Microsoft Word LU?N ÁN NGHIÊM QUÝ HÀO ®¹i häc quèc gia hµ néi Tr−êng ®¹i häc kinh tÕ ***** Nghiªm quý hµo TÝN DôNG §ÇU T¦ PH¸T TRIÓN CñA NHμ n−íc cho c¸c ch−¬ng tr×nh kinh tÕ lín vμ dù ¸n kinh tÕ trän[.]
Trang 1đại học quốc gia hà nội Trường đại học kinh tế
*****
Nghiêm quý hào
TíN DụNG ĐầU TƯ PHáT TRIểN CủA NHμ nước cho các chương trình kinh tế lớn vμ
dự án kinh tế trọng điểm ở việt nam
Chuyên ngμnh: Kinh tế chính trị Mã số: 62 31 01 01
Luận án tiến sĩ kinh tế chính trị
Người hướng dẫn khoa học : pgs.ts phạm văn dũng
Hμ Nội - 2015
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i DANH MỤC BẢNG, BIỂU ii
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC CHO CÁC CHƯƠNG TRÌNH KINH TẾ LỚN VÀ DỰ ÁN KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM 30
1.1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC CHO CÁC CHƯƠNG TRÌNH KINH TẾ LỚN VÀ DỰ ÁN KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM 30
1.1.1 Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước .30
1.1.2 Các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm 33
1.1.3 Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm 41 1.1.4 Hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm 54 1.2 TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 63
1.2.1 Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ở một số quốc gia trên thế giới 63 1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 71
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC CHO CÁC CHƯƠNG TRÌNH KINH TẾ LỚN VÀ DỰ ÁN
KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM Ở VIỆT NAM 78
2.1 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CHO CÁC CHƯƠNG TRÌNH KINH TẾ LỚN, DỰ ÁN KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM Ở VIỆT NAM 78
2.1.1 Môi trường pháp lý 78
2.1.2 Chính sách tín dụng đầu tư phát triển cho các chương trình kinh tế lớn
và dự án kinh tế trọng điểm 83 2.1.3 Bản chất của hoạt động tín dụng đầu tư phát triển cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm 91 2.1.4 Năng lực của Tổ chức thực hiện tín dụng đầu tư phát triển cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm 94
Trang 32.2 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CHO CÁC CHƯƠNG TRÌNH KINH TẾ LỚN, DỰ ÁN KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 99
2.2.1 Tín dụng đầu tư phát triển cho các chương trình kinh tế lớn 99 2.2.2 Tín dụng đầu tư phát triển cho các dự án kinh tế trọng điểm 114 2.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CHO CÁC CHƯƠNG TRÌNH KINH TẾ LỚN, DỰ ÁN KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 117
2.3.1 Mức độ huy động vốn đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư phát triển nền kinh
tế 117 2.3.2 Tín dụng ĐTPT cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm trong việc hình thành, gia tăng giá trị tài sản cố định, cơ sở vật chất của nền kinh tế 119 2.3.3 Hỗ trợ các ngành, lĩnh vực công nghiệp trọng điểm, then chốt, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH 121 2.3.4 Hỗ trợ phát triển địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, khu vực nông nghiệp, nông thôn, đảm bảo an sinh xã hội 124 2.3.5 Bảo toàn, phát triển và sử dụng vốn của Tổ chức cho vay 128
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TD ĐTPT CỦA NHÀ NƯỚC CHO CÁC CHƯƠNG TRÌNH KINH TẾ LỚN VÀ DỰ ÁN KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 134
3.1 BỐI CẢNH MỚI ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CHO CÁC CHƯƠNG TRÌNH KINH TẾ LỚN VÀ DỰ ÁN KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 134
3.1.1 Bối cảnh quốc tế 134
3.1.2 Bối cảnh trong nước 137
3.2 QUAN ĐIỂM VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CHO CÁC CHƯƠNG TRÌNH KINH TẾ LỚN, DỰ ÁN KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 143
3.2.1 TD ĐTPT là rất cần thiết cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm 143 3.2.2 Xây dựng các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm thật
sự khoa học là điều kiện, cơ sở nâng cao hiệu quả của TD ĐTPT cho hoạt động tín dụng này 149
Trang 43.2.3 Xây dựng mô hình cung ứng hợp lý; tăng cường kiểm tra, kiểm soát
là nhân tố trực tiếp quyết định hiệu quả TD ĐTPT cho các chương trình kinh tế lớn, dự ánkinh tế trọng điểm 150 3.3 CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CHO CÁC CHƯƠNG TRÌNH KINH TẾ LỚN VÀ
DỰ ÁN KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 152
3.3.1 Nhóm giải pháp về hoạch định các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm 152 3.3.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế, chính sách đối với
TD ĐTPT cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm 155 3.3.3 Nhóm giải pháp hoàn thiện mô hình hoạt động, tổ chức thực hiện và quản lý TD ĐTPT cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm 161
KẾT LUẬN 167 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 169 TÀI LIỆU THAM KHẢO 170 PHỤ LỤC 178
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Từ tiếng Anh/tiếng nước ngoài Nghĩa tiếng Việt
CAR Capital Adequacy Ratio Hệ số an toàn vốn
CDB China Development Bank Ngân hàng Phát triển Trung
Quốc
DBJ Development Bank of Japan Ngân hàng Phát triển Nhật Bản
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc dân
KfW Kreditanstalt fur Wiederaufbau Ngân hàng Tái thiết Đức
VDB Vietnam Development Bank Ngân hàng Phát triển Việt Nam WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
3 Vốn TD ĐTPT cho vay Chương trình kiên cố hóa kênh mương 102
4 Phân loại tổng số 1.016 con tàu thuộc Chương trình đóng tàu đánh bắt cá xa bờ
Trang 7DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 GIỚI THIỆU CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Sự cần thiết của nghiên cứu, lý do lựa chọn đề tài
Trong quá trình phát triển, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, nhu cầu vốn để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng và các dự án chiến lược, trọng điểm quốc gia là rất thiết yếu, cấp bách trong khi đó nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước không đáp ứng đủ do nguồn thu nhỏ bé, bội chi thường xuyên
Ở các nước này, hệ thống ngân hàng thương mại với chức năng chủ yếu là huy động và cho vay ngắn hạn nên không sẵn lòng tài trợ cho các công trình, dự án trọng điểm có thời gian cho vay dài, khả năng sinh lời thấp, rủi ro cao Đồng thời, thị trường vốn trung và dài hạn chưa phát triển để có thể hỗ trợ cho việc huy động nguồn lực một cách dễ dàng Trong khi đó, các nhà đầu tư tư nhân không muốn hoặc không có khả năng tài trợ cho các công trình, dự án trọng điểm đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài
Để khắc phục, sửa chữa những thất bại thị trường đối với một số ngành nghề, lĩnh vực có tính chất thiếu yếu, nền tảng trong sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước song lại khó thu hút vốn đầu tư tư nhân, nhiều quốc gia trên thế giới đã can thiệp vào nền kinh tế thông qua việc sử dụng công cụ tín dụng đầu
tư phát triển của Nhà nước để huy động nguồn tài chính bù đắp thâm hụt ngân sách
và thực hiện đầu tư vốn cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm cho những lĩnh vực, ngành nghề then chốt hoặc những lĩnh vực, ngành nghề có ý nghĩa bảo đảm an sinh xã hội, phát triển bền vững
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc sử dụng đầu tư của nhà nước nói chung, đầu tư của nhà nước thông qua hình thức tín dụng đầu tư phát triển cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm như một phương thức can thiệp của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện đại nhằm khắc phục các khuyết tật thị trường, điều tiết vĩ mô, ổn định nền kinh tế đã được thực hiện hiệu quả ở nhiều quốc gia Hơn nữa, việc sử dụng nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo dựng hệ thống an sinh xã hội hiệu quả… đã trở thành một lựa chọn thích hợp ở nhiều quốc gia, nhất
Trang 9là ở các quốc gia đang phát triển nơi mà nguồn vốn ngân sách nhà nước dành cho đầu tư phát triển luôn trong tình trạng eo hẹp, khó khăn
Trong thời gian qua, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ở Việt Nam đã thực hiện tài trợ vốn đầu tư vào nhiều lĩnh vực then chốt, quan trọng của nền kinh
tế, có tác động đến thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; các lĩnh vực, ngành nghề khó thu hồi vốn; các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn… thông qua các chương trình kinh tế lớn, dự án trọng điểm của Chính phủ Tuy nhiên, hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước thời gian qua cũng đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, xảy ra tình trạng tín dụng đầu tư ở một
số ngành, lĩnh vực, chương trình kinh tế không thực hiện được mục tiêu như mong muốn, gây lãng phí nguồn lực xã hội; một số chương trình kinh tế lớn như chương trình đánh bắt cá xa bờ, chương trình mía đường, … đã thất bại, phá sản
Xuất phát từ vai trò, sứ mệnh của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước nói chung và thực trạng hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm ở Việt Nam thời gian qua, câu hỏi nghiên cứu mà Luận án đặt ra là: Hoạt động tín dụng này ở Việt Nam thời gian qua có hiệu quả kinh tế - xã hội như thế nào? Có những giải pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng này ở Việt Nam trong thời gian tới?
