TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI BÌNH KHOA KẾ TOÁN KIỂM TOÁN TIỂU LUẬN MÔN ĐỀ BÀI CHÍNH SÁCH THUẾ NĂM 2019 2021 Nhóm 4 1 Bùi Thị Huyền 2 Phan Thị Hà Châu 3 Bùi Trung Hiếu MỤC LỤC MỞ ĐẦU 3 1 Lý do lựa chọn đề tài 3.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI BÌNH KHOA: KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN
TIỂU LUẬN MÔN :
ĐỀ BÀI : CHÍNH SÁCH THUẾ NĂM 2019 - 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do lựa chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
NỘI DUNG 4
I Khái quát chung về chính sách thuế 4
1.1 Quan niệm về chính sách thuế 4
1.2 Nội dung chủ yếu của chính sách thuế 6
1.3 Các yếu tố chi phối tới chính sách thuế 7
1.4 Phân loại thuế 8
II Thực trạng hoạt động thực hiện chính sách thuế ở Việt Nam giai đoạn 2019- 2021 10
2.1 Thực trạng 10
2.2 Vấn đề đặt ra 16
III Giải pháp cải cách công tác quản lý thuế trong giai đoạn mới 17
KẾT LUẬN 20
DANH MỤC THAM KHẢO 21
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Nhà nước và thuế là hai phạm trù luôn gắn liền với nhau Sử dụng thuế làm công
cụ quản lý, điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế là một sự cần thiết khách đối quan với mọi nhà nước Nhưng mức độ và nội dung sử dụng công cụ thuế để quản lý, điều tiết kinh tế ở các nước thì không hoàn toàn giống nhau mà tùy thuộc vào từng nhà nước nhất định, với tình hình kinh tế - xã hội nhất định và định hướng phát triển kinh tế cụ thể trong từng thời kỳ của lịch sử
Trong bối cảnh tình hình hiện nay, khi mà sự hợp tác kinh tế giữa các nước đang
mở rộng theo xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa, thì việc sử dụng công cụ thuế đểquản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế không thể tiếp tục thực hiện theo những nội dung mang tính truyền thống trước đây nữa, mà nó cần có những sửa đổi, bổ phù hợp
Chính vì vậy thuế là vấn đề quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia, bất kể gia phát triển hay đang phát triển Ở nước ta, thuế và hệ thống thuế đã và đang không chỉ là mối quan tâm của các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô của các nhà nghiên cứu mà còn của cả các doanh nghiệp và đông đảo quần chúng nhân dân Kể từ khi chuyển cơ chế quản lý kinh tế theo hướng thị trường, chính sách thuế được nhìn nhân đúng thuộc tính tự nhiên của nó và ngày càng phát huy tác động to lớn đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước Những tác động này trở nên sâu sắc hơn trong tiên trình Việt Nam hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
Sự hội nhập đó buộc Chính phủ Việt Nam phải có nhiều nỗ lực trong việc cải cách chính sách, đặc biệt là chính sách thuế Bởi lẽ, chính sách này liên quan đến nhiều mặt kinh tế - xã hội, không những đến sự củng cố nguồn lực tài chính công, kích thích tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần ổn định vĩ mô nền kinh tế - xã hội
Trang 4Với lý do đó chúng tôi đã quyết định chọn đề tài "Hoàn thiện hệ thống chính sách thuế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế" làm bài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích thực trang hệ thống chính sách thuế của Việt Nam, các yếu tố trong nước và quốc tế có ảnh hưởng đến chính sách thuế của Việt Nam, luận văn
đề xuất những giải pháp hoàn thiện hệ thống thuế hiện hành cho phù hợp với thông
lệ quốc tế nhằm gia tăng vị thế cạnh tranh quốc gia
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu hệ thống chính sách thuế hiện hành
