Hội chứng này có thể gặp ở các bệnh nhân bị viêm vi cầu thận mạn, xơ hóa vi cầu do tiểu đường bệnh Kimmelstiel-Wilson bệnh lupút đỏ, bệnh bột ở thận, bệnh huyết khối tĩnh mạch thận.. BỆN
Trang 1BỆNH THẬN VÀ NIỆU QUẢN Mục tiêu
1 Mô tả và phân tích 6 loại viêm vi cầu thận
2 Kể tên 6 loại bệnh mạch máu của thận
3 Mô tả và phân tích 5 loại bệnh của ống thận
4 Mô tả và phân tích 6 loại bệnh của mô kẽ thận
5 Mô tả bệnh lao thận
6 Mô tả và phân tích bệnh sỏi thận
7 Kể tên 6 u lành của thận
8 Mô tả và phân tích 3 ung thư thận
9 Kể tên 8 tổn thương gây tắc niệu quản
10 Mô tả 2 loại u niệu quản
Bệnh của thận phần lớn là viêm, thường có
kèm theo các rối loạn tim mạch, nhất là thường
có tình trạng cao huyết áp Hầu hết các bệnh
thận, dù do nguyên nhân hay có tính chất gì,
cũng thường có những biểu hiện lâm sàng giống
nhau, thường gây ra những rối loạn chức năng
thận như nhau, khó phân biệt trên lâm sàng
Trong giai đoạn trễ hoặc cuối của tất cả bệnh
thận, mô thận đều có hình thái bệnh lý tương tự
nhau, rất khó phân biệt nguồn gốc và tính chất
Người ta thường chia các bệnh thận làm 8
Tổn thương ban đầu ở vi cầu thận gồm:
- Tăng sản thượng mô và bao của vi cầu
thận
- Tăng sản và phồng tế bào nội mô vi mạch
- Dày màng đáy
- Thành lập các sợi nội vi mạch
- Xuất ngoại bạch cầu
Các thay đổi này làm hẹp hoặc tắc lòng vi mạch dần dần có thể gây thoái hóa kính rồi gây mất hẳn các vi cầu thận Ngoài ra, các ống thận cũng bị thoái hóa theo
Nguyên nhân chính xác của bệnh chưa được biết rõ Tuy nhiên bệnh có liên quan đến tình trạng nhiễm khuẩn, đặc biệt là nhiễm liên cầu khuẩn và là hậu quả của một phản ứng miễn dịch hay siêu nhạy cảm Viêm vi cầu thận cấp thường có sau viêm amiđan, sốt phát ban, hay sau viêm do liên cầu khuẩn Người ta cho rằng
mô thận đã có phản ứng dị ứng với vi khuẩn hay các sản phẩm của vi khuẩn và phản ứng này đã gây ra viêm Trên thực nghiệm, người ta tìm thấy các kháng thể khu trú trong các vi cầu thận Người ta cũng tìm thấy gamma globulin trên các
vi cầu thận của người bị bệnh viêm thận và các kháng thể hại thận này là kháng thể tự thân Viêm vi cầu thận lan tỏa được chia làm 3 loại: cấp tính, bán cấp và mạn
Trang 21.1 Viêm vi cầu thận cấp
Thường gặp ở trẻ em, chỉ tồn tại vài tuần,
có thể khỏi hoàn toàn hoặc diễn tiến thành thể
bán cấp hoặc mạn và gây chết
Thận bị sưng to và tái Bề mặt thận nhẵn,
đôi khi có các đốm xuất huyết nhỏ Dưới kính
hiển vi, các vi cầu to hơn, nhiều tế bào hơn bình
thường, không có máu kèm thấm nhập bạch cầu
Các tế bào nội mô mạch máu tăng sản và phì đại
Các tế bào thượng mô vi cầu thì ít thay đổi, chỉ
hơi phồng phần bào tương Trong vi mạch, có
các sợi hyalin nhỏ Mô kẽ giữa các vi mạch bị
phù và thấm nhập tế bào gây hẹp lòng mạch đôi
khi có thành lập cục huyết khối Màng đáy hơi
dầy lên, có thể có các chất lắng đọng ở trong hay
ở 2 mặt (của màng đáy)
Tất cả những thay đổi này làm ảnh hưởng
một phần hoặc hoàn toàn dòng máu đi qua vi cầu
thận, có thể gây thiểu niệu, cao huyết áp, tiểu
albumin, tiểu hồng cầu
Các ống thận thường bị dãn, phồng, thoái
hóa mỡ hoặc thoái hóa hyalin khi bệnh nặng do
lượng máu đến ống thận bị giảm và do bệnh ảnh
hưởng trực tiếp lên ống thận
1.2 Hội chứng Goodpasture
Hội chứng này gồm xuất huyết nặng ở phổi
và viêm vi cầu thận Hầu hết các trường hợp đều
xảy ra ở nam thanh niên Lúc đầu, bệnh nhân ho