Từ cách đặt vấn đề như nêu trên, nghiên cứu sinh đã chọn vấn đề "Tín
dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn và các
dự án kinh tế trọng điểm ở Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu cho Luận án
1.2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Từ việc xây dựng khung khổ lý luận và thực tiễn về hoạt động tín dụng đầu
tư phát triển cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm ở Việt Nam; đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng này ở Việt Nam thời gian qua, luận
án đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng này trong thời gian tới
Để thực hiện mục tiêu trên, luận án có các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Xây dựng khung khổ lý luận về tín dụng đầu tư phát triển cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm và vai trò của hoạt động tín dụng này trong nền kinh tế thị trường; xác định một số chỉ tiêu cơ bản làm cơ sở cho khung phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng này; nghiên cứu kinh nghiệm quốc
Trang 10tế và rút ra một số bài học kinh nghiệm phù hợp và có thể áp dụng cho Việt Nam trong quản lý, triển khai hoạt động tín dụng đầu tư của nhà nước nói chung, hoạt động tín dụng đầu tư cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm nói riêng
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng đầu tư phát triển cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm thời gian qua ở Việt Nam; chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó
- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm ở Việt Nam trong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động cho vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm
ở Việt Nam trong thời gian qua do Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện
Dưới góc độ Kinh tế chính trị, hoạt động tín dụng đầu tư phát triển cho chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm này được nghiên cứu với tư cách là một công cụ kinh tế - tài chính của Nhà nước để can thiệp vào nền kinh tế nhằm góp phần khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường, định hướng sự phát triển của nền kinh tế
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
*Phạm vi nội dung
Hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một hình thức tín dụng nhà nước, ban đầu ra đời và đi vào hoạt động với hình thức tín dụng đầu tư (cho vay các dự án đầu tư phát triển) Hiện nay, hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước bao gồm tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu (cho vay ngắn hạn theo các hợp đồng xuất khẩu)
Trong đó, hình thức tín dụng đầu tư bao gồm nghiệp vụ cho vay đầu tư và
hỗ trợ sau đầu tư Nghiệp vụ hỗ trợ sau đầu tư (là việc Nhà nước hỗ trợ một phần lãi suất cho chủ đầu tư vay vốn của tổ chức tín dụng để đầu tư dự án, sau khi dự án
đã hoàn thành đưa vào sử dụng và trả được nợ vay) chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, khoảng vài chục tỷ đồng trên tổng số hàng chục ngàn tỷ đồng vốn tín dụng đầu tư giải
Trang 11ngân hàng năm Và trên thực tế, hầu như chỉ có nghiệp vụ cho vay đầu tư thực hiện tài trợ vốn cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm
Từ thực tế đó, Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu chỉ là hình thức tín
dụng đầu tư, cụ thể là nghiệp vụ cho vay đầu tư trong tín dụng đầu tư, chủ yếu là
cho vay đầu tư vào các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm Luận
án không nghiên cứu các hình thức tín dụng đầu tư phát triển khác như tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, hỗ trợ sau đầu tư…
Phạm vi giới hạn trên phù hợp với yêu cầu đề ra là nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất các kiến nghị, giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh
tế trọng điểm ở Việt Nam
Ngoài ra, Luận án xem xét, tham khảo kinh nghiệm quốc tế ở một số quốc gia có hoạt động cho vay tín dụng chính sách, tín dụng chỉ định (về bản chất tương
tự như hoạt động cho vay tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ở Việt Nam) nhằm rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Hoạt động tài trợ phát triển thông qua hình thức tín dụng chính sách được nhiều quốc gia trên thế giới thực hiện Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian và điều kiện tiếp cận tài liệu, Luận án lựa chọn một số quốc gia có các định chế tài trợ phát triển thực hiện nhiệm vụ cho vay tín dụng chính sách tiêu biểu cho các giai đoạn, các mô hình khác nhau trong quá trình hình thành, phát triển các định chế tài trợ phát triển trên thế giới và tiêu biểu cho các trình độ phát triển kinh tế khác nhau trên thế giới, có những kinh nghiệm phù hợp mà Việt Nam có thể áp dụng Cụ thể như sau:
- Định chế tài trợ phát triển ở Trung Quốc (Ngân hàng Phát triển Trung Quốc) tiêu biểu cho mô hình định chế tài trợ phát triển ở một nước đang phát triển,
có hệ thống chính trị và tổ chức nhà nước tương đồng với Việt Nam, được thành lập năm 1994 và có đóng góp to lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Trung Quốc thời kỳ cải cách hệ thống tài chính và mở rộng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thị trường ở Trung Quốc những năm gần đây
- Định chế tài trợ phát triển ở Nhật Bản (Ngân hàng Phát triển Nhật Bản) tiêu biểu cho mô hình định chế tài trợ phát triển ở một nước tư bản chủ nghĩa phát triển, nằm ở châu Á, được thành lập cuối những năm 40, đầu những năm 50 thế kỷ
Trang 1220, đã có những đóng góp to lớn trong việc triển khai thực hiện các chính sách công nghiệp của Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 và quá trình công nghiệp hóa thành công của Nhật Bản những năm 60-70 thế kỷ 20 cũng như tiếp tục có những đóng góp trong quá trình phát triển của Nhật Bản hiện nay
- Định chế tài trợ phát triển ở CHLB Đức (Ngân hàng Phát triển Đức) tiêu biểu cho mô hình định chế tài trợ phát triển ở một nước tư bản chủ nghĩa phát triển
ở trình độ cao, công nghiệp hóa rất sớm song đến nay vẫn đang tiếp tục được sử dụng như một công cụ đắc lực của Chính phủ trong sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội ở quốc gia này
*Phạm vi không gian và thời gian
Tín dụng nhà nước ở Việt Nam trong thời gian qua bao gồm một số hình thức tín dụng khác nhau như tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước được thực hiện qua một số ngân hàng thương mại nhà nước và hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển nay là Ngân hàng Phát triển Việt Nam; tín dụng nhà nước cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác được thực hiện qua hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội; tín dụng của nhà nước hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương do các Quỹ đầu tư phát triển địa phương ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện…
Từ năm 2000, hình thức tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước (hay còn được gọi là tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển) đã được chính thức ghi nhận riêng tại một văn bản pháp lý cao nhất là Nghị định của Chính phủ về tín dụng đầu
tư phát triển của Nhà nước Đồng thời, cũng từ năm 2000, hình thức tín dụng đầu
tư phát triển của Nhà nước đã được Chính phủ chính thức giao cho một đầu mối duy nhất là Quỹ Hỗ trợ phát triển (nay là Ngân hàng Phát triển Việt Nam) thống nhất tổ chức thực hiện từ 01/01/2000 đến nay
Do vậy, Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài là hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước do Quỹ Hỗ trợ phát triển trước đây (tổ chức tiền thân của Ngân hàng Phát triển Việt Nam) và Ngân hàng Phát triển Việt Nam hiện nay thực hiện từ 01/01/2000 đến năm 2013
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, luận án
sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 13*Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp
Đây là hai phương pháp được sử dụng trong toàn bộ luận án Phương pháp phân tích được sử dụng trước hết để xem xét những ưu nhược điểm của những quan niệm về tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm Sau đó, phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát những vấn đề liên quan đến khung lý luận về tín dụng đầu tư phát triển nói chung, tín dụng đầu tư phát triển cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm nói riêng cũng như xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng này
Phương pháp phân tích còn được sử dụng để phân tích thực trạng tín dụng đầu tư phát triển cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm ở nước
ta, theo khung khổ lý luận và thực tiễn đã xây dựng ở chương 1 Sau đó phương pháp tổng hợp được sử dụng để chỉ ra những ưu nhược điểm của hoạt động này
Trên cơ sở những vấn đề được bàn ở chương 1 và 2, luận án sử dụng phương pháp tổng hợp để đề xuất các quan điểm và giải pháp ở chương 3 Sau đó, phương pháp phân tích được sử dụng để lý giải vì sao tác giả lại đưa ra các quan điểm và giải pháp đó
*Phương pháp lô gich và phương pháp lịch sử
Để xây dựng khung khổ lý thuyết về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm, phương pháp lô gich được sử dụng để làm rõ những mối quan hệ bên trong của các khái niệm, phạm trù liên quan đến vấn đề này Phương pháp này còn được sử dụng để kết nối chương 1 với chương 2 và chương 3: việc phân tích thực trạng ở chương 2 và đề xuất quan điểm ở chương 3 được dựa trên khung khổ lý thuyết và thực tiễn ở chương 1
Phương pháp lịch sử được sử dụng chủ yếu ở chương 2, khi phân tích thực trạng tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự
án kinh tế trọng điểm ở nước ta Thực tế của hoạt động này chính là những minh chứng cho các lập luận, nhận xét, đánh giá
*Phương pháp trừu tượng hóa khoa học
Thực tiễn liên quan đến tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm ở Việt Nam rất phong phú, đa
Trang 14dạng Để làm rõ bản chất của hoạt động này ở nước ta, những ưu nhược điểm của
nó, phương pháp trừu tượng hóa khoa học được sử dụng để loại bỏ những hiện tượng bề ngoài, những yếu tố ngẫu nhiên không bản chất để nghiên cứu
*Các phương pháp khác
Trong quá trình phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng này, luận
án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như so sánh, thống kê, mô tả, nghiên cứu tình huống, tham khảo… để chỉ ra những kết quả, đánh giá những thành công, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế đó trong hoạt động cho vay tín dụng đầu
