó gắn liền với quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa với tốc độ ngày càng tăng đã dẫn đến những biến đổi nhanh chóng trong đời sống văn hóa của cư dân nông thôn huyện Thường Tín theo hai chiều hướng, cả tích cực và tiêu cực
Điểm nhấn trong sự phát triển đời sống văn hóa của cư dân huyện Thường Tín là mặt bằng dân trí nói chung, trình độ khoa học, công nghệ trong lao động sản xuất và cuộc sống sinh hoạt được nâng cao Đời sống tinh thần ngày càng phong phú, các nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của cư dân được đảm bảo Các lễ hội truyền thống tôn vinh các danh nhân lịch sử, làng nghề tuyền thống được duy trì Các phong trào xã hội hướng tới giá trị văn hóa, nhân văn được tổ chức thường xuyên với sự tham gia tích cực của đông đảo cư dân trên địa bàn Huyện
Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển đời sống văn hóa của cư dân huyện Thường Tín theo hướng tích cực, còn không ít những biểu hiện lệch lạc ở mọi tầng lớp xã hội, nhất là thế hệ trẻ Những yếu tố phản văn hóa, phản phát triển biểu hiện cả trong văn hóa lao động sản xuất, văn hóa giáo dục, văn hóa chính trị, văn hóa lãnh đạo quản lý và trong đời sống tinh thần của cư dân Những yếu tố phản văn hóa, phản phát triển đó, nếu không được phát hiện và ngăn chặn kịp thời thì mục tiêu phát triển nhanh, mạnh, toàn diện, bền vững xã hội
sẽ không thể đạt được
Trang 10Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn vấn đề: “Sự biến đổi đời sống văn hóa của cư dân nông thôn huyện Thường Tín, Hà Nội trong sự nghiệp đổi mới” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến đề tài của luận văn, đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố dưới dạng sách, bài viết hoặc các ấn phẩm khác Các công trình
đó, được phân chia thành các nhóm sau:
2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về đời sống văn hóa nông thôn Việt Nam
Đời sống văn hóa nông thôn Việt Nam là vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước, khi tìm hiểu về văn hóa Việt Nam Đã có nhiều công trình đồ sộ của các nhà nghiên cứu lớn như Phan Đại Doãn, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Quang Ngọc… được công bố Kế thừa và tiếp nối các công trình đó, gần đây có một số công trình tiêu biểu sau:
- Bài viết Gia đình, dòng họ và thôn làng với tư cách là các giá trị cơ bản của văn hóa làng Việt, tạp chí Xã hội học, số 1, 2009 của tác giả Mai Văn Hai
Bài biết đã phân tích sự biến đổi gia đình, dòng họ, thôn làng với tích cách là những thiết chế xã hội cơ bản ở nông thôn Cùng với sự biến đổi của ba thiết chế
xã hội đó là sự biến đổi những giá trị văn hóa Từ những biến đổi ấy, tác giả đã chứng minh rằng, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế thị trường, gia đình, dòng họ và thôn làng có thêm sức sống mới
- Vũ Ngọc Khánh (2010), Văn hóa làng ở Việt Nam, Nxb Văn hóa -
Thông tin, Hà Nội Điểm nổi bật trong cuốn sách này là tác giả đã cung cấp cho người đọc thấy đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở làng xã Việt Nam Cư dân nông thôn dường như không có hoạt động tôn giáo rành mạch, rõ ràng như ở đô thị Họ tin và thờ cả Trời, Phật, Thánh, Thần Tín ngưỡng của người Việt rất thực tiễn, tâm lý thiên về sự cân bằng, sự bù đắp, mong mỏi một kết thúc có hậu, nỗi khổ hôm nay phải được bù đắp về sau Con người tin có cõi tiên nhưng cần cuộc sống thực ở chốn trần gian Cuốn sách cũng
Trang 11đề cập đến đặc điểm văn hóa dân gian ở làng thông qua văn học nghệ thuật, kho tàng văn hóa phi vật thể và các lễ hội phong phú của làng Việt
- Phan Thanh Tá (2011), Văn hóa cổ truyền trong làng xã Việt Nam hiện nay, Nxb Lao Động Cuốn sách trình bày tổng quan về văn hóa cổ truyền Việt
Nam, coi văn hóa làng là phương thức chuyển tải của văn hóa cổ truyền Việt Nam Văn hóa làng luôn có sự vận động, biến đổi cùng với văn hóa dân tộc - quốc gia Ngày nay, văn hóa cổ truyền đang chịu tác động bởi các yếu tố: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền giáo dục hiện đại, công nghệ thông tin và truyền thông đại chúng Những nhân tố này đã và đang làm cho văn hóa làng chuyển dịch tới văn hóa đô thị
- Phạm Quỳnh Chinh, Văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Trường Đại học Khoa
học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2018 Tác giả luận án
đã nghiên cứu và khái quát đặc trưng văn hóa làng Việt Nam, sự biến đổi của văn hóa làng Việt Nam dưới tác động của quá trình đô thị hóa theo hai chiều hướng tích cực tiêu cực, biểu hiện trên một số phương diện: phong tục, tập quán, văn hóa - nghệ thuật, tổ chức quản lý cộng đồng Qua đây, tác giả cũng cho thấy, ở các địa bàn đang diễn ra quá trình đô thị hóa nhanh, văn hóa làng đang trong thời kỳ quá độ sang văn hóa đô thị Ở đó dấu vết “làng” và dấu vết “đô thị” đan cài với nhau, chi phối lẫn nhau Dấu vết văn hóa “làng” còn tồn tại nhưng không còn nguyên gốc, dấu vết văn hóa “đô thị” hình thành nhưng chưa hoàn thiện
…
Trang 122.2 Nhóm công trình nghiên cứu về đời sống văn hóa của cư dân Thủ
đô Hà Nội và cư dân nông thôn huyện Thường Tín, Hà Nội
- Trần Đức Ngôn (2004), Văn hóa truyền thống làng xã ngoại thành Hà Nội dưới tác động của nền kinh tế thị trường, đề tài khoa học cấp Bộ Ở công
trình này, tác giả xem xét sự biến đổi của văn hóa truyền thống thông qua sự biến đổi của văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể ở khu vực ngoại thành Hà Nội, trong đó có huyện Thường Tín Mặc dù không định lượng sự biến đổi của văn hóa truyền thống, nhưng sự biến đổi của văn hóa truyền thống là không tránh khỏi trong sự phát triển của kinh tế thị trường Trước sự biến đổi đó, hiện đang có hai xu hướng thái độ khác nhau đối với văn hóa truyền thống, xu hướng bảo tồn và xu hướng phủ định
- Ngô Văn Giá (chủ biên), (2007), Những biến đổi về giá trị văn hóa truyền thống ở các làng ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội Cuốn sách trình bày về sự thay đổi của văn hóa làng xã vùng ven đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thành phố Hà Nội
và các vùng ngoại ô là nơi chứa đựng đầy đủ những giá trị của nền văn hóa truyền thống Việt Nam Dưới tác động mạnh mẽ của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xu hướng đô thị hóa và nền kinh tế thị trường Các giá trị văn hóa truyền thống , giá trị cộng đồng làng, giá trị gia đình, giá trị đạo đức cá nhân đang biến đổi theo hai chiều hướng, tích cực và tiêu cực
- Lê Quang Hưng (chủ biên), Nguyễn Văn Thắng, Mai Thị Hạnh, (2015),
Sự biến đổi văn hóa truyền thống vùng ven đô Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa, Nxb Thế giới Cuốn sách nghiên cứu văn hóa truyền thống ở ba phương
diện: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa tổ chức làng xã Dưới tác động của quá trình đô thị hóa, văn hóa truyền thống đang có sự chuyển biến căn bản, theo hai xu hướng, xu hướng phục hồi văn hóa truyền thống, xu hướng
du nhập, hình thành và phát triển những yếu tố văn hóa mới Ở đó, lối sống công nghiệp, văn hóa đô thị đang tràn vào làng xã Văn hóa truyền thống được
Trang 13tái hiện nhưng không đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng văn hóa ngày càng đa dạng phong phú của cư dân
Cùng với đó là một số cuốn sách của tập thể các tác giả đã nghiên cứu về đời sống văn hóa của cư dân nông thôn huyện Thường Tín, Hà Nội như:
- Cuốn “Các nhà khoa bảng, trí thức và nghệ nhân tiêu biểu huyện Thường Tín (1075 – 2015)” (2016), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật Nội dung
cuốn sách đã tập trung khái quát về quá trình phát triển của sự nghiệp giáo dục
