301 Xây dựng chính sách thuế tài sản ở Việt Nam
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN VÀ THUẾ TÀI SẢN 1.1 Khái niệm và phân loại tài sản 3
1.1.1 Khái niệm tài sản 3
1.1.2 Phân loại tài sản 5
1.2 Khái niệm về sở hữu tài sản và quyền tài sản 5
1.2.1 Sở hữu tài sản 5
1.2.2 Quyền tài sản 6
1.3 Thuế tài sản 6
1.3.1 Khái niệm về thuế tài sản 6
1.3.2 Cơ sở tính thuế tài sản 7
1.3.3 Sự cần thiết của thuế tài sản trong nền kinh tế 7
1.3.4 Vai trò của thuế tài sản trong nền kinh tế 8
1.3.5 Vị trí thuế tài sản và hệ thống thuế 11
1.4 Định giá tài sản 13
1.5 Kinh nghiệm về chính sách thuế tài sản ở một số nước trên thế giới 13
1.5.1 Thuế tài sản ở Cộng Hoà Pháp 14
1.5.2 Thuế tài sản ở Thuỵ Điển 15
1.5.3 Thuế tài sản ở Đài Loan 16
1.6 Bài học kinh nghiệm cho VN trong việc xây dựng hệ thống thuế tài sản 17
Trang 2CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THUẾ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM
2.1 Khái quát lịch sử hình thành thuế tài sản ở Việt Nam 21
2.1.1 Thời kỳ trước cách mạng tháng 8 năm 1945 21
2.1.2 Thời kỳ Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 22
2.2 Đánh giá thực trạng hệ thống thuế tài sản ở Việt Nam 23
2.2.1 Thực trạng hệ thống thuế tài sản ở Việt Nam 23
2.2.2 Đánh giá hệ thống thuế tài sản ở Việt Nam 33
2.2.2.1 Ưu điểm 33
2.2.2.2 Nhược điểm 34
2.3 Một số nhận xét về hệ thống thuế tài sản ở Việt Nam hiện nay 39
2.3.1 Bước đầu Việt Nam đã hình thành một khuôn khổ pháp luật quản lý tài sản 39
2.3.2 Hệ thống thuế tài sản chưa định hình rõ ràng 40
2.3.3 Tính không phù hợp giữa chính sách thuế tài sản Việt Nam với thông lệ quốc tế 41
2.4 Những bất cập hệ thống thuế tài sản Việt Nam 42
2.5 Thuế tài sản trong tiến trình cải cách thuế ở Việt Nam 43
Trang 3CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG THUẾ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM
3.1 Quan điểm 1: Đối với thuế tài sản điều chỉnh tài sản thuộc sở hữu tư nhân 46
3.2 Quan điểm 2: Đối với thuế tài sản điều chỉnh đối với tài sản nhà nước quản lý 48
3.2.1 Mô hình 1 .48
3.2.2 Mô hình 2 .49
3.3 Các giải pháp xây dựng thuế tài sản ở Việt Nam 52
3.3.1 Xây dựng Luật thuế đăng ký tài sản 53
3.3.1.1 Quan điểm về xây dựng thuế đăng ký tài sản 53
3.3.1.2 Nội dung chủ yếu của Luật thuế đăng ký tài sản 54
3.3.2 Xây dựng Luật thuế sử dụng đất 56
3.3.2.1 Quan điểm xây dựng Luật thuế sử dụng đất 56
3.3.2.2 Nội dung chủ yếu của Luật thuế sử dụng đất 57
3.3.3 Nội dung chủ yếu của Luật thuế nhà 60
3.3.1 Quan điểm về xây dựng thuế nhà 60
3.3.2 Nội dung chủ yếu của Luật thuế nhà 60
3.4 Một số điều kiện để áp dụng thành công hệ thống thuế tài sản ở Việt Nam 63
3.4.1 Giải pháp về vấn đề định giá tài sản 63
3.4.2 Một số điều kiện khác .63
3.5 Lộ trình xây dựng và ban hành các luật thuế tài sản 65
KẾT LUẬN 68
Trang 4* LỜI MỞ ĐẦU
1) Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Xu thế hội nhập và liên kết kinh tế đồng nghĩa với việc xóa bỏ hàng rào thuế quan, cắt giảm thuế nhập khẩu Việc cắt giảm này kéo theo sự thay đổi trong tỷ trọng thuế gián thu trong tổng thu ngân sách nhà nước Từ đó , đặt ra cho chúng ta sự lựa chọn, đó là phải đảm bảo tỷ trọng hợp lý giữa các loại thuế, hệ thống thuế cần
cơ cấu lại theo hướng tăng tỷ trọng thuế trực thu, giảm tỷ trọng thuế gián thu đảm bảo nguồn thu ổn định và thường xuyên cho ngân sách Nhà nước Việc cơ cấu nguồn thu từ thuế trực thu có thể thực hiện theo hướng mở rộng các hình thức thuế trực thu như thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân, các loại thuế đất
và thuế tài sản cũng không nằm ngoài mục tiêu này
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới và phát triển nên thu nhập bình quân GDP trên đầu người đang gia tăng, tài sản của nhà nước, của các tổ chức kinh tế xã hội và của tầng lớp dân cư ngày càng gia tăng Việc gia tăng các tài sản trong xã hội cũng đặt cho chúng ta nhiều vấn đề cần giải quyết trong công tác quản lý Thuế tài sản là một trong những công cụ tài chính quan trọng, không chỉ đơn thuần thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách mà còn là công cụ quan trọng điều chỉnh kinh tế vĩ mô : điều chỉnh sự vận động của nền kinh tế nói chung và tài sản nói riêng, góp phần thực hiện công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, điều tiết thu nhập từ khu vực có thu nhập cao sang khu vực có thu nhập thấp hơn, hạn chế sự chênh lệch quá mức trong thu nhập của các tầng lớp dân cư, các thành phần kinh tế
Chính sách thuế tài sản tuy đã phát huy được nhiều tích cực trên các phương diện kinh tế, xã hội, song trước xu thuế hội nhập và những diễn biến phức tạp đa dạng về tài sản, thu nhập của dân cư, hệ thống thuế tài sản hiện hành bộc lộ những nhược điểm cần phải có chính sách thay đổi cho phù hợp với thông
lệ quốc tế và yêu cầu cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế
Từ suy nghĩ đó tôi chọn đề tài “ Xây dựng chính sách thuế tài sản ở Việt Nam “ làm luận văn tốt nghiệp cao học
Trang 52) Mục đích nghiên cứu của đề tài
Việc xây dựng chính sách thuế tài sản ở VN là nhiệm vụ cần thiết và cấp bách trong chương trình cải cách hệ thống thuế trong giai đoạn hiện nay Do đó,
đề tài “ Xây dựng chính sách thuế tài sản ở VN” sẽ góp phần quản lý và sử dụng tài sản tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường, tạo lập sự đóng góp công bằng, bình đẳng của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội đồng thời tạo nguồn thu ổn định thường xuyên cho ngân sách, phù hợp với yêu cầu trong tình hình mới
3) Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên những lý luận cơ bản về tài sản và thuế tài sản, luận văn sử dụng phương pháp phân tích , thống kê so sánh để đánh giá thực trạng vận dụng chính sách thuế tài sản ở nước ta hiện nay, đồng thời có tham khảo kinh nghiệm của một số nước về chính sách thuế tài sản Thông qua quá trình phân tích, thống kê
so sánh luận văn sẽ đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng chính sách thuế tài sản sao cho phù hợp với nền kinh tế Việt Nam trong những năm tới
Đề tài “ Xây dựng chính sách thuế tài sản ở Việt Nam” lấy thực trạng chính sách thuế tài sản ở Việt Nam và chương trình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế đến năm 2010 là đối tượng nghiên cứu Trong luận văn này tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết để khái quát lên được những lý luận cơ bản về tài sản và thuế tài sản, đánh giá ưu và nhược điểm của các chính sách thuế tài sản Đồng thời bằng phương pháp thực nghiệm từ thực tế trên cơ sở có tham khảo kinh nghiệm của một số nước có nền kinh tế đã và đang phát triển, qua quá trình phân tích, tôi sẽ rút ra những nguyên nhân tồn tại , hạn chế của việc thực hiện chính sách thuế tài sản ở Việt Nam, từ đó định hướng các giải pháp chủ yếu
có tính khả thi nhằm hoàn thiện, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010 và các năm tiếp theo
4) Kết cấu của luận văn
Để giải quyết các vấn đề nêu trên, luận văn được kết cấu gồm 03 chương chính như sau :
Chương 1 : Tổng quan về tài sản và thuế tài sản
Chương 2 : Thực trạng chính sách thuế tài sản ở VN
Chương 3 : Các giải pháp nhằm xây dựng chính sách thuế tài sản ở VN
Trang 6CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ TÀI SẢN VÀ THUẾ TÀI SẢN
1.1 Khái niệm và phân loại tài sản
1.1.1 Khái niệm về tài sản
Theo điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 của Việt Nam xác định tài sản như sau : “ tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” quyền tài sản theo điều 181 là “ Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ ”
Trong từ điển thuật ngữ kinh tế của nhà xuất bản TP HCM năm 1993 định nghĩa về tài sản như sau: “ tài sản là vật chất cụ thể hoặc vô hình có giá trị nhất định đối với chủ sở hữu”
Hai nhà kinh tế học người Anh là Simon và Christopher Nobes đã viết về tài sản trong cuốn “ Kinh tế học đánh thuế “ như sau : “ tài sản giống như thu nhập, là những của cải mà một người có được nhờ những nguồn lợi thu được từ hoạt động kinh tế Sự khác nhau giữa tài sản và thu nhập là : tài sản là khối lượng của cải ở một thời điểm nào đó, còn thu nhập là số của cải thu được trong một khoảng thời gian nhất định”
Như vậy tài sản rất phong phú và đa dạng, tài sản là một khái niệm rất rộng lớn, nó đã tồn tại rất lâu trong lịch sử nhân loại Mỗi tài sản đều có những quyền nhất định đối với tài sản như quyền sử dụng, quyền định đoạt, quyền chuyển nhượng và quyền hủy bỏ Khái niệm về tài sản có thể hiểu như sau :
- Về hình thức : tài sản là vật được con người sử dụng , được nhận biết như : nhà cửa, tàu thuyền, vật dụng tiêu dùng …(tài sản hữu hình) ; quyền sáng chế, phát sinh quyền tác giả…( tài sản vô hình) Xét ở giác độ nào đó, mọi tài sản đều hữu hình hoặc đều có thể hữu hình hóa Ví dụ, một quyền tài sản vô hình sẽ hữu hình khi được thực hiện giá trị trên thực tế trở thành một lượng tiền nhất định Nhìn chung , của cải hay một vật chỉ có thể là tài sản nếu chúng có thể được sở hữu, nghĩa là thuộc về riêng một người nào đó, một chủ thể nào đó theo quy định của Luật dân sự Tài sản có thể được mua bán, chuyển nhượng, hao mòn và biến mất
- Về tính vật thể : tài sản là tất cả những vật có thực, tiền, giấy tờ có giá trị như tiền và các quyền thuộc sở hữu của một chủ thể nhât định Tài sản có được là
do sự tích lũy thu nhập của chủ thể từ tất cả các nguồn có thể tạo ra thu nhập : do thiên nhiên mang lại, do lao động, do đầu tư vốn, do thừa kế, biếu tặng, do hoạt
