1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Microsoft word LUẬN văn PT LINH

70 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word LUẬN VĂN PT LINH docx BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT PHẠM THỊ LINH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG ĐẾN ĐẦU TƯ TƯ[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của trường Đại học Kinh

tế Thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

Tp Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 8 năm 2016

Tác giả

Phạm Thị Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời biết ơn chân thành nhất đến thầy Đỗ Thiên Anh Tuấn và thầy James Riedel

Các thầy đã hướng dẫn, góp ý và hỗ trợ em rất nhiều trong suốt quá trình lựa chọn đề tài, định hướng các vấn đề nghiên cứu và thực hiện luận văn

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo và các anh chị hiện đang công tác tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, những người đã trang bị cho em kiến thức, động viên tinh thần và tạo dựng một môi trường học thuật đúng nghĩa trong suốt 2 năm vừa qua

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và toàn thể các thành viên MPP7 đã luôn động viên, quan tâm và ủng hộ cho em thời gian vừa qua

T.P Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 8 năm 2016

Tác giả

Phạm Thị Linh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vi

TÓM TẮT vii

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Bối cảnh chính sách 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Phương pháp nghiên cứu 2

1.6 Cấu trúc luận văn 2

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4

2.1 Tổng quan về đầu tư 4

2.1.1 Đầu tư công 4

2.1.2 Đầu tư của khu vực tư nhân 5

2.2 Cơ chế tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân 6

2.3 Đánh giá tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân……… …6

2.3.1 Khung phân tích lý thuyết 6

2.3.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm 7

2.3.2.1 Các nghiên cứu của thế giới 7

2.3.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 10

CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ, ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM 11

3.1 Toàn cảnh bức tranh kinh tế và các chỉ số vĩ mô của Việt Nam 11

3.2 Đánh giá hoạt động đầu tư tại Việt Nam 15

3.2.1 Quy mô, cơ cấu và ý nghĩa của nguồn vốn đầu tư 15

3.2.2 Thực trạng nguồn lực vốn, phân bổ và hiệu quả của đầu tư công 20

CHƯƠNG 4 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG ĐẾN ĐẦU TƯ KHU VỰC TƯ NHÂN 23

Trang 6

4.1 Xây dựng mô hình ước lượng 23

4.1.1 Cơ sở xây dựng mô hình 23

4.1.2 Phương pháp lựa chọn và cách thức đo lường biến 25

4.1.2.1 Lựa chọn số liệu đầu tư 25

4.1.2.2 Đo lường yếu tố biến động vĩ mô 26

4.1.2.3 Các biến số khác 27

4.2 Công thức tính, kỳ vọng dấu và ý nghĩa hệ số mô hình 27

4.2.1 Công thức tính, nguồn dữ liệu các biến 27

4.2.2 Ý nghĩa và kỳ vọng dấu các hệ số ước lượng 28

4.3 Ước lượng mô hình nghiên cứu 30

4.3.1 Kiểm tra và xử lý dữ liệu mô hình 30

4.3.2 Kết quả kiểm định mô hình 31

4.4 Kết quả nghiên cứu 31

4.4.1 Kiểm định nhân quả giữa các biến 31

4.4.2 Hệ số tác động 32

4.4.3 Ý nghĩa hệ số 32

4.5 Phân tích một số tình huống chính sách 33

4.5.1 Thực trạng hoạt động của DNNN và các dự án đầu tư công 33

4.5.2 Tác động chèn lấn của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân 35

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 38

5.1 Kết luận nghiên cứu 38

5.2 Khuyến nghị chính sách 39

PHỤ LỤC 1 TÓM TẮT CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 42

PHỤ LỤC 2 MÔ TẢ DỮ LIỆU 48

PHỤ LỤC 3 XỬ LÝ MÔ HÌNH 48

PHỤ LỤC 4 KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH 51

PHỤ LỤC 5 KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH NHÂN QUẢ 53

PHỤ LỤC 6 KẾT QUẢ MÔ HÌNH 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Tài liệu trong nước 57

Tài liệu nước ngoài 60

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CPI Chỉ số giá tiêu dùng DNNN Doanh nghiệp Nhà nước IMF Quỹ tiền tệ quốc tế FETP Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

GARCH Mô hình tổng quát tự điều chỉnh phương sai có điều kiện GDP Tổng sản phẩm quốc nội

GSO Tổng cục thống kê NHNN Ngân hàng Nhà nước NHTM Ngân hàng Thương mại TCT Tổng công ty

TISCO Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên T.P HCM Thành phố Hồ Chí Minh

ODA Vốn hỗ trợ phát triển chính thức OLS Bình phương tối thiểu thông thường PVN Tập đoàn dầu khí Việt Nam

PVTex Công ty Cổ phần Hoá chất và Xơ sợi Dầu khí REER Tỉ giá hối đoái thực đa phương

VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VECM Mô hình hiệu chỉnh vector

VEPR Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách VNĐ Việt Nam Đồng

USD Đô la Mỹ

WB Ngân hàng thế giới

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Một số chỉ số kinh tế vĩ mô ngắn hạn của Việt Nam 12

Bảng 3.2 Giá trị phát hành và tỷ lệ sở hữu trái phiếu Chính phủ 13

Bảng 3.3 Cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội phân theo thành phần kinh tế 16

Bảng 3.4 Số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động hoặc giải thể theo quy mô vốn 19

Bảng 3.5 Cơ cấu đầu tư Nhà nước theo mục đích sử dụng 21

Bảng 3.6 Hiệu quả đầu tư bình quân theo khu vực kinh tế giai đoạn 2000 - 2010 22

Bảng 4.1 Công thức tính và kỳ vọng dấu các biến trong mô hình 28

Bảng 4.2 Kết quả kiểm định tính dừng của các biến số 30

Bảng 4.3 Hệ số tác động của các biến đến đầu tư tư nhân thông qua hàm phản ứng đẩy 32

DANH MỤC HÌNH Hình 3.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1996 – 2015 11

Hình 3.2 Biến động của tỉ lệ tín dụng/GDP và lãi suất cho vay theo quý 14

Hình 3.3 Cơ cấu vốn đầu tư trên GDP giai đoạn 2010 – 2015 16

Hình 3.4 Mức vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 1996 – 2015 17

Hình 3.5 Quy mô vốn bình quân trong các doanh nghiệp theo hình thức sở hữu giai đoạn 2007 – 2015 18

Hình 3.6 Tỉ lệ doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ giai đoạn 2007 – 2013 20

Hình 3.7 Cơ cấu vốn đầu tư khu vực Nhà nước phân theo nguồn tài trợ giai đoạn 1996 – 2014 21

Trang 9

Nguyên nhân của tình trạng này thứ nhất là do Nhà nước trực tiếp tham gia hoạt động ở nhiều ngành, lĩnh vực và trở đối thủ cạnh tranh với khu vực tư nhân Thứ hai, nhu cầu về vốn để tài trợ cho thâm hụt ngân sách và chi tiêu công của Nhà nước đã gây sức ép lên thị trường vốn, ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của khu vực tư nhân Thứ ba, Nhà nước dành ưu tiên, ưu đãi ở nhiều mặt cho khu vực quốc doanh và các dự án đầu tư công cũng gây tác động chèn lấn về cơ hội đối với khu vực đầu tư tư nhân Ngoài ra mức độ phát triển chưa sâu của thị trường tài chính cũng khiến các doanh nghiệp tư nhân chưa thể tận dụng được kênh huy động vốn từ thị trường chứng khoán mà vẫn dựa chủ yếu vào nguồn cấp tín dụng từ hệ thống ngân hàng, trong khi vai trò của khu vực này ngày càng bị suy giảm bởi nghĩa vụ đối với ngân sách và khu vực công Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, cạnh tranh kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ giữa các quốc gia, hoạt động đầu tư của Việt Nam cần điều chỉnh theo hướng cắt giảm quy mô đầu tư công và dành nguồn lực cho đầu

tư tư nhân Vì vậy, Nhà nước cần nhận thức rõ vai trò của mình trong nền kinh tế là quản

lý và điều tiết vĩ mô, chỉ thực hiện can thiệp vào những ngành, lĩnh vực có thất bại thị trường Thay đổi quan điểm cho rằng khu vực kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế và xoá bỏ dần các kiểm soát cũng như ưu đãi đối với khu vực này thông qua cổ phần hoá các DNNN Nhà nước cũng phải hạn chế can thiệp vào hệ thống ngân hàng, hướng đến xây dựng một NHTW độc lập và thúc đẩy thị trường tài chính phát triển sâu hơn Cùng với đó là các chính sách khuyến khích đầu tư tư nhân, tạo cơ chế, động lực tích cực để khu vực tư nhân lựa chọn đầu tư dài hạn, trở thành trụ cột của nền kinh tế Cuối cùng, Nhà nước phải tự cân đối và điều chỉnh thu chi ngân sách, hạn chế tình trạng phát hành trái phiếu để bù đắp thâm hụt ngân sách triền miên như những năm vừa qua

Trang 10

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 Bối cảnh chính sách

Theo các học thuyết tăng trưởng kinh tế, đầu tư hay tích lũy vốn trong nền kinh tế luôn là yếu tố quan trọng tác động tích cực tới sự gia tăng của sản lượng và thu nhập ở cả cấp độ doanh nghiệp và quốc gia Kể từ những năm 2000, kinh tế Việt Nam bắt đầu tăng trưởng nhanh nhờ nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và nguồn viện trợ từ nước ngoài Trải qua gần hai thập kỷ phát triển, mặc dù kinh tế đã có nhiều khởi sắc nhưng nguồn lực cho tăng trưởng chủ yếu vẫn dựa vào tích luỹ vốn và phần lớn đến từ hoạt động sản xuất công nghiệp và xuất khẩu của khu vực FDI 1