- đào tạo; trình bày những đóng góp quan trọng của các nhà khoa bảng, trí thức
và nghệ nhân tiêu biểu huyện Thường Tín trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước; góp phần thể hiện nét đẹp đáng tự hào về truyền thống vẻ vang của quê hương Thường Tín Qua đó, gợi mở định hướng phát triển nguồn nhân lực, chất lượng cao cho cư dân huyện Thường Tín trong thời kỳ đổi mới
- Cuốn “Làng quê Thường Tín xưa và nay” (2017), Nxb Chính trị Quốc gia
Sự thật Đây là công trình khảo cứu dưới góc nhìn lịch sử - văn hóa về làng quê Thường Tín, gồm 3 phần Phần thứ nhất, khái quát về lịch sử của vùng đất Thường Tín xưa như: Lịch sử tên gọi địa danh, quá trình hình thành và phát triển của làng quê Thường Tín; giới thiệu những giá trị văn hóa đặc sắc của làng quê Thường Tín xưa và nay Phần thứ hai, phân tích những nhân tố tác động và sự biến đối của làng quê Thường Tín; đề ra một số giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa làng quê Thường Tín trong giai đoạn hiện nay Phần thứ ba giới thiệu nét đặc sắc ở 32 làng quê thuộc 29 xã, thị trấn trên địa bàn huyện
- Năm 2017, phát hành cuốn “Tập bài giảng Lịch sử huyện Thường Tín”
với nội dung giới thiệu về đặc điểm các xã, thị trấn và những di tích lịch sử - văn hóa của huyện được xếp hạng Một số câu chuyện gắn với lịch sử - văn hóa của cư dân huyện Thường Tín Cuốn tập bài giảng được sử dụng làm tài liệu tham khảo quan trọng trong các nhà trường trên địa bàn huyện, để giáo viên giảng dạy về lịch sử địa phương cho học sinh hiểu biết sâu sắc về lịch sử - văn hóa của quê hương mình
Trang 14Ngoài ra, còn một số công trình khác, dưới dạng bài viết đăng tạp chí, báo nghiên cứu về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của cư dân ngoại thành Hà Nội trong thời kỳ đổi mới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự biến đổi đời sống văn hóa của
cư dân nông thôn huyện Thường Tín, Hà Nội trong sự nghiệp đổi mới
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu sự biến đổi đời sống văn hóa của cư
dân huyện Thường Tín trên các phương diện cơ bản: các chủ thể văn hóa, giá trị văn hóa, các thiết chế, thể chế văn hóa và các hoạt động văn hóa
- Về không gian: Luận văn thực hiện nghiên cứu tại địa bàn huyện
Thường Tín, thành phố Hà Nội bao gồm một thị trấn và 28 xã
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu sự biến đổi đời sống văn hóa của cư
dân nông thôn huyện Thường Tín, Hà Nội, đặc biệt trong thời gian từ 2008, khi huyện Thường Tín được sáp nhập vào Thủ đô Hà Nội đến nay
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
4.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Từ những vấn đề lý luận chung về đời sống văn hóa, luận văn trình bày những biến đổi cơ bản trong đời sống văn hóa của cư dân nông thôn huyện Thường Tín, Hà Nội trong sự nghiệp đổi mới, đề xuất giải pháp nhằm phát huy những biến đổi tích cực và hạn chế những biến đổi tiêu cực trong đời sống văn hóa của cư dân trên địa bàn huyện Thường Tín, Hà Nội
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Trình bày khái niệm văn hóa, đời sống văn hóa và cấu trúc đời sống văn hóa
- Trình bày các yếu tố tác động đến đời sống văn hóa của cư dân nông thôn huyện Thường Tín, Hà Nội trong sự nghiệp đổi mới
Trang 15- Phân tích những biến đổi cơ bản đời sống văn hóa của cư dân nông thôn huyện Thường Tín, Hà Nội trong sự nghiệp đổi mới
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những biến đổi tích cực và hạn chế những biến đổi tiêu cực trong đời sống văn hóa của cư dân nông thôn huyện Thường Tín, Hà Nội
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, đời sống văn hóa Ngoài ra, Luận văn còn kế thừa kết quả của các công trình khoa học đã công bố liên quan đến đời sống văn hóa Việt Nam, đời sống văn hóa của vùng Đồng bằng sông Hồng và của Hà Nội
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử; sử dụng phương pháp kết hợp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, khái quát hóa và trừu tượng hóa, một số phương pháp
cụ thể của xã hội học như thống kê, phỏng vấn, so sánh
6 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn đã trình bày thực trạng đời sống văn hóa cư dân nông thôn huyện Thường Tín, Hà Nội trong sự nghiệp đổi mới Từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những biến đổi tích cực và hạn chế những biến đổi tiêu cực trong đời sống văn hóa của cư dân nông thôn huyện Thường Tín, Hà Nội hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ những biến đổi cơ bản đời sống văn hóa ở nông thôn Việt Nam trong quá trình đổi mới
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 16Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu về văn hóa, đời sống văn hóa trong quá trình đổi mới đất nước
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn gồm 2 chương, 4 tiết
Trang 17CHƯƠNG 1 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN NÔNG THÔN
HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI TRONG SỰ NGHIỆP Đ I MỚI 1.1 Khái niệm và cấu trúc đời sống văn hóa
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là phạm trù được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào góc độ tiếp cận, mục tiêu nghiên cứu của mỗi người hoặc cộng đồng người Tuy nhiên, điểm thống nhất trong mọi cách tiếp cận về văn hóa là khi nói tới văn hóa là nói tới con người, chỉ ở con người, văn hóa là giá trị người Văn hóa là kết quả sáng tạo của con người, vì con người
Khái niệm văn hóa theo cách tiếp cận phương Đông
Ở phương Đông, thuật ngữ văn hóa được sử dụng sớm nhất vào năm 77 trước Công Nguyên Ở phương Đông, văn hóa bắt nguồn từ Trung Quốc, với
ý nghĩa là một phương thức giáo hóa con người Văn trị giáo hóa (phương thức đối ngược lại với phương thức vũ lực)
Văn hóa được hiểu là toàn bộ sản phẩm có giá trị xã hội do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động sống cùng với các phương thức hoạt động sống khác của các cộng đồng người tạo nên văn minh vật chất và văn minh tinh thần trong quá trình phát triển xã hội loài người
Theo một góc nhìn khác, nghiên cứu văn hóa còn được hiểu là thiên nhiên thứ hai, được loài người sáng tạo ra Trong đó, chia thành hai hệ thống hoạt động là hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động sản xuất tinh thần, điều cốt lõi của việc chi phối các hoạt động này là hệ giá trị xã hội của nó Văn hóa được xem là cái mà ở đó mỗi người được sinh ra và lớn lên, vì thế môi trường văn hóa sẽ là tác nhân trực tiếp, tác động trực tiếp tới sự hình thành nhân cách, sự phát huy mọi năng lực sáng tạo của con người và khả năng giao tiếp giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên
Trang 18Khái niệm văn hóa theo cách tiếp cận phương Tây
Ở phương Tây thời cận đại, khái niệm văn hóa được dùng để chỉ trình độ học vấn, học thức, tri thức, phép lịch sự của con người Đến nay, khái niệm
“văn hóa” vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau và do đó có những định nghĩa khác nhau về văn hóa
Năm 1871, E.B Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [108, tr 13] Với góc
nhìn từ định nghĩa này, văn hóa và văn minh được coi là đồng nghĩa Văn hóa bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật Định nghĩa này mang tính “bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con người [10, tr 39] Cùng nghiên cứu về văn hóa, nhà nghiên cứu F Boas lại có định nghĩa,
rằng: “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa
có tính tập thể, vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm
và của chính các thành viên này với nhau” [106, tr.149] Ở định nghĩa này,
thấy được mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường là yếu tố quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người
Ngoài ra, một định nghĩa khác về văn hóa mà A.L Kroeber và
Kluckhohn đưa ra là “Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo”[107, tr.357]
Trang 19Cũng nghiên cứu về khái niệm văn hóa, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, văn hóa gắn liền với sự sáng tạo và năng lực của con người Ở góc nghiên cứu này, sức sáng tạo đó được hiểu là sáng tạo từ lao động sản xuất Và theo C.Mác, dựa trên mức độ khai thác, cải tạo tự nhiên của con người để có thể xét được trình độ văn hóa chung của con người
Khái niệm văn hóa theo cách tiếp cận Việt Nam
Ở Việt Nam có rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa Mặc dù được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng khái niệm văn hoá bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính là: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng Khi nghiên cứu về văn hóa, tác giả Trần Ngọc Thêm Theo định nghĩa về
văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” (tác giả Trần Ngọc Thêm ghi đậm) [80, tr.27] Theo ông, văn hoá
được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật, ) Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh, ) Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ, ) Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn,…) Ở đây, văn hóa được xem xét theo nghĩa hẹp
Còn theo nghĩa rộng, văn hoá bao gồm tất cả những gì do con người
sáng tạo ra Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công
cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn
Trang 20bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [65, tr 431] Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ
những gì do con người sáng tạo và phát minh ra, là những lĩnh vực liên quan đến mọi mặt của đời sống con người
Một cách hiểu khác, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo
vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [34, tr 18] Với cách hiểu này thì
văn hóa là những cái gì đối lập với thiên nhiên, do con người sáng tạo nên từ
tư tưởng, tình cảm đến ý thức và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân tộc
Khái niệm văn hóa theo cách tiếp cận của UNESCO
Văn hóa là một hiện tượng xã hội biểu hiện mọi mặt của đời sống, hoạt động và quan hệ của con người với xã hội Có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về văn hóa Cùng bàn về khái niệm văn hóa thì UNESCO đưa ra định
nghĩa: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khú cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng rào thế kỉ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên
đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình” [94, tr 23] Định
nghĩa này có cái nhìn toàn diện và hoàn chỉnh hơn về văn hóa với việc nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạo nên
Trang 21những giá trị có tính nhân văn phổ quát, cũng như tạo nên tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc trong việc duy trì và bảo vệ văn hóa hiện nay
Vì vậy, văn hóa của từng cộng đồng, tộc người sẽ mang những nét đặc trưng và riêng biệt của cộng đồng, tộc người đó Mỗi sự khác nhau được hình thành ở những tộc người khác nhau, trong những môi trường sống khác nhau Đặc biệt hơn, văn hóa sẽ bị chi phối mạnh mẽ bởi sự kiểm soát của xã hội, thông qua những mối quan hệ như gia đình và các tổ chức xã hội, trong đó có tôn giáo
Từ những quan điểm khác nhau về văn hóa nêu trên, có thể thấy có bao nhiêu nhà nghiên cứu văn hóa thì có bấy nhiêu định nghĩa về văn hoá Mặc dù
số lượng định nghĩa về văn hoá có rất nhiều nhưng các định nghĩa ấy chỉ xoay quanh một số khuynh hướng cơ bản:
Khuynh hướng thứ nhất, coi văn hóa là những kết quả (sản phẩm) nhất
định Đó có thể là những giá trị, những truyền thống, những nếp sống, những chuẩn mực, những tư tưởng, những thiết chế xã hội, những biểu trưng, ký hiệu, những thông tin được một cộng đồng nào đó đã sáng tạo, kế thừa, và tích luỹ trong quá trình lao động, sản xuất
Khuynh hướng thứ hai, xem văn hoá như những quá trình Là bao gồm
những hoạt động sáng tạo, những công nghệ, những qui trình, những phương thức tồn tại, sinh sống và phát triển, cách thức thích ứng với môi trường, phương thức ứng xử của con người trong xã hội
Khuynh hướng thứ ba, xem văn hoá như những quan hệ, những cấu trúc
giữa các giá trị, giữa con người với đồng loại và muôn loài tồn tại xung quanh cuộc sống của con người
Các khuynh hướng, định nghĩa khác nhau của các nhà nghiên cứu về văn hóa đều có sự hợp lý Tuy giữa các khuynh hướng, định nghĩa có sự khác biệt nhưng chung quy lại là do các tác giả đã quá nhấn mạnh vào khía cạnh này
Trang 22hay khía cạnh khác của khái niệm Ở góc nhìn hay khuynh hướng nào, mọi định nghĩa văn hoá đều chứa một nét nghĩa chung là con người, các kết quả nghiên cứu đều thừa nhận và khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa văn hóa với con người
Như vậy, thông qua những quan niệm trên, theo cách hiểu của tác giả
luận văn, văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần, do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn cải tạo tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người Văn hóa phản ánh trình độ phát triển của con người ở cả góc độ cá
nhân, cộng đồng hoặc nhân loại Nhìn vào văn hóa, sẽ thấy con người phát triển ở mức độ nào, và con người nào thì sẽ tạo ra văn hóa đó
1.1.2 Khái niệm đời sống văn hóa
Là một lĩnh vực có chức năng và vai trò hết sức quan trọng trong đời sống thực tiễn của con người, “đời sống văn hóa” đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu và phân tích theo nhiều cách tiếp cận khác nhau:
Khái niệm đời sống văn hóa có thể coi là một bộ phận trong đời sống xã hội của con người Trong đó, khái niệm “Đời sống” trong Đại từ điển tiếng Việt do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên khẳng định như sau: Đời sống
là“hoạt động của con người về một lĩnh vực nào đó nói chung”[105, tr 670]
Còn theo Từ điển bách khoa mở, ngoài nghĩa nói trên, “đời sống” còn được hiểu là phương tiện để sống, lối sống của cá nhân hay tập thể, vì vậy, thường
có các khái niệm như đời sống xa hoa, đời sống cần kiệm, v.v
Đời sống của con người bao gồm rất nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng ở
đó đều có sự liên quan mật thiết với nhau, như: đời sống kinh tế, đời sống chính trị, đời sống xã hội, đời sống văn hóa, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo Như vậy, đời sống văn hóa là lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội Khẳng định vị trí của văn hóa trong đời sống xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng cho rằng công cuộc kiến thiết nước nhà, là bao gồm bốn vấn đề: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và đều phải coi trọng ngang nhau Người còn chỉ rõ
Trang 23kinh tế là thuộc về cơ sở hạ tầng, là nền tảng của việc xây dựng văn hóa, xây dựng kiến trúc thượng tầng Từ đó, Người nêu ra luận điểm phải xây dựng kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng để có điều kiện xây dựng và phát triển văn
hóa Người lý giải: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế
và văn hóa Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ ta có câu: Có thực mới vực được đạo; vì thế kinh tế phải đi trước Nhưng phát triển
để làm gì? Phát triển kinh tế và văn hóa để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ta” [66, tr 59]
Vậy thế nào là “đời sống văn hóa”?