Trang 7động sản xuất kinh doanh Tài sản có thể thường xuyên thay đổi trạng thái và giá trị tùy thuộc vào hành động của chủ sở hữu : tài sản bằng tiền có thể được chuyển thành hiện vật hoặc ngược lại, nếu chủ sở hữu tiến hành bán tài sản Tài sản có thể tăng thêm nếu có sự đầu tư, bổ sung hoặc do tăng giá; tài sản có thể giảm đi nếu có sự chuyển sở hữu tài sản cho chủ thể khác hoặc cũng có thể giảm do hao mòn, giảm giá hoặc biến mất do rủi ro
Như vậy khái niệm về tài sản không phải là khái niệm bất biến mà nó được biến đổi và hoàn thiện theo quan niệm về giá trị vật chất Vì vậy khi nghiên cứu
về tài sản, chúng ta cần lưu ý các khía cạnh sau :
- Tài sản phải luôn gắn liền với một chủ sở hữu nhất định
- Tài sản có thể đồng nghĩa với sự tồn tại của của cải dưới dạng hữu hình trong trường hợp của cải đó trị giá được bằng tiền và có thể dùng để giao dịch mang lại lợi ích cho chủ sở hữu
- Tài sản khác với vốn : tài sản và vốn là 2 khái niệm có khi đồng nhất, có khi không đồng nhất Tài sản sẽ trở thành vốn khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, dưới dạng là tài sản hữu hình hoặc vô hình Vốn thường vận động và chuyển hóa từ hình thái này sang hình thái khác để thực hiện giá trị của hàng hóa.Vốn được tiền tệ hóa và quá trình vận động, luân chuyển của vốn làm cho của cải xã hội ngày càng tăng, phong phú Từ đó khái niệm vốn có thể hiểu là tiền và các hình thức biểu hiện khác của tiền với tư cách là hàng hóa tham gia vào thị trường Tài sản và vốn không là khái niệm đồng nhất khi tài sản còn trong lưu giữ, không dùng vào sản xuất kinh doanh
- Tài sản khác với thu nhập: Nói đến tài sản của một chủ thể là nói về lượng của cải dồn tích đến tại một thời điểm nhất định nào của chủ thể Còn nói đến thu nhập là nói đến lượng của cải mà chủ thể thu được trong một thời kỳ nhất định.Ví dụ một người có tài sản vào cuối năm 2006 là 1 tỷ đồng nghĩa là người này có tài sản là 1 tỷ đồng vào thời điểm đang nói, điều này khác với cách nói thu nhập của một người trong tháng là 10 triệu đồng Thu nhập của một thời kỳ không bao gồm tài sản ở thời kỳ trước, còn tài sản lúc cuối kỳ bao gồm tất cả các thu nhập của các kỳ trước đó cộng lại (dồn tích đến thời điểm đang nói) Vì vậy, khái niệm về tài sản phải gắn với yếu tố thời điểm
- Quan niệm về tài sản trong kinh tế phải nhất quán với qui định trong luật Dân sự về tài sản, bởi vì đối với tài sản, các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự
có những quyền mà nội dung, hình thức và phương thức thực hiện các quyền đó (kể cả các biện pháp hạn chế thực hiện) điều do luật xác định
Trang 81.1.2 Phân loại tài sản
Tài sản rất phong phú và đa dạng, người ta có thể phân loại tài sản theo những tiêu thức khác nhau :
- Căn cứ nguồn hình thành tài sản: gồm tài sản do thiên nhiên đem lại như đất đai, rừng, biển, vùng trời, tài nguyên khoáng sản, thắng cảnh, và tài sản do con người tạo do lao động, được thừa kế, cho tặng như đường sá, nhà cửa, tàu thuyền, xe cộ,
- Theo yêu cầu hình thái biểu hiện: gồm tài sản hữu hình (đất đai, nhà cửa, vật kiến trúc, ) và tài sản vô hình (thương hiệu, quyền tác giả, quyền sáng chế phát minh, );
- Căn cứ theo đặc điểm: gồm có bất động sản và động sản Bất động sản là các tài sản bao gồm: đất đai, nhà công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó: các tài sản khác gắn liền với đất đai; các tài sản khác do pháp luật qui định Động sản là những tài sản không phải là bất động sản
- Căn cứ theo yêu cầu quản lý: có tài sản thuộc diện quản lý của nhà nước, phải thực hiện chế độ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng như nhà, đất, phương tiện vận tải, súng thể thao, súng săn, và tài sản không thuộc diện quản
lý, không bắt buộc phải thực hiện chế độ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng (máy vi tính, thiết bị văn phòng, hàng kim khí điện máy, )
1.2 Khái niệm về sở hữu tài sản và quyền tài sản
1.2.1 Sở hữu tài sản
Có bảy hình thức sở hữu tài sản , có thể chia thành 04 nhóm chính sau đây:
- Sở hữu toàn dân : Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân
- Sở hữu tập thể là sở hữu của hợp tác xã, tổ chức chính trị, tổ chức nghề nghiệp hoặc các hình thức kinh tế tập thể ổn định khác nhằm thực hiện mục đích chung được quy định trong điều lệ, theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng quản lý và cùng hưởng lợi
- Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình
Sở hữu tư nhân bào gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân
- Sở hữu hỗn hợp là sở hữu đối với tài sản do các chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau góp vốn để sản xuất, kinh doanh thu lợi nhuận
Trang 9Việc chiếm hữu của chủ sở hữu không bị hạn chế, gián đoạn về thời gian, trừ trường hợp chủ sở hữu chuyển giao việc chiếm hữu cho người khác hoặc pháp luật có quy định khác Khi chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản cho người khác, thì người được uỷ quyền thực hiện quyền chiếm hữu tài sản đó trong phạm vi, theo cách thức, thời hạn do chủ sở hữu xác định
- Quyền sử dụng là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử dụng tài sản trong các trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng hoặc do pháp luật quy định Quyền sử dụng tài sản trong trường hợp không phải là chủ sở hữu có thể được chuyển giao cho người khác thông qua hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật Người không phải là chủ sở hữu có quyền sử dụng tài sản đúng tính năng, công dụng, đúng phương thức
- Quyền định đoạt là quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó Chủ sở hữu có quyền
tự mình bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác đối với tài sản
Như vậy, trong một số trường hợp người sử dụng tài sản được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng thì người đó sẽ có quyền đối với tài sản , là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự Điều này lý giải được rằng, đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng người sử dụng hợp pháp vẫn được quyền chuyển giao, hay nói cách khác quyền sử dụng đất đai là tài sản
1.3 Thuế tài sản
1.3.1 Khái niệm về thuế tài sản
Thuế nói chung là nguồn thu của ngân sách nhà nước mang tính bắt buộc, mọi công dân đều phải có trách nhiệm nộp thuế Lệ phí là khoản tiền người dân nộp để bù đắp chi phí cho các cơ quan nhà nước khi các cơ quan này cung cấp cho họ những dịch vụ công theo yêu cầu nào đó Thuế khác với lệ phí ổ chỗ, thuế
không có tính hoàn trả trực tiếp
Thuế tài sản là loại tên gọi chung của các sắc thuế đánh vào quyền sở hữu
hoặc quyền sử dụng tài sản Thuế được thu hàng năm một lần Sắc thuế tài sản
Trang 10phổ biến nhất là thuế bất động sản (ở một số nước, chính quyền tách bất động sản thành nhà ở và đất ở và tương ứng là hai sắc thuế riêng) Có một sắc thuế tài sản được thu khi phát sinh sự thay đổi quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản, như thuế trước bạ, thuế thừa kế
1.3.2 Cơ sở tính thuế tài sản
- Đối tượng chịu thuế : là các tổ chức, cá nhân có quyền sở hữu tài sản
hoặc quyền sử dụng tài sản ( đối với đất)
- Căn cứ tính thuế : là giá trị của tài sản và thuế suất Giá trị tài sản được các cơ quan định giá xác định, hoặc được xác định trên cơ sở khung giá do Chính phủ quy định
Để giảm thiểu hành vi trốn lậu thuế, các nước đều thành lập cơ quan định giá tài sản Về nguyên tắc, mọi cá nhân (hộ gia đình) có sở hữu hay sử dụng tài sản đều phải đóng thuế tài sản, tuy nhiên trong trường hợp tài sản có giá trị nhỏ đến mức mà số thuế thu được trở nên không có ý nghĩa khi xét thêm chi phí của công tác thu thuế, chính quyền sẽ quyết định mức thuế phải nộp là 0
Việc đánh thuế tài sản sẽ tránh được sự méo mó trong thuế thu nhập, đó là việc chuyển hóa thu nhập thành tài sản Thuế tài sản thường chỉ đánh trong những trường hợp sau:
- Khi hình thành hoặc chấm dứt quyền sở hữu tài sản: thuế đăng ký tài sản, thuế chuyển quyền sở hữu tài sản
- Trong quá trình sử dụng tài sản: trong trường hợp này, thuế tài sản thường đánh với những tài sản lớn, có giá trị như máy bay, du thuyền, biệt thự, đất đai
Do tài sản là những thứ khó di chuyển qua biên giới giữa các địa phương, nên thuế tài sản thường được xác định là một nguồn thu của ngân sách địa phương
1.3.3 Sự cần thiết của thuế tài sản trong nền kinh tế
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Xu thế hội nhập và liên kết kinh tế đồng nghĩa với việc xóa bỏ hàng rào thuế quan, cắt giảm thuế nhập khẩu Việc cắt giảm này kéo theo sự thay đổi trong tỷ trọng
Trang 11thuế gián thu trong tổng thu ngân sách nhà nước Từ đó , đặt ra cho chúng ta sự lựa chọn, đó là phải đảm bảo tỷ trọng hợp lý giữa các loại thuế, hệ thống thuế cần
cơ cấu lại theo hướng tăng tỷ trọng thuế trực thu, giảm tỷ trọng thuế gián thu đảm bảo nguồn thu ổn định và thường xuyên cho ngân sách Nhà nước Việc cơ cấu nguồn thu từ thuế trực thu có thể thực hiện theo hướng mở rộng các hình thức thuế trực thu như thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân, các loại thuế đất
và thuế tài sản cũng không nằm ngoài mục tiêu này
Thuế tài sản là một trong những công cụ tài chính quan trọng, không chỉ đơn thuần thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách mà còn là công cụ quan trọng điều chỉnh kinh tế vĩ mô : điều chỉnh sự vận động của nền kinh tế nói chung và tài sản nói riêng, góp phần thực hiện công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, điều tiết thu nhập từ khu vực có thu nhập cao sang khu vực có thu nhập thấp hơn, hạn chế sự chênh lệch quá mức trong thu nhập của các tầng lớp dân cư, các thành phần kinh tế
1.3.4 Vai trò của thuế tài sản trong nền kinh tế
Việc đánh thuế tài sản không đơn giản chỉ nhằm mục đích tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà xuất phát từ nhiều lý do xét trên nhiều khía cạnh kinh