Trong khi đa số các doanh nghiệp FDI kinh doanh có lãi và liên tục tăng vốn đầu tư, mở rộng quy mô2, rất nhiều các doanh nghiệp trong nước thua lỗ, thậm chí phải đóng cửa

Theo báo cáo năm 2015 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đã có hơn 80.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động, hầu hết trong số đó thuộc khu vực kinh tế tư nhân, có quy mô vốn nhỏ3 Đây là khu vực luôn chiếm trên 80% tổng số doanh nghiệp cả nước, nhưng quy mô vốn bình quân chỉ đạt 30 tỷ đồng, chưa tới 2% mức vốn bình quân của khu vực Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) (1.568 tỷ đồng)4 Mặc dù có quy mô vốn lớn và thường nhận được các ưu tiên, ưu đãi của Chính phủ, báo cáo năm 2014 của Bộ Tài Chính cho thấy vẫn còn 19 Tập đoàn, Tổng công ty (TCT) của Nhà nước lỗ luỹ kế trên 24.000 tỷ đồng và nhiều dự án công đầu tư hàng nghìn tỷ đồng không hiệu quả, thậm chí phải đóng cửa5

Tình hình vĩ mô càng khó khăn hơn khi năm 2015 thu ngân sách vẫn không đủ bù chi, mức thâm hụt gần 7% so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP), nợ công lên tới 61%6 Chính phủ phát hành trái phiếu với khối lượng lớn đề bù đắp chi tiêu (cuối năm 2014 - 234.067 tỉ

1 Vũ Thành Tự Anh và cs (19/5/2015), “Cải cách thể chế: Từ tầm nhìn đến thực tiễn” đăng trên fetp.edu.vn

2 Đỗ Thiên Anh Tuấn, (20/4/2014), “Chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam” đăng trên fetp.edu.vn

3 Báo cáo Doanh nghiệp thường niên 2015 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

4 Báo cáo Doanh nghiệp thường niên 2014 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

5 Tư Hoàng, (24/11/2015), “Đáng lo ngại tình trạng nợ nần của các DNNN”, đăng trên thesaigontimes.vn

6 Báo cáo kinh tế vĩ mô của Phòng Nghiên cứu& Phát triển NHTW và Nhóm nghiên cứu kinh tế vĩ mô thuộc Viện Chiến lược Ngân hàng đăng trên khoahocnganhang.org.vn

Trang 11

đồng và năm 2015 - 256.223 tỷ đồng)7 làm giảm mức cung tiền, gây khó khăn cho hoạt động đầu tư của nền kinh tế

Trong xu hướng hội nhập và mở cửa ngày càng sâu rộng như hiện nay, các doanh nghiệp trong nước không chỉ cạnh tranh với nhau như trước đây mà phải cùng nhau cạnh tranh nhiều hơn với khu vực nước ngoài Khu vực đầu tư công và đầu tư tư nhân cần phải bổ trợ

và thúc đẩy nhau cùng phát triển Vì vậy, nhu cầu đánh giá mối quan hệ giữa đầu tư công

và đầu tư tư nhân trong tiến trình phát triển kinh tế vừa qua của Việt Nam sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra những điều chỉnh thích hợp đối với cả hai khu vực đầu tư, nhằm điều chỉnh hoạt động đầu tư của nền kinh tế đi theo hướng tích cực và hiệu quả nhất

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu đánh giá tác động của đầu tư công tới đầu tư của khu vực tư nhân Từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp để hoạt động đầu tư nội địa đạt hiệu quả, giúp phát triển kinh

tế

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Đầu tư công có tác động bổ trợ hay chèn lấn đối với đầu tư tư nhân tại Việt Nam?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ của đầu tư công và đầu tư tư nhân trong giai đoạn từ quý 3 năm 2004 đến quý 4 năm 2015

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp phân tích định tính kết hợp định lượng để đánh giá tác động bổ trợ hoặc chèn lấn của đầu tư công đến đầu tư tư nhân Cụ thể, dựa trên phương pháp phân tích mô tả, luận văn đi sâu vào phân tích những cơ chế và tác động dẫn truyền ảnh hưởng của đầu tư công đến đầu tư tư nhân trong bối cảnh chính sách cụ thể của Việt Nam Đối với phân tích định lượng, luận văn sử dụng mô hình hiệu chỉnh vector (VECM)

để ước lượng tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân thông qua hàm phản ứng đẩy

1.6 Cấu trúc luận văn

Trang 12

Nội dung của chương này nhằm giới thiệu khái quát về bối cảnh chính sách, cho thấy tính cấp thiết phải nghiên cứu đề tài Từ đó, xác định câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu phù hợp

Chương 2 Cơ sở lý thuyết

Chương 2 trình bày tóm tắt các khái niệm có liên quan về đầu tư, đầu tư công, đầu tư tư nhân Chương này cũng chỉ ra cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư

tư nhân, các phương pháp và kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam Qua đó giúp xây dựng nền tảng lý thuyết cho việc đánh giá tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân ở các phần sau của bài nghiên cứu

Chương 3 Tổng quan nền kinh tế và đánh giá hoạt động đầu của Việt Nam

Mô tả và phân tích về nền kinh tế vĩ mô Việt Nam, các chính sách quan trọng, các vấn đề bất cập có liên quan trong giai đoạn gần đây Chương này cũng đi sâu phân tích diễn biến của đầu tư công và đầu tư tư nhân về mọi mặt từ quy mô, chất lượng, nguồn lực, đánh giá

ý nghĩa của những biến động và tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân qua các phân tích định tính

Chương 4 Đánh giá tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân

Chương 4 sẽ xây dựng mô hình định lượng dựa trên lý thuyết gia tốc đầu tư, sử dụng phương pháp VECM đánh giá tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân và ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan khác tới đầu tư tư nhân thông qua các hàm phản ứng đẩy

Chương 5 Kết luận và kiến nghị

Trên cơ sở các nghiên cứu thực nghiệm ở chương 2, phân tích ở chương 3, kết quả đo lường tác động ở chương 4, nghiên cứu đưa ra kết luận và một số kiến nghị chính sách

Trang 13

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về đầu tư

Theo Sachs và Larrain (1993)16 đầu tư được định nghĩa một cách tổng quát là “phần sản lượng được tích luỹ để tăng năng lực sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế” Sản lượng đến từ cả khu vực sản xuất trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài Nó bao gồm những sản phẩm hữu hình như nhà cửa, máy móc thiết bị… và các sản phẩm vô hình như phát minh, sáng chế…

Hiện nay, theo cách hiểu thông thường, “đầu tư” là việc bỏ vốn, tài sản (có thể là hữu hình như tiền bạc, đất đai… hoặc vô hình như phát minh, sáng chế….) để thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm thu về lợi ích trong tương lai (Vũ Tuấn Anh, 2011)

Trong kinh tế học vĩ mô, đặc biệt là khi nhắc đến các mô hình tăng trưởng, “đầu tư” được hiểu là yếu tố “vốn tư bản”, dùng để mua máy móc hay nhà xưởng, là một thành phần trong hàm sản xuất giúp tăng năng suất lao động và sản lượng cho nền kinh tế Như vậy các hoạt động “đầu tư” không đi vào khu vực sản xuất, không tạo ra giá trị vật chất sẽ không được coi là yếu tố đầu tư theo khái niệm của kinh tế vĩ mô17

2.1.1 Đầu tư công

Lý thuyết kinh tế học khu vực công định nghĩa đầu tư công là hoạt động đầu tư nhằm tạo năng lực sản xuất và cung ứng hàng hoá công cộng như trường học, bệnh viện, an ninh quốc phòng… hay bản chất của đầu tư công chính là một cách thức biểu hiện can thiệp của nhà nước nhằm sửa chữa thất bại thị trường18 Vì vậy mục tiêu của hoạt động đầu tư công là hướng tới giải quyết các bất cập mà bản thân nền kinh tế, thị trường không thể tự giải quyết Đầu tư công không theo đuổi các lợi ích kinh tế đơn thuần

Luật Đầu tư công của Việt Nam (2014) đưa ra định nghĩa rằng đầu tư công bao gồm “các hoạt động đầu tư của nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh

tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế- xã hội” Tuy nhiên trên thực tế, đầu tư công hay còn được gọi là đầu tư Chính phủ hiện nay được hiểu một cách khá phổ biến và đơn giản là các khoản đầu tư xuất phát từ nguồn vốn của khu

16 Sach và Larrain, 1993, “Macroeconomics in Global Economy”, dẫn từ Bùi Trinh và Bùi Bá Cường “Một số vấn đề về vốn và đầu tư” đăng trên gso.gov.vn.