Quan niệm về văn hoá và cấu trúc văn hóa có sự liên quan chặt chẽ đến đời sống văn hoá Đây chính là cơ sở để xét khái niệm đời sống văn hoá và
nội dung, vai trò của xây dựng đời sống văn hoá
Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội Đời sống xã hội
được cấu thành bởi hai mặt: vật chất và tinh thần Nếu kinh tế là nền tảng vật chất của đời sống xã hội thì văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội Đời sống văn hoá chính là sự phản ánh biểu hiện tập trung nhất các mặt của văn hoá, từ hoạt động sáng tạo, hưởng thụ đến quan niệm về giá trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo,…
Dưới góc độ nghiên cứu các chiều cạnh khác nhau, các tác giả đã đưa ra những quan niệm khác nhau về đời sống văn hóa Theo quan niệm của tác giả
Hoàng Vinh trong công trình nghiên cứu “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hoá ở nước ta” cho rằng: “Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người
và các dạng hoạt động văn hóa của nó) Xét về một phương diện khác, đời sống văn hóa bao gồm các hình thức văn hóa hiện thực và cả các hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh”[97, tr 268]
Trang 24Định nghĩa này về cơ bản đã phản ánh được cấu trúc của đời sống văn hóa, song trong đó vẫn chưa đề cập đến những giá trị văn hóa Đồng thời, cách diễn đạt như thế chưa làm rõ được bản chất của đời sống văn hóa vì chỉ nêu các yếu tố cấu thành ở thể biệt lập
Một nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Hữu Thức trong công trình
“Một số kinh nghiệm quản lý và hoạt động tư tưởng - văn hóa”, quan niệm rằng: “Đời sống văn hóa được hiểu một cách khái quát là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội
và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người”[86,
tr 35]
Đời sống văn hoá là đời sống diễn ra ở cộng đồng gia đình, làng, bản, xóm, ấp, doanh nghiệp, cơ quan, bệnh viện, v.v Đặc điểm cơ bản của đời sống văn hoá là các hoạt động văn hoá diễn ra gắn liền với sinh hoạt vật chất
và tinh thần của cá nhân và cộng đồng trong các mối liên kết thường xuyên, trực tiếp với không gian địa lý nhất định cùng với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và các thiết chế văn hoá nhất định Mỗi cộng đồng dân cư sống cố định
và hình thành một tổ chức hành chính (xã, phường, trường học, bệnh viện) hay một cộng đồng nhỏ hơn (gia đình, chòm, xóm) đều có thể được xem là đơn vị văn hoá Xây dựng đời sống văn hoá có thể hiểu là xây dựng văn hoá ngay từ trong gia đình và trong cộng đồng dân cư, cộng đồng nghề nghiệp diễn ra sinh hoạt văn hoá thường nhật của quần chúng nhân dân
Ngoài ra, năm 2007 cuốn “Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá” của
Đảng cho rằng đời sống văn hoá bao gồm 4 yếu tố: văn hoá vật thể và phi vật thể; cảnh quan văn hoá; văn hoá cá nhân; văn hoá của các tầng lớp cư dân trong mỗi cộng đồng, từ đó Đảng đã nêu lên khái niệm về đời sống văn hoá
là: “một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể những yếu tố hoạt
Trang 25động văn hoá vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hoá trong cộng đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người”[44, tr 269-270]
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về đời sống văn hóa Tuy nhiên, các định nghĩa về đời sống văn hóa hầu hết không đồng nhất và do đó nhận thức
về đời sống văn hóa không chỉ căn cứ vào lý luận mà còn phải căn cứ vào đời sống thực tế, vào phương diện và mục đích tiếp cận Từ những cách hiểu trên đây về đời sống văn hóa và các lĩnh vực văn hóa, trong phạm vi đề tài nghiên cứu, trên cơ sở quan niệm của các tác giả đã nêu, luận văn đưa ra khái niệm
đời sống văn hóa như sau: Đời sống văn hóa là toàn bộ hoạt động văn hóa, thể hiện và thực hiện mối quan hệ của con người với tự nhiên, với bản thân con người, với xã hội cùng với các giá trị văn hóa, các thiết chế, thể chế văn hóa hiện hữu trong đời sống của con người Các hoạt động văn hóa, gồm hoạt
sáng tạo các giá trị văn hóa, hoạt động truyền bá, lưu giữ giá trị văn hóa và hoạt động hưởng thụ giá trị văn hóa
Theo cách hiểu như vậy, đời sống văn hóa gồm các mặt cơ bản sau:
Thứ nhất, đời sống văn hóa là quá trình diễn ra sự trao đổi thông qua các
hoạt động văn hóa nhằm nâng cao chất lượng sống của con người
Thứ hai, đời sống văn hóa lại là các yếu tố văn hóa mà con người tiếp
thu được tác động vào đời sống vật chất để con người biến đổi môi trường tự nhiên tạo lập môi trường nhân văn, làm ra được nhiều sản phẩm vật chất cho
xã hội; tác động vào đời sống tinh thần để con người thỏa mãn nhu cầu chủ quan của mình, như đáp ứng các yêu cầu về tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống; tác động vào đời sống xã hội để xây dựng một hệ thống các giá trị chuẩn mực xã hội Đồng thời, đời sống văn hóa lại có vai trò tác động vào chính bản thân đời sống cá nhân nhằm mục đích điều chỉnh hành vi ứng xử và giúp cá nhân đó tìm được hướng đi tốt nhất cho cuộc đời mình và đem lại lợi ích cho xã hội
Trang 26Từ những nhận định nêu trên và dưới góc độ nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ ra đời sống văn hóa gồm có hai đặc trưng sau đây:
Một là, đời sống văn hóa có tính kế thừa Theo như các nghiên cứu về
lĩnh vực đời sống văn hóa thì việc “kế thừa” văn hóa là mang tính tất yếu Ở
đó, con người kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các thế hệ
đi trước, cũng như tạo ra sự ổn định và tiền đề khẳng định những giá trị mới
Hai là, đời sống văn hóa có tính đổi mới Đời sống của con người ngày
càng được cải thiện thì việc hướng tới đời sống mới, hiện đại hơn và khát vọng vươn lên cái tốt đẹp là điều hiển nhiên Bởi lẽ, chỉ khi mạnh dạn sáng tạo, mạnh dạn cải đổi mới thì mới có thể đạt được những kết quả như mong, đáp ứng nhu cầu càng cao về vật chất và tinh thần của con người
Vậy nên, tiếp cận nghiên cứu văn hoá và đời sống văn hóa phải gắn văn hoá với phương thức sản xuất xã hội, cá nhân với cộng đồng Nghiên cứu về văn hóa thì không thể không bàn tới truyền thống với hiện đại, dân tộc với quốc tế, đặc biệt là coi trọng vai trò của lao động bởi lao động là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội là nhân dân lao động Văn hoá là một hiện tượng
xã hội gắn liền với các hoạt động nhiều mặt của con người Văn hoá được coi như phương thức hoạt động người bao chứa toàn bộ các sản phẩm về vật chất
và tinh thần của con người cũng như năng lực phát triển của chính bản thân con người trong xã hội
1.1.3 Cấu trúc của đời sống văn hóa
Mỗi tác giả nghiên cứu về khía cạnh “văn hóa” sẽ có cách hiểu khác nhau về nội hàm khái niệm “đời sống văn hóa” Vậy nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc, về các thành tố cấu thành đời sống văn hóa Vậy “cấu trúc của đời sống văn hóa” được hiểu như thế nào?