tế, xã hội Thuế tài sản có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đó là:
Thứ nhất, là nguồn thu ổn định và quan trọng cho ngân sách
Thuế tài sản đánh vào bất động sản, không thể di chuyển, ít biến động nên
ít bị trốn lậu thuế, dễ quản lý thu thuế Do đó, số thu về thuế thường ổn định, việc thay đổi thuế suất không gây tác động đến giá cả, tiêu dùng xã hội Do đó, chính quyền địa phương có điều kiện sâu sát nắm chắc biến động về sử dụng đất đai để quản lý thu thuế Số thu từ thuế tài sản là nguồn thu chủ yếu đáp ứng các nhu cầu dịch vụ công cộng, các nhu cầu chi tiêu của địa phương
Thứ hai, có tác dụng làm giảm nhẹ gánh nặng cho thuế thu nhập
Thuế tài sản thực chất là một loại thuế bổ sung cho thuế thu nhập vì nó đánh vào một dạng tồn tại khác của thu nhập (thu nhập tích lũy được tài sản hoá) Theo quan điểm này, việc sử dụng nhiều hình thức đánh thuế vào các dạng tồn tại của thu nhập (như yêu cầu đánh thuế lũy tiến vào thu nhập) là cần thiết để đảm bảo yêu cầu bao quát hết tất cả các nguồn thu Về nguyên tắc thì chỉ cần đánh thuế thu nhập là đủ vì tất cả các khoản thuế có tính chất trực thu suy cho cùng đều được trích từ thu nhập của đối tượng nộp thuế Tuy nhiên, nếu chỉ đánh một lần duy nhất vào thu nhập khi phát sinh thì mức thuế sẽ phải cao và do đó không
Trang 12có lợi về mặt tâm lý, thậm chí kìm hãm các hoạt động tạo ra thu nhập Hơn thế nữa, việc đánh thuế một lần vào thu nhập sẽ có khuynh hướng không đảm bảo công bằng vì khả năng kiểm soát chặt chẽ các nguồn thu thường rất khó khăn đối với chính quyền thu thuế Vì vậy, việc đánh thuế tài sản thực chất cũng là đánh thuế vào phần thu nhập được tài sản hoá Diện đánh thuế tài sản rộng hơn diện đánh thuế thu nhập, bao gồm mọi tài sản, không phân biệt tài sản đó mang lại thu nhập hay không, đảm bảo công bằng xã hội Việc đánh thuế tài sản sẽ có thêm cơ hội để hạ bớt thuế suất thuế thu nhập, làm cho sắc thuế này dễ được đông đảo quần chúng nhân dân chấp nhận
Thứ ba, là một trong những biện pháp can thiệp của Chính phủ trong việc giải quyết sự bất công về phân phối tài sản giữa các tầng lớp dân cư
Thuế tài sản được coi là hình thức phân phối lại cần thiết để thực hiện mục tiêu phân phối lại thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội Việc đánh thuế thu nhập theo phương pháp lũy tiến đã phần nào thực hiện mục tiêu đánh thuế theo khả năng trả thuế Tuy nhiên, nếu mức lũy tiến quá cao sẽ làm giảm động cơ làm giàu
và không có lợi cho hoạt động sản xuất xã hội Đánh thuế tài sản vào phần thu nhập đã được vật hoá ở giai đoạn sau khi thu nhập lần đầu phân phối sẽ có tác dụng bổ sung hữu hiệu cho thuế thu nhập và thuế tiêu dùng Hơn nữa, nếu việc đánh thuế tài sản được thực hiện theo phương pháp đặt ngưỡng chịu thuế thì cũng
có lũy tiến đáng kể đối với phần thu nhập được tài sản hoá Thuế tài sản được thiết kế theo phương pháp này sẽ có tác dụng tốt trong việc phân phối lại thu nhập của những người giàu có trong xã hội, đồng thời góp phần động viên được một phần thu nhập ngầm được tài sản hoá của đối tượng nộp thuế vốn là hiện tượng khá phổ biến trong nền kinh tế thị trường
Vai trò của thuế tài sản được thể hiện ở cả hai khía cạnh: công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc
- Công bằng theo chiều ngang: Nếu các cá nhân có điều kiện về mọi mặt
như nhau thì được đối xử như nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế Người có giá trị tài sản ngang nhau phải đóng góp thuế tài sản cho ngân sách nhà nước giống nhau
- Công bằng theo chiều dọc: Người có tài sản nhiều hơn người khác phải
nộp thuế tài sản nhiều hơn là điều hợp lý, công bằng phù hợp khả năng đóng góp
cụ thể của từng người
Trang 13Thứ tư, là loại thuế dễ thu và dễ kiểm soát
Thuế tài sản là loại thuế dễ thu và dễ kiểm soát vì chúng thường được áp dụng với những loại tài sản chủ yếu như bất động sản (nhà, đất), những tài sản có giá trị như ôtô, tàu thuyền, Đối với những tài sản này chủ sở hữu thường có tâm
lý muốn được đăng ký để nhà nước công nhận và xác định quyền sở hữu, quyền
sở hữu hợp pháp và bảo hộ chúng Do vậy, với mức động viên vừa phải, thuế tài sản sẽ là loại thuế dễ được chấp nhận và dễ kiểm soát
Thứ năm, phục vụ yêu cầu điều chỉnh mối quan hệ hợp lý giữa tiêu dùng, đầu tư và tiết kiệm
Thuế tài sản phục vụ yêu cầu điều chỉnh mối quan hệ hợp lý giữa tiêu dùng, đầu tư và tiết kiệm của các tác nhân trong nền kinh tế Việc đánh thuế tài sản sẽ làm hạn chế ý thích tiết kiệm, tích luỹ bằng tài sản và khuyến khích tăng tiêu dùng hoặc đầu tư sản xuất, kinh doanh Qua đó góp phần thực hiện tốt chủ trương kích cầu để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Thứ sáu, thuế tài sản còn được coi là công cụ hữu hiệu của Chính phủ
Thuế tài sản còn được coi là công cụ hữu hiệu của Chính phủ nhằm thực hiện việc quản lý, kiểm kê, kiểm soát đối với các loại tài sản có giá trị Thông qua
đó thấy được sự chênh lệch giàu nghèo, mức sống của các tầng lớp dân cư, tiềm năng nguồn lực xã hội, để Chính phủ có những quyết sách hợp lý phát triển kinh tế xã hội trong mỗi thời kỳ nhất định
Như vậy, xét trên khía cạnh, việc đánh thuế tài sản là cần thiết vì nó khắc phục các khiếm khuyết của thuế thu nhập cá nhân, đặc biệt là đối với những nước
mà chế độ thu nhập cá nhân có diện đánh thuế hạn hẹp và bị hạn chế do năng lực thực hiện Cùng với các loại thuế khác, thuế tài sản cho phép thực hiện được các mục tiêu, yêu cầu đề ra về tài chính, kinh tế, xã hội, đồng thời phát huy tác dụng hỗ trợ có hiệu quả cho thuế đánh vào thu nhập và tiêu dùng trong hệ thống thuế Đó cũng chính là lý do mà thuế tài sản ra đời đã từ lâu và đang được nhiều nước sử dụng, kể cả trong xu thế cải cách hệ thống chính sách thuế hiện nay theo hướng đơn giản, giảm bớt các loại thuế Tuy nhiên trong một hệ thống thuế gồm nhiều loại thuế thu nhập có diện đánh thuế mở rộng thì hình thức thuế tài sản đánh vào những tài sản do thu nhập tạo ra (như các tài sản kinh doanh hoặc cổ phiếu công ty) đã chịu thuế thu nhập có thể dẫn đến tình trạng đánh thuế trùng vào khoản tiết kiệm và vì vậy sẽ không mang lại hiệu quả kích thích các đối
Trang 14tượng tạo ra thu nhập trong xã hội Do vậy, việc đánh thuế tài sản cần phải được xem xét, phân tích thận trọng trong mối quan hệ với các loại thuế khác, đặc biệt
là đối với các loại thuế trực thu để thuế tài sản vừa đáp ứng yêu cầu tăng thu cho Ngân sách nhà nước một cách hợp lý, vừa khắc phục được sự trùng lắ p, chồng chéo trong cách đánh thuế thu nhập, không kìm hãm phát triển sản xuất, kinh doanh và không làm nhụt ý chí làm giàu chính đáng, mua sắm tài sản của các tầng lớp dân cư
Thuế tài sản không những là một biện pháp tài chính động viên cho ngân sách mà còn là một yêu cầu có tính kĩ thuật hệ thống nhằm đảm bảo việc đóng góp công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội và phục vụ mục tiêu quản lý của nhà nước Vì lẽ đó, cùng với thuế tiêu dùng, thuế tài sản là một hình thức thu bổ sung của thuế thu nhập nhằm đảm bảo tính công bằng và tính hiệu quả của cả hệ thống thuế
1.3.5 Vị trí của thuế tài sản trong hệ thống thuế
Nếu chúng ta phân loại hệ thống thuế theo các yếu tố kinh tế bị đánh thuế (đối tượng đánh thuế) thì thuế tiêu dùng, thuế thu nhập và thuế tài sản là 3 sắc thuế cấu thành một hệ thống thuế Cả ba loại thuế nói trên đều được trang trải bằng thu nhập của các cá nhân trong xã hội Mỗi loại thuế đảm nhận thu cho nhà nước theo những phương pháp thích hợp đồng thời tạo ra hiệu ứng tối ưu nhất đối với nền sản xuất xã hội Thuế đánh vào thu nhập làm giảm bớt thu nhập khả dụng của người có thu nhập Thuế đánh vào tiêu dùng làm cho người tiêu dùng bị điều tiết một phần thu nhập mà nếu không có nó người tiêu dùng đã có thể mua được nhiều hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng hơn Thuế đánh vào tài sản làm giảm bớt sự giàu có hoặc lợi ích do tài sản mang lại cho chủ sở hữu của chúng Điều đó cho thấy sự tồn tại của 3 loại thuế thu nhập, tiêu dùng và tài sản là tất yếu, thể hiện sự phù hợp, tương ứng theo sát chu kỳ vận động của thu nhập
Có thể minh hoạ điều này thông qua sơ đồ biểu diễn dưới đây:
Trang 15SƠ ĐỒ BIỂU DIỄN CHU KỲ VẬN ĐỘNG CỦA THU NHẬP
Thu nhập tiêu dùng Thuế tiêu dùng
Thu nhập tích luỹ hiện vật hoá thành tài sản Thuế tài sản
Thu nhập tương lai Thuế thu nhập
Thu nhập tích lũy khác Tài sản tài chính hoá
Thu nhập hiện tại
(1) Thu nhập nhận được trong hiện tại chưa sử dụng sẽ bị đánh thuế thu nhập
(2) Thu nhập còn lại (sau thuế thu nhập) khi tiêu dùng bị đánh thuế tiêu dùng
(3) Thu nhập còn lại dùng cho mục đích tích luỹ tài sản bị đánh thuế tài sản
(4)Tài sản tích lũy khác không hiện vật hoá (tài sản chính) thông thường không bị đánh thuế tài sản vì thực chất chúng chỉ là những trái vụ phản ánh quyền nắm giữ tài sản của chủ sở hữu Phần tài sản thực đã tồn tại dưới dạng hiện vật như chứng khoán, cổ phiếu,…tạo nên tài sản hiện vật của người vay vốn
(5)Thu nhập đem tiêu dùng, mua tài sản hoặc tích luỹ dưới dạng tài sản tài chính đến lượt nó lại tạo ra thu nhập tiềm năng trong tương lai và một trình đánh thuế mới lại bắt đầu (mũi tên đứt đoạn chỉ dòng thu nhập tương lai ở nhiều chu kỳ đánh thuế sau đó)
Như vậy, hệ thống thuế là một chỉnh thể thống nhất gồm nhiều loại thuế cấu thành, được thiết kế dựa trên những nguyên lý và tiêu thức nhất định nhằm phát huy tối đa những chức năng của mỗi sắc thuế đồng thời thực hiện một cách
có hiệu quả mục tiêu của toàn bộ hệ thống Một hệ thống hoàn chỉnh phải là hệ thống gồm đầy đủ các loại thuế cơ bản là: thuế tiêu dùng, thuế thu nhập và thuế