ở Việt Nam, trong đó chú trọng đến thuê giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp phân tích từ những số liệu tập hợp được từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống thuế chophù hợp với thông lệ quốc tế Ngoài ra luận văn cũng sử dụng phương pháp lôgic trong việc hệ thống hóa các yếu tố và đưa ra giải pháp phù hợp
NỘI DUNG
I Khái quát chung về chính sách thuế
1.1 Quan niệm về chính sách thuế
Trong điều kiện mỗi quốc gia khác nhau, với hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau các Nhà nước đều phải hoạch định các chính sách riêng của mình để thực hiện quản lý xã hội, phát triển kinh tế đất nước Hệ thống chính sách được sử dụng rất phong phú và đa dạng tùy theo mục tiêu điều hành đất nước của Nhà nước
Trang 5Chính sách là hệ thống những quan điểm và đường lối để đạt được những mục tiêu nhất định trong quản lý của một tổ chức hoặc trong quản lý nhà nước Nói đến chính sách là nói đến việc cần làm gì và tại sao phải làm như vậy Căn cứ vào thời gian có chính sách ngắn hạn và chính sách dài hạn; căn cứ vào từng lĩnh vực quản
lý của Nhà nước có chính sách phát triển kinh tế, chính sách an sinh xã hội, chính sách đối ngoại… trong từng lĩnh vực riêng biệt có chính sách trong phạm vi hẹp hơn như chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài…
Chính sách thuế là một trong các chính sách tài chính của Nhà nước, trong đó nội dung kỹ thuật của từng sắc thuế được sử dụng như là công cụ của chính sách trong quản lý kinh tế vĩ mô nhằm đạt được những mục tiêu đã định của Nhà nước
Chính sách thuế là hệ thống những quan điểm, đường lối, phương châm của Nhà nước thông qua sử dụng các công cụ thuế nhằm phục vụ những mục tiêu nhất định của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định
Như vậy, chính sách thuế được hiểu là những các quan điểm, đường lối của Nhà nước liên quan đến sử dụng công cụ thuế trong hệ thống các chính sách của mình
Hệ thống quan điểm, đường lối đó thể hiện ở việc nhìn nhận vai trò của thuế, mục tiêu sử dụng công cụ thuế, phạm vi tác động, tỷ lệ điều tiết, định hướng trong dài hạn… nhằm làm cho công cụ thuế phát huy tốt nhất các vai trò của nó theo chiến lược và chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước
Pháp luật thuế là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung cho các
tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện chính sách thuế Nếu chính sách thuế là định hướng để đạt được mục tiêu trong việc sử dụng thuế thì pháp luật thuế chỉ rõ các tổ chức, cá nhân trong xã hội phải làm gì và không được làm gì trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định để thực hiện chính sách đó Như vậy, Nhà nước muốn chính sách thuế đi vào cuộc sống thì cần thể chế hóa những chính sách
ấy thành pháp luật thuế
Trang 6Pháp luật thuế phải quy định đầy đủ các yếu tố: người nộp thuế, cơ sở thuế, mức thuế, ưu đãi thuế, thủ tục thuế và xử lý vi phạm về thuế Cũng như các quy định pháp luật khác, một mặt, pháp luật thuế phải thể hiện rõ các mục tiêu, quan điểm của chính sách thuế; mặt khác, pháp luật thuế phải minh bạch, phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Như vậy, phápluật thuế phải thể hiện và cụ thể hóa được các nội dung của chính sách thuế và phảiquy định rõ được những công việc cụ thể để thực hiện được chính sách thuế đó Do
đó, chính sách thuế và pháp luật thuế thường được lồng ghép vào nhau và cùng được quy định trong các văn bản pháp luật Vì vậy, thuật ngữ chính sách pháp luật thuế thường được sử dụng để chỉ các văn bản pháp luật về thuế đồng thời cũng chứa đựng các nội dung chính của chính sách thuế Trong nhiều trường hợp, các thuật ngữ chính sách thuế, pháp luật thuế và chính sách pháp luật thuế được hiểu là
có nội dung giống nhau
1.2 Nội dung chủ yếu của chính sách thuế
Chính sách thuế là một bộ phận quan trọng của chính sách tài khóa, chịu sự chi phối bởi chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước và tình hình phát triểnkinh tế của đất nước Trong các thời kỳ khác nhau, chính sách thuế có các biểu hiện cụ thể khác nhau, nhưng thông thường phản ánh nội dung chủ yếu sau đây:Một là, mục tiêu của chính sách thuế: xác định mức độ điều tiết qua thuế, những tác động kinh tế – xã hội của thuế như thế nào và tại sao lại điều tiết ở mức độ đó cũng như có tác động kinh tế – xã hội đó
Hai là, phạm vi tác động của chính sách thuế: chính sách thuế sẽ tác động đến những tổ chức, cá nhân nào trong xã hội Việc xác định rõ phạm vi tác động của chính sách thuế cho phép tập trung vào những mục tiêu quan trọng của chính sách, đồng thời, tránh được những hậu quả không mong muốn của chính sách
Ba là, thời gian hiệu lực của chính sách: xác định rõ chính sách thuế được áp dụng trong thời kỳ nào, thời điểm bắt đầu và kết thúc của chính sách
Trang 7Bốn là, trách nhiệm thực hiện chính sách thuế: chỉ rõ tổ chức, cá nhân nào phải có trách nhiệm trong thực hiện chính sách, như: cụ thể hóa chính sách thuế thành phápluật thuế, tổ chức thực hiện pháp luật thuế, chấp hành pháp luật thuế…
Năm là, cách thức động viên nguồn thu cho ngân sách Nhà nước qua thuế của từngthời kỳ (động viên qua thuế trực thu hoặc thuế gián thu; động viên từ các khu vực kinh tế khác nhau; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu… thể hiện cụ thể mục tiêu, quanđiểm, đường lối về thuế của Nhà nước)
Sáu là, các định hướng phát triển hệ thống thuế: trong các thời kỳ khác nhau thì định hướng phát triển hệ thống thuế cũng khác nhau, điều này có chi phối đến việc hoạch định các chính sách thuế cụ thể
Ngoài ra, chính sách thuế có thể bao gồm các nội dung khác như: phương châm thực hiện chính sách, bối cảnh kinh tế – xã hội ra đời chính sách với các yếu tố ảnhhưởng cụ thể và các định nghĩa về các thuật ngữ sử dụng trong chính sách thuế
1.3 Các yếu tố chi phối tới chính sách thuế
Chính sách thuế là một trong hệ thống chính sách của Nhà nước nói chung, do đó
nó chịu sự chi phối của các chính sách chung nhất, các chính sách có liên quan cũng như điều kiện kinh tế, xã hội, đời sống, phong tục tập quán của nhân dân…
Cụ thể, các yếu tố chủ yếu chi phối tới chính sách thuế trong một thời kỳ nhất định bao gồm:
– Mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước
Chính sách phát triển kinh tế xã hội là đối tượng phục vụ và điều chỉnh của chính sách thuế Các mục tiêu, yêu cầu, phương hướng phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ là cơ sở cho việc định ra các chủ trương, giải pháp về thuế nhằm thực hiện các mục tiêu, yêu cầu, phương hướng đã được xác định của chính sách phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước Do đó, việc hoạch định chính sách thuế phải dựatrên cơ sở chính sách phát triển kinh tế – xã hội mới đảm bảo cho chính sách thuế đúng hướng và phục vụ có kết quả cho sự phát triển kinh tế – xã hội
Trang 8– Nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Nhu cầu về tài chính của Nhà nước càng lớn thì
áp lực tăng thuế càng cao Khi đó, chính sách thuế phải được xây dựng và ban hành chú trọng nhiều hơn đến việc quản lý, bao quát và khai thác được các nguồn thu trong nền kinh tế – xã hội, đáp ứng tốt nhất nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.– Xu hướng phát triển kinh tế trong nước và hội nhập kinh tế quốc tế Thuế chính