Hoạt động văn hóa là nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người và đời sống văn hoá chính là tổng thể sống động các hoạt động văn hoá trong
Trang 27quá trình sáng tạo (sản xuất), bảo quản, phổ biến, tiêu dùng các sản phẩm văn hoá và sự giao lưu văn hoá, nhằm thoả mãn nhu cầu văn hoá của một cộng đồng
Ở góc độ nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Thức, những năm 70 của thế kỷ trước, khi Nhà nước chủ trương xây dựng đời sống văn hóa mới, đời sống văn hóa bao gồm các hoạt động:
+ Xây dựng nếp sống;
+ Xây dựng nhà văn hóa;
+ Xây dựng thư viện, phòng đọc sách, báo;
+ Hoạt động thông tin, cổ động;
+ Hoạt động bảo tàng, giáo dục truyền thống;
+ Hoạt động văn nghệ quần chúng [86, tr 38]
Với cách tiếp cận này của tác giả cho thấy các hoạt động trên chủ yếu diễn ra ở các địa bàn cơ sở là các khu dân cư xã, phường, thị trấn và các cộng đồng làng, xã, bản, ấp, phum, sóc; tại các đơn vị hành chính, sự nghiệp, sản xuất, an ninh, quốc phòng như nhà máy, công trường, cơ quan, trường học, bệnh viện, lực lượng vũ trang trong đó, các thành tố nếp sống, thiết chế văn hóa và các hoạt động văn hóa được đặc biệt chú trọng
Theo tiến trình phát triển của xã hội, từ năm 2000, Nhà nước ta đã phát động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tới người dân với nội dung xây dựng đời sống văn hóa bao gồm 5 lĩnh vực chủ đạo: + Phát triển kinh tế, giúp nhau làm giàu chính đáng, xóa đói giảm nghèo + Xây dựng tư tưởng, chính trị lành mạnh
+ Xây dựng nếp sống văn minh, kỷ cương xã hội, sống và làm việc theo pháp luật
+ Xây dựng môi trường văn hóa sạch - đẹp - an toàn
+ Xây dựng các thiết chế văn hóa thể thao và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa thể thao cơ sở [87, tr 28]
Trang 28Có thể thấy, ở đây đã có sự mở rộng phạm vi và mang tính tổng thể, toàn diện hơn của các thành tố Không những đề cập tới lĩnh vực văn hóa mà có cả lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, pháp luật, môi trường sinh thái Ngoài thiết chế văn hóa, đã có sự xuất hiện của thiết chế thể thao nhằm nâng cao thể lực con người và nếp sống văn hóa, hoạt động văn hóa
Cùng nghiên cứu về lĩnh vực đời sống văn hóa, theo tác giả Phan Trung
Tá nghiên cứu và cho rằng xây dựng đời sống văn hóa, nhất là đời sống văn hóa ở nông thôn bao gồm 3 thành tố chính:
+ Môi trường chính trị, kinh tế, xã hội;
+ Môi trường văn hóa;
+ Chủ thể văn hóa: năng lực tiếp nhận, thực hành và sáng tạo văn hóa của cá nhân hay của cộng đồng [77, tr 102]
Từ cách hiểu này, đời sống văn hóa đã được tác giả nghiên cứu theo hướng mang nội dung rộng hơn nhằm kết nối những môi trường chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và chủ thể văn hóa, xã hội và chủ thể văn hóa (con người) được xem là những thành tố quan trọng nhất của đời sống con người Thông qua các quan điểm về cấu trúc của đời sống văn hóa cho thấy, đời sống văn hóa không chỉ bao gồm những hoạt động văn hóa của Bộ Văn hóa Thông tin như trước đây và của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hiện nay,
mà trên hết, đó là hoạt động thể hiện trách nhiệm của toàn xã hội, thông qua các thiết chế khác nhau như: gia đình, nhà trường, cơ quan, đơn vị, cộng đồng Đồng thời, để con người có được một đời sống văn hóa phong phú, đầy đủ và có sự tham gia, tương tác của các bộ phận như: 1) Hoạt động sáng tạo văn hóa và sinh hoạt văn hóa tinh thần của quần chúng và nhân dân lao động tại chính địa phương sinh sống 2) Thông qua các hoạt động của các tổ chức chuyên nghiệp, lưu giữ và truyền bá các giá trị văn hóa cho quần chúng, nhằm mục đích nâng cao năng lực sáng tạo, thẩm mỹ và cải thiện rõ hơn thị hiếu của người dân trong đời sống xã hội Các hoạt động nêu trên đây có tác
Trang 29động tương hỗ lẫn nhau, nhằm làm cho người dân ngày càng trở nên có nhận thức sâu sắc hơn về đời sống văn hóa, tô điểm phong phú, đa dạng và cải thiện rõ rệt, toàn diện hơn đời sống hằng ngày
Còn theo nghiên cứu của tác giả Hoàng Vinh: “Muốn cho các sản phẩm văn hóa nảy sinh và được vận hành trong đời sống xã hội, thì phải có ba yếu tố: sản phẩm văn hóa, thể chế văn hóa, các dạng hoạt động văn hóa và những con người văn hóa Ba yếu tố đó tạo thành cấu trúc của đời sống văn hóa”[97, tr 266] Đời sống văn hoá là một bộ phận của đời sống xã hội Đời
sống xã hội là một phức thể những hoạt động sống của con người, nhằm đáp ứng nhu cầu của con người Trong đó các hoạt động văn hoá đáp ứng nhu cầu tinh thần, làm cho con người tồn tại với tư cách là một sinh thể xã hội, tức là con người tồn tại như một nhân cách văn hoá Xã hội càng tiến hoá thì nhu cầu văn hoá và sự đáp ứng nhu cầu đó của con người ngày càng cao, góp phần thể hiện trình độ phát triển của con người
Bên cạnh đó, đời sống văn hóa không chỉ giới hạn ở các công tác và hoạt động văn hóa của người dân mà được mở rộng liên quan đến nhiều lĩnh vực khác như: giáo dục, nghệ thuật, khoa học, tư tưởng, đạo đức, lối sống, vui chơi giải trí,
Dựa trên cơ sở các khái niệm về đời sống văn hóa đã trình bày ở trên, cấu trúc của đời sống văn hóa được giới hạn trong luận văn này, bao gồm 4 thành tố cơ bản sau: Chủ thể hoạt động văn hóa; hệ thống các giá trị văn hóa, biểu hiện ở các sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể; các thiết chế và thể chế văn hóa; các hoạt động văn hóa
Một là, chủ thể hoạt động văn hóa
Chủ thể hoạt động văn hóa chính là con người (hay còn gọi là con người văn hóa, xã hội) Con người là nhân tố quan trọng và quyết định nhất cấu thành đời sống văn hóa Văn hóa là sự thích ứng của con người với môi trường tự nhiên và xã hội trong từng giai đoạn lịch sử
Trang 30Con người, với tư cách là chủ thể của mọi hoạt động xã hội, là yếu tố khởi đầu trong cấu trúc của đời sống văn hoá Con người sáng tạo ra văn hoá như một phương thức tồn tại đặc thù Khi các giá trị văn hoá đã được xác lập, con người tái tạo và sử dụng chúng như một phương tiện để thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình, khiến cho đời sống của con người không phải là những hoạt động bản năng sinh tồn Chỉ có con người mới có đời sống văn hoá, con người kiến tạo và kiến trúc nên đời sống văn hoá Mặt khác, con người cũng là sản phẩm của đời sống văn hoá của mình Con người tham gia vào đời sống văn hoá với vai trò chủ thể nhưng đồng thời cũng là đối tượng Chính trong đời sống của con người, những năng lực văn hoá của nó được nuôi dưỡng và bộc lộ Đời sống văn hoá bào gồm có: đời sống văn hóa của cá nhân, của những nhóm người và của cả xã hội, tất cả tương tác nhau trong sự vận hành của hệ giá trị văn hoá
Hai là, hệ thống các giá trị văn hóa
Văn hoá bao giờ cũng là một hệ thống hữu cơ bao gồm các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn Giá trị là hạt nhân của văn hoá và đời sống văn hoá Đời sống văn hoá giống như một thứ biểu đồ phản ánh sự sáng tạo, truyền bá và tác động của các giá trị thông qua hoạt động sống của con người
Cách nhìn nhận của tác giả Nguyễn Như Ý, trong cuốn “Đại từ điển
Tiếng Việt” định nghĩa: “Giá trị - cái được xác định có ích, có hiệu quả trong cuộc sống vật chất và tinh thần”[105, tr 725] Theo định nghĩa này, khi nói
đến giá trị văn hóa là nói đến những giá trị kết tinh trong các sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn, cải tạo thế giới và cải tạo chính bản thân Có thể kể tới những phẩm chất cao quý có ý nghĩa luôn được cả xã hội mong muốn, sẻ chia trong cuộc sống, như: lòng yêu nước, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đức tính cần cù, chăm chỉ, bao dung,
Trang 31Giá trị văn hóa chính là hạt nhân của đời sống văn hóa; là nhân tố quan trọng tác động, thúc đẩy sự phát triển cá nhân, cộng đồng và toàn xã hội Giá trị gắn liền với tư tưởng, cụ thể là gắn với quan niệm về lợi ích của một cộng đồng nhất định, ở đó có hạt nhân là quan điểm giai cấp Bên cạnh đó, giá trị được hình thành từ một hệ thống phản ánh quan niệm thống nhất của một cộng đồng
về ý nghĩa của các sự vật, hiện tượng trong đời sống
Do vậy, giá trị vừa là chức năng liên kết cộng đồng và vừa là điều chỉnh hành vi của con người Đời sống con người về bản chất là đời sống văn hóa
và đời sống văn hóa nhằm thực hiện các giá trị văn hóa Toàn bộ các phương thức hoạt động sống của con người, kể cả hoạt động sống vốn thuộc bản năng luôn được chế ước bởi các thang bậc chuẩn mực văn hóa nhất định, khi đến lượt nó lại làm nảy sinh giá trị văn hóa
Nếu xem xét hoạt động sống của con người từ ba góc độ nhận thức, hành động và cảm xúc thì thấy rằng hệ giá trị văn hoá bao gồm ba phạm trù cơ bản là: Chân - Thiện - Mỹ Trong đó, Chân là đối tượng của nhận thức và sáng tạo khoa học, Thiện là đối tượng của nhận thức và hành vi đạo đức, Mỹ là đối tượng của nhận thức và hoạt động thẩm mỹ - nghệ thuật Chân, Thiện và Mỹ thống nhất và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng có chức năng phản ánh quan niệm của con người về những mối quan hệ ứng xử với tự nhiên và xã hội, khả năng sáng tạo theo các quy luật của cái đẹp của con người Phạm trù Chân - Thiện - Mỹ đã hàm nghĩa phân biệt với các hiện tượng phản giá trị đối lập, như: giả - ác - xấu Qua đó cho thấy đời sống văn hoá là quá trình vận động của chủ thể (con người) và xã hội theo hướng ngày càng tiếp cận và khẳng định các giá trị Chân - Thiện - Mỹ, đấu tranh với cái phản giá trị (cái giả - ác - xấu) trong con người và xã hội
Ba là, hệ thống các thiết chế văn hóa và thể chế văn hóa
Định nghĩa về thiết chế có rất nhiều song theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì thiết chế văn hóa chính là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố:
Trang 32cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa đủ để gọi là thiết chế văn hóa Hệ thống các thiết chế văn hóa là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy văn hóa phát triển; nó đóng vai trò là nơi lưu giữ và chuyển tải các giá trị văn hóa của cộng đồng đến từng cá nhân Đó là môi trường để đảm bảo cho các hoạt động văn hóa diễn ra trong đời sống xã hội
Thiết chế văn hóa có thể hiểu theo nghĩa hẹp luôn gắn với một cộng đồng cụ thể ở trên phạm vi một khu vực lãnh thổ hoặc một lĩnh vực hoạt động nhất định Với chức năng chủ yếu là cố kết cộng đồng trong quá trình tồn tại
và phát triển; và hình thành hệ thống thiết chế văn hóa của các cộng đồng cư
dân trên một đơn vị lãnh thổ, cộng đồng tín hữu theo tín ngưỡng tôn giáo, cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng dân tộc, v.v
Theo nghĩa rộng, thiết chế văn hóa bao gồm toàn bộ các cơ chế, quy tắc, phương tiện Có các chức năng như đáp ứng nhu cầu tiện ích về đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng; đồng thời, bảo đảm duy trì các mối quan hệ giữa con người, cộng đồng với môi trường tự nhiên và xã hội
Thể chế văn hóa có thể hiểu là vai trò của gia đình, dòng họ và hương ước trong đời sống của cư dân Thể chế văn hóa góp phần điều chỉnh hành vi, cách ứng xử của các thành viên trong cộng đồng làng
Cùng với đó, ở một số thiết chế văn hóa và thể chế văn hóa có mối quan
hệ trực tiếp với đời sống xã hội của cư dân trong quá trình phát triển đã có xu hướng biểu hiện tách rời thành các lĩnh vực thiết chế riêng biệt, như: y tế, giáo dục, luật pháp, kinh tế, thương mại, Trong đó, các thể chế chính trị có
cơ cấu lập pháp, hành pháp và tư pháp; bên cạnh đó ở một số lĩnh vực thì thiết chế văn hóa đã trở nên chuyên biệt hóa, như: di sản, bảo tàng, thư viện, thông tin lưu trữ, nhà hát, rạp chiếu bóng, các loại hình kiến trúc, nghệ thuật, v.v Nhà nước ta đã ban hành tiêu chí xây dựng nông thôn mới và trong 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới thì tiêu chí số 6 về Cơ sở vật chất văn hoá và
Trang 33tiêu chí số 16 về Văn hoá được coi là những tiêu chí khó thực hiện Trước những yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra, với sự tích cực vào cuộc của cả hệ thống chính trị với những quyết tâm, nỗ lực cao của Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch, đến nay, hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao ở cơ sở cơ bản được đầu tư xây dựng đồng bộ, khang trang
Có thể thấy rằng cơ sở vật chất là yếu tố trong hệ thống thiết chế văn hóa Nó cũng có mối liên hệ biện chứng với những yếu tố phi vật thể Bởi yếu
tố cơ sở vật chất trong hệ thống thiết chế văn hóa, ngoài điện, đường, trường, trạm, còn có hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao phục vụ cộng đồng thuộc ngành văn hóa, thể thao và du lịch quản lý, bao gồm: nhà văn hóa - khu thể thao ở thôn và tương đương, trung tâm văn hóa - thể thao ở xã, phường, thị trấn, quận, huyện, thành phố, tỉnh; hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao phục vụ thanh niên, thiếu niên và nhi đồng (nhà thiếu nhi, cung thiếu nhi hoặc trung tâm hoạt động thanh, thiếu nhi); hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao phục vụ công nhân, viên chức, người lao động (nhà văn hóa lao động, cung văn hóa lao động, trung tâm văn hóa - thể thao ở khu chế xuất, khu công nghiệp và trong các doanh nghiệp lớn); ngoài ra, còn có hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao thuộc các bộ, ngành, đoàn thể và lực lượng vũ trang, các cơ sở văn hóa, thể thao được đầu tư bằng nguồn vốn xã hội hóa và được cấp trên ban hành quy định về nguyên tắc quản lý và định hướng phát triển
Các thiết chế cơ sở vật chất - văn hoá như thư viện, bảo tàng, nhà truyền thống, câu lạc bộ, nhà hát, trung tâm văn hoá, phương tiện thông tin đại chúng, Internet, v.v là nơi các hoạt động văn hoá diễn ra một cách tập trung, phản ánh những giá trị kết tinh của đời sống văn hoá cộng đồng Các địa điểm này chính là chiếc cầu nối giữa sáng tạo và thưởng thức, giữa văn hoá quá khứ và công chúng đương thời Các thiết chế xã hội - văn hoá, bao gồm các tổ chức có chức năng giáo hoá con người theo những chuẩn mực phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội Thiết chế xã hội - văn hoá gần gũi nhất với con
Trang 34người chính là gia đình và nhà trường Thiết chế xã hội - văn hoá làm tốt chức năng cung cấp trực tiếp cho xã hội những con người văn hoá
Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, nhấn mạnh ý nghĩa và tầm quan trọng của hệ thống thiết chế văn hóa, thể chế văn hóa Tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1998) của Đảng đã định hướng củng
cố, xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa, bảo đảm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, cũng như nêu cao vai trò làm chủ của nhân dân và lực lượng những người hoạt động văn hóa Góp phần ngày càng nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa hiện có và sắp xếp hợp lý các cơ quan hành chính, các đơn vị sự nghiệp và kinh doanh ở mỗi địa phương
Bốn là, các hoạt động văn hóa
Xét theo nghĩa rộng nhất của văn hoá, hoạt động sống nào của con người cũng chứa đựng các giá trị văn hoá Từ các sinh hoạt hằng ngày như ăn, mặc,
ở, đi lại đến giao tiếp, vui chơi, giá trị văn hoá trong các hoạt động này tồn tại như là giá trị người của tất cả mọi hoạt động sống nói chung nhưng nó chưa phải là mục đích trực tiếp
Hoạt động văn hóa bao gồm: hoạt động sáng tạo văn hóa, hoạt động lưu giữ, truyền bá văn hóa, hoạt động hưởng thụ, tiếp nhận giá trị văn hóa
Hoạt động sáng tạo văn hóa là hoạt động cơ bản, tạo ra những giá trị vật chất và giá trị tinh thần mới, nhờ đó văn hóa có chất lượng mới, bởi văn hóa luôn biến đổi, phát triển Lịch sử xã hội loài người đã trải qua các nền văn hóa, văn minh khác nhau chính là nhờ hoạt động sáng tạo văn hóa của con người Hoạt động lưu giữ, truyền bá văn hóa hay còn được gọi là hoạt động thực hành văn hóa Đây là hoạt động tái hiện, duy trì các giá trị văn hóa trong đời sống xã hội Gồm những hoạt động như sau: hoạt động thực hành văn hóa lao động, văn hóa tâm linh, văn hóa giao tiếp, ứng xử Từ bản chất của các hoạt động này, các giá trị văn hóa được truyền bá rộng rãi, phổ biến hơn trong xã hội
Trang 35Hoạt động hưởng thụ văn hóa là sự tiếp nhận những giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra Ngay từ khi ra, con người đã bắt đầu hưởng thụ các giá trị văn hóa với những mức độ và trình độ khác nhau Do vậy, mới có đời sống văn hóa cá nhân, đời sống văn hóa cộng đồng Nhờ tiếp thu giá trị văn hóa, con người mới từng bước phát triển nhân cách ngày càng hoàn thiện Nhu cầu văn hóa của con người được thỏa mãn thông qua hoạt động tiếp nhận văn hóa Khi nhu cầu văn hóa được thỏa mãn, con người sẽ có được những năng lượng mới, đồng thời những năng lượng tích cực đó sẽ góp phần sáng tạo ra những giá mới
Các hoạt động sáng tạo, lưu giữ, truyền bá, tiếp nhận, hưởng thụ giá trị văn hóa, có thể là hoạt động của cá nhân nhưng nó luôn diễn ra trong mối liên
hệ với cộng đồng Nói cách khác, nó luôn mang tính xã hội Hoạt động văn hóa được khái quát ở một số dạng hoạt động cơ bản như:
- Hoạt động thông tin - truyền thông cổ động;
- Hoạt động câu lạc bộ;
- Hoạt động thư viện, đọc sách báo;
- Hoạt động bảo vệ di sản văn hóa và giáo dục truyền thống;
- Hoạt động văn nghệ quần chúng;
- Hoạt động xây dựng gia đình văn hóa và nếp sống văn hóa;
- Hoạt động thể thao, vui chơi giải trí;
- Hoạt động xã hội từ thiện;
- Hệ thống các thiết chế và cảnh quan văn hóa,
Hoạt động văn hoá là những hoạt động với mục đích và nội dung trực tiếp của nó là các giá trị chân - thiện - mỹ Đó chính là quá trình sản xuất, bảo quản, phân phối và tiêu dùng các giá trị văn hoá Thông qua hoạt động này, giá trị sẽ được sản sinh, vận động và lan toả trong đời sống của con người Với tư cách là loại hoạt động thực hiện các giá trị thì hoạt động văn hoá là hoạt động mang tính sáng tạo Thông qua đó, thể hiện rõ nét nhất năng lực
Trang 36văn hoá, khả năng sáng tạo theo các quy luật của cái đẹp, của cá nhân và cộng đồng thực hiện văn hóa ở khu vực, địa bàn đang sinh sống
Các yếu tố trong hệ thống cấu trúc của đời sống văn hoá có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó nhau, trong đó, giá trị văn hoá là yếu tố trung tâm Con người
có vai trò là chủ thể của đời sống văn hoá sẽ điều hành các quan hệ, các hoạt động, các thiết chế và thể chế văn hoá hướng về giá trị văn hoá Từ đây, mà con người ngày càng được xã hội hoá và văn hoá hoá hơn thông qua các hoạt động, các quan hệ và môi trường sống của mình
Như vậy, đời sống văn hoá tồn tại trong mọi hoạt động sống của con người Nếu như đời sống vật chất hay đời sống tinh thần là các khái niệm chỉ những hoạt động sống của con người thì đời sống văn hoá như một khái niệm
có tính bao trùm để chỉ mặt giá trị của đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người Thiếu đi ý nghĩa văn hoá, đời sống của con người chỉ là một chuỗi các hoạt động hướng tới những nhu cầu bản năng Khái niệm đời sống vật chất hay đời sống tinh thần chỉ hàm chứa phương tiện, nội dung sinh hoạt;
đó là những phương diện tồn tại cho mình, cho cá nhân Trong khi đó, khái niệm đời sống văn hoá phản ánh trình độ đáp ứng và xử lý hai loại nhu cầu nói trên, hàm chứa những mối quan hệ xã hội nhiều chiều
1.2 Khái quát về huyện Thường Tín và các yếu tố tác động đến đời sống văn hóa của cư dân nông thôn huyện Thường Tín, Hà Nội trong sự
nghiệp đổi mới
1.2.1 Khái quát về huyện Thường Tín, Hà Nội
Lịch sử hình thành
Thường Tín có tên trên bản đồ Việt Nam từ buổi đầu dựng nước Theo sách Đại Nam nhất thống chí, Thường Tín nguyên là đất thuộc quận Giao Chỉ thời Bắc thuộc Khi đến các triều đại phong kiến độc lập tự chủ: Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý Trần; Thường Tín là châu Thượng Phúc Ở Thời Hậu Lê (1428-1527), phủ Thường Tín bao gồm 3 huyện: Thanh Đàm (tức Thanh Trì), Phù
Trang 37Vân (tức Phú Xuyên), và Thượng Phúc (tức Thường Tín ngày nay), thuộc Trấn Sơn Nam
Những năm đầu thế kỷ XIX, theo sử sách ghi lại của Phan Huy Chú thì phủ Thường Tín nằm ở phía bắc Sơn Nam và các huyện đều men theo đường quan lộ, có địa hình đất bằng rộng rãi, không có rừng núi, trong đó chỉ có dòng sông Tô Lịch bao quanh 3 huyện nêu trên của phủ Thường Tín được tồn tại cho đến triều Nguyễn
Ngày 01/10/1831, vua Minh Mạng đã thực hiện cải cách hành chính, cho phân chia lại địa phận, tách, nhập một số phủ huyện, bỏ địa danh hành chính
lộ, trấn thành lập 18 tỉnh Trong đó, có tỉnh Hà Nội và Huyện Thường Tín (tức Thường Tín) được thành lập, thuộc tỉnh Hà Nội Còn Phú Xuyên, Thanh Trì được tách thành 2 huyện riêng Như vậy, huyện Thường Tín được thành lập từ ngày 01/10/1831
Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc (1884-1945), Thường Tín là một phủ thuộc tỉnh Hà Đông Đầu thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX, huyện Thượng Phúc (Thường Tín) dù đã có sự phân tách, nhập hay đổi tên ở cấp tổng hay phủ thì vẫn không có gì thay đổi Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Thường Tín là một huyện thuộc tỉnh Hà Đông
Ngày 21/4/1965, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Quyết định số 103-NQ-TVQH, từ đó, huyện Thường Tín thuộc tỉnh Hà Tây mới được thành lập do hợp nhất 2 tỉnh Hà Đông và Sơn Tây Tại thời điểm này, huyện Thường Tín gồm 32 xã
Từ ngày 27/12/1975, theo Nghị quyết của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phê chuẩn: Hợp nhất tỉnh Hòa Bình và tỉnh Hà Tây thành một tỉnh mới và chính thức lấy tên là tỉnh Hà Sơn Bình, huyện Thường Tín thuộc tỉnh Hà Sơn Bình
Ngày 29/12/1978, Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc phê chuẩn việc phân vạch lại địa giới thành phố Hà Nội lần thứ 2 Trong đó, có 4 xã ở phía
Trang 38bắc huyện Thường Tín, là: Đại Áng, Liên Ninh, Ngọc Hồi, Tả Thanh Oai được sáp nhập vào huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội nên huyện Thường Tín còn lại 28 xã
Ngày 19/3/1988, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Quyết định số 49/HĐBT, đã thành lập thị trấn Thường Tín trên cơ sở điều chỉnh hợp lý một phần diện tích tự nhiên và nhân khẩu của các xã Văn Bình, Văn Phú và Hà Hồi
Ngày 12/8/1991, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VIII đã ban hành Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Thực hiện chia tỉnh Hà Sơn Bình thành 2 tỉnh: lấy tên là tỉnh Hoà Bình và tỉnh Hà Tây Theo đó, huyện Thường Tín lại trở về thuộc tỉnh
Hà Tây Như vậy, về hành chính huyện Thường Tín có 1 thị trấn và 28 xã, ổn định và cho đến nay chưa có sự thay đổi
Từ ngày 01/8/2008, thực hiện Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH12 của Quốc hội khóa XII về mở rộng địa giới hành chính thủ đô Hà Nội, hợp nhất toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của tỉnh Hà Tây vào thành phố Hà Nội
Từ đó, huyện Thường Tín trực thuộc thành phố Hà Nội quản lý
Điều kiện tự nhiên
Về vị trí địa lý, Thường Tín là huyện ngoại thành nằm ở phía Nam thành phố Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô hơn 20 km, là nơi hội tụ các tuyến giao thông huyết mạch, như Quốc lộ 1A cũ và tuyến đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ cùng các tuyến đường tỉnh lộ 427, 429 Tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua, với 3 nhà ga là Thường Tín, Tía và Đỗ Xá Đường thủy nội địa có sông Hồng chảy qua với 2 cảng sông là Hồng Vân và Vạn Điểm
Huyện Thường Tín có vị trí nằm dọc Quốc lộ 1A, cách trung tâm thành phố Hà Nội 13km về phía Nam và có ranh giới tiếp giáp như sau:
Phía Bắc giáp huyện Thanh Trì;
Phía Nam giáp huyện Phú Xuyên;
Trang 39Phía Đông giáp huyện Văn Giang và huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên, với dải ngăn cách tự nhiên là sông Hồng;
Phía Tây giáp huyện Thanh Oai
Huyện Thường Tín có tổng diện tích 13.040,89 ha, gồm 28 xã, 1 thị trấn Dân số khoảng 220.689 người
Đó là điều kiện thuận lợi để cư dân huyện Thường Tín giao thương buôn bán, trao đổi thuận lợi với các tỉnh, thành trong cả nước, góp phần to lớn vào
sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện
Về mặt địa hình, Thường Tín là huyện đồng bằng sông Hồng, địa hình tương đối bằng phẳng, độ chênh lệch cao thấp giữa các vùng không đáng kể Địa hình có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây Địa hình
có độ cao so với mực nước biển từ 5 - 8m Sự thiếu hụt bồi tích của hệ thống sông đã làm cho bề mặt địa hình của phần lớn diện tích trong đồng thấp hơn
bề mặt của bãi bồi ngoài đê, vì thế mà có hiện tượng thường bị úng lụt vào mùa mưa
Về khí hậu, Thường Tín nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều và mùa đông khô lạnh, mưa ít Do đó, cũng giống như các tỉnh, thành khác của khu vực Đồng bằng Bắc Bộ nước ta, huyện Thường Tín chịu ảnh hưởng của 2 loại gió rõ rệt: gió đông bắc xuất hiện vào mùa đông và gió đông nam xuất hiện vào mùa hè Ngoài ra, vào các tháng chuyển tiếp giữa 2 mùa thỉnh thoảng có xuất hiện gió tây nam và đông nam
Về thủy văn, địa bàn huyện có 2 con sông lớn chảy qua là sông Hồng và sông Nhuệ Sông Hồng nằm ở phía đông chạy theo ranh giới huyện Thường Tín, với chiều dài khoảng 20 km Con sông này đóng vai trò quan trọng về giao thông đường thủy, là nguồn cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp và cấp nước cho đời sống sinh hoạt của nhân dân Sông Nhuệ nằm ở
Trang 40phía tây, cũng là nguồn cung cấp nước và tiêu thoát nước quan trọng cho sản xuất nông nghiệp
Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có sông Tô Lịch chảy qua với chiều dài 12km Quanh khu vực sông có người dân sinh sống, buôn bán nên có hiện tượng xả rác sinh hoạt, lao động và sản xuất khiến lòng sông bị bụi, rác, và thực vật che phủ, dẫn tới tốc độ dòng chảy chậm Hệ thống sông ngòi tự nhiên trên được nối với nhau bởi khá nhiều sông đào, kênh dẫn nước và quan trọng
là tạo điều kiện thuận lợi cho việc tưới tiêu, giao thông thủy lợi Đồng thời, các hệ thống sông này cũng tạo nên một diện tích đất phù sa màu mỡ bồi đắp cho lưu vực sông Hồng hằng năm
Đặc điểm kinh tế - văn hóa, xã hội và dân cư
Về kinh tế, cũng như các làng - xã khác của nông thôn Việt Nam, nông nghiệp trồng lúa chiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh tế huyện Thường Tín, là nguồn cung cấp lương thực chính, nguồn thu nhập của đại bộ phận dân cư Hoạt động sản xuất vật chất chủ yếu trên địa bàn xã là sản xuất nông nghiệp Nền kinh tế trong huyện đang phát triển theo hướng bền vững với đóng góp của lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Thu nhập bình quân theo đầu người không ngừng tăng Năm 2000 là 1,79 triệu đồng/người/tháng Năm 2005 là 2,03 triệu đồng/người/tháng Năm 2010 là 3,7 triệu đồng/người/tháng Tính theo năm, thu nhập này là gấp 2 lần so với trung bình thống kê cả nước cho khu vực nông thôn (Tổng điều tra toàn quốc năm 2009 là gần 12 triệu đồng/người/năm) Thu nhập của nhân dân trong các xã không ngừng được tăng lên qua các mốc thời gian trong 10 năm Đời sống của cư dân không ngừng được cải thiện do chủ yếu là tốc độ công nghiệp hóa tăng mạnh, khi các khu công nghiệp được xây dựng ngay tại các xã như Cụm công nghiệp Hà Bình Phương (thuộc khu công nghiệp Bắc Thường Tín), với các nhà máy lớn như nhà máy sản xuất tủ điện của Á Châu (Acit) - tại khu công nghiệp Quất