Trang 16tài sản Sự hiện diện của 3 loại thuế nói trên không đơn thuần là biện pháp cốt để thu được thuế mà quan trọng hơn là một sự tinh xảo, một kỹ nghệ trong việc thiết kế hệ thống các sắc thuế nhằm đảm bảo tiêu thức công bằng và hiệu quả một cách tối ưu
1.4 Định giá tài sản để tính thuế
* Định giá tài sản, hàng hoá, dịch vụ là việc đánh giá hoặc đánh giá lại giá trị của tài sản , hàng hoá, dịch vụ phù hợp với thị trường tại một địa điểm,
thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn của Việt Nam hoặc thông lệ quốc tế
* Căn cứ xác định giá tài sản, hàng hoá, dịch vụ ( động sản):
1 Chi phí sản xuất, chí phí bán hàng thực tế hợp lý (đảm bảo trung bình phổ biến của giá thành sản xuất) và chất lượng của tài sản, hàng hoá, dịch vụ tại thời điểm tính giá
2 Quan hệ cung cầu của tài sản, hàng hóa, dịch vụ và sức mua của đồng tiền Việt Nam
3 Giá thị trường trong nước, khu vực, thế giới và khả năng cạnh tranh của tài sản, hàng hoá, dịch vụ tại thời điểm tính giá
4 Chính sách phát triển kinh tế-xã hội của Nhà nước thuộc phạm vi cả nước hoặc từng vùng, từng địa phương
* Căn cứ xác định giá bất động sản :
Được xác định theo những qui định tại các Điều 55, 56 Luật đất đai 2003
và Nghị định 123/2007/NĐ-CP ngày 27/07/2007 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất Theo đó, giá đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương qui định được công bố công khai vào ngày 01 tháng
01 hàng năm, dựa theo khung giá các loại đất ban hành kèm theo Nghị định 123/2007/NĐ-CP và hệ số do Nhà nước qui định, phù hợp với giá trị sử dụng hoặc giá trị sinh lợi của từng loại đất nhưng phải theo nguyên tắc của thị trường
Tóm lại, căn cứ vào đặc tính của từng loại tài sản, hàng hóa, dịch vụ và giá trị sử dụng, các điều kiện về thị trường, lưu thông hàng hóa, dịch vụ cụ thể
mà tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân lựa chọn phương pháp xác định giá tài sản, hàng hóa, dịch vụ để lập phương án giá theo quy định
Trên thế gới, thuế đánh trên tài sản là một trong những loại thuế ra đời sớm nhất trong lịch sử nhân loại với hình thức đầu tiên là thuế đất được áp dụng rộng
Trang 17rãi ở hầu hết xã hội cổ đại Cho đến nay, ở tất cả các nước đều có các chính sách thuế tài sản Một số chính sách thuế tài sản ở các nước hiện nay đang áp dụng như sau:
1.5.1 Thuế tài sản ở Cộng Hoà Pháp
Theo tổng kết của Hội đồng thuế quốc gia, ở Pháp có 4 hình thức đánh thuế trên tài sản, chia thành 2 loại:
• Thuế tài sản đánh hàng năm có thuế của cải đánh trên giá trị ròng của cá nhân
• Thuế đánh 1 lần khi có chuyển dịch tài sản (chuyển dịch cho không hoặc chuyển dịch có thu tiền) như: thuế thừa kế, thuế quà tặng, thuế trước bạ đánh vào chuyển nhượng đất đai, nhà cửa hoặc lợi thế thương mại, thuế đánh vào các hợp đồng bảo hiểm
Ngoài ra, còn có một số loại thuế tài sản giành riêng cho địa phương như: thuế đất đối với xây dựng (bao gồm cả đất xây dựng, đất ở, đất kinh doanh) và thuế đất đối với đất không xây dựng (đất nông nghiêp do các chủ sở hữu đất nộp hàng năm) Nguồn thu từ các loại thuế này được giành toàn bộ cho nhân sách địa phương Địa phương có quyền quy định mức thuế suất trên cơ sở khung thuế suất
đã được quy định trong Luật
- Về thuế của cải đánh hàng năm trên giá trị tài sản ròng của cá nhân
+ Tài sản chịu thuế: là toàn bộ tài sản bằng tiền, bằng hiện vật cấu thành
sản nghiệp của đối tượng nộp thuế tại thời điểm ngày 01 tháng 01 của năm tính thuế (sản nghiệp được hiểu là một tập hợp các tài sản có, tài sản nợ bao gồm toàn
bộ tài sản hiện có cộng với số cho vay, cho mượn, trừ đi số tiền phải trả nợ cho người khác)
+ Đối tượng nộp thuế: gồm các thể nhân là đối tượng cư trú thuế tại Pháp
hoặc các thể nhân không là đôí tượng cư trú thuế tại Pháp nhưng có sở hữu tài sản mà giá trị ròng vượt trên khởi điểm tính thuế
+ Căn cứ tính thuế: thuế tài sản được tính trên cơ sở giá trị tài sản chịu
thuế và thuế suất Giá trị tài sản chịu thuế là giá trị ròng sau khi đã trừ các khoản
nợ của bộ thuế trong năm tính thuế Thuế suất được qui định theo biểu thuế luỹ tiến từng phần (tương tự như biểu thuế thu nhập cá nhân ở nước ta)
- Về thuế trước bạ (thuế đăng ký tài sản) đánh 1 lần khi chuyển dịch tài sản
Trang 18Đây là loại thuế thu vào tổ chức, cá nhân có nhu cầu được cơ quan thuế xác nhận tính pháp lý của các loại văn tự liên quan đến tài sản chuyển nhượng (bao gồm cả chuyển dịch cho không như tặng biếu, cho thừa kế và chuyển nhượng có thu tiền hoặc văn tự có liên quan đến sự tồn tại, biến đổi của một công
ty tại thời điểm thực hiện chế độ đăng ký theo quy định của pháp luật
Giá tính thuế trước bạ là toàn bộ số tiền ghi trên văn tự chuyển nhượng tài sản hoặc theo giá thị trường trong trường hợp cơ quan thuế phát hiện giá ghi trên văn tự quá thấp so với giá thị trường mà đối tượng nộp thuế không có chứng từ chứng minh Đối với tài sản thừa kế, giá tính thuế trước bạ là toàn bộ tài sản được thừa kế ghi trên di chúc sau khi đã trừ các khoản được giảm trừ theo quy định của Luật, tuỳ theo mức độ quan hệ họ hàng với người quá cố
- Về một số loại thuế tài sản giành riêng cho ngân sách địa phương
Ngoài các loại thuế tài sản trên đây cho các cấp ngân sách, ở Pháp còn có loại thuế đất giành riêng cho ngân sách địa phương là thuế đối với đất xây dựng
và thuế đối với đất không xây dựng
- Thuế đất đối với xây dựng: thuế đất do các chủ sở hữu đất và các công trình xây dựng gắn trên đất với nhà cố định dùng để ở, kinh doanh, nhà máy, văn phòng, nộp hàng năm Giá tính thuế đất được xác định bằng 50% giá trị lợi tức cho thuê đất hoặc giá trị công trình thiết bị thuộc diện chịu thuế đất Lợi tức cho thuê làm căn cứ tính thuế đất được xác định theo định kỳ đánh giá giá trị đất căn
cứ vào hiện trạng của tài sản, được cố định trong nhiều năm
- Thuế đối với đất không xây dựng: thuế đất đối với đất không xây dựng do các chủ sở hữu đất nông nghiệp nộp hàng năm Thuế được xác định trên thu nhập ròng ghi trên sổ địa chính của chủ sở hữu đất nông nghiệp và thuế suất Thu nhập ròng được xác định bằng 80% giá trị lợi tức cho thuê vào ngày 01 tháng 1 năm tính thuế
1.5.2 Thuế tài sản ở Thuỵ Điển
Thuỵ Điển hiện đang áp dụng 3 hình thức thuế tài sản chủ yếu đó là: thuế tài sản, thuế bất động sản và thuế thừa kế, thuế quà tặng
- Về thuế tài sản
Tương tự như loại thuế đánh trên giá trị ròng của cá nhân hiện áp dụng tại Pháp, thuế tài sản của Thuỵ Điển thực chất là loại thuế đánh trên trị giá tài sản ròng (tổng trị giá tài sản sau khi trừ khoản tiền vay để mua tài sản) của những
Trang 19người sở hữu tài sản mà trị giá ròng từ 800.000 SEK trở lên bao gồm bất động sản (nhà và đất), xe ôtô, tàu, thuyền, cổ phần tiền gửi ở Ngân Hàng
Thuế nộp hàng năm, tính theo biểu luỹ tiến từ 1.5% đến 3% trên tổng giá trị tài sản ròng thực có Giá trị tài sản càng lớn thì thuế suất càng cao
- Về thuế quà tặng, thuế thừa kế tài sản
Là loại thuế đánh vào quà tặng và tài sản thừa kế của bố, mẹ, ông bà Có quy định mức khởi điểm đánh thuế cho từng khoản tài sản là quà tặng hay thừa kế
1.5.3 Thuế tài sản ở Đài Loan
- Về thuế đối với tài sản thừa kế (còn được gọi là thuế thừa kế)
+ Đối tượng đánh thuế: Tài sản thừa kế của người quá cố là công dân Đài Loan hoặc là đối tượng cư trú tại Đài Loan phải chịu thuế thừa kế không phân biệt tài sản thừa kế nằm trong hay ngoài lãnh thổ Đài Loan Các loại tài sản thừa
kế bao gồm: bất động sản, động sản có giá trị như tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, chứng khoán, cổ phiếu, hàng hoá, ôtô, tàu thuyền, đất đai, quyền chủ nợ Quyền khai thác, )
+ Đối tượng nộp thuế: là người thực hiện di chúc, người được thừa kế hoặc người quản lý tài sản được quy định theo luật trong trường hợp không có người thừa kế, hoặc vợ hoặc chồng còn sống của người quá cố và những người thừa kế tài sản hợp pháp theo luật dân sự
- Về thuế đối với quà tặng
Thuế quà tặng là thuế đánh vào quà tặng và do người tặng biếu chịu trách nhiệm nộp Trong trường hợp không có mặt người tặng biếu hoặc người tặng quà không nộp thuế trong thời hạn qui định và không còn tài sản để cưỡng chế thì người nhận quà tặng sẽ là người nộp thuế
- Về thuế đất
Thuế đất ở Đài Loan đã được hình thành từ 4.000 năm nay với nhiều hình thức khác nhau Đến tháng 7 năm 1977 mới có quy định thống nhất thành luật
Trang 20thuế đất bao gồm: thuế đánh trên giá trị đất, thuế đất canh tác nông nghiệp và thuế đánh vào trị giá đất tăng thêm
Từ những chính sách thuế tài sản được áp dụng ở một số nước trên thế giới ta có thể rút ra một số nhận xét sau
- Về tên gọi thuế tài sản
Ở hầu hết các nước đánh trên tài sản thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, với các tên gọi khác nhau Phổ biến là không có một luật riêng về thuế tài sản bao quát tất cả các hình thức thuế tài sản, “Thuế tài sản” chỉ là tên gọi chung
để chỉ các sắc thuế lấy tài sản làm đối tượng đánh thuế
- Về tài sản chịu thuế
Tài sản chịu thuế phổ biến là bất động sản, vì đây là tài sản có diện tích rõ ràng, ổn định, khó có thể trốn hay lậu thuế, khả năng quản lý, kiểm soát dễ dàng;
về mức động viên có thể linh hoạt cao hay thấp tuỳ theo yêu cầu về ngân sách địa phương; số thu có thể kế hoạch hoá một cách tương đối; và là nguồn thu quan trọng của các địa phương
- Về đối tượng nộp thuế
Đối tượng nộp thuế tài sản chủ yếu là đối tượng có quyền sở hữu tài sản, cá biệt có nước qui định là đối tượng có có quyền sử dụng (nếu quyền sử dụng đất được coi như tài sản) Ở các nước này, đất đai ngoài thuộc sở hữu cá nhân hoặc tổ chức, đất đai còn thuộc sở hữu nhà nước nhưng được nhà nước giao cho tổ chức,
cá nhân quyền sử dụng ổn định, lâu dài Có trường hợp tài sản chưa xác định được chủ sở hữu thì người đang trực tiếp sử dụng tài sản phải nộp thuế (như thuế đất của Đài Loan, )
- Về căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế có thể được xác định trên cơ sở tổng trị giá các tài sản thuộc sở hữu cá nhân (bất động sản, động sản, tiền vốn, ) trừ đi các khoản chi phí, tiền vay để tạo thành tài sản; có thể là giá trị riêng từng loại tài sản trong diện đánh thuế thuộc sở hữu của một cá nhân (cho tài sản là xe ôtô, tàu, thuyền, các phương tiện vận tải, ) Giá tính thuế tài sản, thường được căn cứ theo giá thị trường tại thời điểm đánh thuế tài sản, một số trường hợp khó xác định giá trị thị trường thì áp dụng giá tính thuế do Chính phủ qui định
- Về thuế suất
Các loại thuế bất động sản thu hàng năm như thuế đất, thuế trị giá đất, thuế nhà thuế chuyển nhượng tài sản (trừ thuế quà biếu, quà tặng và thuế thừa kế) thường đánh theo thuế suất tỷ lệ trên giá trị tài sản chịu thuế, với mức động viên
Trang 21thấp Thuế suất qui định đối với tài sản thừa kế hoặc tài sản biếu tặng thường cao hơn và được đánh luỹ tiến Mức độ luỹ tiến phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người nhận tài sản với người tặng quà hoặc người cho thừa kế
1.6 Kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam trong việc xây dựng hệ thống thuế tài sản
Từ những chính sách thuế tài sản được áp dụng ở một số nước trên thế giới, ta có thể rút ra một số kinh nghiệm khi xây dựng chính sách thuế tài sản ở Việt Nam như sau:
Thứ nhất, việc đánh thuế tài sản chỉ nên giới hạn ở những tài sản có giá trị
lớn và dễ kiểm tra, kiểm soát theo yêu cầu quản lý của nhà nước Nguyên lý này một mặt đảm bảo tính khả thi của chính sách thuế tài sản, một mặt tạo ra hiệu ứng
“luỹ tiến“ so với thu nhập Đa số những người chỉ sở hữu những tài sản có giá trị nhỏ là những người có mức thu nhập thấp thì cũng không cần thiết phải đánh thuế vào những đối tượng này Ngược lại, những người giàu có thường là những người sở hữu những tài sản có giá trị lớn thì việc đánh thuế vào những tài sản này
là một tất yếu Việc đánh thuế cũng chỉ nên đánh vào những tài sản mà nhà nước
có thể kiểm soát, kiểm tra một cách dễ dàng, nếu đối tượng đánh thuế bao gồm những tài sản mà nhà nước không thể kiểm tra kiểm soát thì sẽ không có tính khả thi Điều này giải thích tại sao các nước trên thế giới chỉ đánh thuế vào những tài sản là bất động sản và một số động sản có giá trị mà không phải đánh vào toàn bộ tài sản hiện có của chủ sở hữu
Thứ hai, giá trị tính thuế của tài sản thường được tính theo thị trường tại
thời điểm tính thuế Cũng có nước qui định giá trị tính thuế là giá trị ròng của tài sản (là giá thị thường trừ đi các khoản tiền vay của chủ tài sản dùng để mua sắm tài sản đó) Tuy nhiên, việc xác định giá trị ròng của tài sản trên thực tế là hết sức khó khăn do khó có thể phân biệt được mục đích sử dụng tiền vay của chủ tài sản
là dùng để mua sắm hay đã dùng cho mục đích khác
Ở Việt Nam, do đặc thù tài sản lớn mà người ta đang nắm giữ chủ yếu là đất đai và do chế độ quản lý đất đai mang tính đặc thù (thuộc sở hữu toàn dân) nên việc xác định giá tính thuế đất cần lưu ý những vấn đề sau:
+ Nếu xác định giá tính thuế đất theo giá thị trường sẽ gặp nhiều vướng mắc về mặt pháp lý do đối tượng chịu thuế ở đây chủ yếu là đất đang sử dụng ổn định lâu dài, chưa phải là đất tham gia giao dịch, nên không thể lấy giá mua bán
Trang 22trên thị trường là căn cứ tính thuế Mặt khác, đối với các loại thuế như thuế sử dụng đất, một loại thuế mang tính chất là thuế tài sản, áp dụng đối với quyền sử dụng đất, theo thông lệ thường được ổn định theo một giá nhất định nào đó Bởi vậy, nếu lấy giá thị trường luôn biến động để làm căn cứ tính thuế sẽ không phù hợp với bản chất của loại thuế này
+ Ngược lại, nếu nhà nước qui định giá đất quá cứng làm căn cứ tính thuế
sẽ làm nảy sinh nhiều bất hợp lý trong tính thuế về đất đai trong thời gian qua, bởi vì giá quá “xơ cứng” không theo kịp diễn biến thực tế, không đáp ứng được yêu cầu thực hiện chính sách động viên ngân sách nhà nước và phục vụ cho hoạt động quản lý đất đai
Thứ ba, thuế đánh vào tài sản có thể thực hiện một lần nhưng cũng có thể
thực hiện nhiều lần hoặc kết hợp Việc đánh thuế một lần vào tài sản thường được
áp dụng đối với những tài sản lần đầu được xây dựng, mua sắm hay chuyển giao Loại thuế này được áp dụng là thuế trước bạ hay còn gọi là thuế đăng ký tài sản, thuế thừa kế, thuế quà biếu, quà tặng Loại thuế đánh nhiều lần vào tài sản, thuế suất thường phải rất thấp, vì nguồn nộp thuế tài sản bị giới hạn bởi thu nhập hiện tại của chủ sở hữu Hơn nữa, do thuế tài sản là thuế trực thu, hệ số co giãn cung của đối tượng đánh thuế rất nhỏ (nhất là đối với bất động sản) nên khả năng chuyển thuế của đối tượng nộp thuế hầu như không xảy ra Vì vậy, nếu thuế tài sản đánh hàng năm với mức thuế quá cao sẽ vượt quá khả năng của đối tượng nộp thuế
Thứ tư, việc đánh thuế tài sản cần phải được kết hợp một cách chặt chẽ
với các hình thức thuế thu nhập từ tài sản và phải đặt trong mối quan hệ biện chứng với các loại thuế thu nhập khác Nguyên lý xuất phát từ chỗ người chiếm hữu tài sản thường có lợi thế hơn những người khác Do vậy, họ có dễ dàng có được thu nhập lớn từ việc đầu cơ tích trữ tài sản, hoặc từ việc được hưởng lợi ngẫu nhiên do sự đầu tư của nhà nước Do đó, thu nhập chênh lệch từ việc mua bán, trao đổi tài sản cần phải đánh thuế cao, một mặt làm hạn chế tình trạng đầu
cơ, một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội
Trang 23và áp dụng để bổ sung nguồn thu cho ngân sách nhà nước khi mà các vấn đề về tài sản nhất là đất đai, nhà cửa đã được bổ sung sửa đổi cho phù hợp với tình hình
thực tế Chúng ta sẽ làm rõ nội dung này ở Chương 2 của Luận văn: Thực trạng thuế tài sản ở Việt Nam
Trang 24CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THUẾ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM
2.1 Khái quát lịch sử hình thành thuế tài sản ở Việt Nam
2.1.1 Thời kỳ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945
Cũng giống như nhiều nước trên thế giới, các chính sách thuế lấy đối tượng đánh thuế là tài sản đã hình thành ở Việt Nam khá lâu và được áp dụng rộng rãi,
là thuế đánh vào những người có ruộng đất, vì nền kinh tế lúc đó dựa vào kinh tế đất đai là tài sản có giá trị nhất và là tài sản duy nhất thực sự có giá trị của dân chúng có thể đánh thuế được
Từ năm 1862, khi mới chiếm 3 tỉnh miền đông, thực dân Pháp đã ban hành ngay các sắc thuế để vơ vét của cải ở Đông Dương, trong đó có các sắc thuế lấy đối tượng đánh thuế là tài sản như thuế khai mỏ, thuế trước bạ văn khế, thuế điền thổ , thuế động sản lợi tức
2.1.2 Sau cách mạng tháng 8 năm 1945
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, để xoá bỏ các sắc thuế khắc nghiệt của Chính quyền thực dân Pháp và nhằm để có nguồn thu phục vụ công tác quản lý điều hành đất nước, Nhà nước đã xây dựng hệ thống thuế đầu tiên của chính quyền cách mạng Sau đây là những chính sách thuế lấy đối tượng đánh thuế là tài sản ở Việt Nam sau cách mạng tháng 8 năm 1945
(1) Thuế nông nghiệp- thuế sử dụng đất nông nghiệp
- Thuế nông nghiệp là 1 hình thức thuế đánh trên hoa lợi ruộng đất Căn cứ tính thuế là diện tích, sản lượng thường niên tính thuế và số nhân khẩu nông nghiệp của người nông dân
Năm 1983 Nhà nước ban hành Pháp lệnh thuế nông nghiệp chuyển từ hình thức thuế hoa lợi trên đất nông nghiệp trước đây sang hình thức bao hàm cả thuế
sử dụng đất nông nghiệp và thuế hoa lợi trên đất
Năm 1993 tại kỳ họp Quốc hội khoá 9 kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật thuế
sử dụng đất nông nghiệp, áp dụng từ ngày 01/01/1994 Luật này đã bãi bỏ Pháp lệnh thuế nông nghiệp Hiện nay chúng ta đang áp dụng Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp này
Trang 25(2) Thuế nhà đất
Pháp lệnh thuế về nhà đất được nước ta ban hành vào ngày 29/6/1991, liên tiếp qua các lần sửa đổi vào các năm 1992, 1994, 2003 Thuế nhà đất đánh vào hoạt động sử dụng đất để xây nhà và xây dựng công trình
(3) Thuế chuyển quyền sử dụng đất
Thuế chuyển quyền sử dụng đất được ban hành vào ngày 22/6/1994 Đây
là loại thuế thu một lần đối với tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất ở, đất xây dựng công trình, khi thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của mình cho người khác
(4) Thuế trước bạ hay còn gọi là lệ phí trước bạ
Tại Việt Nam, thuế trước bạ được thực dân Pháp ban hành từ năm 1965 Nghị định ngày 06/11/1929 đã điều chỉnh thành 3 sắc thuế riêng, đó là thuế trước
bạ, thuế tem và thuế động sản Các sắc thuế này được sửa lại năm 1939 và ngày càng được điều chỉnh, hoàn thiện
Từ sau khi tiếp quản thủ đô năm 1954 ở miền Bắc nước ta, Nhà nước đã cho tạm thời áp dụng chế độ thuế trước bạ của chính quyền cũ, chủ yếu đối với chuyển dịch nhà, đất ở các thành phố
Ngày 05/12/1987, Hội Đồng Bộ Trưởng đã ban hành Nghị Định 222/HĐBT về lệ phí trước bạ áp dụng thống nhất trong cả nước, thay thế các chế
độ về thuế trước bạ cũ Chế độ thu lệ phí trước bạ hiện nay được thực hiện theo Nghị định số 176/1999/NĐ-CP ngày 22/12/99 về lệ phí trước bạ của Chính phủ
(5) Các loại thuế khác
Bên cạnh các loại thuế tài sản trên, nhà nước còn ban hành các loại thuế tài sản khác để đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế – xã hội
- Thuế tài nguyên: được quản lý thu theo Pháp lệnh thuế tài nguyên được
Hội Đồng Nhà nước thông qua và có hiệu lực thi hành từ 01/01/1991 và được Quốc hội sửa đổi, bổ sung vào ngày 16/1/1998
- Tiền thuê đất: Chế độ thu tiền thuê đất hiện nay được qui định tại Nghị
định 198/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03/12/2004 về hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003 Tiền thuê đất là khoản thu đối với tổ chức, cá nhân ở