là một bộ phận thu nhập mà các chủ thể bắt buộc chuyển giao cho Nhà nước, cho nên xu hướng phát triển kinh tế trong nước diễn ra thuận lợi sẽ có tác động tích cựcđến thuế và ngược lại Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế cũng có ảnh hưởng rất lớn đến chính sách thuế Hội nhập kinh tế quốc tế càng sâu rộng thì đòi hỏi các nước phải điều chỉnh chính sách thuế cho phù hợp với các nguyên tắc của hội nhập Do vậy, khi hoạch định chính sách thuế cần tính đến các nhân tố này, điều đó giúp chochính sách thuế tăng thêm sức sống và hiệu quả
– Sự hoàn thiện hoặc khiếm khuyết của hệ thống chính sách thuế hiện hành Việc xây dựng, ban hành một chính sách thuế mới bao giờ cũng phải dựa trên nền tảng sẵn có của chính sách thuế hiện tại Chính sự hoàn thiện hay còn khiếm khuyết của chính sách thuế hiện tại cùng với xu hướng phát triển kinh tế – xã hội và quan điểm điều tiết thông qua thuế của Nhà nước quyết định đến những nội dung cơ bảncủa chính sách thuế cần được ban hành Do đó, khi xây dựng, ban hành một chính sách thuế mới, việc không thể bỏ qua mà phải thực hiện tổng kết, đánh giá về chínhsách thuế thời kỳ trước cho nhận xét về những mặt hợp lý và chưa hợp lý của chínhsách thuế, những mặt đã đạt được và những mặt chưa đạt được so với mục tiêu, yêu cầu đã đặt ra Dựa trên cơ sở đó có thể vạch ra những biện pháp để hoàn thiện chính sách thuế đúng hướng hơn, đạt kết quả cao hơn Do đó, để có được chính sách thuế phù hợp và phát huy được tác dụng tích cực đòi hỏi việc hoạch định chính sách thuế phải dựa trên cơ sở đánh giá đúng đắn thực trạng chính sách thuế trong thời kỳ trước
1.4 Phân loại thuế
Trang 9Việc phân loại thuế có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong việc nghiên cứu, nắm bắt quy định của pháp luật về các loại thuế mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà lập pháp, hành pháp Để phân loại các loại thuế, việc phân loại cần dựa trên những tiêu chí cụ thể Các tiêu chí này có thể là đối tượng chịu thuế; mối quan
hệ giữa cơ quan thuế và người nộp thuế; người nộp thuế
Phân loại thuế là việc sắp xếp các sắc thuế trong hệ thống thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định Có nhiều tiêu thức phân loại khác nhau, mỗi tiêu thức phân loại có nhiều loại thuế khác nhau:
Phân loại theo đối tượng chịu thuế.
Căn cứ vào đối tượng chịu thuế có thể chia hệ thống thuế thành ba loại sau:
Thuế thu nhập bao gồm các sắc thuế có đối tượng chịu thuế là thu nhập nhận được,thu nhập này được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: thu nhập từ lao động dưới dạng tiền lương, tiền công, thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, lợi tức cổ phần…
Do vậy thuế thu nhập cũng có nhiều hình thức khác nhau : Thuế thu nhập cá
nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế tiêu dùng là các loại thuế có đối tượng chịu thuế là phần thu nhập được mangtiêu dùng trong hiện tại Bao gồm: Thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng…
Thuế tài sản là các loại thuế có đối tượng chịu thuế là giá trị tài sản.Bao gồm ,thuế bất động sản là thuế tài sản đánh trên giá trị của tài sản cố định,thuế động sản là thuế đánh trên tài sản chín
Phân loại thuế theo tính chất:
Nhóm thuế trực thu: là những loại thuế mà nhà nước thu trực tiếp vào các pháp nhân hay thể nhân khi có tài sản hoặc thu nhập được quy định nộp thuế Đây là loạithuế mà người nộp thuế chính là người chịu thuế và họ không có khả thu hồi lại tiền thuế Ví dụ như: thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà đất …
Trang 10Nhóm thuế gián thu: là những loại thuế đánh vào giá trị hàng hoá khi nó lưu
chuyển trên thị trường, là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế không phải là người chịu thuế, nó được tính vào sản phẩm hoặc dịch vụ mà cá nhân người dùng
là người chịu thuế Người nộp thuế gián thu là người đóng thuế hộ người tiêu dùng
Phân loại thuế theo đối tượng đánh thuế:
– Thuế đánh vào các hoạt động sản xuất kinh doanh
– Thuế đánh vào sản phẩm
– Thuế đánh vào thu nhập
– Thuế đánh vào tài sản
– Thuế đánh vào các tài sản thuộc sở hữu nhà nước
II Thực trạng hoạt động thực hiện chính sách thuế ở Việt Nam giai đoạn 2019- 2021
2.1 Thực trạng
Theo Điều 5, Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 (số 83/2015/QH13, ngày
25/6/2015), thu NSNN bao gồm: Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; Các khoản phí thu từ các hoạtđộng dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp (DN) nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; Các khoản viện trợ không hoàn lại của chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương; Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật Trong đó, nguồn thu từ thuế và phí là nguồn thu quan trọng nhất
Trong thời gian qua, Chính phủ cũng đã ban hành theo thẩm quyền và trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung nhiều chính sách về tài chính, thuế phù hợp với tình hình thực
Trang 11tế và các cam kết hội nhập Cụ thể là trình Quốc hội thông qua Luật Quản lý thuế sửa đổi; Nghị quyết về khoanh tiền nợ thuế, xóa tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộpđối với người nộp thuế không còn khả năng nộp NSNN; xây dựng đề án mở rộng
cơ sở thuế và chống xói mòn nguồn thu NSNN; xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung quy định về quản lý đối với DN có giao dịch liên kết
Ngành tài chính cũng đã phôi hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành triển khai đồng
bộ, hiệu quả các giải pháp quản lý thu NSNN, quyết liệt thu hồi nợ thuế; tăng cường thanh tra, kiểm tra thuế, chông chuyển giá, buôn lậu, gian lận thương mại Việc cải cách hành chính trong các lĩnh vực thuế, hải quan được đẩy mạnh, với 100% cơ quan thuế ở địa phương triển khai hệ thông khai thuế qua mạng Thực hiện thủ tục hải quan điện tử tại tất cả các đơn vị hải quan; triển khai cổng thanh toán điện tử tại các cục hải quan Mở rộng kết nôì thực hiện thủ tục hành chính và dịch vụ công qua Cơ chế một cửa quốc gia; trao đổi chứng nhận xuất xứ điện tử mẫu D với 5 nước ASEAN qua Cơ chế một cửa ASEAN; thực hiện thu thuế bằng phương thức điện tử Nhờ vậy, riêng trong 4 năm (2016-2019), thu NSNN đạt 5,38triệu tỷ đồng, bằng 77,3% mục tiêu kế hoạch cả giai đoạn 2016-2020 Trong đó, tổng thu do cơ quan thuế quản lý (không bao gồm thu từ thoái vốn) đạt 4,35 triệu
tỷ đồng, vượt 8,5% dự toán; tăng trưởng thu bình quàn 11,8%/năm
Cũng trong 4 năm (2016-2019), với việc triển khai quyết liệt các giải pháp quản lý thu, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, quản lý chặt chẽ công tác đăng ký, kê khai, nộp thuế, tăng cường thanh tra, kiểm tra và quản lý chặt chẽ nợ đọng thuế, ngành thuế đã đạt được nhiều tiến bộ cả
về quy mô, tốc độ và cơ cấu thu Cụ thể, quy mô thu ngân sách năm 2019 gấp 1,55 lần so với năm 2015, trong đó, thu NSNN do cơ quan thuế quản lý gấp 1,56 lần Tốc độ tăng trưởng thu NSNN bình quân giai đoạn đạt 11,6%/năm, trong đó, thu NSNN do cơ quan thuế quản lý tăng 11,8%/năm Tỷ lệ huy động NSNN trên thu nhập bình quân đầu người (GDP) bình quân giai đoạn đạt 25,5% GDP Trong đó,