ra máu Sau đó, bệnh thận diễn tiến trong vài
tháng rồi đưa đến tình trạng huyết niệu Trong
vách phế nang và màng đáy vi cầu thận đều có
alpha globulin
1.3 Viêm vi cầu thận bán cấp
Là loại viêm có diễn tiến nhanh thường gây
phù đưa đến huyết niệu trong vài tháng
Thận bị sưng to, tái, mềm (thận to, trắng)
Bề mặt thận có vài chỗ không đều và bao thận
không dính Tất cả vi cầu thận đều tăng sản, rõ
nhất tăng sản thượng mô của bao vi cầu Hiếm
hoặc không có thoái hóa hyalin Một số ống thận
bị teo đét và nhiều ống thận có chứa các trụ
1.4 Viêm vi cầu thận mạn
Bệnh thường diễn tiến âm thầm có thể kéo dài nhiều năm đưa đến suy thận và gây huyết niệu
Bệnh có thể xảy ra sau viêm vi cầu thận cấp
và các triệu chứng rầm rộ diễn tiến trong thời gian ngắn Nhưng thường giai đoạn cấp diễn tiến
âm thầm, nhẹ nhàng, ít được để ý Có khi trong những giai đoạn âm thầm lại có những đợt cấp tính nhẹ Dù diễn tiến thế nào bệnh cũng chấm dứt như nhau đưa đến suy thận với các triệu chứng tiểu nhiều, tiểu đêm, nước tiểu có trụ và albumin, cao huyết áp, tăng nitrogen và urê trong máu Cuối cùng bệnh nhân bị huyết niệu
Thận bị co nhỏ, chắc Bao thận dính, bề mặt thận gồ ghề với những hạt không đều Phần vỏ thận bị hẹp không đều, bị xơ hóa và mất cấu trúc bình thường Dưới kính hiển vi, phần lớn các vi cầu đều bị thoái hóa một phần hay toàn phần thành các khối hyalin Nhiều ống thận bị teo đét hay biến mất Giữa các ống thận và vi cầu thận
có các mô liên kết phát triển Chỉ còn vài ống thận và vi cầu thận có vẻ còn hoạt động Các động mạch vừa và nhỏ thường tăng sản và dầy lớp nội mô và lớp giữa
1.5 Viêm vi cầu thận màng
Bệnh có thể xảy ra ở mọi tuổi Thể bệnh nhẹ
và sớm thường xảy ra ở trẻ em Thể bệnh nặng hơn thường xảy ra ở người lớn
Trang 3Hình 14.1: Một số thay đổi trong viêm vi cầu thận
màng: Màng đáy dày có thể thấy được trên kính
hiển vi quang học Tăng sản thượng mô và bao của
vi cầu thận, tăng sản và phồng tế bào nội mô vi
mạch
Nguyên nhân bệnh chưa rõ, bệnh thường có
tiền căn nhiễm liên cầu khuẩn, nhưng người ta
nghĩ rằng bệnh do phản ứng miễn dịch-siêu nhạy
cảm
Hình thái lâm sàng giống như bệnh viêm
thận mỡ với tiểu protein nặng và phù
Thận ít bị thay đổi, chỉ có màu tái và bề mặt
nhẵn trong thời kỳ đầu của bệnh Trong thời kỳ
sau, thận bị teo nhỏ giống như các viêm mạn
khác
Dưới kính hiển vi, ở thời kỳ đầu, chỉ có tình
trạng thoái hóa mỡ ở thượng mô ống thận, ít có
thay đổi ở vi cầu thận Ở thời kỳ sau, các vi cầu
thận bị xơ hoá, màng đáy bị dày, nhất là ở các vi
cầu gần nơi tiếp hợp của vùng vỏ và tủy thận
1.6 Hội chứng thận nhiễm mỡ
Gồm các triệu chứng lâm sàng như: tiểu
protein, giảm protein máu, phù, tăng lipid và
cholesterol máu, tiểu lipid
Hội chứng này có thể gặp ở các bệnh nhân
bị viêm vi cầu thận mạn, xơ hóa vi cầu do tiểu
đường (bệnh Kimmelstiel-Wilson) bệnh lupút đỏ,
bệnh bột ở thận, bệnh huyết khối tĩnh mạch thận
Một số bệnh khác do siêu nhạy cảm cũng có thể
có hội chứng này dù không thường gặp
1.7 Huyết niệu
Là tình trạng bệnh lý đánh dấu thời kỳ cuối
của suy thận, là hậu quả của sự ứ đọng nhiều sản
phẩm chuyển hoá
Ngoài tình trạng thận bị hư, các tổn thương
ở nơi khác có thể rất thay đổi như: phù não, viêm
màng ngoài tim nhẹ, thoái hóa phần ngoài cơ tim,
viêm đại tràng hoại tử, xuất huyết vách phế
vi khuẩn Do chỉ có một lượng nhỏ vi cầu bị tổn thương nên chức năng thận vẫn tốt dù bệnh nhân
bị tiểu máu
2 BỆNH MẠCH MÁU CỦA THẬN
Tình trạng xơ hóa của các động mạch thận
và của các mạch máu trong thận là tình trạng bệnh lý rất quan trọng bởi vì bệnh nhân thường
có kèm theo tình trạng cao huyết áp Mô thận khi
bị thiếu máu sẽ chế tiết vào trong dòng máu một chất làm co thắt các mạch máu ngoại biên gây tăng huyết áp
Tình trạng xơ mỡ động mạch thận, trong một số hiếm trường hợp, có thể làm hẹp lòng mạch, đủ để gây nên thiếu máu thận
Trong các trường hợp cao huyết áp thường gặp tình trạng thiếu máu thận thường do xơ hóa các động mạch nhỏ nhất hoặc các tiểu động mạch trong thận Tình trạng xơ hóa của các động mạch lớn hơn trong mô thận thường không đều, không nhiều, nên hiếm khi đủ gây thiếu máu thận hoặc hiếm khi đủ làm suy thận, mà chỉ đủ tạo nên vài vết sẹo giống như các vùng nhồi máu đã lành Tình trạng này thường gặp ở người già (thận của những người này được gọi là thận xơ mỡ động mạch ở người già)
2.1 Thận xơ mỡ động mạch ở người già
Các động mạch to và vừa trong mô thận bị
xơ mỡ Thận chỉ hơi bị nhỏ đi Bề mặt thận có những vùng lõm không đều Dưới kính hiển vi, các vi cầu thận và ống thận tại các vùng sẹo dưới bao thận (vùng vỏ thận) bị thay bằng mô sợi có
Trang 4thấm nhập limphô bào và tương bào
2.2 Cao huyết áp
Có 2 loại: cao huyết áp thứ phát và cao
huyết áp vô căn
2.2.1 Cao huyết áp thứ phát
Ít gặp, là hậu quả của các bệnh thận (như
viêm thận-bể thận mạn, viêm vi cầu thận), bệnh
của hệ thần kinh, bệnh tim mạch, bệnh nội tiết
(như u tuyến yên, u thượng thận)
2.2.2 Cao huyết áp vô căn
Thường gặp Được gọi là vô căn vì người ta
không tìm thấy tổn thương nguyên phát Phần lớn
bệnh nhân bị bệnh này có xơ hóa tiểu động mạch,
thường là nhiều nơi, đặc biệt là ở lách, tụy,
thượng thận, não, thận Chỉ có khoảng 28% bệnh
nhân không có hoặc ít có tổn thương mạch máu
Lúc đầu, dòng máu ở thận bị giảm do tình
trạng co thắt cơ của các tiểu động mạch, độ lọc
của vi cầu thận và hoạt động ống thận vẫn bình
thường Ở thời kỳ trễ hơn, các tiểu động mạch và
động mạch nhỏ bị hẹp và xơ hóa gây thiếu máu
thận càng ngày càng tăng kèm theo giảm độ lọc
thận và giảm hoạt động ống thận
Cao huyết áp vô căn được chia ra làm 2 loại
trên lâm sàng: lành tính và ác tính
Loại ác tính thường xảy ra ở thanh niên
Bệnh thường có thêm tổn thương nặng của võng
mạc có diễn tiến nhanh gây chết vì suy thận Tổn
thương gồm: xơ hóa tăng sản các tiểu động
mạch, hoại tử vách các động mạch nhỏ và tiểu
động mạch, xuất huyết nhỏ từ các mạch máu bị
tổn thương nặng
Bệnh nhân thường chết do xuất huyết não,
suy thận (huyết niệu), suy tim, nghẹt mạch vành
Bệnh nhân thường bị phì đại tâm thất trái, bị tổn
thương võng mạc (xơ hóa các mạch máu nhỏ,
xuất huyết nhỏ, phù và mù ở thời kỳ nặng)
Nguyên nhân chưa rõ, yếu tố di truyền và
chủng tộc giữ vai trò quan trọng Ăn nhiều muối
cũng được coi là yếu tố đưa đến cao huyết áp
Ở thận, các tổn thương mạch máu thường
nặng nhất ở vùng gần sát vi cầu Thận có thể vẫn
bình thường hoặc teo đét, vỏ bao thận bị dính, mặt ngoài thận có hạt mịn và có sẹo Vỏ thận thường có các bọc nhỏ Trên đại thể, khó phân biệt với viêm vi cầu thận
Huyết khối tĩnh mạch thận thì ít gặp, có thể gây ra nhồi máu xuất huyết hoặc nặng hơn, gây hoại tử thận Ở người lớn, huyết khối tĩnh mạch thận thường là thứ phát từ sự lan rộng của viêm tĩnh mạch huyết khối ở các tĩnh mạch ngoại biên