Trang 26trong và ngoài nước thuê đất một thời gian để hoạt động sản xuất kinh doanh mà không phải là sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ hải sản, làm muối
- Lệ phí địa chính: được quản lý thu theo Nghị Định số 68- CP ngày
17/8/1994 của Chính Phủ Lệ phí địa chính là khoản thu đối với tổ chức, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết một số công việc có liên quan đến địa chính
Như vậy, qua tóm lược lịch sử hình thành các chính sách thuế lấy đối tượng đánh thuế là tài sản ở Việt Nam qua các thời kỳ Ta thấy rằng thuế tài sản
đã hình thành từ rất sớm, ban đầu chỉ thu đối với đất đai (thuế điền thổ), sau này cùng với sự phát triển của xã hội, tài sản không chỉ giới hạn ở đất đai mà lúc này của cải người dân đa dạng hơn đã làm phát sinh thêm các loại thuế khác như thuế trước bạ, tiền thuê đất, thuế tài nguyên,
2.2 Đánh giá thực trạng hệ thống thuế tài sản ở Việt Nam
2.2.1 Thực trạng hệ thống thuế tài sản ở Việt Nam
Hiện nay, chưa có văn bản nào của Chính phủ qui định những loại thuế nào mang tính chất là thuế tài sản và những loại thuế nào không mang tính chất là thuế tài sản nhưng đã từ rất lâu, đại đa số nhân dân đều xem các chính sách thuế: thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất, tiền sử dụng đất, thuế chuyển quyền
sử dụng đất, thuế tài nguyên, tiền thuê đất, lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính như những chính sách thuế mang tính chất là thuế tài sản
Chế độ quản lý nhà nước về tài sản, nhất là Luật đất đai đã qui định cụ thể
về quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, xác định thời điểm sử dụng đất và đặc biệt
là những qui định về định giá đất đã ảnh hưởng trực tiếp đến các chính sách thuế tài sản vì đây là những căn cứ tính thuế, cụ thể các sắc thuế như: thu tiền sử dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà đất, tiền thuê đất, lệ phí trước bạ, Hiện nay, đối với các loại tài sản, Chính phủ ta đang áp dụng các chính sách thu tài chính chủ yếu: chế độ thu tiền sử dụng đất và chế độ nộp tiền thuê đất khi nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất; trong quá trình sử dụng đất, có thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất; khi thực hiện chuyển quyền sử dụng đất hoặc hợp thức hoá nhà có thuế chuyển quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ; khi đăng
ký tài sản có lệ phí trước bạ, khi được các cơ quan nhà nước giải quyết các công việc có liên quan đến địa chính thì có lệ phí địa chính
Trang 27(1) Thuế sử dụng đất nông nghiệp
Hiện nay, chúng ta đang áp dụng thuế sử dụng đất nông nghiệp theo luật thuế sử dụng đất nông nghiệp ban hành ngày 10/7/1993 và Nghị Định số 74-CP ngày 25/10/1993 của Chính Phủ qui định chi tiết thi hành Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp Đây là khoản thuế thu hàng năm đối với các tổ chức, cá nhân sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp bao gồm cả những cá nhân được giao quyền
sử dụng đất nông nghiệp nhưng không sử dụng vẫn phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp
Đất chịu thuế nông nghiệp là đất dùng vào sản xuất nông nghiệp, bao gồm:
và điều kiện tưới tiêu có kết hợp với việc tham khảo năng suất đạt được bình quân trong điều kiện canh tác bình thường của 5 năm và được ổn định trong 10 năm Trong thời hạn ổn định hạng đất, đối với vùng mà nhà nước đầu tư lớn đem lại hiệu quả kinh tế cao, Chính phủ điều chỉnh lại hạng đất tính thuế1; định thuế suất được xây dựng cho một năm, tính bằng kilôgam thóc trên 1 ha của từng hạng đất, phân biệt theo vùng đồng bằng, trung du, miền núi
Trang 28
Luật thuế cũng giành ra 1 chương (từ Điều 20 đến Điều 25 Chương V) để qui định về miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp nhằm khuyến khích khai hoang, thâm canh, tăng năng suất cây trồng vật nuôi; miễn thuế hoặc giảm thuế cho các hộ nông dân sản xuất ở vùng cao, miền núi, biên giới và hải đảo, các dân tộc thiểu số mà sản xuất và đời sống còn gặp nhiều khó khăn; miễn hoặc giảm thuế trong thời hạn thiên tai, dịch hoạ làm thiệt hại mùa màng
Số thu về thuế sử dụng đất nông nghiệp như sau:
Bảng 2.1: Số thu thuế sử dụng đất nông nghiệp từ năm 2003 đến năm 2007
( Nguồn từ Tổng cục Thống kê - Bộ Tài chính )
Biểu đồ số thu thuế sử dụng đất nông nghiệp từ năm 2003 đến năm 2007
Trang 291992, 1994, 2003 Pháp lệnh thuế nhà đất qui định: thuế đất thu hàng năm đối với các đối tượng có quyền sử dụng đất để ở hoặc để xây dựng công trình, mang ý nghĩa là thuế đánh vào việc sử dụng đất cho mục đích phi sản xuất nông nghiệp Trong tình hình hiện nay, tạm thời chưa qui định thu thuế nhà
Căn cứ tính thuế đất là diện tích đất ở, đất xây dựng công trình, hạng đất và định suất thuế tính trên đơn vị diện tích Trong đó diện tích đất tính thuế là toàn
bộ diện tích đất thực tế sử dụng vào mục đích ở, xây dựng công trình theo giấy cấp đất; hạng đất được xác định căn cứ vào các yếu tố chủ yếu như: loại đô thị (từ
I đến VI), loại đường phố hoặc khu phố dựa theo vị trí của đất ở từng khu vực và các điều kiện thuận lợi trong sản xuất kinh doanh; mức thuế suất được xác định theo định suất và được xác định bằng từ 1 đến 32 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp Pháp lệnh về thuế nhà đất cũng qui định miễn giảm cho loại đất sử dụng cho các mục đích công cộng, an ninh quốc phòng, vùng sâu, vùng xa, gia đình chính sách, khó khăn
Số thu về thuế nhà đất như sau:
Bảng 2.1: Số thu thuế nhà đất từ năm 2003 đến năm 2007
( Nguồn từ Tổng cục Thống kê - Bộ Tài chính )
Biểu đồ số thu thuế nhà đất từ năm 2003 đến năm 2007
Trang 30Số thu thuế nhà đất tăng dần do quá trình đô thị hóa diện tích đất ở , đất chuyên dùng tăng lên ( đất nông nghiệp thay đổi mục đích sử dụng chuyển sang đất ở, đất chuyên dùng
(3) Tiền sử dụng đất
Thu tiền sử dụng đất là khoản thu của Nhà nước mang tính chất đặc thù của Việt Nam (đất thuộc sở hữu toàn dân) Tiền sử dụng đất không những để thể hiện quyền lợi của chủ sở hữu đất của nhà nước mà còn là công cụ tài chính quan trọng buộc mọi người phải sử dụng đất có hiệu quả vì khi nhận đất phải trả tiền, làm cho mọi người phải tính toán giữa nhu cầu sử dụng đất với số đất mà mình cần phải có sao cho việc sử dụng đất có hiệu quả, không những bù đắp được số tiền sử dụng đất phải nộp mà còn có lợi nhuận cao
Tiền sử dụng đất là số tiền mà người sử dụng đất phải trả trong trường hợp được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định (theo Luật đất đai 2003) Chế độ thu tiền sử dụng đất hiện nay được qui định tại Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ Theo đó, qui định nhà nước thu tiền sử dụng đất đối với các trường hợp: được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất; được phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất; chuyển từ thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất; được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đất để xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế Nhà nước không thu tiền sử dụng đất đối với đất giao để dùng vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối hoặc dùng vào lợi ích công cộng, an ninh quốc phòng và đất ở thuộc các xã miền núi, hải đảo, vùng định canh, định cư, vùng kinh tế mới, vì các mục tiêu phát triển kinh tế nông lâm ngư nghiệp, khuyến khích mở rộng định cư ở vùng sâu, vùng xa, Do đó, tiền sử dụng đất không mang tính chất là tiền mua đất vì các tổ chức, cá nhân được giao đất chỉ nhận được quyền sử dụng đất và không phải tất cả các trường hợp được giao đất đều có thu tiền sử dụng đất
Căn cứ tính tiền sử dụng đất là diện tích đất, đơn giá đất, và mức thu tiền
sử dụng đất Trước đây tiền sử dụng đất được thu theo Nghị định 38/2000/NĐ-CP ngày 23/08/2000 của Chính phủ, theo đó, qui định diện tích tính tiền sử dụng đất
là diện tích đất được Nhà nước giao, được phép chuyển mục đích sử dụng, được xét cấp giấy chứng nhận, và có định hạn mức đất ở Giá đất được tính theo khung giá do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương qui định Mức thu
Trang 31tiền sử dụng đất được xác định theo thời điểm bắt đầu sử dụng đất, bao gồm các mức: 0% (đất sử dụng trước 18/12/1980), 20% (đất sử dụng từ sau 18/12/1980), 40% (đất do sang nhượng sau 15/10/1993, do chuyển mục đích sử dụng đất), 100% (đất sử dụng do tự khai phá làm nhà ở, do được tặng, cho, thừa kế, sau ngày 15/10/1993) Do đó, việc xác định tiền sử dụng đất tương đối phức tạp và còn nhiều sơ hở trong việc xác định thời gian sử dụng đất và mức thu tiền sử dụng đất Việc thu tiền sử dụng đất theo Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 đã thể hiện tính đơn giản, thuận lợi hơn trong cách tính, cụ thể như sau:
- Diện tích tính thuế không qui định hạn mức đất ở
- Giá đất tính thuế theo qui định tại Luật đất đai 2003: do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành trên nguyên tắc phù hợp với giá đất trên thị trường
- Mức thu tiền sử dụng đất: không thu tiền sử dụng đất trước nếu sử dụng đất trước ngày 15/10/1993, và thu mức 50% nếu đất sử dụng sau 15/10/1993
- Mức thu tiền sử dụng đất chỉ căn cứ vào thời điểm đất được bắt đầu đưa vào sử dụng
Tuy ra đời sau so với các chính sách về tài sản khác, nhưng chính sách thu tiền sử dụng đất đã tạo nguồn thu chủ yếu trong các chính sách thu về tài sản cho ngân sách nhà nước Kể từ khi thực hiện việc thu tiền sử dụng đất đối với các tổ chức, cá nhân được giao đất, số thu tiền sử dụng đất tăng lên liên tục qua các năm, nhất là trong giai đoạn 2005-2007 do việc đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở trên cả nước, cũng như việc giao đất cho các tổ chức xây dựng công trình
Số thu tiền sử dụng đất như sau:
Bảng 2.1: Số thu tiền sử dụng đất từ năm 2003 đến năm 2007
Trang 32( Nguồn từ Tổng cục Thống kê - Bộ Tài chính )
Biểu đồ số thu tiền sử dụng đất từ năm 2003 đến năm 2007
ở trên cả nước
4) Thuế chuyển quyền sử dụng đất
Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất được ban hành ngày 22/6/1994 và được sửa đổi bổ sung vào ngày 21/12/1999; Nghị định số 114-CP ngày 05/9/1994 hướng dẫn thi hành Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất năm 1994 và Nghị định
số 19/2000/NĐ-CP ngày 08/06/2000 qui định chi tiết thi hành Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất (năm 1994) và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất Đây là loại thuế thu một lần đối với tổ chức, cá nhân
có quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất ở, đất công trình,… khi thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của mình cho người khác Căn cứ tính thuế gồm đơn giá đất, diện tích đất chuyển quyền và thuế suất Trong đó, giá đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương qui định trên cơ sở khung giá đất do Chính phủ ban hành; thuế suất gồm có hai mức: 2% áp dụng đối với đất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và 4% áp dụng đối với các loại đất khác (đất ở, đất xây dựng công trình)
Luật thuế sử dụng đất cũng qui định các đối tượng không thuộc diện chịu thuế chuyển quyền sử dụng đất như: nhà nước giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng theo qui định của pháp luật về đất đai; chuyển quyền sử dụng đất trong trường hợp ly hôn, thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển
Trang 33quyền sử dụng đất giữa: vợ với chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, anh chị em ruột với nhau; Các trường hợp được miễn như chuyển quyền sử dụng đất để định cư ở miền núi, hải đảo; các tổ chức, cá nhân có đất các loại thuộc xã nông thôn ở miền núi, hải đảo; chuyển đổi đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối cho nhau để phù hợp với điều kiện canh tác; người được Nhà nước phong tặng “bà mẹ Việt Nam anh hùng” chuyển quyền sử dụng đất cho người khác, Các trường hợp giảm 50% thuế chuyển quyền sử dụng như: thương binh, thân nhân liệt sĩ, người già neo đơn, người chưa đến tuổi thành niên,
(5 ) Thuế tài nguyên
Pháp lệnh thuế tài nguyên được ban hành ngày 30/03/1990 của Hội đồng
Bộ trưởng và được Quốc hội sửa đổi, bổ sung vào ngày 16/4/1998 Theo đó, thuế tài nguyên thu vào các tổ chức, cá nhân có thực hiện khai thác các loại tài nguyên thiên nhiên thuộc chủ quyền quốc gia như: khoáng sản kim loại hoặc không kim loại, dầu mỏ, khì đốt, sản phẩm rừng tự nhiên, thuỷ sản tự nhiên, nước thiên nhiên
Căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác, giá tính thuế và thuế suất Trong đó, sản lượng tài nguyên khai thác thực tế trong kỳ nộp thuế là trọng lượng hay khối lượng thực tế khai thác; giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị của tài nguyên tại nơi khai thác; thuế suất thuế tài nguyên được qui định tại Nghị định số 68/1999/NĐ-CP ngày 03/9/1998 của Chính phủ
Pháp lệnh thuế tài nguyên có qui định miễm giảm đối với các trường hợp như: dự án đầu tư thuộc đối tượng ưu đãi đầu tư qui định tại Luật khuyến khích đầu tư trong nước có khai thác tài nguyên (trừ dầu khí) được giảm tối đa 50% thuế tài nguyên trong 3 năm đầu; tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên bị thiên tai địch họa; sản phẩm rừng tự nhiên do dân cư trên địa bàn xã có rừng được phép khai thác phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày; nước thiên nhiên dùng vào sản xuất thuỷ điện không hòa vào mạng lưới điện quốc gia; đất khai thác để sử dụng vào các mục đích san lấp, xây dựng công trình phục vụ an ninh quốc phòng, đê điều, thuỷ lợi, đường giao thông, công trình mang ý nghĩa nhân đạo
Trang 34(6) Tiền thuê đất
Chế độ thu tiền thuê đất hiện nay được qui định tại Nghị định 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ Nhà nước cho thuê đất là việc nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất Tiền thuê đất là khoản thu đối với tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước thuê đất một thời gian để hoạt động kinh doanh mà không phải là sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối Tiền thuê đất (bao gồm cả tiền thuê mặt đất, mặt nước, mặt biển) là khoản thu ổn định hàng năm nhằm điều tiết vào thu nhập do sử dụng đất mang lại
Theo Nghị định 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 thì đơn giá thuê đất là 0.5% giá đất theo mục đích sử dụng đất thuê do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương qui định hoặc là đơn giá theo trúng thầu theo dự án; đối với giá thuê mặt nước thì trong trường hợp thuê mặt nước cố định: giá thuê từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng/Km2/năm; mặt nước không cố định: từ 50 triệu đồng đến 250 triệu đồng/Km2/năm Như vậy, xét về mặt hiệu quả kinh tế, các tổ chức, cá nhân được nhà nước cho thuê đất sẽ có lợi hơn khi được giao đất vì khi được được giao đất phải nộp tiền sử dụng đất một lần theo giá đất qui định dựa vào giá thị trường, nếu giao đất có thời hạn 50 năm thì tỷ lệ khấu hao là 2%/năm, nếu thời hạn 20 năm thì tỷ lệ khấu hao là 5%/năm trong khi đó nếu thuê đất thì chỉ trả 0.5% giá đất hàng năm Thật ra, nếu tính toán theo quan điểm kinh doanh, thì tổng số tiền dùng để trả cho việc thuê đất hàng năm phải lớn hơn số tiền sử dụng đất trả một lần khi được giao đất (cũng giống như giữa việc mua hàng trả góp và mua hàng trả tiền ngay) Bởi vì theo cách tính hiện giá dòng tiền thì khi qui về hiện giá, hiện giá của dòng tiền thuê đất được trả hàng năm luôn lớn hơn hiện giá của tiền
sử dụng đất phải trả một lần Tuy nhiên, do sự khác biệt về chế độ quản lý của nhà nước về giao đất và đất thuê, xét về quyền lợi thì khi sử dụng đất được giao, các quyền lợi thực hiện dễ dàng và chủ động hơn, còn khi sử dụng đất thuê quyền lợi bị hạn chế; nên tiền thuê đất thường rẻ hơn tiền sử dụng đất khi được giao đất một lần Đó cũng chính là lý do giải thích tại sao xảy ra nghịch lý: Chế độ thu tiền đối với đất thuê sẽ có lợi hơn đất giao nhưng hầu như doanh nghiệp nào cũng muốn được giao đất hơn là thuê đất
Trang 35(7) Lệ phí trước bạ
Chế độ thu lệ phí trước bạ hiện nay được thực hiện theo Nghị định 176/1999/NĐ-CP về thu lệ phí trước bạ ngày 21/12/1999 của Chính phủ và Thông tư số 95/2005/TT-BTC ngày 26/10/2005 của Bộ tài chính hướng dẫn các qui định của pháp luật về lệ phí trước bạ Lệ phí trước bạ là khoản thu đối với tổ chức, cá nhân được nhận quyền sử dụng đất, hoặc quyền sở hữu các tài sản thuộc loại phải nộp lệ phí trước bạ như phương tiện vận tải đường bộ, đường sông, đường biển,…súng săn, súng thể thao khi các tài sản này đăng ký quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu tài sản với cơ quan quản lý nhà nước Nghị định 176/1999/NĐ-CP qui định không thu lệ phí trước bạ đối với một số trường hợp như: nhà, đất sử dụng vào mục đích công cộng; tài sản chuyên dùng vào mục đích an ninh quốc phòng; nhà tình nghĩa, xe chuyên dùng cho người tàn tật; nhà, đất được nhà nước đền bù trong trường hợp nhà, đất bị nhà nước thu hồi; góp vốn thành lập công ty TNHH, điều chuyển, sáp nhập tài sản giữa các công ty, tổng công ty, giữa các đơn vị thành viên với nhau
Lệ phí trước bạ được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị tài sản lúc đăng
ký trước bạ với cơ quan nhà nước Hiện nay, áp dụng tỷ lệ 1% đối với nhà, đất, tàu thuyền các loại; 2%-5% đối với các loại xe ôtô, xe gắn máy, súng,…Giá tài sản dùng tính lệ phí trước bạ là giá tài sản cao hơn giữa giá do nhà nước qui định
và giá thỏa thuận trên hợp đồng mua bán, trao đổi tài sản của các tổ chức, cá nhân Chế độ thu qui định mức khống chế thu tối đa lệ phí trước bạ là không quá
500 triệu đồng cho một tài sản
Số thu về lệ phí trước bạ như sau:
Bảng 2.1: Số thu về lệ phí trước bạ từ năm 2003 đến năm 2007
Trang 36Biểu đồ tình hình thu lệ phí trước bạ từ 2003 đến 2007
Số thu lệ phí trước bạ tăng dần đều là do :
- Thu nhập dân cư tăng lên dùng thu nhập để mua sắm tài sản
- Quá trình đô thị hóa dẫn đến việc phải thay đổi mục đích sử dụng đất
- Đ ẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở trên cả nước
(8) Lệ phí địa chính
Được quản lý thu theo Nghị định số 68-CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ
Lệ phí địa chính là khoản thu đối với tổ chức, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết một số công việc có liên quan đến địa chính như: chứng nhận biến động về đất đai, trích lục hồ sơ địa chính, lệ phí địa chính thu theo mức qui định cụ thể cho từng công việc nói trên, có sự phân biệt giữa tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất theo loại xã hoặc đô thị
Nhìn chung, đây là khoản thu chiếm tỷ trọng thấp nhất trong tất cả các khoản thu về tài sản trong ngân sách Đây là khoản lệ phí tương đối hợp lý và không gây cản trở, không làm tăng chi phí của đời sống xã hội cũng như hoạt động sản xuất
2.2.2 Đánh giá về hệ thống thuế tài sản ở Việt Nam
2.2.2.1 Về ưu điểm
+ Thứ nhất, các loại thuế đánh vào tài sản đã trở thành nguồn thu rất quan trọng của ngân sách địa phương Nhờ vậy, đã tạo điều kiện thuận lợi để chính quyền địa phương có thêm nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, thúc đẩy phát triển sản xuất Nguồn thu này tương đối ổn định đã giúp các địa phương vươn lên
Trang 37thế chủ động, đáp ứng kịp thời các khoản chi tiêu cần thiết cho nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của địa phương.
+ Thứ hai, góp phần đảm bảo chính sách động viên công bằng, hợp lý giữa
các khu vực kinh tế, là công cụ để nhà nước thực hiện yêu cầu kiểm kê, kiểm soát đối với một số tài sản mà nhà nước cần quản lý, qua đó phát hiện tài sản của nhà nước, tập thể bị chiếm dụng trái pháp luật, góp phần ngăn chặn các hiện tượng xã hội tiêu cực, Đồng thời quản lý tình hình sử dụng tài sản là đất ở, đất xây dựng công trình, khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả và thêm căn cứ thực
tế để nghiên cứu, xây dựng chính sách thuế về tài sản hợp lý hơn
+ Thứ ba, các sắc thuế trên đã được áp dụng từ lâu và đã trở thành nền nếp đóng góp khá quen thuộc trong nhân dân, mang tính truyền thống được xã hội chấp nhận Đại bộ phận người dân đã hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong việc nộp thuế
+ Thứ tư, từng bước phát huy được tác dụng khuyến khích việc bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả
+ Thứ năm, chính sách miễn giảm thuế cho các hộ nghèo , khó khăn, bị thiên tai, địch hoạ, mất mùa,…đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, nhà nước đến những người dân còn nghèo đói
- 2.2.2.2 Về nhược điểm
(1) Đới với thuế SDĐNN
+ Thứ nhất, thuế SDĐNN tính bằng thóc được quy ra tiền theo giá thị trường tại năm tính thuế mà giá thị trường lại thường xuyên biến động nên quá phức tạp Hơn nữa, giá thóc do UBND tỉnh quy định thường có khoảng cách tương đối lớn giữa các tỉnh với nhau làm cho những người dân ở các vùng giáp ranh giữa các tỉnh, có cùng hạng đất nhưng thuế lại nộp khác nhau
+ Thứ hai, sự phân biệt giữa hai loại định suất thuế khác nhau giữa các loại đất trồng cây hàng năm và cây lâu năm, cây ăn quả đã không tạo môi trường thuận lợi khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo đúng chính sách nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp
+ Thứ ba, việc xác định hạng đất là rất quan trọng để làm căn cứ tính thuế SDĐNN Tuy nhiên, theo qui định hiện nay cách phân loại đất theo 5 yếu tố tự nhiên, theo lý thuyết là khoa học nhưng trên thực tế rất khó thực hiện, khó đảm
Trang 38bảo thực hiện sự công bằng bởi vì đại bộ phận các địa phương không có bản đồ nông hoá thổ nhưỡng, số lượng các mãnh ruộng của dân bị chia rất manh mún, phân tán ở nhiều vị trí khác nhau, trong khi đó thời gian để tiến hành phân hạng lại quá ngắn (chỉ 3 tháng) Trên thực tế việc xếp hạng đất theo 5 yếu tố tự nhiên vừa không chính xác lại vừa không phản ảnh được giá trị phụ thuộc vào khả năng sinh lợi và hiệu quả của đất trong cơ chế thị trường vừa không đảm bảo được yêu cầu động viên công bằng, phù hợp theo yêu cầu của chính sách thuế Do đó, nhiều địa phương phải phân hạng đất dựa theo thu hoạch canh tác hàng năm theo cách cũ là căn cứ theo kế hoạch được giao, phân bổ nhiệm vụ thu cho từng huyện, từng xã và thuế được tính chung cho từng hộ nông dân (không thể tính cụ thể hạng đất cho từng mãnh ruộng) Trong khi đó thì người dân yêu cầu phải tính thuế rõ ràng cho từng mãnh ruộng được chia theo từng ô nhỏ và cán bộ thuế không thể giải thích được Cũng có không ít trường hợp vì thiếu căn cứ thực tế khi xếp hạng đất nên đất được xếp hạng thấp để tính thuế SDĐNN nhưng khi thu hồi đất để sử dụng vào mục đích khác lại được xếp vào hạng cao hơn để được hưởng đền bù thiệt hại hoặc ngược lại, dẫn đến phát sinh nhiều thắc mắc, khiếu kiện kéo dài không giải quyết thoả đáng được
+ Thứ tư, mục tiêu ban đầu của chính sách thuế SDĐNN là khuyến khích
sử dụng đất tiết kiệm và hiệu quả Tuy nhiên, trong thực tiễn thực hiện, do tác động của giá đất trong nền kinh tế thị trường, kết quả động viên về thuế SDĐNN trong thời gian qua có phần đi ngược với mục tiêu ban đầu mà chính sách đề ra
Cụ thể số thu thuế SDĐNN đối với đất ở miền núi, trung du cao hơn đất ở đồng bằng; số thu thuế SDĐNN của đất trồng cây lâu năm cao hơn đất trồng cây hàng năm Thậm chí có năm, mức động viên về thuế SDĐNN còn cao hơn so với thuế đất ở và đất xây dựng công trình4 3
+ Thứ năm, diện nộp thuế SDĐNN quá rộng, diện tích ruộng đất phân tán, người nông dân thường xuyên chia tách hộ, chuyển đổi ruộng đất, khiến việc lập sổ thuế và thông báo số thuế không chính xác, dễ thất thu hoặc lạm thu dẫn đến tiêu cực Mặt khác trình độ, năng lực của cán bộ thôn, xã còn nhiều yếu kém Chính sách bồi dưỡng cán bộ chưa được quan tâm, đầy đủ, phụ cấp quá thấp nên chưa động viên khuyến khích họ khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Trang 39
+ Thứ sáu, chính sách miễn, giảm thuế SDĐNN gắn với nhiều chính sách
xã hội làm nội dung chính sách thuế trở nên phức tạp, gây nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện Đối tượng được hưởng chính sách xã hội rất rộng nhưng thuế chỉ miễn cho một số đối tượng hạn chế, khiến cán bộ thuế khó giải thích cho người nộp thuế, Mặt khác, việc xét miễn giảm thuế SDĐNN được tiến hành qua nhiều cấp với nhiều thủ tục làm cho người dân gặp nhiều khó khăn
(2) Đới với thuế nhà đất
+ Thứ nhất, về diện tích để làm căn cứ tính thuế, do thiếu tài liệu đo đạc của cơ quan quản lý nhà nước hoặc địa chính nên hầu hết các trường hợp tính thuế đều dựa vào tài liệu tự khai của người nộp thuế dẫn đến có sự chênh lệch lớn giữa diện tích đất ở thực tế và diện tích kê khai nộp thuế
+ Thứ hai, hạng đất được xây dựng từ năm 1992, do quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng trên phạm vi cả nước nên hạng mức này đến nay đã quá lạc hậu Nhiều vùng nông thôn trước đây giờ đã thành thị trấn nhưng vẫn còn sử dụng theo hạng mức cũ, tiêu chuẩn điều chỉnh không được hướng dẫn rõ ràng, gây nhiều lúng túng, khó khăn trong tổ chức thực hiện ở địa phương
+ Thứ ba, thuế đất không liên quan đến thuế SDĐNN nhưng định suất thuế lại căn cứ vào mức thuế SDĐNN, điều này vừa làm cho chính sách thuế phức tạp vừa không hợp lý Qui định mức thuế đất ở cao nhất bằng 32 lần thuế SDĐNN, trong khi đó trên thực tế hiện nay đất ở hay đất công trình có giá thị trường có thể gấp trăm, gấp ngàn lần giá đất nông nghiệp, nhưng về hình thức tính thuế lại dễ gây ấn tượng là thuế nhà đất quá cao so với thuế SDĐNN Ngoài ra, vùng giáp ranh giữa thành thị và nông thôn thường có các mức thuế chênh lệch rất lớn; chỉ trên một trục đường, bên thuộc về thị trấn có thuế đất ở gấp 13 lần thuế SDĐNN, nhưng bên thuộc về nông thôn, thuế đất chỉ bằng 1 lần thuế SDĐNN, trong khi
đó giá đất và đời sống nhân dân ở hai bên đường gần giống nhau Đây cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ động viên về thuế đất quá thấp so với thuế SDĐNN
+ Thứ tư, thuế đất được tính bằng thóc theo giá thuế SDĐNN của vụ cuối năm trước liền kề năm thu thuế đất, căn cứ tính thuế này vừa thiếu thuyết phục vừa gây nhiều thắc mắc cho người nộp thuế Trong khi giá đất ở, đất xây dựng công trình tăng lên nhanh chóng, nhất là theo Luật đất đai 2003, qui định UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hàng năm phải điều chỉnh lại cho phù hợp