17 Nguyên lý kinh tế học, Chương 12 – Tiết kiệm, đầu tư và hệ thống tài chính

18 Thất bại thị trường gồm có 4 vấn đề: bất cân xứng thông tin, hàng hoá công, ngoại tác và bất bình đẳng

Trang 14

vực Nhà nước, bao gồm: vốn ngân sách, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển, và vốn được sử dụng đầu tư vào các DNNN hoặc các khoản vốn khác do nhà nước quản lý

2.1.2 Đầu tư của khu vực tư nhân

Theo nghĩa hẹp, đầu tư tư nhân là các hoạt động sử dụng nguồn lực hiện có để làm tăng thêm tài sản vật chất như máy móc thiết bị, tăng vốn con người như chất lượng nguồn nhân lực… đưa vào quá trình hoạt động sản xuất, thương mại… để làm tăng của cải trong tương lai của các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước và khu vực nước ngoài Đầu tư tư nhân hiểu theo nghĩa rộng có thể bao gồm cả chủ thể là các khu vực đầu tư nước ngoài, bộ phận đóng góp đáng kể vào GDP

Khái niệm đầu tư của khu vực tư nhân trong nghiên cứu được sử dụng theo nghĩa hẹp Qua các định nghĩa trên cho thấy sự khác biệt cơ bản giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân nằm ở hai yếu tố: nguồn lực và mục tiêu của hoạt động đầu tư Thay vì nguồn vốn đầu tư đến từ ngân sách quốc gia, nguồn lực “chung” của nền kinh tế và phục vụ cho lợi ích chung của

xã hội, đầu tư tư nhân do tư nhân tự bỏ vốn “riêng” và thông thường chỉ đơn thuần hướng đến mục tiêu lợi nhuận Phân biệt hai phạm trù đầu tư công và đầu tư tư nhân về mặt lý thuyết sẽ giúp nghiên cứu nhìn nhận và đánh giá đúng đắn hơn các hoạt động đầu tư trong thực tế

2.2 Cơ chế tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân

Các học thuyết kinh tế chỉ ra rằng đầu tư công có thể gây ra cả tác động bổ trợ và chèn lấn đối với đầu tư tư nhân

Về nguyên tắc để tăng đầu tư công cần phải có tiền Vì vậy, Chính phủ sẽ phải tăng nguồn thu ngân sách thông qua tăng thuế, phí hoặc vay nợ bằng cách phát hành trái phiếu Theo

lý thuyết trọng cầu của Keynes (1936)19, nếu Chính phủ lựa chọn chính sách tăng thuế để tăng đầu tư công sẽ làm giảm thu nhập khả dụng của nền kinh tế, giảm chi tiêu của hộ gia đình từ đó làm giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp Ngoài ra, thuế và phí tăng cũng trực tiếp làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp vì nó được tính vào chi phí Vì vậy, trong dài

19 Keynes, 1936 “General Theory on Employment, Interest and Money”

Hàm thu nhập khả dụng: Yd = Y – T Hàm chi tiêu hộ gia đình: C = Co + MPC ( Y – T) Hàm tổng cầu: Y = C + I + G + NX

Trang 15

hạn doanh nghiệp có thể phải thu hẹp quy mô Khi sản lượng và lợi nhuận đều sụt giảm, các nhà đầu tư không còn động lực tăng thêm vốn, vì vậy đầu tư tư nhân sẽ giảm

Mặt khác, nếu Chính phủ phát hành trái phiếu để đầu tư, cầu về vốn tăng Trong điều kiện nguồn cung vốn không tăng tương ứng, lãi suất thị trường sẽ tăng20 Vì vậy các doanh nghiệp hoặc không còn khả năng tiếp cận vốn hoặc sẽ phải chịu chi phí vốn cao hơn Hoạt động kinh doanh bị gián đoạn và lợi nhuận biên sụt giảm Các nhà đầu tư tư nhân mất đi động lực đầu tư, thậm chí có thể phải thu hẹp sản xuất Nếu đầu tư công còn được thực hiện trong các lĩnh vực, ngành cạnh tranh trực tiếp với khu vực kinh tế tư nhân, tác động chèn lấn về cơ hội và hoạt động của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân sẽ lớn hơn nữa

Bên cạnh đó, đầu tư công cũng có thể tạo ra tác động bổ trợ đối với đầu tư tư nhân khi thực hiện đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng hiệu quả như đường sá, bến cảng, sân bay, hệ thống giáo dục, y tế, khoa học cơ bản…Sự phát triển của điều kiện cơ sở hạ tầng và nguồn lực con người giúp cải thiện điều kiện hoạt động và môi trường kinh doanh, tăng năng suất và lợi nhuận biên của khu vực đầu tư tư nhân và toàn nền kinh tế, thu hút và khuyến khích các nhà đầu tư mở rộng hoạt động, thúc đẩy phát triển kinh tế21

Tóm lại, các lý thuyết đơn thuần đều chỉ ra tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân trên cả hai phương diện bổ trợ và chèn lấn Vì vậy đầu tư công thực tế bổ trợ hay chèn lấn đầu tư tư nhân vẫn còn là một bài toán thực nghiệm

2.3 Đánh giá tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân 2.3.1 Khung phân tích lý thuyết

Lý thuyết về cơ chế tác động ở trên đã chỉ ra đầu tư công có thể tác động đến đầu tư tư nhân thông qua chi phí sử dụng vốn (lãi suất, hoặc thuế phí) Tuy nhiên, cũng như nhiều quốc gia khác, nền kinh tế Việt Nam hiện nay vẫn nằm trong nhóm các quốc gia đang phát triển và mức độ phát triển của thị trường tài chính chưa cao, lãi suất chưa tự do hoàn toàn

mà vẫn chịu sự kiểm soát của các các chính sách điều hành vĩ mô, vì vậy đo lường tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân qua kênh chi phí vốn là chưa đủ thuyết phục

Nghiên cứu lựa chọn sử dụng sản lượng là yếu tố phản ánh sự biến động của đầu tư trong nền kinh tế dựa trên lập luận của lý thuyết gia tốc đầu tư được xây dựng bởi Jorgenson và Keynes (1967) Lý thuyết này tập trung vào vai trò tăng trưởng của sản lượng và bỏ qua

20 Lý thuyết cầu tiền của Keynes, 1936 “General Theory on Employment, Interest and Money”

21 Porter, Michael E., 1990, “The Competitive Advantage of Nations”, Macmillan Press.

Trang 16

các yếu tố chi phí Vì đầu tư là một bộ phận cấu thành nên tổng cầu, số nhân đầu tư sẽ cho phép giải thích sự gia tăng của nó trong mối quan hệ với tổng cầu hay sản lượng nền kinh

tế Cũng có thể tiếp cận từ góc độ tổng cung theo quan điểm của Keynes là khi sản lượng thay đổi, đầu tư cũng thay đổi theo vì nó là một yếu tố tạo ra sản lượng Sự thay đổi này của đầu tư lại làm mức sản lượng cân bằng thay đổi thông qua hiệu ứng số nhân, và sản lượng quay lại tác động thêm vào đầu tư thông qua hiệu ứng gia tốc Như vậy, khi quy mô sản lượng sản xuất càng tăng lên, nhu cầu vốn đầu tư cho nền kinh tế cũng sẽ tăng theo một hệ số bội Vì vậy, từ giả thiết hợp lý về mối quan hệ giữa đầu tư tư nhân với sản lượng Blejer và Khan (1984), Salmon (1982) đã xây dựng phương trình giúp đánh giá tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân như sau:

PIt = !"+ !#Yet + !$.Gt + !$.Xt + (1- ao)PIt-1 + ut (*) Trong đó PI là đầu tư tư nhân, Ye là sản lượng kỳ vọng của nền kinh tế và G là đầu tư công X bao gồm các yếu tố khác trong nền kinh tế có tác động đến đầu tư tư nhân như lãi suất, mức độ sẵn có của tín dụng và sự biến động vĩ mô (được đo lường bởi biến động của tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ lạm phát và tỉ giá hối đoái thực)

2.3.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm 2.3.2.1 Các nghiên cứu của thế giới

Mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân từ lâu đã là một chủ đề hấp dẫn trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô và kinh tế phát triển khi sự đan xen không thống nhất giữa các kết quả nghiên cứu chỉ ra tính đa dạng, khó nắm bắt của mối quan hệ trên Bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm về tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân có thể được chia thành 3 nhóm theo kết quả nghiên cứu, gồm: nhóm các nghiên cứu chỉ ra tác động bổ trợ, nhóm nghiên cứu chỉ ra tác động chèn lấn và nhóm các nghiên cứu chỉ ra đồng thời cả hai chiều hướng tác động trên

Nhóm thứ nhất các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra tác động khuyến khích, bổ trợ của đầu

tư công đến đầu tư tư nhân khởi đầu từ các nghiên cứu của Barth và Cordes (1980), Aschauer (1989) Kết quả chỉ ra những bằng chứng chứng minh đầu tư công vào cơ sở hạ tầng sẽ có hiệu ứng lan toả lợi nhuận chắc chắn cho đầu tư tư nhân Cụ thể, căn cứ vào các học thuyết về tăng trưởng kinh tế và dựa trên hàm sản xuất Cobb – Douglas của học thuyết tân cổ điển, các nghiên cứu trên đã xem xét đầu tư công như một yếu tố đầu vào tách biệt của hàm sản xuất và qua đó có thể đo lường năng suất sản xuất Kết quả nghiên cứu của cả

