1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Microsoft word TRANG BIA LUAN VAN

79 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Việt
Tác giả Lý Thị Ngọc Điểm
Người hướng dẫn TS. Hồ Diệu
Trường học Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế Tài chính, Ngân hàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 731,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word TRANG BIA LUAN VAN DOC BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH LÝ THỊ NGỌC ĐIỂM RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NAM VIỆT[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

LÝ THỊ NGỌC ĐIỂM

RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NAM VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Chuyên ngành Kinh tế Tài chính, Ngân hàng

Mã số: 60.31.12 Người hướng dẫn khoa học: TS HỒ DIỆU

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

-*** - Tôi tên: Lý Thị Ngọc Điểm

Sinh ngày: 22 tháng 09 năm 1986 – tại Tây Ninh

Quê quán: TP Hồ Chí Minh

Là học viên cao học khóa XI, niên khóa (2009-2012) của Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh Mã số học viên: 020111090110

Cam đoan đề tài: “Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam

Việt”

Là luận văn thạc sỹ Kinh tế, chuyên ngành Kinh tế Tài chính, Ngân hàng; Mã số: 60.31.12

Luận văn được thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: TS Hồ Diệu

Đề tài này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa được công bố toàn bộ nội dung này bất kỳ ở đâu; các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận văn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi

Ngày 12 tháng 12 năm 2012

Người cam đoan

Lý Thị Ngọc Điểm

Trang 5

2 Hình 2.1 Hệ thống cơ cấu tổ chức của Navibank 25

3 Bảng 2.2 Dư nợ tín dụng và cơ cấu dư nợ tín dụng của

4 Bảng 2.3 Phân loại nợ giai đoạn 2007-2011 của Navibank 32

5 Bảng 2.3 Các tỷ lệ đánh giá rủi ro tín dụng của Navibank 33

6 Hình 3.1 Sơ đồ minh họa phân loại khách hàng 49

Trang 6

MỤC LỤC

Trang bìa phụ Lời cam đoan Danh mục từ viết tắt Danh mục bảng biểu Mục lục

Mở đầu CHƯƠNG 1:

RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI 01

1.1 Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại 01

1.1.1 Tín dụng ngân hàng 01

1.1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng 01

1.1.1.2 Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường 02

1.1.2 Rủi ro và rủi ro tín dụng 03

1.1.3 Phân loại rủi ro tín dụng 05

1.1.4 Đặc điểm của rủi ro tín dụng 06

1.1.5 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng 07

1.1.5.1 Nguyên nhân thuộc về năng lực quản trị của ngân hàng 07

1.1.5.2 Nguyên nhân thuộc phía khách hàng 08

1.1.5.3 Nguyên nhân khách quan có liên quan đến môi trường hoạt động kinh doanh 08

1.1.6 Hậu quả của rủi ro tín dụng 09

1.2 Các phương pháp đánh giá rủi ro tín dụng 10

1.2.1 Các mô hình định lượng rủi ro 10

1.2.1.1 Mô hình định tính về rủi ro tín dụng- Mô hình 6C 11

Trang 7

1.2.1.2 Mô hình điểm số 11

1.2.2 Phân loại nợ và các tỷ lệ đánh giá rủi ro tín dụng 13

1.2.2.1 Phân loại nợ theo quy định của NHNN Việt Nam 13

1.2.2.2 Các tỷ lệ đánh giá rủi ro tín dụng 14

1.2.2.3 Phương pháp xếp hạng và giám sát rủi ro danh mục tín dụng 15

1.3 Phương pháp tiếp cận rủi ro tín dụng theo Basel 17

1.3.1 Quản lý rủi ro tín dụng theo Basel I 18

1.3.2 Tiếp cận rủi ro tín dụng theo Basel II 19

1.3.3 Ưu điểm của Basel II so với Basel I 21

Kết luận chương 1 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NAM VIỆT 24

2.1 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Nam Việt 24

2.1.1 Lịch sử hình thành 24

2.1.2 Hệ thống tổ chức ngân hàng 25

2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng của Navibank 25

2.2.1 Các hoạt động cho vay chính của ngân hàng 25

2.2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng 26

2.3 Thực trạng rủi ro tín dụng tại Navibank 30

2.3.1 Các thông tin và chỉ tiêu liên quan đến rủi ro 30

2.3.1.1 Phân loại nợ 30

2.3.1.2 Các tỷ lệ đánh giá rủi ro tín dụng 32

2.3.2 Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng 35

2.4 Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng tại Navibank 38

2.4.1 Nguyên nhân thuộc về ngân hàng 39

Trang 8

2.4.2 Nguyên nhân khách quan 41

2.4.3 Nguyên nhân liên quan đến khách hàng vay 42

Kết luận chương 2 45

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NAVIBANK 46

3.1 Định hướng quản trị rủi ro tín dụng tại Navibank 46

3.2 Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Navibank 47

3.2.1 Phân loại khách hàng 47

3.2.2 Nâng cao hiệu quả thẩm định hồ sơ vay vốn 49

3.2.3 Xây dựng mô hình tổ chức theo dõi và quản trị rủi ro 52

3.2.4 Tổ chức kiểm tra các khoản cho vay nhằm kịp thời phát hiện rủi ro tín dụng và xử lý 55

3.3 Các giải pháp xử lý rủi ro tín dụng tại Navibank 58

3.4 Các giải pháp quản lý nhà nước nhằm hỗ trợ cho các NHTM trong việc quản trị rủi ro 61

3.4.1 Đối với Nhà nước 61

3.4.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 62

3.4.2.1 Nâng cao chất lượng quản lý điều hành 62

3.4.2.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng 62

3.4.2.3 Tăng cường công tác thanh tra, giám sát ngân hàng 63

3.4.3 Kiến nghị đối với ban ngành địa phương 64

Kết luận chương 3 65

Kết luận 66 Tài liệu tham khảo

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Ngân hàng thương mại là một loại định chế tài chính trung gian cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại với số lượng đủ lớn, với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm mục đích phục vụ phát triển kinh tế-xã hội Với hoạt động này, ngân hàng là nhịp cầu nối giữa những chủ thể thừa vốn và những chủ thể thiếu vốn Với phần lớn các ngân hàng thương mại Việt Nam thì hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn, đã và đang là một trong những hoạt động kinh doanh đem lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng Tuy nhiên, hoạt động này cũng là hoạt động thường xuyên mang đến nhiều rủi ro cho ngân hàng

Rủi ro tín dụng là rủi ro về sự tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng là làm tăng thêm chi phí cho ngân hàng, thu nhập lãi bị chậm hoặc mất

đi cùng với sự thất thoát vốn vay, làm xấu đi tình hình tài chính và cuối cùng làm tổn hại đến uy tín và vị thế của ngân hàng Rủi ro tín dụng tồn tại song

dụng các biện pháp để phòng ngừa hoặc giảm thiểu tối đa thiệt hại khi rủi ro xảy ra, hướng đến mục tiêu hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả trong tăng trưởng

Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam cũng đã và đang xảy ra những bất ổn, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các ngành nghề, dẫn đến tình hình tài

Trang 10

chính trở nên khó khăn Theo đó, hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại cũng bị ảnh hưởng Người đi vay chậm trả nợ, thậm chí không có khả năng trả nợ gây ra rủi ro và tổn thất cho ngân hàng Chính vì vậy, rủi ro tín dụng phải được quản lý, kiểm soát một cách bài bản và có hiệu quả, đảm bảo tín dụng hoạt động trong phạm vi rủi ro chấp nhận được, giảm thiểu các thiệt hại phát sinh từ rủi ro tín dụng và tăng thêm lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng nhằm thực hiện tốt mục tiêu chung là đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả năm 2012 nói riêng và những năm tiếp theo nói chung Đó chính là lý do tôi chọn đề tài “Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Việt”

2 Mục tiêu của đề tài

Trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Việt, luận văn đưa ra một số biện pháp nhằm góp phần hạn chế

và xử lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Việt

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và các giải pháp góp phần kiểm soát và hạn chế rủi ro tín dụng để có thể góp phần nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng trong thời gian sắp tới của Ngân hàng TMCP Nam Việt

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu giữa lý luận và thực tế rủi ro tín dụng, nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong thời gian 5 năm (2007-2011) tại Ngân hàng TMCP Nam Việt, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm góp phần hạn chế và xử lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Thu thập, tổng hợp các số liệu thực tế về hoạt động tín dụng tại Ngân hàng

Trang 11

- Trên cơ sở lý luận, kết hợp với số liệu thực tế, sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng, rủi ro tín dụng từ đó tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng nhằm kiểm soát và hạn chế rủi ro tín dụng

5 Cấu trúc nội dung nghiên cứu của đề tài:

Đề tài bao gồm những nội dung chính sau:

Mở đầu Chương 1: Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Nam Việt

Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Navibank Kết luận

Trang 12

CHƯƠNG 1 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI 1.1 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1 Tín dụng ngân hàng

1.1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng

Thuật ngữ Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ Latin là Credo có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng cũng có nội dung riêng Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu theo nghĩa sau:

Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay

Trong quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là giao dịch về tài sản trên cơ sở

có hoàn trả giữa hai chủ thể Theo đó, giao dịch giữa ngân hàng và các định chế tài chính khác với các doanh nghiệp và cá nhân thể hiện dưới hình thức cho vay, tức là ngân hàng cấp tiền vay cho bên đi vay và sau một thời hạn nhất định người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi

Có nhiều định nghĩa về tín dụng, nhưng trên cơ sở xem xét tín dụng như

là một chức năng cơ bản của hoạt động ngân hàng thì tín dụng được hiểu như sau:

Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận,

Trang 13

bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán

1.1.1.2 Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường

- Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất của xã hội:

Tín dụng giúp điều hòa vốn từ các chủ thể tạm thời thừa vốn tới các chủ thể cần vốn Như vậy những nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trở nên hữu ích, sinh lời cho chủ thể thừa vốn; các chủ thể thiếu hụt vốn nhờ đó mà bổ sung vốn kịp thời vụ việc sản xuất, mở rộng phát triển sản xuất, đẩy nhanh tốc

độ tiêu thụ hàng hóa Các nguồn vốn tín dụng được cấp thường đi kèm những điều kiện nhất định nhằm hạn chế rủi ro và cũng góp phần buộc những người

sử dụng vốn vay cần quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn

- Tín dụng là kênh truyền tải ảnh hưởng của nhà nước đến các mục tiêu

vĩ mô:

Các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế bao gồm ổn định giá cả, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm giảm tỷ lệ thất nghiệp Các mục tiêu trên đều chịu ảnh hưởng rất lớn bởi khối lượng và cơ cấu tín dụng cung ứng trên thị trường Thông qua cơ chế tác động vào các điều kiện tín dụng như là lãi suất, điều kiện vay…Nhà nước có thể điều chỉnh được khối lượng, cơ cấu tín dụng

Việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng một mặt ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng và lãi suất trên thị trường, do đó tác động đến tình trạng giá cả trong nền kinh tế, mặt khác, việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, giảm hay tăng lãi suất

và thay đổi cơ cấu tín dụng sẽ tác động đến quy mô đầu tư, cơ cấu đầu tư, do

đó sẽ đồng thời tác động đến sản lượng, việc làm và cơ cấu kinh tế

- Tín dụng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội của nhà nước:

Hỗ trợ bằng tín dụng bằng cách áp dụng chính sách tín dụng ưu đãi đối với vùng sâu vùng xa, đối tượng xóa đói giảm nghèo, học sinh sinh viên nghèo hiếu học…Từ đó, các đối tượng chính sách xã hội, bản thân được sự

Trang 14

quan tâm của nhà nước, xã hội, để từ đó có trách nhiệm và nghĩa vụ sử dụng vốn vay hiệu quả, đảm bảo hoàn trả tín dụng, nên góp phần nâng cao kỹ năng, hiệu quả lao động sản xuất, học tập, từ đó có điều kiện phát triển như các chủ thể khác trong xã hội

- Tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại:

Việc cung cấp các khoản tín dụng tài trợ hoạt động xuất nhập khẩu, thu hút nguồn vốn tín dụng của nước ngoài…góp phần thúc đẩy, mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho các nước có điều kiện xích lại gần nhau hơn

1.1.2 Rủi ro và rủi ro tín dụng

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, rủi ro là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí

để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định

Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau trong phạm vi nhất định Thêm vào đó, rủi ro là một yếu tố khách quan nên không thể nào loại trừ được hẳn mà các ngân hàng chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện cũng như tác hại của nó Theo đó, trong nền kinh tế thị trường, cung cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của ngân hàng thương mại, là hoạt động quan trọng, đem đến nhiều lợi nhuận cho ngân hàng, vì vậy

nó cũng là hoạt động mang đến nhiều rủi ro cho ngân hàng

Trong “Financial Institution Management - A modern Perpective”, A Suanders và H.Lange định nghĩa “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ cả về số lượng và thời hạn”.[9]

Trang 15

Còn theo Hennie Van Greuning trong Analyzing banking Risk, Rủi ro tín

dụng “là nguy cơ mà ngưởi đi vay không thể trả được tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc theo thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng” [10] Rủi ro tín dụng là thuộc tính vốn có của ngân hàng, khi rủi ro tín dụng xảy ra tức là việc chi trả bị trì hoãn hoặc tồi tệ hơn là không được chi trả toàn bộ, điều này gây

ra sự cố đối với dòng lưu chuyển tiền và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng

Theo Khoản 2, Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì rủi ro tín dụng được hiểu như sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo mình cam kết” [6]

Mặc dù có nhiều định nghĩa về rủi ro tín dụng nhưng rủi ro tín dụng

được hiểu trong đề tài này là: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong

quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng” [2]

- Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng

và giảm giá trị thị trường của vốn.Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ hoặc ở mức độ cao hơn là phá sản

- Đối với các nước đang phát triển (như Việt Nam), lợi nhuận của các ngân hàng (đặc biệt là các ngân hàng có quy mô nhỏ) chủ yếu thu về từ hoạt động tín dụng, do đó rủi ro tín dụng cao hay thấp sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng

Trang 16

- Mặt khác rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định (lợi nhuận kỳ vọng càng cao thì rủi ro tiềm ẩn càng nhiều)

- Rủi ro tín dụng tồn tại hoàn toàn khách quan nên người ta không thể nào loại trừ hoàn toàn mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như tác hại do chúng gây ra

1.1.3 Phân loại rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín thành nhiều loại khác nhau

Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được chia thành các loại như sau:

Hình 1.1: Sơ đồ phân loại rủi ro tín dụng theo nguyên nhân phát sinh

(Nguồn: Phân loại rủi ro tín dụng [2]) Theo sơ đồ trên, rủi ro tín dụng bao gồm : rủi ro giao dịch (Transaction risk) và rủi ro danh mục (Portfolio risk)

- Rủi ro giao dịch: Là hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh

Rủi ro tín dụng

Rủi ro lựa chọn

Rủi ro bảo đảm

Rủi ro nghiệp vụ

Rủi ro nội tại

Rủi ro tập trung

Trang 17

giá khách hàng Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ

+ Rủi ro lựa chọn: rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay

+ Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sảm đảm bảo

+ Rủi ro nghiệp vụ: rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề

- Rủi ro danh mục: Là hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại: Rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk)

+ Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tónh riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế

Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn

+ Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc trong cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao

1.1.4 Đặc điểm của rủi ro tín dụng

Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả thì việc nhận biết các đặc điểm của rủi ro tín dụng là rất cần thiết Rủi ro tín dụng có những đặc điểm cơ bản sau:

Trang 18

- Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng gặp những thất bại và tổn thất trong quá trình sử dụng vốn; hay nói cách khác những rủi ro trong hoạt động kinh doanhh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng

- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng do đặc thù của ngành tài chính kinh doanh tiền tệ Do đó khi phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả do rủi ro tín dụng đem lại để có biện pháp thực hiện cho phù hợp

- Rủi ro tín dụng có tính tất yếu: bản chất của rủi ro là tồn tại khách quan Với bản chất đó, rủi ro tín dụng luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện

và đầy đủ, điều này đã làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức độ phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng

1.1.5 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng

Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, hay nói cách khác hoạt động ngân hàng luôn phải đối diện với rủi ro Vì vậy, phải nhận diện những nguyên nhân gây ra rủi ro để có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả Có 3 nhóm nguyên nhân căn bản sau:

1.1.5.1 Nguyên nhân thuộc về năng lực quản trị của ngân hàng

- Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi nhuận dẫn đến cho vay đầu tư quá liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều vào một hoặc một nhóm doanh nghiệp, hoặc một ngành kinh tế nào đó

Trang 19

- Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ, dẫn đến cho vay và đầu tư không hợp lý

- Do cạnh tranh của các ngân hàng mong muốn cho tỷ trọng, thị phần cao hơn khác ngân hàng khác

- Cán bộ tín dụng không tuân thủ chính sách tín dụng, không chấp hành đúnh quy trình cho vay Cán bộ tín dụng yếu kém về trình độ nghiệp vụ, cán

bộ tín dụng vi phạm đạo đức kinh doanh

- Định giá tài sản không chính xác, không thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần thiết hoặc không đảm bảo các nguyên tắc của tài sản đảm bảo là:

dễ định giá; dễ chuyển nhượng quyền sở hữu; dễ tiêu thụ

1.1.5.2 Nguyên nhân thuộc phía khách hàng

- Năng lực quản trị, năng lực pháp lý

- Sử dụng vốn sai mục đích, kém hiệu quả

- Do kinh doanh thua lỗ liên tục, hàng hóa không tiêu thụ được

- Quản lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu thanh khoản

- Chủ doanh nghiệp vay vốn thiếu năng lực điều hành, tham ô, lừa đảo

- Do mất đoàn kết nội bộ trong Hội đồng quản trị, ban điều hành

1.1.5.3 Nguyên nhân khách quan có liên quan đến môi trường hoạt động kinh doanh

- Do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hạn, chiến tranh, nội chiến… hay còn gọi

Trang 20

Tóm lại, nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng rất đa dạng, có những nguyên nhân khách quan và những nguyên nhân do chủ thể tham gia quan hệ tín dụng Những nguyên nhân từ phía chủ thể có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng và ngân hàng có thể kiểm soát được nếu có những biện pháp thích hợp

1.1.6 Hậu quả của rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn trong kinh doanh ngân hàng và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng không những cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, thậm chí có thể lan rộng trên phạm vi toàn cầu

- Đối với ngân hàng bị rủi ro:

Rủi ro tín dụng sẽ gây tổn thất về tài sản cho ngân hàng Khi rủi ro xảy

ra, vốn vay và lãi của ngân hàng sẽ bị giảm sút, thậm chí có khả năng không thể thu hồi, hoặc trường hợp có tài sản đảm bảo nhưng tài sản đảm bảo lại thu hồi giá trị không đủ bù đắp khoản cho vay và lãi, từ đó làm gia tăng chi phí hoạt động, giảm lợi nhuận Từ đó uy tín của ngân hàng bị giảm sút và có thể đánh mất thương hiệu của ngân hàng Một ngân hàng làm ăn thua lỗ liên tục, ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản, dẫn đến khó khăn về nhiều mặt thì nguy cơ phá sản ngân hàng là điều khó có thể tránh khỏi Vì vậy, rủi ro tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các ngân hàng thương mại

- Đối với hệ thống ngân hàng:

Mỗi một ngân hàng trong một quốc gia đều có liên quan đến hệ thống ngân hàng và các tổ chức kinh tế-xã hội, cá nhân trong nền kinh tế Do vậy nếu một ngân hàng có kết quả hoạt động xấu, thậm chí dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản thì sẽ có những tác động dây chuyền ảnh hưởng xấu đến các ngân hàng khác Nếu không có sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước

và Chính Phủ thì sẽ dẫn đến tâm lý sợ mất tiền lây lan đến toàn bộ người gửi

Trang 21

tiền, từ đó ồ ạt rút tiền tại các ngân hàng thương mại khác vô hình chung làm cho các ngân hàng cũng rơi vào trạng thái mất khả năng thanh toán

- Đối với nền kinh tế:

Ngân hàng là một bộ phận của nền kinh tế, có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, là kênh thu hút và bơm tiền cho nền kinh tế, vì vậy rủi ro tín dụng gây nên sự phá sản của một ngân hàng, gây ra hiệu ứng “đô-mi-nô” kéo theo hàng loạt các ngân hàng khác sụp đổ sẽ làm cho nền kinh tế bị rối loạn, hoạt động kinh tế mất ổn định và ngừng trệ, mất bình ổn về quan hệ cung cầu, lạm phát, thất nghiệp, tệ nạn xã hội gia tăng, tình hình an ninh chính trị bất ổn…

- Đối với quan hệ kinh tế đối ngoại:

Làm ảnh hưởng đến hình ảnh và vị thế của hệ thống ngân hàng-tài chính quốc gia cũng như ảnh hưởng đến uy tín nền kinh tế của quốc gia đó trên thị trường thế giới

Tóm lại: Rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra sẽ gây ảnh hưởng ở

các mức độ khác nhau: từ việc ngân hàng bị giảm lợi nhuận do phải trích lập

dự phòng, không thu hồi được lãi cho vay đến việc ngân hàng không thu được vốn gốc, lãi vay, nợ xấu tỷ lệ cao, tử đó ngân hàng bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được gây hậu quả nghiêm trọng cho hệ thống ngân hàng nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản lý ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm kiểm soát, hạn chế rủi ro cũng như giảm thiểu tối đa mức độ tổn thất do rủi ro tín dụng gây ra cho ngân hàng

1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ RỦI RO TÍN DỤNG 1.2.1 Các mô hình định lượng rủi ro

1.2.1.1 Mô hình định tính về rủi ro tín dụng- Mô hình 6C

Trang 22

Đối với mỗi khoản vay, điều mà ngân hàng quan tâm đầu tiên chính là khách hàng có thiện chí và khả năng thanh toán khi khoản vay đến hạn, liên quan đến việc nghiên cứu chi tiết “6 khía cạnh-6C” của khách hàng

- Tư cách người vay (Character): Cán bộ tín dụng phải chắc chắn người vay có mục đích tín dụng rõ ràng và có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn

- Năng lực của người vay (Capacity): Người đi vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự

- Thu nhập của người vay (Cashflow): xác định nguồn trả nợ của khách hàng vay

- Bảo đảm tiền vay (Collateral): là nguồn thu thứ hai có thể dùng để trả

nợ vay cho ngân hàng

- Các điều kiện (Conditions): ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng từng thời kỳ

- Kiểm soát (Control): đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật pháp, quy chế hoạt động, khả năng khách hàng đáp ứng các tiêu chuẩn của ngân hàng

Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản, song hạn chế của mô hình này là nó phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của cán bộ tín dụng

1.2.1.2 Mô hình điểm số

- Mô hình điểm số Z (Z- Credit scoring model):

Đây là mô hình do E.I.Altman dùng để cho tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn Đại lượng Z dùng để làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi

ro tín dụng đối với người đi vay và phụ thuộc vào: (i) Trị số của các chỉ số tài chính của người vay; (ii) Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ

Trang 23

Mô hình điểm của Altman như sau:

nợ

X5: Hệ số doanh thu/ tổng tài sản Trị số Z càng cao thì xác suất vỡ nợ của người đi vay càng thấp, ngược lại khi trị số Z thấp hoặc là một số âm thì đó là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao Theo mô hình này thì bất kỳ công ty nào só điểm

số Z<1,81 thì phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao

Ưu điểm: kỹ thuật đo lường rủi ro tín dụng tương đối đơn giản

Nhược điểm: Mô hình này chỉ cho phép phân loại nhóm khách hàng vay

có rủi ro và không có rủi ro Tuy nhiên trong thực tế mức độ rủi ro tín dụng tiềm năng của mỗi khách hàng khác nhau từ mức thấp như chậm trả lãi, không trả lãi được cho đến mức là mất cả vốn và lãi của khoản vay Thêm vào

đó các thông số phản ánh tầm quan trọng của các chỉ số trong công thức cũng như các yếu tố chỉ số tài chính không thể chứng minh được là bất biến, đặc biệt khi các điều kiện kinh doanh cũng như điều kiện thị trường tài chính đang thay đổi liên tục

- Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng:

Ngoài mô hình điểm số Z, nhiều ngân hàng còn áp dụng mô hình cho điểm để xử lý đơn xin vay của người tiêu dùng như: mua xe hơi, trang thiết bị gia đình, bất động sản….Các yếu tố quan trọng trong mô hình cho điểm tín dụng bao gồm: hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc,

Trang 24

sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cố định, tài khoản cá nhân, thời gian làm việc

Mô hình này thường sử dụng 7-12 hạng mục, mỗi hạng mục được cho điểm từ 1-10

Ưu điểm: Mô hình loại bỏ được sự phán xét chủ động trong quá trình cho vay và giảm đáng kể thời gian ra quyết định tín dụng

Nhược điểm: Mô hình không thể tự điều chỉnh một cách nhanh chóng để thích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế và cuộc sống gia đình

- Mô hình xếp hạng của Moody và Standar & Poor:

Rủi ro tín dụng trong cho vay và đầu tư thường được thể hiện bằng việc xếp hạng trái phiếu và khoản cho vay, trong đó Moody và Standar & Poor là những công ty cung cấp dịch vụ này tốt nhất Moody và Standar & Poor xếp hạng trái phiếu và khoản cho vay theo 9 hạng theo chất lượng giảm dần, trong

đó 4 hạng đầu thì ngân hàng nên cho vay, còn các hạng mục sau thì ngân hàng không nên đầu tư, cho vay

1.2.2 Phân loại nợ và các tỷ lệ đánh giá rủi ro tín dụng

1.2.2.1 Phân loại nợ theo quy định của NHNN Việt Nam

Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 về việc ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD và Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 của Thống đốc NHNN Việt Nam, trong đó quy định phân loại nợ thành 5 nhóm:

Trang 25

Việc phân loại nợ phải đảm bảo thực hiện đúng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, là cơ sở để thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, tính toán tỷ lệ nợ xấu

Tuy nhiên việc phân loại chất lượng tín dụng được tính theo thời gian nên những khoản tín dụng ở Việt Nam tiềm ẩn rất nhiều rủi ro vì những khoản

nợ đã quá hạn do khách hàng không còn đủ khả năng thanh toán nhưng vì một

lý do nào đó được Ngân hàng gia hạn nợ thì khoản nợ trên sẽ trở thành nợ trong hạn, không trích lập dự phòng rủi ro, khách hàng không được xếp vào diện cần theo dõi Hoặc như khoản nợ còn trong hạn, nhưng khách hàng kinh doanh không hiệu quả, khả năng trả nợ mong manh, nhưng vẫn chưa được xếp vào loại nợ xấu để tiến hành những biện pháp phòng ngừa

1.2.2.2 Các tỷ lệ đánh giá rủi ro tín dụng

- Tỷ lệ nợ quá hạn:

Tỷ lệ nợ quá hạn = (Dư nợ quá hạn/Tổng dư nợ cho vay) x 100

Nợ quá hạn (non performing loan-NPL) là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn, nói cách khác nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ Nợ quá hạn theo hệ thống phân loại nợ Việt Nam bao gồm: nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý), nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)

* Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ:

Nợ xấu (Bad debt): là những khoản nợ quá hạn 90 ngày mà không đòi được và không được tái cơ cấu Nợ xấu bao gồm nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) Nợ xấu

có những đặc trưng sau:

- Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết này đã đến hạn

Trang 26

- Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn lẫn lãi

- Tài sản đảm bảo được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải

nợ gốc và lãi

- Thông thường là những khoản nợ đã được gia hạn nợ, hoặc những khoản nợ quá hạn trên 90 ngày

Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của

tổ chức tín dụng Theo thông lệ quốc tế, ngưỡng an toàn là tỷ lệ nợ xấu dưới 3% Một tổ chức tín dụng khi tỷ lệ nợ xấu vượt ngưỡng an toàn thì cần phải xem xét, rà soát lại danh mục đầu tư của mình một cách đầy đủ, chi tiết và thận trọng, để từ đó có hướng xử lý kịp thời

* Hệ số rủi ro tín dụng

Hệ số rủi ro tín dụng = (Tổng dư nợ cho vay/Tổng tài sản có) x100 [2]

Hệ số này cho ta thấy tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tài sản có, khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn nhưng đồng thời rủi ro tín dụng cũng rất cao

1.2.2.3 Phương pháp xếp hạng và giám sát rủi ro danh mục tín dụng

Ngân hàng trong suốt thời gian cho vay phải liên tục giám sát danh mục tín dụng nhằm có các hành động kịp thời khi có bất kỳ vấn đề nào nảy sinh đối với khoản vay

Bước 1: Phân hạng rủi ro danh mục tín dụng

Một hệ thống phân hạng rủi ro là một hệ thống ghi lại các ước tính về mức độ rủi ro tiềm tàng trong từng khoản tín dụng của một mục danh mục tín dụng trong ngân hàng

Dựa trên những dữ liệu đã có và tầm quan trọng của từng dữ liệu, hệ thống phân hạng sẽ có một bảng định mức (có thể khác nhau tùy theo mỗi ngân hàng)

Trang 27

Việc xếp hạng rủi ro nên áp dụng cho tất cả khách hàng, tuy nhiên không thông báo cho khách hàng cấp độ rủi ro trong mọi trường hợp và cần đánh giá lại ngay cấp độ rủi ro của khách hàng khi có sự thay đổi theo chiều hướng đi xuống về khả năng trả nợ của khách hàng

Sau khi xác định được cấp độ rủi ro của từng khách hàng, ngân hàng đánh giá chất lượng của tài khoản bảo đảm khoản vay (với tư cách nguồn thứ hai) để có nhận định hoàn chỉnh về khoản vay và hướng xử lý sau này

Với mục đích trích lập dự phòng tổn thất cho vay, việc xếp hạng tài sản

có được áp dụng theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng Tuy nhiên nó chỉ có ý nghĩa trong việc trích lập dự phòng rủi ro, chưa phản ánh đầy đủ chất lượng của danh mục cho vay

Bước 2: Giám sát việc xếp hạng rủi ro

Các hạng rủi ro đã được đánh giá phải phản ánh chính xác tình trạng rủi

ro ở mọi thời gian, do đó mọi biến động ảnh hưởng đến quá trình xếp hạng đều phải được đánh giá lại ngay Việc giám sát được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau tùy vào từng ngân hàng, hoặc dùng đồng thời các phương pháp, đó là:

- Phương pháp dùng bảng so sánh: cán bộ tín dụng xây dựng một bảng theo dõi với các nội dung đã được thống nhất với khách hàng (bao gồm các nội dung đã cam kết trong khế ước vay nợ và các tỷ số tài chính tối thiểu cần duy trì) Bảng theo dõi tiến hành theo dõi các chỉ tiêu từng tháng của khách hàng trong suốt thời gian vay, từ bảng này ngân hàng có thể thấy sự tăng hay giảm về chất lượng khoản vay

Trang 28

- Phương pháp dùng đồ thị: Phương pháp này theo dõi giám sát khách hàng bằng cách: Khi nhận được các số liệu kế hoạch (trong phần xét duyệt cho vay), cán bộ tín sẽ đưa nó lên trục đồ thị, sau đó khi nhận được số liệu thực tế, cán bộ tín dụng cũng đưa lên trục đồ thị và các đường biểu diễn phản ánh rõ xu hướng của chất lượng khoản vay

- Phương pháp kiểm tra tại chỗ: Phương pháp này đem lại sự yên tâm hơn cho ngân hàng so với việc phân tich các số liệu tài chính của khách hàng

Các nội dung xem xét cũng được xác định như các phương pháp trên nhưng bằng giải pháp kiểm tra tại chỗ Khi kiểm tra sẽ xuất hiện các dấu hiệu cảnh báo để từ đó có được nhận định trong việc giám sát xếp hạng

1.3 Phương pháp tiếp cận rủi ro tín dụng theo Basel

Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng là một ủy ban bao gồm các chuyên gia giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập vào năm 1975 bởi các Thống đốc Ngân hàng Trung ương của nhóm G10 (Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Điển, Vương Quốc Anh và Mỹ) Ủy ban tổ chức họp thường niên tại trụ sở Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) tại Washington (Mỹ) hoặc tại Thành phố Basel (Thụy Sỹ)

Hiệp định Basel là thỏa thuận về các quy chuẩn tài chính áp dụng đối với các ngân hàng thương mại do các ngân hàng thuộc nhóm G10 Hiện nay nhiều nước trên thế giới đang áp dụng các quy chuẩn tài chính của Hiệp định này

Mục đích của việc ban hành các quy chuẩn tài chính trong hiệp định Basel là nhằm tạo ra sự ổn định và lành mạnh hệ thống tài chính ngân hàng quốc tế

Vào năm 1988, Ủy ban đã quyết định giới thiệu hệ thống đo lường vốn

mà nó được đề cập như Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I Hệ thống này cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8% Basel I không chỉ được phổ biến trong các quốc gia thành viên mà còn được phổ biến ở hầu hết các nước khác có ngân hàng hoạt động

Trang 29

quốc tế Đến năm 1996, Basel I được sửa đổi với rất nhiều điểm mới Tuy vậy, Hiệp ước vẫn có khá nhiều điểm hạn chế Để khắc phục những hạn chế của Basel I, tháng 6/1999, Ủy ban Basel đã đề xuất khung đo lường với 3 trụ cột chính: (i) yêu cầu vốn tối thiểu trên cơ sở kế thừa Basel I, (ii) sự xem xét giám sát của quá trình đánh giá nội bộ và sử đủ vốn của các tổ chức tài chính, (iii) sử dụng hiệu quả của việc công bố thông tin nhằm làm lành mạnh kỷ luật thị trường như là một sự bổ sung cho các nỗ lực giám sát Đến ngày 26/6/2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốn Basel mới (Basel II) đã chính thức được ban hành

1.3.1 Quản lý rủi ro tín dụng theo Basel I

Basel I đưa ra các chuẩn mực để quản lý rủi ro Các chuẩn mực quan trọng là:

- Tiêu chuẩn cấp tín dụng và quy trình giám sát tín dụng:

Một phần công việc thiết yếu của hệ thống thanh tra là đánh giá chính sách, thông lệ và quy trình liên quan đến việc cấp tín dụng, thực hiện đầu tư cũng như công tác quản lý và danh mục đầu tư hiện đại Chức năng tín dụng

và đầu tư ở các ngân hàng là khách quan và dựa trên nguyên tắc lành mạnh

Duy trì chính sách cho vay, mục đích cho vay và thủ tục cho vay thận trọng với các văn bản cho vay hợp lý là cần thiết đối với quản lý chức năng cho vay của ngân hàng Ngân hàng cần phải có một quá trình giám sát quanh hệ tín dụng hiện tại của khách hàng Cơ sở dữ liệu là nhân tố quan trọng của hệ thống thông tin quản lý, cần phải được chi tiết các danh mục cho vay

- Đánh giá chất lượng tài sản và dự phòng rủi ro mất vốn tín dụng:

Thanh tra ngân hàng cần phải biết rằng ngân hàng thiết lập và duy trì chính sách, thói quen và thủ tục phù hợp với việc đánh giá chất lượng tài sản,

dự phòng rủi ro mất vốn tín dụng Ngân hàng phải xây dựng một quy trình quan sát các khoản nợ có vấn đề và chọn lọc các món nợ quá hạn Khi thực

Trang 30

hiện bảo lãnh hoặc nhận thế chấp ngân hàng phải có phương pháp đánh giá uy tín của người bảo lãnh và định giá tài sản thế chấp Khi có các khoản nợ có vấn

đề thì ngân hàng tăng cường hoạt động cho vay trên cơ sở đảm bảo cấp tín dụng và sức mạnh tài chính tổng thể

- Sự tập trung rủi ro và các rủi ro lớn:

Ngân hàng phải có hệ thống thông tin quản lý, cho phép xác định những điềm đáng chú ý trong danh mục đầu tư và phải thiết lập giới hạn an toàn để hạn chế xu hướng ngân hàng tập trung vào các khách hàng đơn lẻ hoặc các nhóm khách hàng có quan hệ

- Cho vay khách hàng có mối quan hệ:

Để ngăn ngừa sự lạm dụng phát sinh từ việc cho vay khách hàng có mối quan hệ, quan hệ vay vốn phải dựa trên nguyên tắc “trong tầm kiểm soát” Có như vậy việc mở rộng tín dụng được giám sát một cách có hiệu quả, kiểm soát

và giảm thiểu rủi ro Giao dịch cho vay khách hàng có mối quan hệ thường gây ra những rủi ro đặc biệt cho ngân hàng, vì thế nên có sự chấp thuận của Hội đồng quản trị

* Những thiếu sót của Basel I: Năm 1996, Basel I đã được sửa đổi với

mục đích tính cả phí vốn đối với rủi ro thị trường Tuy nhiên, Basel I vẫn có nhiểu hạn chế như không đề cập đến rủi ro vận hành (không có yêu cầu vốn

dự phòng rủi ro vận hành) trong khi rủi ro này đang ngày càng trở nên phức tạp với mức độ ngày càng tăng lên, không phân biệt theo loại rủi ro, không có lợi ích từ việc đa dạng hóa…

1.3.2 Tiếp cận rủi ro tín dụng theo Basel II

Có hai cách tiếp cận để tính toán rủi ro tín dụng của ngân hàng là “đo lường rủi ro tín dụng theo phương pháp tiếp cận chuẩn hóa được hỗ trợ bởi các đánh giá bên ngoài về tín dụng” và sử dụng hệ thống đánh giá xếp hạng nội bộ của mình (IRB)”

Trang 31

- Phương pháp tiếp cận chuẩn hóa rủi ro tín dụng:

Phương pháp chuẩn hóa yêu cầu các ngân hàng phải phân loại các rủi ro tín dụng dựa trên những đặc điểm có thể quan sát được của rủi ro Phương pháp chuẩn hóa sẽ xếp loại rủi ro cố định cho từng loại rủi ro được giám sát

và căn cứ những đánh giá độ tín nhiệm của bên ngoài để nâng cao độ nhạy của rủi ro Phương pháp chuẩn hóa có những hướng dẫn sử dụng cho cán bộ kiểm tra, giám sát để quyết định nguồn đánh giá xếp loại của bên ngoài có phù hợp để có thể áp dụng cho các ngân hàng hay không?

Để giúp các ngân hàng và các giám sát viên trong trường hợp không có nhiều lựa chọn, Ủy ban Basel đã phát triển “phương pháp chuẩn hóa đơn giản” bao gồm những lựa chọn đơn giản nhất để tính toán các tài sản được xếp loại rủi ro Các ngân hàng áp dụng các phương pháp chuẩn hóa đơn giản cần tuân thủ những yêu cầu kiểm tra, giám sát và kỷ luật thị trường tương ứng với hiệp ước mới của Basel

- Phương pháp tiếp cận căn cứ vào xếp hạng nội bộ (IRB):

Các ngân hàng phải có các đơn vị kiểm soát rủi ro tín dụng độc lập chịu trách nhiệm thiết kế, thực hiện hoạt động các hệ thống xếp loại nội bộ của mình Các đơn vị này phải độc lập về chức năng đối với các bộ phận quản lý phải chịu trách nhiệm về việc tạo nên những khoản rủi ro tiềm năng, Các lĩnh vực phải kiểm soát gồm:

+ Kiểm tra và theo dõi xếp loại nội bộ;

+ Lập và phân tích các báo cáo tóm lược từ hệ thống xếp loại của ngân hàng bao gồm dữ liệu lịch sử về các trường hợp không trả nợ được phân loại vào thời điểm không trả nợ xảy ra và một năm trước khi xảy ra, phân tích các biện pháp giảm nhẹ rủi ro, theo dõi xu hướng trong các tiêu chí xếp loại chủ yếu;

Trang 32

+ Thực hiện các quy trình để thẩm tra xem định nghĩa xếp loại có được

sử dụng thống nhất ở các phòng, ban và khu vực địa lý hay không;

+ Đánh giá và lập hồ sơ mọi thay đổi trong quy trình xếp loại, lý do thay đổi;

+ Xem xét các tiêu chí xếp loại để đánh giá xem chúng còn tác dụng dự báo rủi ro hay không

1.3.3 Ưu điểm của Basel II so với Basel I

- Về cấu trúc và nội dung: Basel I tập trung vào một giải pháp quản lý

rủi ro duy nhất là “yêu cầu vốn tối thiểu” Trong khi Basel II tập trung nhiều hơn vào các phương pháp nội bộ của chính ngân hàng, đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát và kỷ luật trên nguyên tắc thị trường Do đó, quyền lực của các nhà quản lý quốc gia được tăng lên bởi họ cần phải đánh giá sự đủ vốn của ngân hàng có tính đến đặc điểm rủi ro cụ thể của nó

- Về tính linh động của ứng dụng: Basel I quy định chung một lựa chọn

cho tất cả các ngân hàng Basel II linh hoạt hơn với một danh sách các phương pháp, các biện pháp khuyến khích để các nhà quản lý quốc gia và các ngân hàng chọn lựa

- Về tính nhạy cảm với rủi ro: Basel I đo đạc rủi ro quá sơ bộ Basel II

nhạy cảm hơn với rủi ro thông qua độ nhạy cảm của yêu cầu vốn đối với mức

độ rủi ro tăng lên và sự công khai bắt buộc một cách chi tiết về độ nhạy cảm rủi ro và chính sách rủi ro

- Về trọng số rủi ro: Basel I quy định từ 0 - 100 và ưu đãi hơn với các

nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD – Organisation for Economic Co-operation and development) Basel II quy định từ 0 – 150 hoặc hơn và không có đặc quyền nào, bao gồm cả phân cấp bên trong và bên ngoài

- Về kỹ thuật giảm rủi ro tín dụng: Basel I chỉ hỗ trợ và đảm bảo Basel

II thừa nhận về kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tốt hơn, đưa ra nhiều kỹ thuật hơn

Trang 33

như hỗ trợ, đảm bảo, phái sinh tín dụng, lập mạng lưới vị thế (position netting)

Việc tiếp cận Basel II đòi hỏi kỹ thuật phức tạp và chi phí cao Đối với một nước có hệ thống ngân hàng mới đang ở giai đoạn phát triển ban đầu như Việt Nam, việc áp dụng Basel II gặp nhiều khó khăn, thách thức và mất nhiều thời gian Tuy nhiên trước xu thế hội nhập và mở cửa thị trường dịch vụ tài chính - ngân hàng với nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng mới và trong tình hình nền kinh tế thế giới cũng như nền kinh tế Việt Nam đang ở giai đoạn khó khăn, thì việc áp dụng Basel II tại Việt Nam là yêu cầu cấp thiết nhằm tăng cường năng lực hoạt động và giảm thiểu rủi ro đối với các ngân hàng thương mại

Trang 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng Rủi ro tín dụng là nguồn rủi ro lớn nhất trong hoạt động của các ngân hàng thương mại, tuy nhiên nó lại tồn tại một cách khách quan do đó chúng ta không thể loại trừ nó hoàn toàn mà chỉ

có thể kiểm soát và giữ nó trong chừng mực chấp nhận được, phù hợp với tiêu chí hoạt động của ngân hàng, đảm bảo hài hòa giữa mục tiêu sinh lời và mục tiêu an toàn hệ thống của ngân hàng

Trong chương 1, đề tài đã đề cập đến khái niệm về tín dụng, rủi ro trong hoạt động ngân hàng nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng, nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng Từ đó đưa ra các phương pháp nhằm đánh giá rủi

ro tín dụng của ngân hàng thương mại và đề cập đến việc tiếp cận rủi ro tín dụng theo các chuẩn mực quốc tế Basel I và Basel II

Trang 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NAM VIỆT 2.1 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Nam Việt

2.1.1 Lịch sử hình thành

Ngân hàng TMCP Nam Việt trước đây gọi là Ngân hàng TMCP Nông thôn Sông Kiên thuộc tỉnh Kiên Giang, được thành lập từ năm 1995 với vốn điều lệ 3 tỷ đồng theo Giấy phép số 00057/NH-CP ngày 18/09/1995 do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp và Giấy phép thành lập số 1217/GP-UB ngày 17/10/1995 do Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang cấp Với điểm xuất phát là ngân hàng thương mại nông thôn nên hoạt động chính của ngân hàng tập trung chủ yếu với tín dụng nông nghiệp dành cho các khách hàng là nông gia trên toàn tỉnh Kiên Giang

Đến năm 2004, vốn điều lệ chỉ còn 1,5 tỷ đồng, ngân hàng có nguy cơ phá sản và phải ở trong tầm kiểm soát đặc biệt Sau đó, các doanh nghiệp lớn như Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Công ty cổ phần liên hiệp vận chuyển Gemadept, Công ty cổ phần khu công nghiệp Tân Tạo, Công ty cổ phần phát triển đô thị Kinh Bắc… tham gia đầu tư Đến năm 2005, ngân hàng mới khôi phục và bắt đầu có lãi Năm 2006, được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ngân hàng đã chuyển đổi mô hình hoạt động từ ngân hàng TMCP nông thôn thành ngân hàng TMCP đô thị

Hiện nay, ngân hàng hoạt động kinh doanh theo Giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh số 4103005193 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh (đăng ký lần đầu theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 050046 ngày 02/11/1995 của Ủy ban kế hoạch tỉnh Kiên Giang), giấy đăng ký kinh doanh thay đổi lần thứ 5 ngày 03/12/2010

Thời gian hoạt động của Ngân hàng là 50 năm

Trang 36

Tên đầy đủ: Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt

Tên giao dịch quốc tế: Nam Viet Commercial Join Stock Bank

Tên viết tắt: Navibank

Trụ sở chính: Số 343 Phạm Ngũ Lão, Quận 1, TP.HCM

2.1.2 Hệ thống tổ chức ngân hàng:

Hình 2.1 Hệ thống cơ cấu tổ chức của Navibank

(Nguồn: Website của Navibank ) [11]

2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NAVIBANK 2.2.1 Các hoạt động cho vay chính của ngân hàng

- Khách hàng cá nhân:

+ Cho vay mua nhà, đất dự án, xe ô tô, bất động sản, xây dựng nhà, sửa chữa nhà

Trang 37

+ Cho vay bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh, cho vay trung hạn

hỗ trợ vốn sản xuất kinh doanh

+ Cho vay tiêu dùng

+ Cho vay du học

+ Cho vay cầm cố sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi (STK)

+ Cho vay tín chấp đối với cán bộ quản lý

+ Mua bán kỳ hạn cổ phiếu chưa niêm yết (Repo cổ phiếu)

+ Sản phẩm tín dụng dành cho các doanh nghiệp kinh doanh xe ô tô

+ Cho vay đầu tư xe ô tô, tàu biển đối với các doanh nghiệp vận tải

+ Thấu chi tài khoản tiền gửi (tín chấp)

2.2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng

Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của ngân hàng Từ nguồn vốn huy động, ngân hàng thông qua hoạt động của mình chuyển hóa thành nguồn vốn tín dụng để bổ sung vốn cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế, từ đó tạo nguồn thu nhập bồi hoàn lại tiền gửi của khách hàng, bù đắp chi phí kinh doanh và tạo ra lợi nhuận Tuy nhiên hoạt động cho vay luôn tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng vì vậy ngân hàng cần quản lý các khoản nợ một cách hiệu quả để kiểm soát và phòng ngừa rủi ro

Trên cơ sở nhận định mức độ rủi ro của thị trường, ngân hàng đã thực hiện nhiều biện pháp để kiểm soát tăng trưởng dư nợ tín dụng và luôn có sự

Trang 38

điều chỉnh về chính sách tín dụng cho phù hợp với những diễn biến của thị trường, đảm bảo an toàn và hiệu quả trong hoạt động tín dụng

Với mục tiêu chính là khách hàng cá nhân và các doanh nghiệp có quy

mô hoạt động vừa và nhỏ, do đó, nếu phân loại dư nợ tín dụng của ngân hàng theo thành phần kinh tế thì bao gồm 2 thành phần đó là khách hàng là cá nhân

và khách hàng là tổ chức kinh tế

Trong giai đoạn 2007-2011, doanh số cho vay của ngân hàng Nam Việt tăng qua các năm, đặc biệt tăng cao vào năm 2009 do thực hiện cho vay hỗ trợ lãi suất theo quy định của Nhà nước,cụ thể:

Năm 2007, dư nợ tín dụng đạt 4.363.446 triệu đồng trong đó dư nợ ngắn hạn chiếm 37,56%, chủ yếu tập trung vào cho vay khách hàng cá nhân với dư

nợ là 2.439.378 triệu đồng (chiếm 55,9%) Nếu phân loại dư nợ tín dụng theo đơn vị, dư nợ tín dụng tại Hội sở chính đạt 2.779.601 triệu đồng, chiếm 63,7% tổng dư nợ, kế đến là Chi nhánh Hà Nội với dư nợ tín dụng là 673.141 triệu đồng, chiếm 15,43% tổng dư nợ

Năm 2008, dư nợ tín dụng đạt 5.474.559 triệu đồng, tăng 1.111.113 triệu đồng (tăng 25,46%) so với năm 2007 Dư nợ tín dụng tăng chủ yếu từ khách hàng tổ chức kinh tế (1.248.364 triệu đồng), và dư nợ của khách hàng

tổ chức kinh tế là 3.172.432 triệu đồng, chiếm 57,95% Phân loại theo đơn vị thì dư nợ tín dụng tại Hội sở chính đạt 3.359.655 triệu đồng, chiếm 61,36%

tổng dư nợ, kế đến là Chi nhánh Hà Nội với dư nợ tín dụng là 798.638 triệu

đồng, chiếm 14,59% tổng dư nợ

Năm 2009, dư nợ tín dụng đạt 9.959.607 triệu đồng, tăng 4.485.049 triệu đồng (81,93%) so với năm 2008 Trong năm 2009, các TCTD thực hiện cho vay hỗ trợ lãi suất nằm trong gói hỗ trợ kích cầu của Chính phủ, phần lớn dư

nợ của hoạt động cho vay hỗ trợ lãi suất thuộc về các đối tượng là doanh nghiệp, vì vậy dư nợ cũng tăng chủ yếu từ khách hàng tổ chức kinh tế (tăng

Trang 39

3.578.475 triệu đồng), và dư nợ của khách hàng là tổ chức kinh tế là 6.750.907 triệu đồng, chiếm 67,78% Điều này thể hiện Ngân hàng đã tích cực triển khai hiệu quả, an toàn và đúng quy định chương trình hỗ trợ lãi sất của Chính phủ Dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất của ngân hàng năm 2009 đạt 1.876.695 triệu đồng, tập trung chủ yếu nhóm ngành công nghiệp chế biến, thủy sản, xây dựng và thương nghiệp Dư nợ tín dụng tại Hội sở chính đạt 6.406.726 triệu đồng, chiếm 64,3% tổng dư nợ, kế đến là Chi nhánh Hà Nội với dư nợ tín dụng là 882.151 triệu đồng, chiếm 8,86% tổng dư nợ

Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thời hạn thì trong 3 năm (năm 2007, 2008, 2009) dư nợ tín dụng của ngân hàng chủ yếu tập trung ở trung dài hạn (chiếm 62,44%, 64,17% và 50,74%), điều này tạo nên rủi ro cho ngân hàng khi hoạt động huy động vốn lại chủ yếu tập trung ở kỳ ngắn hạn

Năm 2010, dư nợ tín dụng đạt 10.766.555 triệu đồng, tăng 806.947 triệu đồng (8,10%) so với năm 2009, dư nợ tập trung chủ yếu ở khách hàng tổ chức kinh tế (chiếm 64,4%) Tuy nhiên dư nợ tín dụng tăng chủ yếu từ dư nợ khách hàng cá nhân (tăng 625.078 triệu đồng), tăng gấp xấp xỉ 3,5 lần so tăng từ dư

nợ tín dụng khách hàng tổ chức kinh tế (181.870 triệu đồng) Cơ cấu dư nợ tín dụng tính theo đơn vị thì tại Sở giao dịch dư nợ tín dụng đạt 5.921.179 triệu đồng, chiếm 55% tổng dư nợ, kế đến là Chi nhánh Hải Phòng với dư nợ tín dụng là 972.156 triệu đồng, chiếm 9,03% tổng dư nợ, Chi nhánh Hà Nội với

dư nợ tín dụng là 924.395 triệu đồng, chiếm 8,56% tổng dư nợ

Năm 2011, dư nợ tín dụng đạt 12.914.682 triệu đồng, tăng 2.148.127 triệu đồng (19,95%) so với năm 2010, tập trung chủ yếu ở khách hàng tổ chức kinh tế (9.496.869 triệu dồng, chiếm 73,54%) Dư nợ tín dụng tăng chủ yếu từ đối tượng khách hàng tổ chức kinh tế (tăng 2.564.092 triệu đồng) do năm

2011, thực hiện việc điều chỉnh tín dụng vào lĩnh vực phi sản xuất, do đó toàn

bộ dư nợ tín dụng tăng thêm chủ yếu tập trung cho lĩnh vực sản xuất kinh

Ngày đăng: 23/11/2022, 09:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồ Diệu (2001), Tín dụng ngân hàng, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín dụng ngân hàng
Tác giả: Hồ Diệu
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2001
2. Trần Huy Hoàng (2007). Quản trị ngân hàng, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng
Tác giả: Trần Huy Hoàng
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động - Xã hội
Năm: 2007
3. Nguyễn Đào Tố (2008), Xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng từ những ứng dụng nguyên tắc Basel về quản lý nợ xấu, Tạp chí ngân hàng số 5/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng từ những ứng dụng nguyên tắc Basel về quản lý nợ xấu
Tác giả: Nguyễn Đào Tố
Nhà XB: Tạp chí ngân hàng
Năm: 2008
4. Nguyễn Đức Tú (2011), Mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Tú
Năm: 2011
8. Quốc hội: Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010. TIẾNG NƯỚC NGOÀI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: TIẾNG NƯỚC NGOÀI
Năm: 2010
9. Anthony Sauders-Helen Lange (1996), Financial Institution Management - A modern Perspective, Irwin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Institution Management - A modern Perspective
Tác giả: Anthony Sauders, Helen Lange
Nhà XB: Irwin
Năm: 1996
10. Hennie Van Greuning-Sonia Brajovic Bratanovic (2003), Analyzing banking Risk, World Bank Publications.CÁC TRANG WEBSITE 11. www.navibank.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Analyzing Banking Risk
Tác giả: Hennie Van Greuning, Sonia Brajovic Bratanovic
Nhà XB: World Bank Publications
Năm: 2003
5. Ngân hàng TMCP Nam Việt: Báo cáo tài chính năm 2007-2012 Khác
6. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2005), Quyết định 493/2005/QĐ- NHNN ngày 22/4/2005 Khác
7. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010), Hiệp ước vốn Basel (Basel I và Basel II), www.sbv.gov.vn Khác
w