Ở trẻ em, huyết khối tĩnh mạch thận nguyên phát
có thể đi kèm với viêm đại tràng-hỗng tràng Huyết khối tĩnh mạch thận cũng có thể đi kèm với hội chứng thận nhiễm mỡ, nhất là ở người lớn
2.4 Hoại tử vỏ thận hai bên
Ít gặp, nguyên nhân chưa rõ nhưng thường
đi kèm với các tình trạng bệnh lý sau đây:
- Xuất huyết và nhiễm độc thai ở thời kỳ muộn
Ở cả hai thận, vùng vỏ bị thiếu máu và có những vùng hoại tử không đều Bề mặt hai thận
có những vùng đục màu vàng đỏ và mềm Hình ảnh vi thể giống như trong nhồi máu, với những vùng sung huyết và thấm nhập bạch cầu ở bờ vùng hoại tử Các vùng hoại tử do thiếu máu ở
vỏ thận là do nghẽn tắc của các động mạch và các nhánh động mạch, các động mạnh tận và các tiểu động mạch của vùng vỏ thận Cơ chế của
Trang 5hiện tượng nghẽn động mạch này rất khác nhau
có thể là co mạch mạnh, liệt mạch, huyết khối,
hoại tử vách động mạch
2.5 Tổn thương thận trong bệnh lupút đỏ
Vi cầu thận là nơi bị tổn thương, gồm: tăng
sản tế bào nội mô vi mạch, lắng đọng chất dạng
fibrin (giữa các tế bào nội mô hoặc giữa màng
đáy và tế bào nội mô), màng đáy bị dày do
hyalin
2.6 Xơ hóa vi cầu thận trong bệnh tiểu đường
Xảy ra ở 1/3 các bệnh nhân bị tiểu đường
trên 40 tuổi Không liên quan với thời gian mắc
bệnh tiểu đường Là tiêu chuẩn mô học giúp chẩn
đoán bệnh tiểu đường
Vi cầu thận có những vùng nhỏ bị xơ hóa
hyalin Khởi đầu từ tổn thương màng đáy, các
hạt hyalin này nằm ở trung tâm vi cầu, có cấu
trúc hình miếng hoặc có không bào Các tiểu
động mạch ra của vi cầu cũng có thể bị hyalin
hoá Kính hiển vi điện tử cho thấy có hai tổn
thương rõ rệt: màng đáy bị dày, và lắng đọng các
mảng hyalin ở ngay hay ở giữa các tế bào nội
mô, tương ứng với các tổn thương cục hay lan
tỏa (trong tổn thương cục, các chất lắng đọng
hyalin có kích thước to, tách rời các tế bào nội
mô và đẩy các tế bào này ra ngoại biên làm hẹp
lòng vi mạch)
Các tổn thương khác ở thận thường đi kèm
với bệnh tiểu đường: xơ mỡ động mạch, viêm
thận-bể thận, hoại tử nhú thận Ở những người
bệnh tiểu đường được điều trị tốt, có thể có tích
tụ glycogen trong các tế bào quai Henle
3 TỔN THƯƠNG VÀ BỆNH CỦA ỐNG
THẬN
Ngoài các tổn thương ống thận đi kèm với
các bệnh vi cầu thận và bệnh mạch máu của
thận, các ống thận còn có các tổn thương như:
(1) Tổn thương có nguồn gốc chuyển hóa
hay nhiễm độc,
(2) Tổn thương do hóa chất độc
(3) Rối loạn chức năng ống thận do di
truyền hay mắc phải
Thượng mô thận dễ hồi phục, do đó bệnh nhân nếu sống sót sau một tổn thương nặng của ống thận thì có thể hồi phục hoàn toàn
3.1 Bệnh ống thận do rối loạn chuyển hóa và nhiễm độc
Là loại bệnh ống thận thường gặp nhất, do nhiễm khuẩn cấp tính hoặc do nhiễm độc Ống thận bị phù, thoái hóa mỡ, thoái hóa hyalin, hoại
tử tế bào thượng mô
Ống thận cũng có thể bị thoái hóa trong các bệnh sau:
- Vàng do mật
- Nghẹt mật, nhất là nơi nghẹt ở phần cao (ví dụ: nghẹt môn vị)
- Viêm mật mạn tính: thường gây thoái hóa không bào các tế bào ống thận
3.2 Bệnh ống thận do hóa chất độc
Các chất gây độc như: dioxan, diethylene glycol, gelatin chích tĩnh mạch, dung dịch sucrose ưu trương chích tĩnh mạch
Các tế bào ống thận bị phồng và thoái hóa không bào, trong không bào chứa nước
3.3 Rối loạn chức năng ống thận do bệnh di truyền và mắc phải
- Hội chứng Fanconi: bệnh có tính gia đình
di truyền theo gen lặn, thường rõ ràng ở trẻ em Bệnh nhân có các triệu chứng: nước tiểu có đường, nước tiểu có acid amin, giảm phospho vô
cơ trong huyết thanh và rối loạn tăng trưởng
- Hội chứng Fanconi người lớn hoặc mắc phải còn gọi là hội chứng rối loạn chức năng ống lượn gần: do ngộ độc kim loại nặng, các sản phẩm của tetracyclin, hoặc có trong một số ung thư như bệnh đa u tủy (protein Bence Jones trong nước tiểu gây thoái hóa ống thận)
3.4 Bệnh thận tiểu hemoglobin còn gọi là bệnh ống thận cấp
Do sự phá hủy một số lượng lớn máu hoặc
mô và do sốc Bệnh nhân bị thiểu niệu hoặc vô niệu hoặc chết và trong tình trạng suy thận Bệnh xảy ra ở những bệnh nhân sau:
Trang 6* Tăng nhiều hemoglobin trong máu và bị
tiểu hemoglobin khi bị truyền máu không hợp
nhóm
* Phỏng nặng
* Tiếp xúc với độ nóng cao
* Tổn thương tử cung và nhau thai
* Ngộ độc chất sulfonamide hoặc một số
chất độc khác
* Bị rắn độc cắn
Bệnh nhân thường bị ói mửa dữ dội, sốc,
thiểu niệu rồi vô niệu Nước tiểu có độ acid cao,
có chứa sắc tố và trụ sắc tố
Trên đại thể, thận ít có thay đổi đặc hiệu, hơi
sưng to và tăng trọng lượng Mặt ngoài và diện cắt
vùng vỏ thận có màu tái trong khi vùng tủy thận thì
có màu sậm và có nhiều vân Dưới kính hiển vi, các
ống lượn xa và phần xa của quai Henlé bị thoái hóa
và hoại tử Mô kẽ quanh vùng tổn thương bị phù và
thấm nhập tế bào Các tĩnh mạch kế cận thường bị
huyết khối Trong lòng ống lượn xa và ống góp có
chứa các trụ đỏ hoặc nâu
Các vi cầu thận và ống lượn gần vẫn bình
thường hoặc ít bị thay đổi Cơ chế sinh bệnh học
của các tổn thương kể trên đã được biết rõ, rõ rệt
nhất là tình trạng rối loạn của lưu lượng máu đến
thận và tình trạng thiếu máu thận Khi máu thận
giảm, một cơ chế vận mạch khiến cho máu dồn
về vùng tủy thận và làm thiếu máu vùng vỏ thận
Chất hemoglobin và các sắc tố dẫn xuất vừa có
Các chất này có thể gây ra tình trạng siêu
nhạy cảm làm thoái hóa và hoại tử ống thận
Ngoài ra một số chất như phenacetin (liều
cao), tetracycline (các chất thoái biến từ tetracycline) có thể gây tổn thương nặng ở ống thận
Bệnh nhân cũng bị thiểu niệu, rồi vô niệu và
có thể chết trong tình trạng huyết niệu
4 VIÊM MÔ KẼ CỦA THẬN
Khác với viêm vi cầu thận, trong viêm mô
kẽ của thận không có viêm tăng sản mà là viêm xuất dịch Trong mô kẽ có thấm nhập nhiều tế bào viêm hoặc lan tỏa hoặc khu trú
4.1 Viêm mủ khu trú mô kẽ
Còn gọi là áp-xe thận
Vi khuẩn gây bệnh thường là tụ cầu khuẩn
hoặc Escherichia coli Bệnh thường thứ phát
trên bệnh nhân bị nhiễm khuẩn máu, với các cục huyết tắc chứa vi khuẩn tạo nên nhiều ổ áp-xe khu trú khắp mô thận Áp-xe có thể nhỏ, tròn, màu vàng đục bao bọc bởi mô sung huyết màu
đỏ Có thể có nhiều hay chỉ có một bọc áp-xe
4.2 Viêm thận-bể thận
Đây là loại bệnh thận quan trọng và thường gặp nhất
Cả chủ mô thận và bể thận đều có viêm mô
kẽ Bệnh có thể xảy ra do nhiễm khuẩn từ 2 tình huống:
- Vi khuẩn đến thận qua đường máu, lúc đầu gây nhiễm khuẩn mô thận, rồi lan xuống bể thận
- Vi khuẩn gây bệnh ở bàng quang và bể thận trước, rồi lan ngược lên thận theo lòng niệu quản hoặc theo đường limphô của niệu quản Tình huống này thường là do tình trạng tắc nghẽn đường tiểu làm ứ đọng nước tiểu
Mô thận dần dần có những vùng sẹo rộng, hình chữ U, co kéo và còn ít chức năng Bệnh có thể làm teo nhỏ một thận hoặc cả 2 thận Khi 2 thận cùng bị bệnh, bệnh cảnh lâm sàng ở giai đoạn cuối rất giống viêm vi cầu Thận có những vùng viêm lan rộng từ vùng vỏ đến vùng tủy đến
bể thận Dưới kính hiển vi các vùng này thấm nhập nhiều tế bào viêm trong mô kẽ xen lẫn vài
Trang 7ống thận bị phá hủy và các ổ áp-xe
Trong giai đoạn cấp tính, tế bào viêm chủ
yếu là bạch cầu Trong giai đoạn mạn tính, tế
bào viêm là limphô bào và tương bào Niêm mạc
bể thận bị nhám Dưới niêm mạc có nhiều đám
limphô bào Tình trạng viêm nhẹ có thể đưa dần
đến teo đét, phá hủy ống thận và hyalin hóa vi
đoạn cuối rất giống viêm vi cầu thận mạn tính
với các biến đổi mạch máu và cao huyết áp
Hình 14.2: Viêm thận-bể thận: Mô thận bị phá
hủy
Hình 14.3: Viêm thận-bể thận: Bạch cầu đa nhân
(tế bào mủ) trong ống thận (HE x 250)
4.3 Hoại tử nhú thận
Viêm thận-bể thận cấp tính có thể biến chứng thành hoại tử nhú thận, trong các tình huống sau đây:
- Đặc biệt ở bệnh nhân tiểu đường trên 40 tuổi (25% trường hợp) Đôi khi có diễn tiến nặng, chết trong vài ngày Nhú thận bị hoại tử có những vùng giống như nhồi máu màu vàng xám
và tái Chung quanh vùng hoại tử là mô viêm màu đỏ
4.4 Thận mủ
Xảy ra ở những bệnh nhân bị viêm thận-bể thận, thận trướng nước, thận trướng nước teo đét, khi có thêm một yếu tố gây nghẽn đường tiểu Khi đó bể thận chứa đầy mủ Hậu quả cuối cùng là tạo nên một bọc vách mỏng chứa đầy
mủ
4.5 Viêm thận do tia xạ
Bệnh xảy ra trên bệnh nhân được chiếu tia
X lâu ở vùng có mô thận (để điều trị một bệnh khác, ví dụ như ung thư vùng sau phúc mạc) Đôi khi bệnh có thể đủ nặng để gây ra cao huyết
áp hoặc chết vì suy thận
Thận có vỏ bao dày và xơ hóa quanh vỏ bao Ống thận bị teo đét Mô kẽ bị xơ hóa lan tỏa Vi cầu thận bị tổn thương Các tiểu động mạch bị hoại tử dạng fibrin
5 BỆNH LAO THẬN
Vi khuẩn lao đến thận bằng đường máu, từ một tổn thưong lao đang hoạt động ở bất kỳ nơi nào trong cơ thể Tổn thương lao ở thận cũng có thể là một trong những tổn thương tạng của bệnh lao kê toàn thân
Vi khuẩn đến thận theo kiểu huyết tắc, dừng lại và gây tổn thương ban đầu ở vỏ thận Sau đó
vi khuẩn theo ống thận đi vào vùng tủy thận Ở
đó, ngay nhú thận, hình thành tổn thương lao có hoại tử bã đậu Từ đó, lao lan đến bể thận, niệu quản, bàng quang cùng lúc với các vùng còn lại của thận Tổn thương lao có thể làm hẹp niệu
Trang 8quản hoặc đài thận gây nên ứ nước ở thận, dần
dần làm hoại tử, loét mất chất mô thận và làm
thận trướng nước
Hình 14.4: Lao thận: Ở cực trên có các củ lao, ở
cực dưới có các đám hoại tử bã đậu và ổ mủ
Hình thái thận bị thay đổi tùy thuộc thời kỳ
bệnh Thời kỳ sớm, có những củ lao màu vàng
đục ở vỏ và nhú thận Trễ hơn, có các đám hoại
tử bã đậu và các hốc ứ mủ màu kem đặc thay thế
mô thận Niệu quản bị lao có vách dày, cứng và
hẹp Bàng quang bị tổn thương khởi đầu từ các
lỗ niệu quản, có những vùng loét không đều
6 BỆNH THẬN VỚI TĂNG TIẾT CỦA
TUYẾN CẬN GIÁP
6.1 Tăng tiết của tuyến cận giáp do thận
Rối loạn chức năng thận kích thích tăng sản
và tăng hoạt động của tuyến cận giáp Yếu tố
kích thích có thể là các rối loạn cân bằng canxi
hay phospho trong suy thận
Nếu các rối loạn nặng và kéo dài, bệnh cảnh
lâm sàng sẽ tương tự như bệnh cảnh của bệnh
viêm xương xơ hóa có bọc hoặc chứng lùn trẻ em
do thận
6.2 Bệnh còi do thận
Bệnh xảy ra trước tuổi dậy thì Bệnh nhân
có suy thận mạn kéo dài đi kèm với sự ngưng phát triển, biến dạng xương, đôi khi với kém phát triển giới tính Suy thận gây ra ứ đọng phospho làm tăng cao phospho trong máu, kích thích làm tăng sản và tăng hoạt động tuyến cận giáp Các tổn thương xương gồm biến dạng xương, viêm xương xơ hóa có bọc gây ra bởi có quá nhiều nội tiết tố cận giáp
Tổn thương trên có 2 loại:
- Các tổn thương có tính chất bẩm sinh như thận có bọc, các dị tật đường tiểu thấp làm dãn niệu quản và trướng nước thận
- Các tổn thương biến đổi mô thận được gọi
là viêm thận kẽ mạn tính
6.3 Viêm thận do tăng tiết của tuyến cận giáp
Tình trạng tăng tiết của tuyến cận giáp có thể gây ra các tổn thương thận, suy thận Nguyên nhân tăng tiết của tuyến cận giáp có thể là u tuyến, hoặc tình trạng tăng sản lan tỏa của tuyến cận giáp Bệnh nhân bị rối loạn chuyển hóa chất canxi làm lắng đọng canxi trong thận
Trong tình trạng tăng tiết của tuyến cận giáp cấp tính, canxi chỉ có chủ yếu ở trong ống thận Trong tình trạng mạn tính, canxi có ở mô kẽ, quanh ống và kèm với xơ hóa mô kẽ, thấm nhập
tế bào Cũng thường có sỏi thận do canxi lắng đọng trong chủ mô thận
Ngoài ra thận cũng có thể bị hóa canxi giống như trong các tình trạng bệnh lý sau:
Trang 97.1 Nguyên nhân
Có 2 loại:
- Các yếu tố làm tăng nồng độ của các tinh
thể tạo sỏi trong nước tiểu
- Các thay đổi tính chất vật lý hoặc hóa học
trong nước tiểu hay trong đường tiểu, tạo điều
kiện cho sự lắng đọng các tinh thể
Nồng độ cao của các muối tinh thể trong
nước tiểu làm cho dễ tạo sỏi Bình thường, nhờ
chất colloid trong nước tiểu, các tinh thể được
hòa tan hoàn toàn Mức hòa tan này cũng dễ trở
thành không hoàn toàn khi có sự tăng tiết các
tinh thể, ví dụ khi có tăng tiết của tuyến cận giáp,
giảm chất colloid (do nhiễm khuẩn chẳng hạn)
Sự khảm của chất đặc với các muối trong
nước tiểu là một yếu tố tạo sỏi quan trọng Ổ tạo
sỏi đầu tiên (nơi để các tinh thể tụ vào) có thể là
vi khuẩn hoặc mô thoái hóa hoại tử, hoặc các dị
tật Hiện tượng khảm này thường xảy ra trên một
mảng hóa canxi của nhú thận
Hóa tính của nước tiểu giữ vai trò quan
trọng trong việc giữ các muối ở trạng thái hòa
tan
Tình trạng kiềm tính mạnh không bao giờ là
nguyên nhân tạo sỏi
Tình trạng tăng tiết của tuyến cận giáp có
mối liên hệ trực tiếp với sự hình thành sỏi thận
(nhưng chỉ chiếm ít hơn 1% các trường hợp sỏi
thận) Do có sự gia tăng lượng canxi và phospho
trong nước tiểu và do khuynh hướng đọng muối
canxi trong mô thận, khoảng 30%-70% bệnh
nhân bị tăng tiết của tuyến cận giáp có sỏi thận
7.2 Cơ chế tạo sỏi
Theo Randall: lúc đầu một nhú thận bị tổn
thương, canxi đọng vào đó thành mảng Do gần
bề mặt, mảng canxi này dễ lộ ra khi mô phủ lên
bị loét và trở thành một ổ tạo sỏi Tại ổ này, bất
kỳ muối nào trong nước tiểu cũng có thể kết tinh
lắng đọng tạo thành một sỏi mảnh Mảng canxi
giữ sỏi tại chỗ cho đến lúc sỏi đủ to, rời khỏi nơi
hình thành ban đầu
7.3 Các loại sỏi
Sỏi thận thường là hỗn hợp của nhiều chất: uric acid, oxalate canxi, các phosphat, trong đó thành phần chiếm ưu thế tạo nên tính chất riêng biệt của sỏi
- Sỏi acid uric có độ cứng vừa, nhẵn, màu nâu và trên diện cắt có các lá ly tâm Được tạo trong nước tiểu acid
- Sỏi oxalat canxi (15-30% các sỏi thận) rất cứng, bề mặt có gai lởm chởm, màu nâu sẫm và
có lá Được tạo trong nước tiểu acid
- Sỏi phosphat (20% các sỏi thận) mềm, nhẵn, trắng và bở Được tạo trong nước tiểu kiềm
Hơn 50% sỏi thận cấu tạo bởi hỗn hợp oxalate canxi và phosphat
- Sỏi do dùng (uống hoặc chích) thuốc sulfapyridine: do sự lắng đọng chất sulfapyridine
đã acetyl hóa
7.4 Ảnh hưởng của sỏi
Sỏi thận có thể làm hẹp tắc đường tiểu, ứ nước tiểu, tạo điều kiện cho nhiễm khuẩn, gây đau bão thận Nơi bị hẹp tắc có thể là bể thận, niệu quản, bàng quang Tắc một phần hoặc tắc cách quãng nhiều lần sẽ làm dãn niệu quản, trướng nước bể thận ở phần trên nơi bị tắc Ứ nước tiểu sẽ làm cho dễ nhiễm khuẩn, gây viêm thận-bể thận Sỏi nhỏ di chuyển trong niệu quản làm đau bão thận
8 THẬN TRƯỚNG NƯỚC
Là tình trạng dãn nở bể thận kèm theo teo đét mô thận, do tắc nghẽn dòng nước tiểu Có nhiều nguyên nhân:
- Sỏi đường tiểu
- Tuyến tiền liệt to
- Hẹp đường tiểu bẩm sinh hay do viêm
- Có thai
- U Nếu chỉ tắc nghẽn ở một niệu quản thì chỉ một thận cùng bên bị trướng nước Nếu tắc
Trang 10nghẽn ở bàng quang hoặc thấp hơn thì cả 2 thận
bị trướng nước Mức độ trướng nước tùy thuộc
vào độ tắc nghẽn và thời gian tắc nghẽn Tắc
nghẽn không hoàn toàn hoặc tắc nghẽn ngắt
quãng làm cho mức trướng nước nhiều hơn tắc
nghẽn thình lình hoàn toàn (loại tắc nghẽn này
thường làm teo đét thận với độ trướng nước ít)
Trong vài trường hợp thận trướng nước vô
căn không thể tìm thấy nguyên nhân tắc nghẽn cơ
học Có thể là do tổn thương tủy sống làm liệt
bàng quang hoặc do có sự mất quân bình thần
kinh-cơ
Tổn thương khởi đầu từ sự dãn nở bể thận
làm các đài thận căng mỏng, mô thận bị teo đét
và mỏng Bể thận trở nên có hình túi hoặc hình
tròn Trong trường hợp nặng, toàn bộ thận và bể
thận căng to, bề mặt thận trở nên có thùy Sự teo
đét và xơ hóa chủ mô thận ảnh hưởng lên các
ống thận nhanh hơn các vi cầu thận Ống thận bị
teo đét Dần dần, các vi cầu bị thoái hóa hyalin
Bội nhiễm vi khuẩn sẽ làm cho thận bị ứ mủ
Nếu chỉ có một thận bị trướng nước thì thận
Thận thường bị tổn thương ở thời kỳ tiền
sản giật hoặc sản giật
Các tổn thương tương đối đặc hiệu và ít thay đổi so với tổn thương ở gan Các vi cầu bị
to, không có máu và có các vi mạch bị hẹp lại (do màng đáy bị dầy nhiều) Tổn thương ống thận thường có và thường rõ hơn tổn thương vi cầu thận Dù vậy, các tổn thương ống thận có lẽ thứ phát và ít quan trọng hơn tổn thương vi cầu thận Các ống lượn bị phồng nhẹ hoặc thoái hóa
mỡ, thoái hóa hyalin, hoặc bị hoại tử Tổn thương do thiếu máu vi cầu thận với dày màng đáy lan tỏa và đồng đều có thể coi như là một loại viêm vi cầu thận màng
Trong một vài trường hợp nhiễm độc thai nghén, mô thận có thể bị viêm vi cầu thận nguyên phát, viêm thận-bể thận, xơ hóa tiểu động mạch thận với cao huyết áp Hơn phân nửa thai phụ, sau khi hết sản giật, có thể bị cao huyết áp với bệnh thận và tim mạch
Một số hiếm trường hợp sản phụ có thể bị hoại tử vỏ thận 2 bên
10 DỊ TẬT VÀ BẤT THƯỜNG BẨM SINH 10.1 Tật không có thận
- Không có thận 2 bên rất hiếm gặp và bệnh nhân không thể sống được
- Không có một thận thường gặp hơn Thận đối bên thường to hơn bình thường
10.2 Tật thận dính hay thận hình móng ngựa
Thường nơi dính của 2 thận là cực dưới, do một băng mô sợi hoặc do mô thận Các bể thận vẫn riêng biệt Các niệu quản thường đi qua phía trước cực dưới thận, dễ bị gập góc hơn nên dễ tạo điều kiện có sự hình thành sỏi hơn
10.3 Niệu quản hoặc bể thận đôi
Là bất thường hay gặp, thường không ảnh hưởng chức năng thận
10.4 Tồn tại hình dạng thùy của thận
Hình dạng này giống hình dạng thận của thai Cũng là bất thường hay gặp và cũng không gây triệu chứng