Trang 17

hai đều chỉ ra bộ phận vốn nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tác động tích cực tới đầu tư tư nhân vì giúp tăng trưởng sản lượng và năng suất của khu vực này khi tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, giảm thiểu chi phí vận chuyển, giao dịch Greene

và Villanueva (1991) ước lượng theo phương pháp Bình phương tối thiểu thông thường (OLS) đối với dữ liệu chéo của 23 quốc gia đang phát triển ở châu Á và châu Âu cho giai đoạn từ 1975 – 1987, Seitz (1992) sử dụng phương pháp mô hình tác động cố định (FE) đánh giá 31 ngành công nghiệp của Tây Đức đều cho kết quả thống nhất rằng đầu tư công

có tác động bổ trợ đến đầu tư tư nhân

Nhóm thứ hai là các nghiên cứu chỉ ra bằng chứng về tác động thay thế, chèn lấn, của đầu

tư công đối với đầu tư tư nhân Wai và Wong (1982) nghiên cứu cho 5 quốc gia đang phát triển, Nazmi và Ramirez (1997) nghiên cứu cho Mexico đã kết luận rằng đầu tư công chèn lấn đầu tư tư nhân Ngoài ra, một trong bốn kết luận quan trọng mà Baxter và G King (1993) đã đưa ra trong nghiên cứu thực hiện cho nước Mỹ giai đoạn 1930 – 1985 theo phương pháp OLS là hoạt động chi tiêu Chính phủ cho đầu tư công dẫn đến cạnh tranh trên thị trường vốn, làm giảm sản lượng biên của vốn tư nhân (năng suất vốn) tác động chèn lấn đến đầu tư khu vực tư nhân

Nhóm thứ ba bao gồm các nghiên cứu chỉ ra được đồng thời cả tác động chèn lấn và khuyến khích của đầu tư công đến đầu tư tư nhân Nghiên cứu của Blejer và Khan (1984)

sử dụng dữ liệu chéo của 24 quốc gia đang phát triển và Oshikoya (1994) sử dụng dữ liệu chéo của các nước châu Phi cũng đưa ra bằng chứng chứng tỏ đầu tư công vào cơ sở hạ tầng có tác động tích cực đến đầu tư tư nhân Ngược lại, đầu tư vào các lĩnh vực phi cơ sở

hạ tầng (các bộ phận không kỳ vọng) đã có tác động tiêu cực tới đầu tư của khu vực tư nhân Serven (1996), Bahal và Raissi (2015) cùng thực hiện nghiên cứu về tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân của Ấn Độ bằng phương pháp VECMs đã đưa ra những kết luận thú vị Nghiên cứu của Serven (1996) cho giai đoạn 1960 – 1993 phân tách đầu tư công thành hai bộ phận gồm: vốn của các dự án cơ sở hạ tầng và vốn liên quan tới hoạt động thương mại, sản xuất công nghiệp Kết quả mô hình chỉ ra: trong ngắn hạn, cả hai bộ phận vốn trên đều gây ra tác động chèn lấn đối với đầu tư tư nhân Tuy nhiên, trong dài hạn nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng sẽ tác động bổ trợ, khuyến khích đầu tư tư nhân

Ngược lại nguồn vốn đầu tư công cho lĩnh vực thương mại và sản xuất công nghiệp tác động chèn lấn đầu tư tư nhân

Trang 18

Khác với những kết luận của Serve (1996), nghiên cứu của Bahal và Raissi (2015) lại chỉ

ra tác động khác biệt của đầu tư công đến đầu tư tư nhân tại Ấn Độ theo từng giai đoạn khác nhau của nền kinh tế Trong toàn bộ thời gian nghiên cứu từ 1950 – 2012, kết quả chỉ

ra tác động chèn lấn của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân Nhưng khi tách riêng số liệu giai đoạn sau cải cách của Chính phủ từ 1980 – 2012 và số liệu quý từ 1996 -2015, tác động khuyến khích của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân lại được tìm thấy

Ngoài ra, nghiên cứu của Erden và Holcombe (2005) thực hiện cho 2 nhóm, gồm: 19 quốc gia đang phát triển và 12 quốc gia phát triển trong giai đoạn 1980 -1997 sử dụng dữ liệu bảng theo các phương pháp khác nhau đã đưa ra những kết luận khác biệt Tác động bổ trợ của đầu tư công đến đầu tư tư nhân được tìm thấy ở nhóm 19 quốc gia đang phát triển và trung bình cứ 10% tăng lên trong đầu tư công sẽ làm tăng khoảng 2% đầu tư của khu vực

tư nhân Ngược lại, ở nhóm 12 nền kinh tế phát triển lại cho thấy mối quan hệ ngược chiều, chèn lấn khi trung bình 10% tăng lên trong đầu tư công đã làm giảm 0,7% đầu tư của khu vực tư nhân

Như vậy các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra đầu tư công có ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân trong cả nền kinh tế đang phát triển và phát triển Tác động trên có thể là bổ trợ, chèn lấn hoặc cả hai tuỳ thuộc vào mỗi quốc gia, giai đoạn thực hiện và bộ phận đầu tư công được lựa chọn trong mỗi nghiên cứu

Một số nhân tố quan trọng khác tác động đến đầu tư tư nhân xét trên góc độ vĩ mô ngoài đầu tư công còn phải kể đến như tỉ lệ lạm phát, tỉ giá thực, lãi suất… các nhân tố hình thành nên môi trường vĩ mô cho hoạt động đầu tư Vì đầu tư là hành vi của ngày hôm nay

và sẽ thu được kết quả trong tương lai, bản chất của nó là những quyết định không thể thay đổi được Nghiên cứu của Hartman (1972) và Abel (1983) đã chỉ ra rằng sự biến động vĩ

mô tăng lên sẽ làm tăng giá trị kỳ vọng của lợi nhuận sản phẩm biên của vốn, từ đó làm tăng đầu tư Điều này cơ bản dựa trên giả thuyết rằng nhà đầu tư có thể ngay lập tức và không mất chi phí trong việc điều chỉnh lao động và vốn trở thành nhân tố duy nhất cố định Điều quan trọng được nhấn mạnh từ các quan điểm kinh tế nghiên cứu thực nghiệm

là sự biến động của điều kiện vĩ mô có thể tác động một cách ý nghĩa đến động cơ và thái

độ đầu tư trong cả dài hạn và ngắn hạn của nhà đầu tư Vì vậy nghiên cứu sẽ xét đến yếu tố này khi đánh giá tác động của đầu tư khu vực công lên đầu tư khu vực tư nhân

Trang 19

Bên cạnh đó, mức độ sẵn có của tín dụng cũng được các nghiên cứu thực nghiệm đánh giá

là một nhân tố quan trọng tác động tới hoạt động đầu tư tư nhân đặc biệt trong các quốc gia đang phát triển vì thị trường tài chính còn phụ thuộc nhiều vào hệ thống ngân hàng (Blejer

và Khan 1984; Ramirez 1994) Ở những quốc gia này, các ràng buộc tín dụng có thể có liên quan và ảnh hưởng nhiều hơn đến hoạt động đầu tư so với tỉ lệ lãi suất vì nếu tín dụng

bị hạn chế một cách rõ ràng hoặc sự sẵn có của tín dụng bị giới hạn trong một số cách thức nhất định do những đặc điểm về thể chế và mức độ tự do hoá nền kinh tế chưa cao, lãi suất

sẽ không đủ tốt để phản ánh cung cầu thị trường vốn Tuy nhiên, bằng chứng về sự nhạy cảm của đầu tư với chi phí vốn vẫn được tìm thấy ở rất nhiều các nghiên cứu khác nhau nhất là sau giai đoạn tái cấu trúc ở các quốc gia đang phát triển vào khoảng những năm

1970, vì thông thường các cải cách sẽ dẫn tới tăng lãi suất thực do nhu cầu tăng vốn cho đầu tư (Greene và Villanueva 1991) Như vậy, theo cả lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm, chi phí vốn đầu tư và sự sẵn có của tín dụng đều ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân vì vậy việc sử dụng hai yếu tố này trong các mô hình nghiên cứu về đầu tư là cần thiết

2.3.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về chi tiêu Chính phủ, đầu tư công và đánh giá tác động của nó tới tăng trưởng kinh tế hoặc cán cân ngân sách, nợ công… Tuy nhiên đánh giá mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân còn khá ít Tài liệu tác giả tìm kiếm được về vấn đề này có nghiên cứu của TS Tô Trung Thành thuộc Viện Nghiên cứu Kinh

tế và Chính sách (VEPR) thực hiện năm 2010 cho Việt Nam giai đoạn 1986 – 2010 Kết quả nghiên cứu chỉ ra đầu tư công đã “lấn át” đầu tư tư nhân tại Việt Nam Kết luận mà nghiên cứu đưa ra khi sử dụng số liệu thường niên và mô hình VECM là cứ 1% tăng lên của vốn đầu tư công, sau một thập kỷ sẽ khiến đầu tư tư nhân bị thu hẹp 0,48% Mô hình nghiên cứu dựa trên ước lượng hàm tăng trưởng và sử dụng hai yếu tố đầu tư công và đầu

tư tư nhân là những biến độc lập duy nhất Tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân được phân tích thông qua các hàm phản ứng đẩy

Trang 20

CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ, ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA

VIỆT NAM 3.1 Toàn cảnh bức tranh kinh tế và các chỉ số vĩ mô của Việt Nam

Trong hai thập kỷ trở lại đây, tốc độ tăng trưởng GDP luôn biến động, thời điểm GDP cao nhất lên tới 9,3% năm 1996 và thấp nhất chỉ đạt 4,8% năm 1999 (Hình 3.1) Xét giai đoạn

10 năm gần đây, GDP biến động theo xu hướng giảm chiều, tốc độ tăng trưởng liên tục biến động sau giai đoạn 2003-2006 Mặc dù có dấu hiệu phục hồi từ năm 2012, đến nay tốc độ tăng trưởng GDP mới đạt 6,68% (2015) vẫn thấp hơn mức tăng trưởng một số giai đoạn trước đây Tuy nhiên, nhìn một cách tích cực trong bối cảnh tác động của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu còn khá nặng nề, các nền kinh tế lớn đều đang gặp khó khăn trong quá trình phục hồi, mức tăng trưởng hiện nay của Việt Nam khá lạc quan, mặc dù vẫn được cho là thấp hơn mức tiềm năng của nền kinh tế

Hình 3.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1996 – 2015 (Đơn vị: %)

(Nguồn: Ngân hàng thế giới (WB) và Tổng cục Thống kê (GSO))

Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác trong những năm gần đây (Bảng 3.1) cho thấy trong giai đoạn phục hồi, nền kinh tế Việt Nam đã có những thuận lợi và cả những khó khăn thách thức Chỉ số giá tiêu dùng liên tục giảm qua các năm từ 2012 ở mức 9,1% xuống còn 4,1%

năm 2014 và giảm mạnh xuống chỉ còn 0,63% năm 2015 Xu hướng ổn định giá cả đồng tiền sẽ giúp cho việc thực thi các chính sách tiền tệ trở nên dễ dàng và nền kinh tế giữ được mức bình ổn, NHNN không phải lo đối phó với lạm phát Tuy nhiên chỉ số giá cả liên tục giảm như trên cũng mang lại những lo lắng về vấn đề giảm phát, nền kinh tế sẽ khó khăn trong việc theo đuổi mức tăng trưởng kỳ vọng Bên cạnh đó tình trạng thâm hụt ngân sách

0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

(năm) GDPgrowth

Trang 21

kéo dài và nợ công ngày càng cao đang trở thành vấn đề vĩ mô nghiêm trọng nhất từ trước tới nay

Bảng 3.1 Một số chỉ số kinh tế vĩ mô ngắn hạn của Việt Nam (Đơn vị: %)

Chỉ tiêu 2012 2013 2014 2015

Cán cân thanh toán vãng lai(%/GDP) -6,0 -5,6 -4,8 -1,65

Nợ công (%/GDP, theo tính toán của BTC) 50,8 54,2 59,6 61,3

(Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo kinh tế vĩ mô Phòng NC&PT NHTW 2015, Bộ Tài chính, GSO)

Số liệu về thâm hụt ngân sách năm 2015 chưa được Chính phủ công bố chính thức, nhưng theo ước tính của VEPR, mức thâm hụt có thể lên đến 7% so với GDP Mặc dù năm 2015, nền kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi khi tổng thu ngân sách ước đạt 884.800 tỷ đồng, trong

đó nguồn thu nội địa ước đạt 657.000 tỷ đồng, chiếm 74% tổng thu Tuy nhiên kế hoạch dự thu ngân sách khu vực nội địa tăng hơn 20% năm 2016 của Chính phủ trong bối cảnh giá dầu thế giới liên tục sụt giảm, nguồn thu từ các khoản thuế ngoại thương dần bị thu hẹp khi

lộ trình cắt giảm thuế theo các hiệp định thương mại được thực thi sẽ phần nào gây áp lực thuế khoá cho doanh nghiệp và nền kinh tế Bên cạnh đó các khoản chi ngân sách không có dấu hiệu thuyên giảm vì phải chi thường xuyên quá lớn (gần 80% tổng chi ngân sách) cộng với gánh nặng trả nợ hàng năm Năm 2015 số liệu chi ngân sách ước thực hiện lên tới 879.000 tỉ đồng vượt 15% so với dự toán, chi đầu tư phát triển ước thực hiện 203.000 tỷ đồng, cũng vượt 4,2% so với dự toán cho thấy chúng ta không chỉ gặp vấn đề trong cân đối thu chi mà còn đang buông lỏng với kỷ luật ngân sách25

Thâm hụt ngân sách và nợ công tăng cao, Bộ Tài chính liên tục phát hành trái phiếu để bù đắp thâm hụt và đảo nợ vay cho Chính phủ (Bảng 3.2) Cách thức này tác động trực tiếp đến giá cả trên thị trường vốn vì gây sức ép tăng cầu tiền, đẩy lãi suất tăng, khu vực tư nhân phải chịu chi phí vốn vay cao hơn Ngoài ra, khi hệ thống ngân hàng được yêu cầu

25 Đỗ Thiên Anh Tuấn (2016), “Bức tranh ngân sách”, đăng trên thesaigontimes.vn

Trang 22

mua trái phiếu Chính phủ theo các Thông tư của Ngân hàng Nhà nước (NHNN)26, nguồn lực cho hoạt động tín dụng bị thu hẹp, cơ hội tiếp cận vốn của khu vực tư nhân càng trở nên khó khăn hơn Rõ ràng, khu vực tư nhân đang bị cạnh tranh về vốn một cách không công bằng bởi chính khu vực Nhà nước

Bảng 3.2 Giá trị phát hành và tỷ lệ sở hữu trái phiếu Chính phủ (Đơn vị: tỷ đồng, %)

Sở hữu Trái phiếu Chính Phủ Năm 2014

(%)

Năm 2015 (%)

Năm 2014 (tỷ đồng)

Năm 2015 (tỷ đồng)

(Nguồn: Tác giả tập hợp từ số liệu Bộ Tài chính, mof.gov.vn)

Theo báo cáo năm 2015 của NHNN27, tốc độ tăng trưởng tín dụng trong năm 2015 ước đạt 18% và có xu hướng biến chuyển theo chiều hướng tích cực khi tín dụng dài hạn tăng khoảng 30%, ngắn hạn tăng khoảng 7% Tăng trưởng tín dụng hướng tới khu vực sản xuất, đặc biệt là các ngành công nghiệp ưu tiên phát triển và công nghệ cao (có tốc độ tăng trưởng tín dụng lần lượt 10%, 50%) Khi nhìn bao quát số liệu về tỉ lệ tín dụng so với GDP nền kinh tế trong 5 năm qua (Hình 3.2), có thể thấy tỉ lệ này nhích lên không đáng kể và có

xu hướng ít biến động hơn trong 3 năm trở lại đây

Trên thị trường lãi suất, kể từ thời điểm NHNN quy định mức trần lãi suất huy động 14%

(2011) đến nay, NHNN cũng đã thực hiện 9 lần điều chỉnh giảm trần lãi suất Đến tháng 10/2014, lãi suất huy động chỉ còn 5,5% và sang năm 2015 tỉ lệ này cũng có xu hướng giảm nhẹ Lãi suất cho vay vì vậy cũng duy trì phổ biến ở mức 6% – 9%/năm cho kỳ hạn

26 Thông tư 36/2014, TT 24/2015, TT 06/2016, TT 07/2016 của NHNN

27 Báo cáo kinh tế vĩ mô 2015 do Phòng Nghiên cứu và Phát triển NHTW và Nhóm nghiên cứu vĩ mô thuộc Viện Chiến lược Ngân hàng, NHNN thực hiện định kỳ hàng tháng đăng trên khoahocnganhang.org.vn

Trang 23

ngắn và 9% -11% cho trung và dài hạn Các chương trình cho vay ưu đãi, cho vay theo chỉ định của Chính phủ thậm chí còn có lãi suất thấp hơn, chỉ ở mức 5% – 6%/năm Tuy nhiên, mục tiêu kiểm soát lạm phát cùng với chính sách áp đặt mức lãi suất danh nghĩa thấp trong điều kiện nền kinh tế như hiện nay đã đẩy lãi suất thực tăng nhanh trong năm

2015 Lãi suất thực tăng, đầu tư nền kinh tế sẽ khó có khả năng tăng trưởng

Hình 3.2 Biến động của tỉ lệ tín dụng/GDP và lãi suất cho vay theo quý (Đơn vị: %)

(Nguồn: IMF)

Những biểu hiện trên đây cho thấy dường như Nhà nước vẫn giữ thói quen trong việc sử dụng các biện pháp áp chế tài chính để can thiệp vào thị trường Thị trường lãi suất, hệ thống ngân hàng hiện nay có thể ổn định hơn nhưng cũng đã kém linh hoạt hơn rất nhiều vì

cơ chế cứng nhắc và những động thái can thiệp sâu của nhà nước

Đối lập với sự chủ động trên thị trường tiền tệ, năm 2015 thị trường ngoại hối trở nên bị động và chịu chi phối bởi những thay đổi chính sách từ bên ngoài Động thái điều chỉnh lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ và quyết định thay đổi chính sách tiền tệ của Trung Quốc đã đẩy tỉ giá trên cả thị trường chính thức và tự do tăng cao Sau những đợt điều chỉnh nới lỏng biên độ tỉ giá, cuối năm 2015, NHNN đã ban hành quyết định số 2730/QĐ-NHNN công bố điều chỉnh tỉ giá trung tâm VNĐ/USD và tỉ giá chéo đối với một số ngoại

tệ khác căn cứ trên cơ sở tham chiếu diễn biến tỉ giá bình quân gia quyền trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, diễn biến tỉ giá trên thị trường quốc tế của một số đồng tiền có ý nghĩa đối với Việt Nam nhằm đưa ra mức tỉ giá sát với những biến động thị trường và giữ

ổn định giá trị Việt Nam đồng

-5 0 5 10 15 20 25 30

35 tỉ lệ tín dụng lãi suất cho vay lãi suất cho vay thực

Trang 24

Cán cân thương mại thâm hụt, Việt Nam thường xuyên rơi vào tình trạng nhập siêu Nguồn ngoại tệ trong nước chủ yếu đến từ việc bán tài nguyên khoáng sản, xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI và lượng kiều hối từ nước ngoài mà chưa thực sự đến từ khu vực sản xuất trong nước Bên cạnh đó, việc ưu tiên cho các DNNN sử dụng ngoại tệ để nhập khẩu cũng là vấn đề bất cập đối với khu vực doanh nghiệp tư nhân của nền kinh tế Mặc dù số liệu xuất nhập khẩu của khu vực DNNN chưa được phân tách cụ thể, nhưng nhu cầu nhập khẩu lớn đối với công nghệ, máy móc, thậm chí cả nhân lực của các dự án công lớn như dự

án đóng tàu của Vinashin, nhà máy lọc dầu Dung Quất, dự án xây dựng các tuyến metro tại

Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (T.P HCM)… cũng phần nào cho thấy tỉ trọng nhập khẩu và nhu cầu tiêu dùng ngoại tệ của các DNNN không hề nhỏ Trong khi đó, ước tính đóng góp của khu vực DNNN cho xuất khẩu chỉ chiếm 15 – 20% tổng kim ngạch xuất khẩu sau khi tách riêng những khoản mục xuất khẩu tài nguyên như than và dầu thô29 Những hạn chế và bất cập về cung cầu ngoại tệ như trên sẽ gây khó khăn cho vấn đề thanh khoản, dự trữ và quản lý thị trường ngoại hối của NHNN, ảnh hưởng tới năng lực điều hành và tính khả thi của các chính sách tiền tệ và tỉ giá

3.2 Đánh giá hoạt động đầu tư tại Việt Nam 3.2.1 Quy mô, cơ cấu và ý nghĩa của nguồn vốn đầu tư

Theo số liệu báo cáo của Viện Năng suất Việt Nam năm 201430, trong ba yếu tố tác động tới tăng trưởng GDP giai đoạn 2006 đến 2014, vốn là yếu tố có đóng góp và tốc độ tăng trưởng lớn nhất31 Mức tăng trưởng bình quân của vốn là 11,67% giai đoạn 2006 - 2010 và 7,52% giai đoạn 2010 - 2014 Trong khi đó mức tăng trưởng của hai yếu tố còn lại là lao động và công nghệ lần lượt chỉ là 2,78% và – 0,27% giai đoạn 2006 – 2010; 1,97% và 1,44% giai đoạn 2010 - 2014 Vốn đã trở thành yếu tố quyết định cho tốc độ tăng trưởng của Việt Nam trong suốt quá trình phát triển kinh tế, điều này cũng giúp lý giải sự tương đồng trong xu hướng biến động tăng, giảm chiều của cơ cấu vốn đầu tư trên GDP và tốc độ tăng trưởng GDP (Hình 3.3)

29 Vũ Thành Tự Anh (2010), “DNNN không đủ điều kiện đóng vai trò chủ đạo” đăng trên thesaigontimes.vn

30 Báo cáo năng suất Việt Nam 2014 đăng trên vnpi.vn

31 Vốn đóng góp vào tăng trưởng 80% giai đoạn 2006 – 2010 và 55,3% giai đoạn 2011 – 2013 ( Theo báo cáo năng suất Việt Nam 2014)

Trang 25

Hình 3.3 Cơ cấu vốn đầu tư trên GDP giai đoạn 2010 – 2015 (Đơn vị: %)

(Nguồn: GSO)

Tổng đầu tư trong nền kinh tế được hình thành từ 3 khu vực kinh tế là khu vực nhà nước, khu vực nước ngoài và khu vực ngoài nhà nước Xét trong giai đoạn từ 2010 – 2014, bộ phận đầu tư chủ yếu vẫn là khu vực nhà nước với khoảng 38% đến 40% tổng nguồn vốn đầu tư Bộ phận kinh tế ngoài nhà nước bao gồm khu vực tư nhân và hộ gia đình đóng góp

từ 36% - 38% tổng số và vốn từ khu vực đầu tư nước ngoài bao gồm: vốn đầu tư trực tiếp (FDI), hỗ trợ từ chính phủ các quốc gia (ODA) chiếm khoảng 20% - 26% còn lại (Bảng 3.3)

Bảng 3.3 Cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội phân theo thành phần kinh tế (Đơn vị:

0 5 10 15 20 25 30 35 40 45

Đầu tư/GDP Tăng trưởng GDP

Trang 26

Tuy nhiên, số liệu cơ cấu chỉ cho thấy biến động về tỉ trọng của 3 thành phần kinh tế trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội mà không phản ánh được xu hướng thay đổi trong từng bộ phận vốn Hình 3.4 cho thấy số liệu tuyệt đối về mức đầu tư của cả 3 thành phần kinh tế từ

về việc cắt giảm chi tiêu, đầu tư công ở những lĩnh vực kém hiệu quả, yêu cầu cổ phần hóa

ở một số tập đoàn, DNNN, khu vực chiếm dụng phần lớn vốn trong chi ngân sách đầu tư

Tuy nhiên số liệu chi tiết thực tế cho thấy công cuộc tái cơ cấu mặc dù đã có chủ trương từ khá sớm, sau 5 năm mọi thứ vẫn không có nhiều thay đổi Năm 2014 tỉ lệ đầu tư công vẫn chiếm đến 40% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tỉ lệ gần như không giảm so với năm 2012,

2013 Về mặt số liệu tuyệt đối, đầu tư công vẫn tiếp tục tăng và luôn cao hơn mức đầu tư của hai khu vực kinh tế còn lại ngay cả trong giai đoạn thực hiện tái cơ cấu 2012 – 2015

Theo số liệu công bố của GSO, tại thời điểm tháng 12 năm 2012 cả nước có khoảng 341.600 doanh nghiệp hoạt động Hai năm sau, tháng 12 năm 2014 con số này tăng lên tới

0 100 200 300 400 500 600

1995 1997 1999 2001 2003 2005 2007 2009 2011 2013 2015

(Năm)

Đầu tư tư nhân Đầu tư công nước ngoài

Trang 27

hơn 400.000 doanh nghiệp Khu vực nhà nước giảm từ 3.308 doanh nghiệp (năm 2012) xuống còn 3.100 doanh nghiệp (năm 2014) Khu vực FDI tăng từ 9.460 lên 11.300 doanh nghiệp, khu vực tư nhân cũng tăng từ khoảng 328.800 doanh nghiệp năm 2012 lên gần 387.000 doanh nghiệp vào năm 2014 Mặc dù số lượng doanh nghiệp tư nhân tăng hơn 15% nhưng đa phần đều là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, nguồn vốn đầu tư của khu vực này qua 2 năm vẫn chỉ chiếm 38% trong tổng vốn nền kinh tế Khu vực DNNN tuy giảm 6% về số lượng doanh nghiệp, tỉ trọng nguồn vốn đầu tư của khu vực này hầu như không giảm và số lượng nguồn vốn tuyệt đối thậm chí còn tăng lên

Báo cáo thường niên Doanh nghiệp Việt Nam 2014 của VCCI phân loại quy mô các doanh nghiệp theo thành phần kinh tế cũng chỉ ra các DNNN là khu vực có quy mô vốn lớn nhất với mô hình các tập đoàn, tổng công ty Quy mô vốn của khu vực này đã tăng bình quân khoảng 2,5 lần trong giai đoạn 2007 – 2014 từ 616 tỷ đồng lên tới 1.568 tỷ đồng Tiếp sau

đó là các doanh nghiệp FDI, mặc dù có tốc độ tăng trưởng vốn bình quân cao nhất (2,8 lần) nhưng quy mô vốn bình quân vẫn đứng sau khu vực nhà nước Mức vốn bình quân của khu vực này năm 2007 là 172 tỷ đồng, đến năm 2014 là 478 tỷ đồng Khu vực kinh tế tư nhân

có số lượng doanh nghiệp lớn nhất trong nền kinh tế, luôn chiếm trên 80% tổng số doanh nghiệp nhưng lại là khu vực có quy mô vốn bình quân nhỏ nhất Mặc dù tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 2,4 lần giai đoạn 2007 đến 2014, nhưng quy mô vốn bình quân của khu vực này chỉ dịch chuyển từ 13 tỷ đồng lên tới 30 tỷ đồng, rất thấp so với mức vốn bình quân của hai khu vực kinh tế còn lại (Hình 3.5)

Hình 3.5 Quy mô vốn bình quân trong các doanh nghiệp theo hình thức sở hữu giai đoạn

2007 – 2015 (Đơn vị: tỷ đồng)

(Nguồn: Hình 2.11, Trang 28 – Báo cáo doanh nghiệp thường niên 2015, VCCI)

Trang 28

Thống kê số lượng doanh nghiệp giải thể cuối năm 2013 đã cho thấy đa phần các doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ dễ bị tổn thương hơn, không có khả năng chống đỡ trong những điều kiện kinh tế khó khăn và phải ngừng hoạt động, giải thể Số lượng doanh nghiệp này hầu hết nằm trong khu vực kinh tế tư nhân (Bảng 3.4)

Bảng 3.4 Số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động hoặc giải thể theo quy mô vốn

Quy mô vốn đăng ký Số lượng DN Tỷ trọng (%) Tỷ trọng so với tổng số

(Nguồn: Báo cáo thường niên Doanh nghiệp Việt Nam 2014, VCCI)

Xem xét số liệu về tỉ lệ doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ giai đoạn 2007 – 2013 theo thành phần kinh tế cũng đưa đến một kết luận tương tự (Hình 3.6) Khu vực kinh tế tư nhân mặc

dù chiếm tỷ trọng lớn về số lượng nhưng nguồn lực về vốn còn quá nhỏ so với nhu cầu thực tế Có thể thấy từ giai đoạn 2010 – 2013, tỉ lệ doanh nghiệp thua lỗ của khu vực tư nhân biến động mạnh qua các năm Từ 24,4% năm 2010 tăng lên 42,9% năm 2011, lại giảm xuống còn 21,1% năm 2012 và tăng lên tới 44,8% năm 2013 Nghiên cứu thêm những số liệu liên quan khác về tình hình hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn trên như số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh mới, thời gian hoạt động đã phần nào cho phép lý giải sự biến động bất thường trên xuất phát từ sự non yếu của các doanh nghiệp tư nhân trong nước, với thời gian hình thành và phát triển ngắn, nguồn lực hạn chế, môi trường kinh doanh còn nhiều bất cập về chính sách, khu vực kinh tế tư nhân đã trở thành

bộ phận chịu tác động nặng nề nhất của khủng hoảng kinh tế

Trang 29

Hình 3.6 Tỉ lệ doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ giai đoạn 2007 – 2013 (Đơn vị: %)

(Nguồn: Báo cáo thường niên Doanh nghiệp 2014, VCCI)

Khu vực DNNN có quy mô vốn lớn, thường được hưởng các ưu tiên, ưu đãi, tỉ lệ kinh doanh thua lỗ cũng có xu hướng tăng lên, ngay cả trong giai đoạn tái cơ cấu khi một phần DNNN đã được thực hiện cổ phần hoá

Nghiên cứu không bàn tới số liệu của các doanh nghiệp FDI do những đặc thù riêng về hoạt động kinh doanh và đầu tư của khu vực này không thuộc nguồn vốn trong nước

3.2.2 Thực trạng nguồn lực vốn, phân bổ và hiệu quả của đầu tư công

Đặc điểm của quá trình phát triển kinh tế Việt Nam từ những năm đầu xây dựng nền kinh

tế kế hoạch hoá tập trung cho đến gần đây khi phát triển theo định hướng kinh tế thị trường vẫn luôn lấy khu vực kinh tế nhà nước là chủ đạo

Ngoài các mục cơ bản như đầu tư cơ sở hạ tầng, giáo dục và y tế, một tỉ lệ lớn đầu tư công của Việt Nam nằm trong các DNNN và các dự án hoạt động ở những lĩnh vực khác nhau như sản xuất công nghiệp, tài chính, bất động sản, thậm chí còn có trong các ngành dịch

vụ, tư vấn Theo Luật Đầu tư công 2014 của Việt Nam, phạm vi đầu tư công bao gồm “các hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh

tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội” Định nghĩa khá chung và rộng cho hoạt động đầu tư công của nhà nước, hầu như không có lĩnh vực nào bị cấm hoặc hạn chế

Sử dụng nguồn vốn từ ngân sách cấp nhưng hoạt động đầu tư công đã không đơn thuần thực hiện các mục tiêu chính sách Chi tiết số liệu về các lĩnh vực hoạt động đầu tư của khu vực nhà nước theo GSO cho thấy phần lớn nguồn lực đang được sử dụng cho hoạt động

Trang 30

kinh tế trong đó chủ yếu là: kinh doanh bất động sản, tài chính và ngân hàng, công nghiệp khoáng sản… những lĩnh vực cạnh tranh trực tiếp với khu vực đầu tư tư nhân (Bảng 3.5)

Bảng 3.5 Cơ cấu đầu tư Nhà nước theo mục đích sử dụng (Đơn vị: %)

Năm 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014

Kinh tế 74.8% 74.6% 72.8% 74.9% 74.7% 73.8% 73.8% 73.5% 69.0%

Xã hội 18.2% 18.0% 19.3% 17.1% 18.0% 18.8% 18.7% 18.9% 19.0%

(Nguồn: Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Quang Thái, “Đầu tư công: thực trạng và tái cơ cấu”,

2011 + tác giả tự tính toán dựa trên số liệu GSO)

Cũng theo quy định của Luật này, vốn đầu tư công có thể được sử dụng từ rất nhiều nguồn khác nhau Số liệu thực tế chỉ ra nguồn vốn cho đầu tư công của Việt Nam nhất là trong giai đoạn từ 2009 đến nay đều đến chủ yếu đến từ vốn ngân sách và vốn vay (vốn hỗ trợ lãi suất thấp của các nước phát triển và hệ thống ngân hàng), vốn của các DNNN đang chiếm

tỉ trọng ngày càng thấp trong tổng nguồn vốn (Hình 3.7) Có thể thấy, cơ cấu vốn đầu tư như trên sẽ trở thành gánh nặng cho ngân sách và nền kinh tế nếu hoạt động đầu tư công không đạt hiệu quả như kỳ vọng Đồng thời vốn vay từ hệ thống ngân hàng được dành ngày càng nhiều cho khu vực Nhà nước cũng gây tác động chèn lấn về nguồn lực vốn đối với khu vực tư nhân

Hình 3.7 Cơ cấu vốn đầu tư khu vực Nhà nước phân theo nguồn tài trợ giai đoạn 1996 –

Vốn của DNN Vốn vay Vốn ngân sách Tổng số

Trang 31

Số liệu về hiệu quả đầu tư thống kê cho 2 giai đoạn 2000 – 2005 và 2006 – 2010 (Bảng 3.6) cho thấy hiệu quả đầu tư trong khu vực nhà nước luôn thấp hơn khu vực tư nhân ở cả hai giai đoạn Ở khu vực tư nhân giai đoạn 2000 – 2005 trung bình cần 2,9 đơn vị vốn để đóng góp tạo ra 1 đơn vị sản lượng, còn ở khu vực nhà nước cần tới 6,9 đơn vị vốn Giai đoạn 2006 – 2010 khu vực dân doanh trung bình cần 4 đơn vị vốn đóng góp để tạo ra thêm

1 đơn vị sản lượng, con số này ở khu vực nhà nước là 9,7 đơn vị Như vậy, chi phí hoạt động đầu tư của khu vực nhà nước đã cao hơn gấp đôi khu vực tư nhân trong cả hai giai đoạn Điều này cũng có nghĩa là khi nhà nước đầu tư vào những dự án mà tư nhân có thể thực hiện, nguồn lực vốn sẽ bị lãng phí tới hơn 100%

Bảng 3.6 Hiệu quả đầu tư bình quân theo khu vực kinh tế giai đoạn 2000 - 2010

Giai đoạn Tổng Nhà nước Tư nhân

(Nguồn: Bùi Trinh, 2011)

Qua các phân tích và đánh giá hoạt động động đầu tư của toàn bộ nền kinh tế có thể thấy đầu tư vẫn là một yếu tố quan trọng hàng đầu cho quá trình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, hoạt động đầu tư công đang trở nên xa rời với mục tiêu và trách nhiệm vốn có của nó là giải quyết các thất bại thị trường khi tham gia đầu tư nhiều hơn vào các lĩnh vực không có thất bại thị trường, đồng thời cạnh tranh trực tiếp với khu vực tư nhân về cả nguồn lực vốn, cơ hội và hoạt động đầu tư

Trang 32

CHƯƠNG 4 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG ĐẾN ĐẦU TƯ KHU VỰC

TƯ NHÂN 4.1 Xây dựng mô hình ước lượng

4.1.1 Cơ sở xây dựng mô hình

Trên cơ sở theo lý thuyết gia tốc đầu tư của Keynes và Jorgenson (1967) và nghiên cứu về

mô hình cho đầu tư tư nhân của Blejer và Khan (1984) đã đưa ra giả thuyết hợp lý rằng trong dài hạn trữ lượng vốn đầu tư tư nhân cần thiết là tỉ lệ với mức sản lượng kỳ vọng, nghĩa là:

t’ (4.1) Trong đó K*pt là trữ lượng vốn của khu vực tư nhân cần có trong giai đoạn t Yet là mức độ sản lượng kỳ vọng ở thời điểm t, tương ứng với tổng cầu trong tương lai Để đơn giản hoá, phương trình (4.1) giả định bỏ qua vai trò của yếu tố giá

Mô hình gia tốc đơn giản giả định đầu tư tư nhân ròng của kỳ này sẽ giúp bù đắp hoàn toàn phần chênh lệch giữa trữ lượng vốn đầu tư tư nhân kỳ vọng từ kỳ trước và mức vốn ở hiện tại Tuy nhiên, trên thực tế lượng vốn đầu tư của khu vực tư nhân có thể không ngay lập tức đạt tới mức độ yêu cầu do những ràng buộc về công nghệ và thời gian trong hoạt động sản xuất, nhà đầu tư cần lên kế hoạch, quyết định, xây dựng và sau đó nguồn vốn mới được đưa vào quá trình sản xuất Ngoài những chi phí trực tiếp của đầu tư, các chi phí cho quá trình điều chỉnh cũng được tính đến Vì vậy, trên thực tế chênh lệch giữa trữ lượng vốn đầu

tư tư nhân thực hiện và kỳ vọng không được điều chỉnh hoàn toàn mà sẽ bị triệt tiêu một phần Sử dụng phương pháp điều chỉnh từng phần của Salmon (1982), ta có:

Kp,t – Kp,t-1 = &.(K*p,t – Kp,t-1) với 0 ≤ & ≤ 1 (4.2) Trong đó: & là hệ số điều chỉnh Bởi vì dữ liệu về trữ lượng vốn đầu tư tư nhân không sẵn

có, chúng ta sử dụng số liệu đầu tư tư nhân gộp với:

PIt = (Kp,t – Kp,t-1) + (.Kp,t-1 (4.3) Trong đó: ( là tỉ lệ khấu hao của trữ lượng vốn tư nhân và PIt là đầu tư tư nhân gộp

Gọi φ là hệ số phản ánh sự điều chỉnh trữ lượng vốn giữa 2 kỳ, thoả mãn: φKp,t = Kp,t-1 Thay vào phương trình 4.3 ta được:

PIt = [ 1 – (1-() φ] Kp,t (4.4)

Trang 33

Áp dụng mô hình gia tốc đầu tư và những lập luận ở trên đối với mức đầu tư tư nhân gộp thay vì trữ lượng đầu tư tư nhân, tương tự phương trình 4.2 ta có:

PIt – PIt-1 = & (PI*t – PIt-1) (4.5)

Để gần hơn với nền kinh tế thực, chúng ta giả sử rằng đầu tư công và một số biến phù hợp khác có tác động đến tốc độ điều chỉnh khoảng cách giữa mức đầu tư tư nhân thực tế và mức đầu tư tư nhân kỳ vọng trong ngắn hạn, hệ số & phản ánh tốc độ điều chỉnh có thể được biểu diễn tuyến tính như sau (Blejer và Khan 1984):

& = a0 + [ 1/(PI*t – PIt-1)] (!#.Gt + !$.Xt) (4.6) Trong đó: a0 là hệ số chặn (hệ số tự do), G là đầu tư công và Xt là vector các biến thích hợp khác Một giả thuyết ngầm ẩn ở phương trình (4.6) là những ảnh hưởng của độ trễ các biến đến đầu tư tư nhân cũng được tính đến bởi hệ số điều chỉnh Nếu đầu tư công bổ trợ, khuyến khích đầu tư tư nhân, nó sẽ giúp tăng tốc độ điều chỉnh của đầu tư tư nhân thực tế

so với mức kỳ vọng và ngược lại Thay (4.6) vào (4.5) và rút gọn ta có:

PIt – PIt-1 = a0.(PI*t – PIt-1) + !#.Gt + !$.Xt (4.7) Phương trình (4.4) ở trạng thái dừng hay điểm hội tụ (Steady State) thoả mãn:

PI*t = [ 1 – (1- () φ] K*

p,t (4.8) Thay (4.1) vào (4.8), ta có:

t = [ 1 – (1- ().φ] %Ye

t’ (4.9) Thay (4.9) vào (4.7) và chuyển vế PIt-1 ta có được phương trình tác động dạng rút gọn cho đầu tư tư nhân, bao gồm cả đầu tư công và các biến phù hợp khác như sau:

PIt = %.a0 [ 1 – (1-() φ]Ye

t + !#.Gt + !$.Xt + (1- ao)PIt-1 + ut (4.10) Trong đó: t = 1… , t đại diện cho chiều của chuỗi thời gian, ut là một nhiễu ngẫu nhiên

Trong công thức này, mô hình khá linh hoạt bởi vì nó cho phép đầu tư tư nhân được biểu thị không chỉ làm một hàm của sản lượng thực kỳ vọng mà còn là hàm của các biến thích hợp khác Hệ số của Ye thể hiện ảnh hưởng tác động gia tốc và được kỳ vọng đồng thuận với đầu tư tư nhân Hệ số của G có thể cùng chiều hoặc ngược chiều phụ thuộc vào chiều tác động nào (bổ trợ hay chèn lấn) lớn hơn

Tuy nhiên, trong phương trình (4.10) có một số biến chưa đo lường hoặc không quan sát được Để đại diện cho biến sản lượng kỳ vọng, Ye, trong phương trình (4.10), nhân tố

Trang 34

không quan sát được, các nhà kinh tế thường điều chỉnh theo phương pháp tự hồi quy, từ

đó các giá trị dự báo được thay thế cho biến kỳ vọng Tuy nhiên, phương pháp này thường yêu cầu một bộ dữ liệu chuỗi thời gian lớn Vì vậy nghiên cứu lựa chọn mô hình tự hồi quy bậc 1 để ước lượng biến sản lượng kỳ vọng, khi đó Ye

t được đại diện bởi chính giá trị GDPthực (Blejer và Khan 1984, Erden và G Holcombe 2005)

Tỉ lệ khấu hao cũng không có sẵn số liệu để tính toán Vì vậy theo như nghiên cứu của Blejer và Khan (1984) giá trị khấu hao 5% được sử dụng Kết quả phân tích độ nhạy khi cho tỉ lệ khấu hao biến động ở mức 0 – 5% cho nghiên cứu trên đã chỉ ra rằng các kết quả không có dấu hiệu khác biệt Vì vậy, trong nghiên cứu này để đơn giản hoá, tỉ lệ khấu hao được sử dụng là 0%

Xt bao gồm một số yếu tố khác có tác động tới đầu tư tư nhân theo các cơ sở lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm như: lãi suất, mức độ sẵn có của tín dụng ngân hàng và sự biến động của điều kiện vĩ mô

4.1.2 Phương pháp lựa chọn và cách thức đo lường biến 4.1.2.1 Lựa chọn số liệu đầu tư

Yếu tố “vốn đầu tư” (I) hay đầu tư gộp phản ánh lượng tiền bỏ ra trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm) của các thành phần kinh tế Nguồn vốn này thực tế không phải tất

cả đều đi vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, vì vậy nó không phản ánh chính xác yếu tố vốn đầu tư theo quan điểm của kinh tế vĩ mô và không thống nhất với phương pháp tính toán của quốc tế33 Chỉ số được cho là phù hợp hơn phản ánh bản chất của đầu tư là yếu tố

“Tổng tích lũy tài sản cố định” (K) Chỉ tiêu này cho biết sự thay đổi tăng giảm về tài sản

cố định của khu vực sản xuất Tuy nhiên hạn chế của nó là chưa loại trừ đi yếu tố khấu hao

và những hao mòn vô hình (do lạc hậu công nghệ, máy móc…) của tài sản Ngoài ra, số liệu về tổng tích lũy tài sản hầu như mới chỉ được ước lượng, giá trị tài sản mang tính danh nghĩa trên sổ sách, vì vậy trong trường hợp thị trường biến động hoặc lạm phát gia tăng, số liệu về tài sản tích lũy dễ bị sai lệch Xét tính khả thi của dữ liệu, đặc điểm mô hình nghiên cứu và mục tiêu đưa ra chính sách cho hoạt động đầu tư sau này, nghiên cứu sử dụng số liệu đầu tư gộp ở hai khu vực công và tư theo số liệu thống kê quý của GSO

Đầu tư công xét về mặt bản chất hướng đến việc xây dựng các chương trình, dự án nhằm phục vụ phát triển kinh tế xã hội quốc gia từ nguồn vốn nhà nước, không nhằm mục đích

33 Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Quang Thái “ Đầu tư công: Thực trạng và Tái cơ cấu”, (2011)

Trang 35

kinh doanh Luật đầu tư công của Việt Nam quy định đối tượng áp dụng luật là tất cả những cơ quan, tổ chức, các nhân tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động đầu tư công, quản lý và sử dụng vốn đầu tư công Theo đó, đầu tư cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tập đoàn thuộc sở hữu nhà nước nếu xét về khía cạnh mục đích sử dụng sẽ không được tính vào hoạt động đầu tư công Tuy nhiên, trên thực tế bộ phận này vẫn thuộc

sở hữu nhà nước và đang hoạt động bởi nguồn đầu tư của ngân sách quốc gia Nghiên cứu chưa đủ khả năng tách bạch số liệu vì vậy sẽ vẫn sử dụng cách tính toán đầu tư công dựa trên nguồn gốc nhà nước của nó theo số liệu tổng hợp trong báo cáo tình hình kinh tế xã hội của GSO qua các quý

Theo phân loại của GSO, các doanh nghiệp ở Việt Nam được phân chia theo 5 nhóm theo hình thức sở hữu để thu thập thông tin, bao gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế

cá thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Trong các báo cáo thống kê 3 loại hình kinh tế tập thể, kinh tế cả thể và kinh tế tư nhân thường được gộp chung lại thành khu vực kinh tế ngoài nhà nước Như vậy, kết hợp giữa khái niệm hẹp và cách phân loại của thống kê Việt Nam, đầu tư tư nhân sẽ bao gồm toàn bộ nguồn lực đầu tư của nền kinh

tế loại trừ khu vực nhà nước và nước ngoài và được xác định bằng số liệu về đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước theo GSO

Tóm lại, biến đầu tư tư nhân và đầu tư công lần lượt được đại diện bởi giá trị đầu tư gộp của khu vực kinh tế ngoài nhà nước và khu vực kinh tế nhà nước theo số liệu quý của GSO

và được điều chỉnh về giá trị thực bằng cách loại trừ yếu tố lạm phát

4.1.2.2 Đo lường yếu tố biến động vĩ mô

Serven (1998) đã phân biệt giữa độ biến thiên của mẫu và sự biến động của điều kiện vĩ

mô và từ đó xây dựng cách thức đo lường sự biến động của những thay đổi vĩ mô thông qua 5 biến số quan trọng, bao gồm: lạm phát, tăng trưởng GDP, tỉ giá thương mại, tỉ giá hối đoái thực và giá của vốn Ngoài ra, Serven (1998) đã thêm vào phương pháp đo lường trên một phương trình đầu tư thực nghiệm, cho phép đánh giá tác động tổng hợp của các yếu tố biến động vĩ mô đến đầu tư tư nhân Kết quả nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa đầu tư và sự bất ổn vĩ mô

Theo như sự dẫn dắt của các nghiên cứu bởi Price (1996), Serven (1998) và Dehn (2000),

mô hình GARCH (1,1) được sử dụng để đo lường sự biến động vĩ mô trong nghiên cứu thông qua ước lượng 2 phương trình:

Ngày đăng: 24/11/2022, 14:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm