1. Trang chủ
  2. » Tất cả

28 GDHH NGUYỄN THỊ THU HIỀN

13 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 66,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC CHUYÊN ĐỀ “GIÁO DỤC HỌC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM” MÃ CHUYÊN ĐỀ GDHH CHO LỚP N[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ

PHẠM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC CHUYÊN ĐỀ

“GIÁO DỤC HỌC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM”

MÃ CHUYÊN ĐỀ: GDHH CHO LỚP NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG

Họ và tên: NGUYỄN THỊ THU HIỀN

Số báo danh:

Ngày/tháng/năm sinh: 13/06/1995

Nơi sinh: Quảng Ngãi

Đơn vị công tác: Nova FnB

Số điện thoại: 0902 443 279

Địa chỉ email: Christinanguyen.mpn@gmail.com

Đề bài

Anh/chị hãy đánh giá những ưu điểm và hạn chế của nền giáo dục đại học ở

Việt Nam hiện nay Theo anh/chị, xu hướng đổi mới trong giáo dục đại học ở Việt

Nam hiện nay là gì? Anh/chị hãy đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng giáo

dục Đại học ở Việt Nam

**************************

Bài làm

MỤC LỤC

Trang 2

PHẦN 1 ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA NỀN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1 1.1 Ưu điểm 1 1.2 Hạn chế 1 PHẦN 2 XU HƯỚNG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 4 2.1 Tiếp cận các hệ thống kiểm định chất lượng GDĐH theo chuẩn khu vực và quốc tế 4 2.2 Cập nhật và chuẩn hóa chương trình đào tạo (CTĐT) phù hợp với khu vực và quốc tế 5 2.3 Bồi dưỡng và nâng cao trình độ giảng viên theo chuẩn khu vực và quốc tế 6 2.4 Đẩy mạnh tự chủ đại học và tăng nguồn vốn đầu tư cho các

cơ sở GDĐH 6 PHẦN 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM 6 PHẦN 4 TÀI LIỆU THAM KHẢO 8

PHẦN 1

Trang 3

PHẦN 2 ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA NỀN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Ưu điểm

Dựa theo những số lượng và tình hình nghiên cứu, theo tình hình giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay, nếu con số thống kê cho thấy, tỷ lệ giáo dục của nước ta không ngừng tăng lên Dự tính trong những năm trở lại đây, các trường đại học cũng được xây dựng và đội ngũ giáo viên, giảng viên cũng được nâng cao về trình độ chuyên môn, học vị và nghiệp vụ.Vì thế mà chất lượng sinh viên với tiêu chuẩn đầu ra của đội ngũ cử nhân vì thế mà ổn định và đạt chất lượng cao nhất có thể

Theo ước tính, hiện nay trên địa bàn cả nước có 235 trường đại học và học viện Một trong những con số tương đối lớn, có thể thấy con số đó còn chưa dừng lại Hiện nay, nước ta còn có tới 37 viện nghiên cứu khoa học được đào tạo các bậc cử nhân tốt nghiệp với chương trình tiến sĩ và 33 trường cao đẳng sư phạm

Nếu so với những nghiên cứu thực tế, thì Việt Nam có thể ước tính đến con số lớn hơn thế khá nhiều và cũng đã là một trong những địa điểm thu hút được rất nhiều người về đây học tập và nâng cao trình độ kiến thức Cùng với sự phát triển như hiện nay, Việt Nam cũng là một trong những môi trường làm việc và học tập đáng ngưỡng mộ

2.2 Hạn chế

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, giáo dục đại học Việt Nam vẫn còn những hạn chế Nhìn chung, giáo dục đại học vẫn tụt hậu so với các nước trong khu vực và thế giới; phát triển chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ và chưa đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, xã

Trang 4

hội”(2) Vấn đề đặt ra hiện nay là, những hạn chế, yếu kém phải được nhận thức sâu sắc để từ đó tìm ra các giải pháp khắc phục nhằm đưa giáo dục đại học Việt Nam lên một tầm cao mới

Thứ nhất, các trường đại học ở Việt Nam thường được tổ chức theo hệ thống đại học chuyên ngành, như Đại học Thủy lợi, Đại học

Y, Đại học Dược, Đại học Kinh tế tài chính, Đại học Ngoại thương Mặc dù đã bắt đầu mở đa ngành, nhưng về cơ bản, đây vẫn là đại học chuyên ngành Chương trình giáo dục vẫn “nặng” về lý thuyết,

“nhẹ” về thực hành và vận dụng kiến thức

Thứ hai, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thiếu sự gắn kết với thị trường lao động Hiện nay, nhiều trường đại học mới chỉ cung cấp những gì mình có, chứ chưa phải những gì xã hội cần Đó là một trong những lý do khiến năm 2020, Việt Nam có 225.000 cử nhân, kỹ

sư, thạc sĩ tốt nghiệp ra trường nhưng chưa tìm được việc làm, hoặc chấp nhận làm không đúng nghề nghiệp được đào tạo, gây ra một sự lãng phí rất lớn Theo kết quả khảo sát tại 60 doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh về “Đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp về chất lượng của sinh viên được đào tạo trong năm đầu tiên sau khi tốt nghiệp” (bộ tiêu chí để đánh giá là kiến thức lý thuyết, kỹ năng thực hành, trình độ ngoại ngữ, tác phong làm việc và kỹ năng nghề nghiệp), chỉ có 5% tổng số sinh viên tham gia khảo sát được đánh giá ở mức độ tốt, 15% ở mức khá, 30%

ở mức độ trung bình và 40% ở mức độ không đạt(3)

Thứ ba, về phương pháp và hình thức dạy học, nhiều trường đại học chưa tiếp cận phương pháp “lấy người học làm trung tâm”, người thầy vẫn đóng vai trò chủ đạo, người học vẫn rất thụ động và sự tương tác giữa thầy và trò không nhiều Tình trạng “quá tải” về kiến thức và thay đổi giáo trình liên tục cũng là hậu quả của cách dạy

Trang 5

thiên về cung cấp kiến thức cụ thể, trong khi những kiến thức này không ngừng được bổ sung Mặc dù trong những năm gần đây, theo chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hầu hết các trường đại học

đã bắt đầu giảng dạy theo chương trình tín chỉ như ở các nước trên thế giới, tuy nhiên, về thực chất vẫn chưa thực sự đổi mới so với phương pháp giảng dạy trước đây, chưa khác nhiều cách dạy ở các cấp giáo dục phổ thông Cụ thể là, tính chủ động của sinh viên chưa được phát huy; phương pháp giáo dục, kiểm tra và đánh giá còn lạc hậu, thiếu thực chất; việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc chưa được chú trọng đúng mức Đây là điểm chưa hợp lý, bởi mục tiêu của giáo dục phổ thông và giáo dục đại học là khác nhau Giáo dục phổ thông là trang bị tri thức nền và rèn luyện những phẩm chất cơ bản cho người học Giáo dục đại học là rèn luyện kỹ năng thực hành và tư duy sáng tạo, là dạy cách học, cách nghiên cứu Do

đó, phải nhanh chóng khắc phục tình trạng “thầy đọc, trò chép” ở bậc đại học hiện nay

Thứ tư, giáo dục đại học Việt Nam tương đối “khép kín”, chưa tạo được sự liên thông giữa các chuẩn mực giáo dục đại học trong nước và quốc tế Ngay cả trong nước, mặc dù được đặt dưới sự quản

lý chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhưng trên thực tế khả năng liên thông kiến thức giữa các cơ sở giáo dục đại học vẫn còn hạn chế Các trường đại học và các chuyên ngành ít thừa nhận kết quả đào tạo của nhau nên người học gặp nhiều khó khăn khi chuyển trường, chuyển ngành học Việc liên thông kiến thức giữa cơ sở giáo dục đại học trong nước và nước ngoài lại càng khó khăn hơn do có sự khác biệt về mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo (trừ các chương trình liên kết quốc tế theo thỏa thuận) Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới chưa công nhận văn bằng, chứng chỉ đại học do Việt Nam đào tạo; do đó, người Việt Nam rất khó khăn khi muốn ra nước ngoài tiếp tục học tập hay định cư, công tác

Trang 6

Hạn chế của giáo dục đại học ở Việt Nam còn thể hiện qua một

số vấn đề khác, như xu hướng thương mại hóa giáo dục, thiếu cơ sở vật chất, sự đãi ngộ chưa thỏa đáng đối với những người làm công tác giáo dục đại học.[ CITATION PGS22 \l 1066 ]

Số lượng sinh viên đạt yêu cầu tiếng Anh thực sự không nhiều

và số này hầu hết thuộc nhóm chuyên ngành, còn lại rất đáng lo ngại Được học tiếng Anh từ bậc tiểu học cho tới khi lên đại học, chưa

kể việc học thêm ở các trung tâm Anh ngữ, nhưng nhiều sinh viên không đủ điều kiện tốt nghiệp do còn nợ môn tiếng Anh Điều này gây lãng phí cho xã hội, gia đình và cho chính bản thân người học Năng lực ngoại ngữ kém còn dẫn đến một thực trạng khác cũng phổ biến là sinh viên khó xin việc làm Không ít sinh viên khi xin việc không đáp ứng được yêu cầu về kỹ năng, khả năng giao tiếp tiếng Anh của các doanh nghiệp khi cần tuyển dụng nhân lực có trình độ cao

Thiếu định hướng nghề nghiệp là một trong những vấn đề lớn nhất mà sinh viên VN gặp phải Nhiều sinh viên chưa có định hướng

rõ ràng về ngành học của mình Một số chọn ngành theo sự sắp đặt của cha mẹ, hoặc theo xu hướng đám đông mà không biết có thật sự phù hợp với khả năng của mình hay không Chính điều này đã ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo dẫn đến tình trạng nguồn nhân lực đầu ra yếu kém, khó đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp

Chú trọng lý thuyết hơn thực hành trong phương pháp giảng dạy đã khiến cho sinh viên không nắm bắt được thực tế công việc, bởi luôn có khoảng cách từ lý thuyết đến thực hành, dẫn đến số lượng sinh viên xin việc rất nhiều nhưng ít người có thể đáp ứng nhu cầu công việc thực tế ở các doanh nghiệp

Sinh viên yếu về kỹ năng mềm hay còn gọi là kỹ năng thực hành xã hội, như giao tiếp tiếng Anh (cũng do năng lực tiếng Anh

Trang 7

kém), kỹ năng làm việc nhóm, xử lý vấn đề, Bên cạnh đó, còn những kỹ năng khác như tin học, sử dụng các phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ hỗ trợ công việc Sinh viên yếu kỹ năng mềm sẽ khó hòa nhập và làm việc thiếu hiệu quả, do vậy mất

đi cơ hội được các doanh nghiệp tuyển dụng

Tự chủ giáo dục đại học được thực hiện từ năm 2015, sau khi

có Nghị quyết 77/NQ-CP của Chính phủ; đặc biệt từ khi có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học Bước đầu đạt một số kết quả đáng khích lệ, giảm thủ tục hành chính, tăng tính chủ động, linh hoạt trong mọi hoạt động, từ đào tạo và nghiên cứu khoa học đến tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính,… Tuy vậy vẫn còn một

số vướng mắc, khó khăn nhất định trong vấn đề thu chi tài chính, chi trả lương, việc bổ nhiệm, bãi nhiệm hiệu trưởng, trách nhiệm, quyền hạn của Hội đồng trường, Ví dụ điển hình như vụ việc Trường đại học Tôn Đức Thắng gây ồn ào trong dư luận trong thời gian vừa qua

PHẦN 3 XU HƯỚNG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1 Tiếp cận các hệ thống kiểm định chất lượng GDĐH theo chuẩn khu vực và quốc tế

Trong xu thế phát triển GDĐH của Việt Nam và thế giới để chuẩn hoá hoạt động và nâng cao chất lượng đào tạo Cục khảo thí

và Kiểm định chất lượng giáo dục đã đưa ra bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường đại học Bộ tiêu chí này nhằm đảm bảo chất lượng đầu vào, chất lượng đầu ra và quá trình hoạt động

Song song với điều này là việc xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục, với mục tiêu là xếp hạng các trường đại học thông qua một tổ chức kiểm định độc lập Kết quả xếp hạng này cho thấy được chất lượng của từng cơ sở để căn cứ vào đó các đơn vị

Trang 8

giáo dục nước ngoài có cái nhìn toàn diện hơn về hệ thống giáo dục đại học Việt Nam

Như vậy, nếu như bộ các tiêu chí kiểm định cũng như quá trình kiểm định càng tiến gần tới chuẩn quốc tế thì càng mở ra cho GDĐH những cơ hội hợp tác, giao lưu và trao đổi sinh viên, giảng viên và các chương trình đào tạo giữa các trường, các tổ chức giáo dục tại Việt Nam cũng như trên thế giới trở nên dễ dàng hơn

3.2 Cập nhật và chuẩn hóa chương trình đào tạo (CTĐT) phù hợp với khu vực và quốc tế

Ngày nay cùng với sự phát triển công nghệ thông tin thì sinh viên có thể tiếp cận nhiều nguồn thông tin và kiến thức mở vậy nên các trường cũng phải chuyển mình theo xu hướng hội nhập quốc tế, thường xuyên cập nhật chương trình đào tạo mới phù hợp với từng thời điểm với chủ trương “đào tạo nhân lực theo nhu cầu xã hội” Như vậy, CTĐT phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn xã hội Từ đó, các trường tự quyết định phân bổ đầu tư về cơ sở vật chất, đầu tư cho nguồn lực giảng dạy Nếu nắm bắt được những nhu cầu ở trên thì các trường và các tổ chức mới có thể thu hút được nguồn sinh viên đầu vào

Thay cho mô hình giáo dục đào tạo như trước đây chỉ tập trung vào cung cấp cho người học kiến thức và kỹ năng để họ trở thành người có kỹ năng cao thì GDĐH hiện nay quan tâm nhiều hơn tới việc dạy cho sinh viên cách tự học, cách tư duy, cách đánh giá các tình huống, khả năng giải quyết vấn đề, Như vậy, nếu các trường đại học bắt kịp và ứng dụng những tiến bộ công nghệ thông tin sẽ giúp

họ có thể đạt được mục tiêu trên một cách nhanh chóng hơn

Quá trình hội nhập quốc tế ở mức độ nào đó sẽ giúp Việt Nam đào tạo nhanh chóng thêm nhiều sinh viên tốt nghiệp với chuẩn đầu

ra quốc tế với mức chi phí rẻ hơn Chính lợi thế này đã thu hút càng

Trang 9

nhiều sinh viên nước ngoài đến các trường, tổ chức giáo dục đại học tại Việt Nam Những sinh viên này mang đến nguồn tài chính cho các

tổ chức giáo dục nhưng bên cạnh đó cũng thúc giục sự thay đổi trong những tổ chức này để hướng tới sự phát triển trong thực hành giảng dạy cũng như chất lượng cao hơn đế đáp ứng nhu cầu sinh viên quốc tế

3.3 Bồi dưỡng và nâng cao trình độ giảng viên theo chuẩn khu vực và quốc tế

Hiện tại Bộ Giáo dục và đào tạo cũng đã dần trao quyền tự chủ cho các trường đại học trở lại đúng chức năng nhiệm vụ là định hướng phát triển, xây dựng hành lang pháp lí để thanh tra và kiểm tra thay vì đi sâu vào những vấn đề cụ thể của các trường Từ đó mở

ra môi trường cạnh tranh công bằng và lành mạnh cho các trường và tăng cường tính sáng tạo, năng động để đổi mới đi kịp thời đại không

để bị tụt lại phía sau Tư duy giáo dục đại học đổi mới trong chính sách của nhà nước thì quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm với những chính sách riêng của từng trường chính là động lực để các trường vươn xa ra khỏi tầm khu vực

3.4 Đẩy mạnh tự chủ đại học và tăng nguồn vốn đầu

tư cho các cơ sở GDĐH

Hiện tại Bộ Giáo dục và đào tạo cũng đã dần trao quyền tự chủ cho các trường đại học trở lại đúng chức năng nhiệm vụ là định hướng phát triển, xây dựng hành lang pháp lí để thanh tra và kiểm tra thay vì đi sâu vào những vấn đề cụ thể của các trường Từ đó mở

ra môi trường cạnh tranh công bằng và lành mạnh cho các trường và tăng cường tính sáng tạo, năng động để đổi mới đi kịp thời đại không

để bị tụt lại phía sau Tư duy giáo dục đại học đổi mới trong chính sách của nhà nước thì quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm với những

Trang 10

chính sách riêng của từng trường chính là động lực để các trường vươn xa ra khỏi tầm khu vực

PHẦN 4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

Một là, xây dựng triết lý giáo dục cho nền giáo dục nước nhà trong giai đoạn hiện nay Thực tiễn cho thấy, muốn “con tàu” giáo dục tiến lên thì trước hết cần phải có một triết lý giáo dục phù hợp

Đó là những nguyên lý nền tảng chỉ đạo toàn bộ việc xác lập mục tiêu, nội dung, phương pháp thực hiện hoạt động giáo dục được đúc kết bằng những câu nói ngắn gọn Cần chuyển nền giáo dục lấy trang bị kiến thức làm mục tiêu chủ yếu sang một nền giáo dục dạy

kỹ năng, dạy cách tự học, cách tư duy làm chủ yếu Trong quy trình dạy học đó, sinh viên đóng vai trò chủ động; giảng viên chỉ là người hướng dẫn, định hướng cho sinh viên cách thu nhận kiến thức và hỗ trợ, giải đáp các thắc mắc khi cần thiết Đi theo sự đổi mới này là hàng loạt các thay đổi căn bản, từ chương trình khung đến giáo trình

và phương pháp giảng dạy Nền giáo dục ngày nay là nền giáo dục khai phóng nên giảng viên phải chuyển từ dạy tri thức sang dạy cách học, dạy cách tư duy Do đó, người thầy không nên “nhồi nhét” kiến thức, mà phải trang bị cho người học thói quen “hoài nghi khoa học”, năng lực phản biện các tri thức có sẵn và sáng tạo ra những tri thức mới Cũng phải thay đổi một cách căn bản hệ thống đánh giá từ kiểm tra kiến thức sang đánh giá năng lực Các trường đại học phải cam kết “chuẩn đầu ra” phù hợp với yêu cầu, nhu cầu của xã hội, chứ không phải “chuẩn đầu ra” do trường, cụ thể hơn nữa là do giáo viên

tự xác định Để giáo dục đại học Việt Nam gắn kết với nhu cầu xã hội thì giáo dục đại học phải gắn kết chặt chẽ hơn với các cơ quan, đơn

vị, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng lao động.[ CITATION PGS22 \l 1066 ]

Ngày đăng: 18/11/2022, 10:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w