tư phát triển vào các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm ở Việt Nam thời gian qua và đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng này trong thời gian tới
Nguồn số liệu, dữ liệu được sử dụng trong luận án là từ các báo cáo hoạt động hàng năm của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, báo cáo đánh giá 3 năm, 5 năm hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, một số bài báo về hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam Ngoài ra, luận án cũng sử dụng một số số liệu
từ Báo cáo của Thanh tra Nhà nước về hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam công bố năm 2012; các chỉ tiêu, số liệu trong các quyết định của Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến một số chương trình kinh tế lớn thực hiện bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển; một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô trong các báo cáo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội hàng năm tại các kỳ họp Quốc hội…
Trong khuôn khổ một luận án tiến sĩ, luận án chưa có điều kiện để tiếp cận
số liệu cũng như đưa ra được một khung phân tích đánh giá, đo lường hiệu quả kinh tế - xã hội một cách đầy đủ về các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm đã thực hiện ở Việt Nam thời gian qua – vốn có bản chất là một công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi công sức, trí tuệ, thời gian và kinh phí khổng lồ, cần thiết được thực hiện bởi các cơ quan liên ngành của nhà nước Điều này đặc biệt càng đúng trong bối cảnh các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm thường có quy mô đầu tư lớn, địa bàn thực hiện rộng, phạm vi tác động, ảnh hưởng trên một vùng dân cư, lãnh thổ rộng lớn hoặc có tác động, ảnh hưởng, lan tỏa đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác chịu ảnh hưởng, tác động của
dự án kinh tế trọng điểm đóng vai trò nền tảng, tạo ra các yếu tố đầu vào cho việc
Trang 15hình thành, phát triển của các ngành, lĩnh vực ấy Ngoài ra, một đặc trưng lớn khác cần xem xét là thời gian thực hiện các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm thường kéo dài (từ 5-10 năm đến 15 năm) và có độ trễ lớn trong hiệu quả, tác động kinh tế - xã hội Đây cũng là một rào cản trong nghiên cứu, đánh giá hiệu quả
về hoạt động tín dụng đầu tư phát triển cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm
Mặt khác, để đánh giá tương đối chính xác hiệu quả cũng như sự đóng góp, tác động kinh tế - xã hội của các dự án, chương trình kinh tế này, rất cần xây dựng được các tiêu chí đánh giá, thẩm tra, các tiêu chí đánh giá kết quả “đầu ra” trong quá trình hình thành, xây dựng, quyết định chủ trương đầu tư, chuẩn bị đầu tư, thẩm định, phê duyệt các chương trình, dự án này cũng như đòi hỏi xây dựng một
hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật do nhà nước ban hành chính thức, thống nhất,
rõ ràng, khoa học, hợp lý, tiên tiến về hiệu quả, tác động kinh tế - xã hội khi thực hiện các chương trình, dự án kinh tế trọng điểm Sau đó, sau khi các chương trình,
dự án được thực hiện xong, cần thực hiện các cuộc điều tra, khảo sát, đánh giá công phu, với chi phí thực hiện hết sức tốn kém, huy động nhiều nguồn lực để xác định, đánh giá hiệu quả của các chương trình, dự án này Chưa kể, trong nhiều trường hợp, kết quả của việc điều tra, khảo sát, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của các chương trình, dự án còn chịu sự tác động, chi phối của các cá nhân và các cấp quản lý vì những lý do khác nhau…
Chính vì vậy, trong phạm vi nguồn số liệu, tài liệu thu thập được, luận án đã
sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học để rút ra các kết luận nghiên cứu khoa học của luận án Đồng thời, các nghiên cứu tình huống, phụ lục về kết quả thực hiện một số chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm được sử dụng trong việc minh chứng cho các đánh giá về thành công, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế đó trong hoạt động cho vay tín dụng đầu tư phát triển vào các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm ở Việt Nam thời gian qua Trên
cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng này trong thời gian tới
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 16Đề tài nghiên cứu "Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các
chương trình kinh tế lớn và các dự án kinh tế trọng điểm ở Việt Nam" có một số
điểm mới và đóng góp mới như sau:
- Nếu các nghiên cứu từ trước đến nay mới chỉ bàn đến tín dụng nhà nước hoặc tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển nói chung thì Luận án đã lần đầu tiên
đề cập đến tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm ở Việt Nam thời gian qua
- Luận án đã hệ thống hóa, bổ sung và làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước nói chung, xây dựng mới khung khổ lý luận về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn
và dự án kinh tế trọng điểm, bao gồm: khái niệm, đặc điểm và sự cần thiết của các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm; khái niệm, đặc điểm và vai trò của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự
án kinh tế trọng điểm Đồng thời, Luận án đã làm rõ quan điểm về hiệu quả kinh tế
- xã hội đối với hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm, đưa ra một số chỉ tiêu cơ bản nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng này
- Luận án đã đánh giá một cách đầy đủ về đặc điểm, tính chất, ưu nhược điểm, mặt mạnh và hạn chế của hoạt động tín dụng đầu tư phát triển cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm Luận án đã chỉ ra rằng, tính chất cho vay theo chỉ đạo là lợi thế để tín dụng đầu tư phát triển đóng vai trò công
cụ của Nhà nước trong thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội quốc gia trong từng thời kỳ, song cũng chính tính chất này tiềm ẩn và là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những sai lầm mang tính chủ quan đưa đến những thất bại của các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm thời gian qua
- Bằng kết quả nghiên cứu của luận án, Luận án đã trả lời câu hỏi nghiên cứu được đưa ra và khẳng định rằng: mặc dù còn một số dự án, chương trình chưa hiệu quả, song thông qua các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước đã đóng vai trò là một công cụ đắc lực để Nhà nước định hướng thị trường, góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH đất nước, phát triển nông nghiệp, nông thôn, hỗ trợ các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn,
Trang 17vùng sâu, vùng xa, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện và nâng cao mức sống của người dân, qua đó góp phần thực hiện các mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước trong từng thời kỳ
2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
2.1.1 Nghiên cứu về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Các công trình nghiên cứu về tài chính, tín dụng ngân hàng và hoạt động của các ngân hàng thương mại đã được công bố tương đối nhiều Tuy nhiên, do tính đặc thù về mục đích, đối tượng, phạm vi, phương thức hoạt động mà lĩnh vực tín dụng nhà nước không có nhiều nghiên cứu, trong đó công trình nghiên cứu về tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển có số lượng khá khiêm tốn, biệt là các luận
án tiến sĩ
Để làm rõ những đóng góp của các công trình đã công bố về tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển cũng như vạch ra những khoảng trống nghiên cứu trong lĩnh vực này, có thể khái quát lại các kết quả nghiên cứu đi trước theo một số nhóm vấn đề như sau:
*Khái niệm, nội dung hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
- Đề tài khoa học cấp bộ “Hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý tín dụng
nhà nước cho đầu tư phát triển ở Việt Nam” của nhóm tác giả TS.Thái Bá Cẩn –
TS.Lê Xuân Hiếu, Viện Nghiên cứu tài chính, Bộ Tài chính (2001) có đối tượng nghiên cứu là phân tích, đánh giá, nhận xét những mặt được và chưa được về chính sách, cơ chế quản lý tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển hiện hành, rút ra những vấn đề bất cập để làm căn cứ đề xuất giải pháp hoàn thiện cho thời gian tới
Vì vậy, trong đề tài đã đề cập đến khái niệm và nội dung tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển Nội dung tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển được nhóm tác giả đề cập gồm các vấn đề cơ bản như: đặc điểm của tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển; tính lịch sử của tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển; các hình thức hoạt động tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển; vai trò của tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển trong việc điều tiết kinh tế; các nguyên tắc trong quản lý của tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển
Trang 18- Luận án tiến sĩ Kinh tế, chuyên ngành tài chính, lưu thông tiền tệ và tín
dụng “Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước” của
tác giả Trần Công Hòa, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội (2007) có giải quyết các vấn đề về khái niệm và nội dung hoạt động tín dụng đầu tư phát triển
Trong đó, nội dung hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước bao gồm:
các hình thức tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước (cho vay đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư), tổ chức thực hiện tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, đặc điểm của hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
- Luận án tiến sĩ Kinh tế Chuyên ngành Tài chính, lưu thông tiền tệ và tín
dụng “Hoàn thiện phương thức huy động vốn tín dụng Nhà nước bằng trái phiếu
Chính phủ ở Việt Nam” của Lê Quang Cường, Trường Đại học Kinh tế Thành phố
Hồ Chí Minh (2007) mặc dù bàn về trái phiếu chính phủ nhằm góp phần tăng tính khả thị của trái phiếu chính phủ để góp phần huy động vốn vay cho nhà nước và phát triển thị trường trái phiếu chính phủ song trong phần cơ sở lý luận tổng quan
về tín dụng nhà nước bằng trái phiếu chính phủ, tác giả cũng đã luận giải một số vấn đề liên quan đến tín dụng nhà nước Cụ thể, tác giả đã đưa ra các nội dung như: khái quát về nguồn gốc ra đời, phát triển và sự cần thiết của tín dụng nhà nước; khái niệm, bản chất và đặc điểm của tín dụng nhà nước; vai trò của tín dụng nhà nước trong nền kinh tế thị trường; các hình thức huy động vốn tín dụng nhà nước và mối quan hệ giữa các hình thức huy động vốn tín dụng nhà nước; các phương thức huy động vốn tín dụng nhà nước bằng trái phiếu chính phủ
- Luận án tiến sĩ Kinh tế Chuyên ngành Kinh tế tài chính Ngân hàng “Hoàn
thiện nội dung và phương pháp thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước” của tác giả Nguyễn Chí Trang, Học viện Tài
chính (2009) lấy đối tượng nghiên cứu tập trung vào hai nội dung chính là nội dung thẩm định dự án đầu tư và phương pháp thẩm định dự án đầu tư Tuy vậy, do phạm vi nghiên cứu là các dự án đầu tư từ nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước nên trong phần cơ sở lý luận - những vấn đề chung về dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước -
có nội dung khái quát về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, gồm: khái niệm;
các hình thức tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; đặc điểm của hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Trang 19- Luận án “Tín dụng Nhà nước đối với phát triển kinh tế các tỉnh Tây
Nguyên” của Vũ Mạnh Bảo, Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh
(2011) có đối tượng nghiên cứu là vấn đề “Tín dụng nhà nước đối với phát triển
kinh tế các tỉnh Tây Nguyên” với phạm vi nghiên cứu là hoạt động tín dụng nhà nước tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam và các chi nhánh khu vực Tây Nguyên, bao gồm các hình thức tín dụng đầu tư phát triển, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, cho vay lại vốn ODA…Do vậy, trong phần cơ sở lý luận về tín dụng nhà nước, tác giả đã luận bàn về một số vấn đề liên quan đến tín dụng nhà nước nói chung như: khái niệm tín dụng nhà nước trong cơ chế thị trường; đặc điểm của tín dụng nhà nước; phân loại tín dụng nhà nước; điểm khác biệt giữa tín dụng nhà nước với tín dụng ngân hàng và vốn ngân sách nhà nước; vai trò của tín dụng nhà nước trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
- Luận án “Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt
Nam” của tác giả Trương Thị Hoài Linh (2011) lấy hiệu quả hoạt động của Ngân
hàng Phát triển Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu Do vậy, luận án không nghiên cứu về khái niệm và nội dung hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
*Hiệu quả của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
- Đề tài khoa học cấp bộ “Hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý tín dụng
nhà nước cho đầu tư phát triển ở Việt Nam” của nhóm tác giả TS.Thái Bá Cẩn –
TS.Lê Xuân Hiếu, Viện Nghiên cứu tài chính, Bộ Tài chính (2001) lấy chính sách,
cơ chế quản lý tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển làm đối tượng nghiên cứu nên đề tài không đề ra nhiệm vụ nghiên cứu về hiệu quả tín dụng nhà nước cho đầu
tư phát triển Đề tài tập trung đi sâu vào phân tích chính sách, cơ chế quản lý tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển, từ đối tượng cho vay, mức vốn cho vay, thời hạn cho vay đến lãi suất cho vay, bảo đảm tiền vay…để từ đó đề ra các giải pháp hoàn thiện chính sách cơ chế quản lý tín dụng đầu tư nhà nước
- Luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành tài chính, lưu thông tiền tệ và tín
dụng “Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước” của
tác giả Trần Công Hòa, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội (2007) đã đưa ra khái niệm về hiệu quả nói chung và quan niệm về hiệu quả hoạt động tín dụng đầu
tư phát triển của Nhà nước Theo đó, tác giả chủ trương xem xét hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước đòi hỏi phải được đánh giá một cách
Trang 20tổng thể về mọi phương diện, theo phạm vi quản lý, hiệu quả có thể được xem xét
ở cấp độ vĩ mô và ở cấp vi mô (doanh nghiệp); mặt khác tác giả cũng cho rằng hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cũng được xem xét trên các khía cạnh: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Tác giả cũng đã xây dựng
hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước bao gồm:
+ Hiệu quả đối với nền kinh tế quốc dân: thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, đánh giá thông qua các chỉ tiêu tổng quát trên giác độ nền kinh tế bao gồm
cả về kinh tế và xã hội
+ Hiệu quả hoạt động của tổ chức tài trợ: các chỉ tiêu phản ánh khả năng huy động và tài trợ tín dụng, an toàn tín dụng, khả năng tăng trưởng và phát triển bền vững với mục tiêu cao nhất là an toàn, giảm thiểu sự hỗ trợ của Nhà nước và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
+ Hiệu quả hoạt động của các dự án, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: các chỉ tiêu về hoạt động sản xuất kinh doanh (lãi, lỗ), doanh thu, khả năng hoàn trả vốn vay
- Luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành tài chính, lưu thông tiền tệ và tín
dụng “Hoàn thiện phương thức huy động vốn tín dụng Nhà nước bằng trái phiếu
Chính phủ ở Việt Nam” của Lê Quang Cường, Trường Đại học Kinh tế Thành phố
Hồ Chí Minh (2007) tập trung nghiên cứu về trái phiếu chính phủ nói chung và phương thức phát hành trái phiếu chính phủ ở Việt Nam thời gian qua nói riêng nên không có nội dung đề cập đến hiệu quả tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
- Luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành kinh tế tài chính - ngân hàng “Hoàn
thiện nội dung và phương pháp thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước” của Nguyễn Chí Trang, Học viện Tài chính
(2009) có mục tiêu là nghiên cứu cơ sở về nội dung và phương pháp thẩm định dự
án đầu tư, phân tích, đánh giá thực trạng về nội dung và phương pháp thẩm định
dự án đầu tư trong hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Vì vậy tác giả chỉ tập trung phân tích về dự án đầu tư, thẩm định dự án đầu tư và nội dung thẩm định dự án đầu tư, phương pháp thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng Phát
Trang 21triển Việt Nam Luận án không đề cập đến các nội dung về hiệu quả tín dụng đầu
tư phát triển của Nhà nước
- Luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành kinh tế tài chính, ngân hàng “Tín
dụng Nhà nước đối với phát triển kinh tế các tỉnh Tây Nguyên” của Vũ Mạnh Bảo,
Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh (2011) nhằm mục tiêu nghiên cứu một cách có hệ thống về tín dụng nhà nước; khảo sát hoạt động tín dụng nhà nước tại các Chi nhánh NHPT ở Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk-Đăk Nông, Lâm Đồng) Trên cơ sở lý luận và khảo sát thực tế, quy hoạch phát triển Tây Nguyên giai đoạn 2010-2020, tác giả đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển tín dụng nhà nước một cách có hiệu quả trên địa bàn Tây Nguyên Tuy vậy, tác giả cũng đã có nghiên cứu về hiệu quả tín dụng nhà nước qua việc đưa ra quan niệm về hiệu quả tín dụng nhà nước và một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng nhà nước (bao gồm các hình thức của tín dụng nhà nước như tín dụng đầu tư phát triển, tín dụng xuất khẩu, cho vay lại vốn ODA…) Theo tác giả, hiệu quả tín dụng nhà nước bao gồm hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội mà các dự án đầu tư mang lại Tác giả đã xây dựng một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng nhà nước bao gồm:
+ Đối với nền kinh tế: gồm hiệu quả kinh tế (tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP; đóng góp cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế; giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng thêm; giá trị đóng góp cho NSNN tăng thêm); hiệu quả xã hội (công ăn việc làm tăng thêm, mức thu nhập tăng thêm, tỷ lệ xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, số hộ thay đổi phong tục tập quán canh tác, hiệu quả đối với doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế)
+ Đối với tổ chức quản lý tín dụng nhà nước: nợ xấu/tổng dư nợ; nợ khó đòi/tổng dư nợ; nợ khó đòi ròng/tổng dư nợ; vòng quay vốn tín dụng xuất khẩu (ngắn hạn); thời gian cho vay trung dài hạn bình quân của tổ chức tín dụng
+ Đối với các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế tiếp nhận và sử dụng vốn tín dụng nhà nước: hiệu quả hoạt động tín dụng nhà nước là một bộ phận trong hiệu quả của doanh nghiệp, nhưng không hoàn toàn đồng nhất với hiệu quả sản xuất kinh doanh hay hiệu quả hoạt động chung của doanh nghiệp mà có quan hệ mật thiết với các loại hiệu quả này Việc đánh giá hiệu quả này có thể được xem
Trang 22xét qua các chỉ tiêu định tính, định lượng về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của dự án, số việc làm tạo ra, đóng góp cho xã hội…
- Luận án tiến sĩ Kinh tế chuyên ngành Kinh tế tài chính ngân hàng “Nâng
cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam” của Trương Thị
Hoài Linh (2011) có mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu tập trung vào hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam nên luận án không đề cập đến nội dung hiệu quả tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
* Đề xuất các giải pháp và kiến nghị
- Đề tài khoa học cấp bộ “Hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý tín dụng
nhà nước cho đầu tư phát triển ở Việt Nam” của nhóm tác giả TS.Thái Bá Cẩn –
TS.Lê Xuân Hiếu, Viện Nghiên cứu tài chính, Bộ Tài chính (2001) nghiên cứu toàn diện về hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển ở Việt Nam Đề tài có phạm vi nghiên cứu bao hàm tất cả các mặt nghiệp vụ của tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển, gồm: hoạt động cho vay đầu tư của tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển; hoạt động hỗ trợ lãi suất sau đầu tư của tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển; hoạt động bảo lãnh tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển Chính vì vậy, các giải pháp và kiến nghị, đề xuất của đề tài xoay quanh vấn đề hoàn thiện chính sách cơ chế cho vay đầu tư, hoàn thiện chính sách cơ chế hỗ trợ lãi suất sau đầu tư; hoàn thiện chính sách cơ chế bảo lãnh tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển Luận án không đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của tín dụng đầu tư phát triển
- Luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành tài chính, lưu thông tiền tệ và tín
dụng “Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước” của
tác giả Trần Công Hòa, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội (2007) có phạm
vi nghiên cứu là hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước tại Việt Nam giai đoạn 2000-2006, lấy Quỹ Hỗ trợ phát triển (nay là Ngân hàng Phát triển Việt Nam) làm trọng tâm nghiên cứu Do vậy, sau khi phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ở Việt Nam, tác giả đã đưa ra 5 nhóm giải pháp lớn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và một số kiến nghị điều kiện thực hiện các giải pháp đối với Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, doanh nghiệp 5 nhóm giải pháp của tác giả gồm: (i) ổn định môi trường KT-XH và hoàn thiện hệ thống luật pháp; (ii) hoàn
Trang 23thiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; (iii) hoàn thiện mô hình
tổ chức hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam; (iv) xây dựng chiến lược phát triển dài hạn cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam; (v) nâng cao năng lực quản trị rủi ro của NHPT
- Luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành tài chính, lưu thông tiền tệ và tín
dụng “Hoàn thiện phương thức huy động vốn tín dụng Nhà nước bằng trái phiếu
Chính phủ ở Việt Nam” của Lê Quang Cường, Trường Đại học Kinh tế Thành phố
Hồ Chí Minh (2007) có liên quan đến tín dụng Nhà nước qua khía cạnh phương thức huy động vốn tín dụng Nhà nước bằng trái phiếu Chính phủ Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trong khuôn khổ hình thức huy động vốn tín dụng nhà nước bằng trái phiếu Chính phủ nên các kiến nghị, giải pháp của đề tài tập trung vào hoàn thiện phương thức huy động vốn tín dụng nhà nước bằng trái phiếu Chính phủ ở Việt Nam, đề tài không có các giải pháp, kiến nghị về nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
- Luận án tiến sĩ Kinh tế, chuyên ngành kinh tế tài chính, ngân hàng “Hoàn
thiện nội dung và phương pháp thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước” của Nguyễn Chí Trang, Học viện Tài chính
(2009) nhằm mục tiêu nghiên cứu và hoàn thiện nội dung và phương pháp thẩm định dự án đầu tư nên các giải pháp, kiến nghị được tác giả nêu ra trong đề tài xoay quanh việc hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư như xây dựng Quy chế thẩm định dự án đầu tư mới; đề nghị lựa chọn áp dụng một số phương pháp thẩm định dự án đầu tư….Đề tài không có các giải pháp, kiến nghị về nâng cao hiệu quả tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
- Luận án tiến sĩ Kinh tế chuyên ngành Kinh tế tài chính, ngân hàng “Tín
dụng Nhà nước đối với phát triển kinh tế các tỉnh Tây Nguyên” của Vũ Mạnh Bảo,
Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh (2011) có mục đích nghiên cứu cuối cùng là đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phục tình trạng việc phát triển tín dụng nhà nước trên địa bàn Tây Nguyên còn hạn chế (thể hiện qua số
dư nợ, tổng mức cung ứng vốn tín dụng nhà nước trong toàn hệ thống NHPT còn rất thấp…), qua đó để phát triển tín dụng nhà nước một cách có hiệu quả trên địa bàn Tây Nguyên Chính vì vậy, các giải pháp, kiến nghị của đề tài tập trung vào việc phát triển tín dụng nhà nước trên địa bàn Tây Nguyên như: hoàn thiện cơ chế,
Trang 24chính sách và điều hành tín dụng nhà nước có tính đến đặc thù Tây Nguyên; đổi mới điều hành tác nghiệp tín dụng nhà nước của các chi nhánh NHPT trên địa bàn với mục tiêu phát triển an toàn, bền vững; tiếp tục nâng cao chất lượng tín dụng nhà nước, trước hết là đột phá trong công tác thẩm định, đổi mới trong khâu giám sát; nâng cao năng lực tiếp cận tín dụng nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn Đề tài không đề cập đến các giải pháp, kiến nghị về nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển
- Luận án tiến sĩ kinh tế Kinh tế chuyên ngành Kinh tế tài chính ngân hàng
“Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam” của Trương
Thị Hoài Linh (2011) nhằm đến các mục đích chủ yếu là: nghiên cứu những cơ sở
lý luận cơ bản về Ngân hàng Phát triển và vai trò của Ngân hàng Phát triển đối với nền kinh tế, hoạt động của NHPT, xây dựng tiêu chí về hiệu quả của NHPT; phân tích và và đánh giá thực trạng hoạt động của NHPT; đưa ra các đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của NHPT Do mục đích nêu trên, luận án chỉ đề cập đến các giải pháp, kiến nghị về nâng cao hiệu quả hoạt động của NHPT Luận án không đề cập đến các giải pháp, kiến nghị về nâng cao hiệu quả của tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển
2.1.2 Nghiên cứu về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn và các dự án kinh tế trọng điểm
Trong các công trình nghiên cứu về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước được nghiên cứu sinh tham khảo đến nay chưa thấy có nghiên cứu nào về tín dụng đầu tư phát triển cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm
Trong các công trình nghiên cứu về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước nêu ở trên, có thể tìm thấy khái niệm “chương trình kinh tế lớn”, “dự án kinh tế trọng điểm” ở một vài công trình nghiên cứu Tuy nhiên, đây mới chỉ là các cụm từ được nhắc đến một cách ngẫu nhiên, không gắn với tên đề tài nghiên cứu, không phục vụ trực tiếp cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài, luận án đó Chẳng hạn, trong
luận án tiến sĩ “Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà
nước” của Trần Công Hòa, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội (2007), cụm
từ chương trình kinh tế lớn của Nhà nước xuất hiện trong một đoạn của luận án
như sau: “Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước nhằm thực hiện hỗ trợ vốn, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất thuộc các ngành, lĩnh
Trang 25vực, chương trình kinh tế lớn của Nhà nước và các vùng khó khăn cần khuyến
khích đầu tư Đó chính là đầu tư mới, sửa chữa, thay thế khôi phục tài sản cố định, cải tiến kỹ thuật, đổi mới quy trình công nghệ, xây dựng mới các công trình hạ tầng kinh tế kỹ thuật và xã hội có khả năng thu hồi vốn trực tiếp” [28, tr 83]
2.2 Các công trình nghiên cứu của nước ngoài có liên quan
2.2.1 Về tín dụng nhà nước
Qua các công trình mà nghiên cứu sinh tiếp cận, tham khảo, có thể thấy, các nghiên cứu về tín dụng nhà nước hoặc được đề cập dưới tên gọi/thuật ngữ khác như tài chính công, tín dụng công hoặc tín dụng chỉ định, tín dụng chính sách của các tác giả ở nước ngoài không nhiều
Vấn đề tín dụng nhà nước (hoặc được gọi bằng các tên gọi như tín dụng chính sách, tín dụng chỉ định, tín dụng ưu đãi…) thường được tìm thấy trong các luận giải về các chủ đề liên quan đến chính sách công nghiệp, chính sách kinh tế vĩ
mô khác
Bên cạnh đó, có thể tìm thấy một số ít nghiên cứu về tài trợ phát triển nói chung (có ý nghĩa như tài trợ chính sách) cũng như về các định chế tài trợ phát triển - thường được gọi dưới tên ngân hàng phát triển – với tư cách là một công cụ tài chính tín dụng, hoạt động cho vay chính sách, tập trung vốn phục vụ cho các chính sách phát triển công nghiệp, thúc đẩy công nghiệp hóa ở các nước đang phát triển, kém phát triển Các nghiên cứu này chủ yếu do các nhà kinh tế học hoặc hiệp hội các định chế tài trợ phát triển nghiên cứu và công bố
Với mục đích “xem xét lại những nhân tố quan trọng quyết định tới thành tựu của Đông Á từ giác độ quốc gia hoặc khu vực và chỉ ra kinh nghiệm của những năm 90, hoặc đã thay đổi, hoặc tái khẳng định ra sao những quan điểm chính thống
đầu những năm 90 (của thế kỷ 20) vốn thường được thấy trong Sự thần kỳ Đông Á,
(Ngân hàng Thế giới 1993) [38] và nhiều ấn phẩm khác”, Shahid Yusuf [82] đã đưa ra kết luận của ông về chính sách công nghiệp ở các nước Đông Á đã được
hậu thuẫn bởi chính sách tài chính của Chính phủ như thế nào, cụ thể là tín dụng
chỉ định (của Chính phủ), đối với sự phát triển của các ngành công nghiệp ở các
quốc gia Đông Á
Theo đó, thập kỷ 80 của thế kỷ 20 khép lại với việc nhấn mạnh điểm yếu của chính sách “chọn kẻ thắng cuộc” bằng cách hỗ trợ những người thắng cuộc
Trang 26này các khoản tín dụng theo chỉ định từ hệ thống ngân hàng và bảo vệ chúng
bằng hàng rào thuế quan Thập kỷ 90 của thế kỷ 20 chứng kiến sự thoái trào của chính sách công nghiệp ở Đông Á, vì các nước này nhận ra lợi thế của việc mở cửa
và chấp nhận các nguyên tắc của Tổ chức Thương mại Thế giới…Nghiên cứu về các nền kinh tế Đông và Đông Nam Á trong thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ 20 đã cho thấy các khoản đầu tư lãng phí vào các ngành luyện kim, hóa chất, phương tiện
vận tải Các khoản đầu tư này dưới hình thức tín dụng chỉ định cho các nhóm
doanh nghiệp đã được lựa chọn trước và một số nhà máy đã mọc lên theo sự chỉ
đạo của Chính phủ Các khoản tín dụng chỉ định và những ưu đãi về thuế đã nuôi
dưỡng các tập đoàn công nghiệp khổng lồ (ở Hàn Quốc gọi là chaebol) [82, tr.27]
Shahid Yusuf cũng viết, Cho và Kim (1995) cũng chỉ ra rằng, việc sử dụng
tín dụng theo chỉ định của Chính phủ Hàn Quốc trong một thời gian dài đã gây
nên nhiều thiệt hại do nhiều lý do khác nhau Trong một thị trường độc quyền nhóm, các khoản cho vay của ngân hàng được ngầm hiểu có sự đồng bảo hiểm của Chính phủ sẽ khuyến khích các ngân hàng cho vay và khuyến khích các công ty đầu tư vào các dự án rủi ro Các ngân hàng thương mại ở Hàn Quốc đã hoạt động gần giống như các ngân hàng phát triển, và kết cục là, phải gánh vác các khoản nợ khê đọng khổng lồ tương đương gần 20% GDP [82, tr.28-29]
Ở Thái Lan, mặc dù chính phủ Thái Lan không sử dụng hình thức tín dụng
chỉ định nhiều như ở Hàn Quốc nhưng những bảo lãnh ngầm dành cho hệ thống
ngân hàng do mối quan hệ mật thiết giữa chính phủ - doanh nghiệp – ngân hàng đã làm nảy sinh những vấn đề lợi dụng bảo lãnh, cố ý làm liều không kém phần nghiêm trọng [82, tr.29]
Ở Philipines, các khoản tín dụng ưu đãi cũng như chính sách công khác
đều chịu ảnh hưởng của những nhóm người có quyền thế trong xã hội có mối quan
hệ tốt với chính phủ, còn quốc gia thì không nhận được gì từ hoạt động này [82, tr.30]
Takatoshi Ito [32] khi luận giải nguyên nhân của hiện tượng thần kỳ châu
Á, cũng nhắc đến việc sử dụng chính sách công nghiệp ở Đông Á mà trong đó có
sự đóng góp của tài trợ chính sách (cho vay chính sách hay tín dụng chính sách)
làm nên thành công của các nước Đông Á Tác giả viết: đối với những nước đang
nỗ lực đuổi kịp các nước tiên tiến thì việc nhận biết những ngành công nghiệp nào
Trang 27cần thúc đẩy là tương đối dễ dàng, vì họ có thể xác định được những lợi thế so sánh và có thể nhập khẩu công nghệ, thường là thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài Mô hình đàn nhạn bay có thể chỉ ra những ngành công nghiệp “chính xác”
cần thúc đẩy trong từng giai đoạn phát triển kinh tế nhất định Hàn Quốc và Đài Loan đã theo mô hình công nghiệp hóa của Nhật Bản, bắt đầu từ công nghiệp nhẹ, tiến sang công nghiệp nặng và công nghiệp hóa chất, rồi công nghiệp điện tử và đến công nghệ cao Hàn Quốc đã thúc đẩy công nghiệp nặng và công nghiệp hóa
chất, những ngành tạo cơ sở hạ tầng công nghiệp, bằng cách tài trợ theo chính
sách [32, tr.80-82]
Joseph E.Stiglitz [59] chỉ ra một thực tế là việc hầu như tất cả các nền kinh
tế trong khu vực đều có chính sách công nghiệp cho thấy rằng, những chính sách như vậy là một phần quan trọng trong chiến lược tăng trưởng của họ Một trong những cách chính để theo đuổi chính sách công nghiệp là thông qua sự can thiệp vào thị trường tài chính Sự can thiệp sẽ giúp khắc phục những thất bại thị trường đặc trưng trên thị trường vốn Và một trong những động lực chính tạo nên sự thần
kỳ Đông Á chính là chính sách công nghiệp và vai trò của Chính phủ trong đó có việc tài trợ chính sách cho một số ngành công nghiệp then chốt hoặc định hướng xuất khẩu [59, tr.652]
Theo Joseph E.Stiglitz, điều rõ ràng là chính phủ có can thiệp vào sự phân
bổ nguồn lực Thí dụ, một số chính phủ đã thúc đẩy xuất khẩu bằng cách cấp tín
dụng cho những nhà xuất khẩu thành công và chỉ định tín dụng vào một số ngành
chọn lọc Việc một số ngành được hỗ trợ đã tăng trưởng, và trong nhiều trường hợp còn trở thành nền móng cho nền kinh tế của các nước khi tiến vào thiên niên
kỷ mới, cũng là một điều dễ thấy [59, tr.650]
Nghiên cứu “Ngân hàng phát triển trong thiên niên kỷ mới: Đánh giá ngân
hàng phát triển tại các quốc gia được lựa chọn và một số bài học cho tương lai”
của Viện Nghiên cứu kinh tế Nhật Bản (JERI) phối hợp với Ngân hàng Phát triển Nhật Bản (DBJ) xuất bản năm 1999 [87] là một báo cáo nghiên cứu tương đối toàn diện về các định chế tài trợ phát triển (DFI) và vai trò của nó ở các quốc gia được lựa chọn Báo cáo đã cho thấy các vấn đề xoay quanh ngân hàng phát triển đã tiến triển một cách tuần tự, phản ánh mức độ phát triển công nghiệp ở mỗi quốc gia liên quan Tuy nhiên, vào lúc này (1999), vai trò của các ngân hàng phát triển đã
Trang 28thu hút được sự chú ý nhiều hơn ở mọi nơi trên thế giới do sự cần thiết của tài trợ đầu tư và xu hướng thành lập các ngân hàng phát triển tại các nền kinh tế chuyển đổi và cùng lúc đó là xu hướng xác định lại vai trò của các ngân hàng phát triển thậm chí ở cả các nước công nghiệp hóa Nghiên cứu đã chỉ ra những nhân tố cơ bản quyết định sự cần thiết đối với các ngân hàng phát triển, trong đó có trường hợp một thị trường tài chính đã thất bại và đòi hỏi phải có sự can thiệp của Chính phủ Báo cáo đã cung cấp cho người đọc hiểu biết sâu sắc về vai trò của các ngân hàng phát triển cũng như những nhân tố dẫn đến việc thành công và thất bại của
họ
Điều đáng chú ý là tất cả các ngân hàng phát triển tại các quốc gia được lựa chọn (Nhật Bản; các nước Đông Á (Singapore, Hàn Quốc, Malaisia, Thái Lan, Philipine, Indonesia); Trung Quốc; Ngân hàng tái thiết Đức (KfW); Ngân hàng Phát triển Châu Âu) đã đóng một vai trò chủ yếu cho sự nghiệp phát triển và từ đó tạo ra những ý tưởng cho việc phân tích và rút ra những bài học Qua nghiên cứu, các định chế tài trợ phát triển ở Nhật Bản, Đức và các nước Đông Á được thành lập nhằm cung cấp các khoản vay kỳ hạn cho việc tái thiết đất nước sau chiến tranh hoặc sau khi giành được độc lập
Trong giai đoạn đầu của việc tái thiết và công nghiệp hóa, các tổ chức tài chính tư nhân vận hành một cách non nớt và không cung cấp đầy đủ nguồn vốn cho phát triển, trong khi đó thị trường vốn chưa phát triển, trong bối cảnh này, các định chế tài trợ phát triển đã đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các nguồn tài trợ dài hạn để đầu tư vốn cho các ngành nghề, dự án cơ sở hạ tầng và các lĩnh vực nơi mà sự thất bại của thị trường xảy ra Qua vai trò này, các định chế tài trợ phát triển đã góp phần vào việc phát triển kinh tế cao tại các nước Đông Á và châu Âu
Quá trình phát triển kinh tế ở các nước Đông Á được tiến hành đồng thời với quá trình công nghiệp hóa Chính sách công nghiệp của Chính phủ thông qua các DFI đóng vai trò như một trong những công cụ chuyển từ chính sách thay thế hàng nhập khẩu ban đầu sang chính sách khuyến khích xuất khẩu Thậm chí một
số DFI được yêu cầu có vai trò lớn hơn nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính hoặc mở rộng khả năng cung cấp các khoản tài trợ cho cơ sở hạ tầng, các chức năng mà khu vực tín dụng nhà nước ở Việt Nam đã và đang được chỉ định
Trang 29cho tổ chức thực hiện tín dụng đầu tư phát triển ở Việt Nam là Ngân hàng Phát triển Việt Nam đảm nhận
Vai trò của các DFI là cung cấp các nguồn vốn cần thiết và đầy đủ dựa trên các chính sách quốc gia cho các lĩnh vực mà khu vực tài chính tư nhân không thể đáp ứng đủ Đây là một nguyên tắc căn bản không tính tới những thay đổi về môi trường kinh tế xã hội Tuy nhiên, DFI còn có sứ mệnh thay đổi vai trò của mình để phù hợp với mức độ công nghiệp hóa của đất nước Bên cạnh việc tài trợ cho các ngành nghề truyền thống, các lĩnh vực đầu tư mới như phát triển cơ sở hạ tầng xã hội, bảo vệ môi trường và hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng là đối tượng tài trợ của các DFI
Tóm lại, chức năng không đổi của các DFI là cung cấp các khoản tài trợ phát triển nhằm phối hợp một cách hài hòa với khu vực tài chính tư nhân để đạt được các mục tiêu về chính sách quốc gia một cách hiệu quả [90]
Michael P.Todaro [79] đưa ra định nghĩa: Những ngân hàng phát triển là những tổ chức tài chính nhà nước và tư nhân chuyên cung cấp những quỹ trung và dài hạn để thành lập và/hoặc mở rộng những xí nghiệp công nghiệp Lý do ra đời các ngân hàng phát triển, theo Todaro, là bởi các ngân hàng (ngân hàng thương mại và ngân hàng tiết kiệm) đang tồn tại thường tập trung vào việc cung cấp các khoản cho vay tương đối ngắn hạn vì những mục đích thương mại Hơn nữa, những ngân hàng này thường đề ra những điều kiện vay không phù hợp với việc xây dựng các xí nghiệp mới và tài trợ cho các dự án quy mô lớn Vốn kinh doanh thực sự cho các ngành công nghiệp mới ít được chú ý Để tạo khả năng cho sự tăng trưởng công nghiệp trong những nền kinh tế khan hiếm vốn tài chính, những ngân hàng phát triển đã tìm cách gây vốn, ban đầu tập trung vào hai nguồn chủ yếu: (1) những khoản vay song phương và đa phương của các cơ quan viện trợ quốc gia như Cơ quan Phát triển quốc tế Mỹ, các tổ chức tài trợ quốc tế như Ngân hàng Thế giới, và (2) những khoản vay của chính phủ nước họ Trong nhiều trường hợp, những hoạt động của ngân hàng phát triển đã vượt quá vai trò của ngân hàng truyền thống là cho những khách hàng đáng tin cậy vay tiền Những hoạt động của Ngân hàng phát triển thường bao gồm trực tiếp tham gia vào việc kinh doanh, quản
lý và thúc đẩy trong những xí nghiệp mà họ tài trợ - kể cả những tập đoàn do chính phủ sở hữu và quản lý Do đó, Ngân hàng phát triển đang giữ một vai trò ngày
Trang 30càng quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa của nhiều nước kém phát triển
[79, tr.507]
Nicholas Bruck [88, pp.9] cho rằng, tài trợ phát triển là một khái niệm rộng hơn trong định nghĩa về một ngân hàng phát triển Ngân hàng phát triển là một tổ chức tài chính mà phạm vi hoạt động của nó chỉ được giới hạn trong các chức năng
và nhiệm vụ của nó Tài trợ phát triển, ngoài những chức năng nhiệm vụ cụ thể của một ngân hàng phát triển, còn bao hàm những mối quan hệ của tổ chức này với các
cơ quan chính phủ và địa phương, với các cơ quan hoạch định địa phương, mối liên hệ với các chương trình phát triển quốc gia và với các lĩnh vực, ngành công nghiệp, nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, xã hội và các quá trình phát triển khác Nghiên cứu này đã chỉ ra sự phát triển của các ngân hàng phát triển trước Thế chiến thứ II, sau Thế chiến thứ II và tình hình các ngân hàng phát triển ngày nay, bao gồm các thông tin về số lượng các ngân hàng phát triển, sự khác biệt giữa các ngân hàng phát triển, cũng như tầm quan trọng của các ngân hàng phát triển trong nền kinh tế Theo tác giả, trong lý thuyết tài trợ phát triển ngày nay, khái niệm “phát triển”
được kết hợp với khái niệm “ngân hàng” để xây dựng một cơ chế tài trợ và thực hiện các dự án phát triển thường được gọi là “ngân hàng phát triển”
William Diamond [89] đã dẫn lại các phát biểu phổ biến về ngân hàng phát triển như: “nhiệm vụ của một ngân hàng phát triển là “phát triển”, hay nói rằng:
“đảm nhận trách nhiệm đẩy mạnh các chính sách phát triển của quốc gia là nhân tố đặc biệt khiến một ngân hàng trở thành ngân hàng phát triển” hoặc rằng: “các hoạt động của ngân hàng phát triển phải đóng góp vào lợi ích quốc gia”…để dẫn dắt cho phần luận bàn của tác giả về chiến lược hay chính sách hoạt động của ngân hàng phát triển Tác giả đã thông qua các trường hợp ở Hàn Quốc, Iran, Ấn Độ, Châu Phi để đi đến kết luận về việc ngân hàng phát triển cần phải thay đổi, định hướng lại và xác định lại nhiệm vụ của mình nhằm đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của môi trường xung quanh [89, tr.41]
2.2.2 Về tín dụng đầu tư phát triển cho các chương trình kinh tế lớn và
dự án kinh tế trọng điểm
Cho đến nay, nghiên cứu sinh chưa tiếp cận được công trình nghiên cứu của nước ngoài nào nghiên cứu trực tiếp về tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm
Trang 312.3 Những kết quả chính rút ra từ tổng quan tình hình nghiên cứu và những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu
2.3.1 Khái niệm, nội dung tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm
* Khái niệm tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm
Sau khi nghiên cứu, tham khảo các công trình, tài liệu nghiên cứu có liên quan đến tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, có thể rút ra một số kết quả chủ yếu như sau:
Một là, cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra khái niệm
tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm
Hai là, khái niệm tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước đã được một vài
công trình nghiên cứu quan tâm, đề cập tới ở các mức độ khác nhau song nhìn chung nội dung các khái niệm đã có vẫn chưa phản ánh đầy đủ tính chất, đặc điểm
và vai trò của hình thức tín dụng này
Khái niệm tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển được nhóm tác giả Thái
Bá Cẩn – Lê Xuân Hiếu [3] quan niệm như sau: “Tín dụng nhà nước là các hoạt động vay – trả giữa Nhà nước với các tác nhân hoạt động trong nền kinh tế, phục
vụ cho mục đích của Nhà nước” Khái niệm này chủ yếu mới nêu được phạm vi của hình thức tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển mà chưa thể hiện được các khía cạnh về đặc điểm, tính chất của hình thức tín dụng này
Trần Công Hòa [28] định nghĩa: tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là
sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các hình thức tín dụng để tài trợ đầu tư các dự
án phát triển thuộc lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích Khái niệm này đã nêu được cách thức thực hiện tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, trong khi đó lại chưa nêu được đặc điểm của hình thức tín dụng này so với các hình thức tín dụng khác
Từ tình hình nghiên cứu liên quan đến khái niệm tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm nêu trên, vấn đề đặt ra là:
Trang 32- Hoàn chỉnh khái niệm về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước theo hướng khắc phục được những khiếm khuyết trong các khái niệm đã có, nhằm bao quát được phạm vi, cách thức, tính chất, đặc điểm, vai trò, mục đích của hình thức tín dụng này
- Phát triển, xây dựng mới khái niệm về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm
* Nội dung tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm
Qua tham khảo các công trình, tài liệu nghiên cứu về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho thấy:
Thứ nhất, cho đến nay, chưa có công trình, tài liệu nào nghiên cứu về tín
dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm Các nghiên cứu hiện có mới dùng lại ở các nội dung về tín dụng nhà nước hoặc tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước nói chung
Thứ hai, do phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, cách tiếp cận và
mục đích của các nghiên cứu khác nhau nên kết quả nghiên cứu của các công trình
đã có về tín dụng nhà nước hoặc tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cũng phản ánh các mức độ khác nhau về nội dung tín dụng nhà nước hoặc nội dung tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Chẳng hạn, ở các nghiên cứu của Lê Quang Cường [19] và Vũ Mạnh Bảo [1], do phạm vi nghiên cứu được các tác giả đặt ra là hình thức tín dụng nhà nước nói chung chứ không chỉ khu biệt ở hình thức tín dụng đầu tư phát triển nên các nội dung như đặc điểm, vai trò của tín dụng nhà nước được đề cập có tính khái quát chung và phản ánh cho tất cả các hình thức tín dụng nhà nước bao gồm tín dụng đầu tư phát triển, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, cho vay lại nguồn vốn ODA, huy động vốn cho NSNN bằng trái phiếu Chính phủ qua hệ thống Kho bạc Nhà nước…
Nghiên cứu của Trần Công Hòa [28] có đối tượng nghiên cứu trực tiếp là tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và nghiên cứu của Nguyễn Chí Trang [80]
có đối tượng nghiên cứu gián tiến liên quan đến tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Do vậy, trong các nghiên cứu này, đặc điểm của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước đã được các tác giả nghiên cứu, đề cập một cách tương đối tập
Trang 33trung Song nội dung vai trò của tín dụng đầu tư phát triển trong các nghiên cứu này lại không được các tác giả đề cập đến
Khái quát lại, bên cạnh các kết quả nghiên cứu đã có về bản chất, sự ra đời, đặc điểm, vai trò của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, có thể rút ra một số khoảng trống chưa được nghiên cứu và cần thực hiện là:
- Một là, xây dựng mới các nội dung chưa được nghiên cứu về chương trình
kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm như:
+ Khái niệm về chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm;
+ Đặc điểm của các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm;
+ Sự cần thiết của các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm
- Hai là, xây dựng mới các nội dung chưa có về tín dụng đầu tư phát triển
của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm như:
+ Đặc điểm của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm; đánh giá ưu nhược điểm của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm
+ Vai trò của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm
- Ba là, đối với các kết quả nghiên cứu đã có về tín dụng đầu tư phát triển
của Nhà nước, cần bổ sung hoàn thiện thêm các nội dung mà các nghiên cứu đã có chưa đề cập hoặc đề cập chưa đầy đủ, hoàn chỉnh Ví dụ, đối với đặc điểm của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, các nghiên cứu hiện có mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê một số sự khác biệt giữa hình thức tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước với các hình thức tín dụng khác Các nghiên cứu này chưa thực hiện được việc khái quát hóa và chỉ ra sự khác biệt cơ bản giữa tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước với các hình thức tín dụng khác tập trung ở các đặc điểm chủ yếu như:
mục tiêu hoạt động, mục đích cho vay, đối tượng cho vay, lãi suất cho vay, huy động vốn và nguồn vốn cho vay, chủ thể nhà nước trong quan hệ tín dụng…
2.3.2 Đánh giá hiệu quả của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm
Trang 34Qua nội dung đánh giá hiệu quả tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước trong các công trình nghiên cứu đã tham khảo, có thể rút ra một số kết quả chính sau:
Thứ nhất, chưa có công trình nghiên cứu nào thực hiện việc đánh giá hiệu
quả tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự
án kinh tế trọng điểm Các nghiên cứu đã có mới chỉ đánh giá hiệu quả tín dụng nhà nước hoặc hiệu quả tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Thứ hai, đã có công trình nghiên cứu của Vũ Mạnh Bảo [1] và công trình
nghiên cứu của Trần Công Hòa [28]) thực hiện việc đánh giá hiệu quả tín dụng nhà nước hoặc tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Các tác giả này đã đưa ra quan niệm về hiệu quả tín dụng nhà nước hoặc hiệu quả tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Đồng thời các tác giả cũng đã xây dựng nên một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng nhà nước hoặc tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Trong 02 công trình nghiên cứu nêu trên, quan niệm của các tác giả tương đối giống nhau về hiệu quả của hoạt động tín dụng nhà nước hoặc hiệu quả của hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Cụ thể, cả 02 công trình nghiên cứu nêu trên đều cho rằng, cần phải xem xét hiệu quả tín dụng nhà nước/tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước trên cả bình diện vĩ mô và vi mô, cả về hiệu quả kinh tế và hiệu quả chính trị - xã hội Tác giả của 02 công trình nghiên cứu trên đều đưa ra tiêu chí đánh giá hiệu quả tín dụng nhà nước/tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước tập trung vào 03 đối tượng chính là: hiệu quả đối với nền kinh tế quốc dân; hiệu quả đối với tổ chức thực hiện quản lý tín dụng nhà nước/tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; hiệu quả của doanh nghiệp, dự án tiếp nhận và sử dụng vốn tín dụng nhà nước/tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Trên cơ sở kết quả rút ra từ nội dung đánh giá hiệu quả tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm trong các công trình nghiên cứu được tham khảo trên đây, một số vấn đề cần tiếp tục làm rõ và xây dựng mới là:
- Tham khảo, kế thừa có chọn lọc quan niệm về hiệu quả tín dụng nhà nước, hiệu quả tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước để nghiên cứu xây dựng mới quan niệm về hiệu quả tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm
Trang 35- Từ quan niệm mới về hiệu quả tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm này, xây dựng mới tiêu chí đánh giá hiệu quả tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm
2.3.3 Các kiến nghị, giải pháp đối với tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm
Kết quả chủ yếu có thể rút ra về nội dung kiến nghị, giải pháp đối với tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm từ các nghiên cứu đã được tham khảo là:
Một là, cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào đưa ra các kiến nghị, giải pháp
đối với việc nâng cao hiệu quả tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm
Hai là, trong số các nghiên cứu đã được tham khảo, chỉ có công trình
nghiên cứu của Trần Công Hòa [28] đã đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Các nghiên cứu khác không
có các kiến nghị, giải pháp về nâng cao hiệu quả tín dụng nhà nước hoặc tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Ba là, các vấn đề mà luận án cần tiếp tục nghiên cứu và xây dựng mới là:
- Tiếp thu, kế thừa có chọn lọc các kiến nghị, giải pháp về nâng cao hiệu quả tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước đã được nêu ra ở công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước
- Xây dựng mới các kiến nghị, giải pháp về nâng cao hiệu quả tín dụng đầu
tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm Trong đó, các kiến nghị, giải pháp cần đi sâu, làm rõ và tập trung vào nội dung nâng cao hiệu quả tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm chứ không dừng lại ở các kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước nói chung như đã được đề cập ở các công trình nghiên cứu trước
3 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà
nước cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm
Trang 36Chương 2 Thực trạng hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm ở Việt Nam
Chương 3 Quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng đầu tư
phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm ở Việt Nam trong thời gian tới./
Trang 371.1.1 Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
1.1.1.1 Khái niệm
Tín dụng thường được quan niệm là một phạm trù kinh tế và đồng thời là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay theo những cơ chế nhất định về thời gian vay, lãi suất vay…
Tín dụng ra đời khi xã hội có phân công lao động, sản xuất và trao đổi hàng hóa, trong quá trình trao đổi hàng hóa đã phát sinh các quan hệ vay mượn để thanh toán, ban đầu bằng hiện vật – hàng hóa, sau này chuyển sang vay mượn bằng tiền
tệ Như vậy, tín dụng, hiểu theo nghĩa hẹp là một quan hệ kinh tế hình thành trong quá trình chuyển hóa giá trị giữa hình thái hiện vật và hình thái tiền tệ từ người này sang người khác theo nguyên tắc hoàn trả vốn và lãi trong một thời hạn thỏa thuận nhất định Tín dụng, hiểu theo nghĩa rộng, là quan hệ gồm hoạt động huy động vốn
và cho vay
Tín dụng tồn tại và phát triển qua các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, các phương thức sản xuất khác nhau, song về bản chất, bao giờ tín dụng cũng biểu hiện là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng (vay mượn) một lượng giá trị nào
đó (dưới hình thức hiện vật hoặc tiền tệ) từ người sở hữu sang người sử dụng trong thời hạn nhất định nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống theo nguyên tắc hoàn trả với một lượng giá trị lớn hơn Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng rất đa dạng, phong phú và ngày càng phát triển, mở rộng về chủ thể tham gia, về quan hệ tín dụng, về đối tượng và quy mô, hình thức tín dụng
Tùy vào tiêu thức phân loại được lựa chọn mà người ta có thể phân loại tín dụng thành các loại tín dụng, các hình thức tín dụng khác nhau Căn cứ vào thời
Trang 38hạn tín dụng, có các loại tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung, dài hạn Căn cứ vào đối tượng tín dụng, có các loại tín dụng vốn lưu động, tín dụng vốn cố định Căn
cứ vào mục đích sử dụng vốn có các loại tín dụng sản xuất, tín dụng lưu thông hàng hóa, tín dụng tiêu dùng Căn cứ vào chủ thể tín dụng, có các loại tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước
Theo Nguyễn Ngọc Hùng [31]: Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng, mà
trong đó nhà nước là người đi vay để đảm bảo các khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước, đồng thời là người cho vay để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình trong quản lý kinh tế - xã hội và phát triển quan hệ đối ngoại
Theo Thái Bá Cẩn [2]: Tín dụng nhà nước là các hoạt động vay – trả giữa
Nhà nước với các tác nhân hoạt động trong nền kinh tế, phục vụ cho mục đích của Nhà nước
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (Bách khoa toàn thư tự do) đưa ra định
nghĩa: Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với doanh nghiệp,
các tổ chức kinh tế - xã hội và các cá nhân Tín dụng nhà nước xuất hiện nhằm thỏa mãn những nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước trong điều kiện nguồn thu không đủ để đáp ứng; nó còn là công cụ để Nhà nước hỗ trợ cho các ngành kinh tế yếu kém, ngành mũi nhọn và khu vực kinh tế kém phát triển, và là công cụ quan trọng để nhà nước quản lý, điều hành vĩ mô
Tác giả Thái Bá Cẩn [2] cũng đưa ra định nghĩa: Tín dụng nhà nước cho
đầu tư phát triển là tín dụng đầu tư của Nhà nước cho vay đầu tư với lãi suất ưu
đãi theo kế hoạch của Nhà nước, hoặc theo mục tiêu, định hướng của Nhà nước
Khái quát lại, có thể hiểu: Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một
hình thức tín dụng nhà nước, thể hiện quan hệ tín dụng giữa Nhà nước và các tổ chức, đơn vị, trong đó Nhà nước vừa là người đi vay để bù đắp thiếu hụt ngân sách, đồng thời vừa là người cho vay để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội theo mục tiêu, định hướng của Nhà nước”
1.1.1.2 Đặc điểm của tín dụng đầu tư phát triển
Tín dụng đầu tư phát triển (TD ĐTPT) là một loại hình tín dụng, vì vậy, tín dụng đầu tư phát triển cũng hoạt động theo nguyên tắc vay – trả, song xuất phát từ bản chất và mục đích riêng của mình mà hoạt động TDĐTPT có những đặc điểm riêng, phân biệt nó với các hình thức tín dụng ngân hàng thương mại (NHTM)
Trang 39Đặc điểm Tín dụng đầu tư phát triển Tín dụng ngân hàng thương mại Mục tiêu
hoạt động
TD ĐTPT là nhằm thực hiện các mục tiêu do Nhà nước đặt ra, nhằm hướng tới các lợi ích của nền kinh tế quốc dân; đầu tư vào những lĩnh vực mà
tư nhân không muốn làm, NHPT không muốn hoặc không có khả năng cho vay
TD ĐTPT hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà hướng tới mục tiêu cuối cùng là hiệu quả kinh tế - xã hội của các dự án đầu tư phát triển nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước, phục vụ phát triển kinh tế
xã hội đất nước trong từng thời kỳ
Mục tiêu hoạt động của tín dụng ngân hàng thương mại là nhằm hướng tới mục tiêu lợi nhuận của các tổ chức tín dụng đặt ra
Tín dụng ngân hàng thực hiện kinh doanh tiền tệ, cung ứng thường xuyên một trong số các nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận
Mục đích cho vay
Mục đích cho vay của TD ĐTPT là
để thực hiện các hạng mục, các công trình xây dựng cơ bản, nhà xưởng, hình thành tài sản cố định hoặc thanh toán cho các hợp đồng xây lắp, cung cấp vật
tư, thiết bị, máy móc chuyên dụng gắn liền với các dự án đầu tư phát triển nhằm đầu tư, hình thành tài sản cố định, xây dựng cơ sở vật chất kinh tế xã hội, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước
Tín dụng ngân hàng của các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại (NHTM) chủ yếu cấp tín dụng cho tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân vay vốn trung hạn, ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất ban đầu, vốn lưu động, vốn mua hàng hóa, vật tư phục vụ sản xuất, kinh doanh, thương mại hoặc nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân
Đối tượng cho vay
TD ĐTPT cho vay vào các dự án đầu tư phát triển được nhà nước khuyến khích, hỗ trợ, ưu đãi thuộc Danh mục các dự án vay vốn TD ĐTPT được ban hành theo định hướng phát triển kinh tế
xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ
Đối tượng cho vay của tín dụng NHTM là tất cả các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn thuộc mọi ngành nghề, lĩnh vực của nền kinh tế và đời sống xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn cho sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng…
Lãi suất cho vay
Lãi suất cho vay vốn TDĐTPT là lãi suất ưu đãi theo chỉ đạo của Chính phủ, quy định trong từng thời kỳ
Lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD), NHTM lãi suất thị trường, theo thỏa thuận giữa bên cho vay và bên vay
Huy động vốn, nguồn vốn cho vay
Nguồn vốn thực hiện TDĐTPT từ các nguồn: ngân sách nhà nước, nguồn vốn huy động, nguồn vốn nhận ủy thác nguồn vốn ODA Trong đó, nguồn vốn huy động là nguồn vốn quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn thực hiện TDĐTPT
Trong hoạt động huy động vốn TDĐTPT, không có hình thức huy động vốn thông qua nhận tiền gửi thường xuyên của khách hàng, cá nhân
Huy động vốn bằng phương thức phát hành trái phiếu Chính phủ hoặc trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh chiếm một tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn cho vay TD ĐTPT
Để có vốn thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng, các TCTD, NHTM mại huy động vốn bằng các hình thức như: nhận tiền gửi (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi
có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác) của các khách hàng, cá nhân; phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong và ngoài nước
Trong các hình thức huy động vốn, nhận tiền gửi là hình thức huy động vốn chủ yếu của các TCTD, NHTM
Chủ thể nhà nước trong quan hệ
Luôn có một bên tham gia là chủ thể Nhà nước (đại diện là tổ chức được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện TDĐTPT)
Chủ thể nhà nước là không bắt buộc, theo đó, bên cho vay có thể là tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã…được thành lập và hoạt động theo Luật các tổ
Trang 40tín dụng chức tín dụng, Luật doanh nghiệp, Luật
đầu tư, Luật hợp tác xã dưới hình thức công ty cổ phần, công ty TNHH, liên doanh, 100% vốn nước ngoài…
Địa vị pháp lý,
mô hình
tổ chức, giấy phép hoạt động, đăng ký kinh doanh của tổ chức cho vay
Tổ chức thực hiện nhiệm vụ TD ĐTPT không phải là doanh nghiệp, không đăng ký kinh doanh theo hình thức doanh nghiệp mà thường được tổ chức dưới hình thức một đơn vị sự nghiệp công của Chính phủ
Tổ chức thực hiện nhiệm vụ TD ĐTPT hoạt động theo luật riêng hoặc vừa hoạt động theo quy định của luật ngân sách nhà nước, vừa hoạt động theo quy định của luật các tổ chức tín dụng, ngân hàng
Tổ chức tín dụng, NHTM là doanh nghiệp thực hiện một số hoặc tất cả cả các hoạt động ngân hàng
Hình thức tổ chức có thể là một trong các hình thức sau: công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty TNHH một thành viên 100% vốn chủ sở hữu, hợp tác xã… và phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp
Tổ chức tín dụng hoạt động theo Giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp phép và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng
1.1.2 Các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm
1.1.2.1 Khái niệm
*Dự án
Dự án là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội hiện đại Dự án được nhiều lĩnh vực, ngành nghề và các nhóm, các tập hợp hoạt động, nghiên cứu đưa ra khái niệm
Dự án thường được hiểu là một tập hợp các đề xuất nhằm thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu nào đó trong một khoảng thời gian xác định với một sự ràng buộc nhất định về nguồn lực thực hiện
Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (WB): Dự án (Project) là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu xác định, được thực hiện trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định, dựa trên những nguồn lực xác định Dự án bao gồm dự án đầu tư và dự án hỗ trợ kỹ thuật
Theo Luật đầu tư năm 2005: Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định [53]
Theo tính chất sở hữu của chủ đầu tư dự án, dự án đầu tư được phân chia thành dự án của thành phần kinh tế nhà nước và dự án của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước