Microsoft Word BaivietSONLA Tran Dinh Thao OK S1 doc 1 SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NGÔ Ở SƠN LA Trần Ðình Thao Nguyễn Tuấn Sơn I Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Trong những năm gần đây cùng với sự phát[.]
Trang 1SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NGÔ Ở SƠN LA
Trần Ðình Thao Nguyễn Tuấn Sơn
I Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi, việc sản xuất những cây làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp này cũng không ngừng phát triển, trong đó có cây ngô Từ việc sản xuất với mục đích phục vụ cho nhu cầu chăn nuôi của gia đình là chính đến nay ngô đã trở thành một loại nông sản mang tính hàng hoá cao Nói đến sản xuất ngô ở miền Bắc ta không thể không nhắc tới Sơn La, bởi đây là một tỉnh phát triển sản xuất ngô rất mạnh Ngô của Sơn La được trồng chủ yếu trên chân đất nương, các vùng đất bãi ven sông, suối Trong thời gian gần đây, diện tích ngô đã được mở rộng trên các chân đất ruộng vào vụ xuân Ngô của Sơn La đã được tiêu thụ ở rất nhiều thị trường như : Hà Tây, Thanh Hoá, Nam Ðịnh, Vinh điều này cho thấy ngô ở Sơn La đã trở thành một loại sản phẩm mang tính hàng hoá cao Tuy nhiên, trong thời gian tới đây khi nước ta bước vào thời kỳ hội nhập với kinh tế khu vực thì việc cạnh tranh giữa các loại nông sản hàng hoá là không thể tránh khỏi Do vậy, việc tìm
ra những hạn chế gây ảnh hưởng tới quá trình sản xuất và tiêu thụ ngô ở Sơn La nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm ngô nơi đây là cần thiết Xuất phát từ quan điểm này chúng tôi tiến
hành nghiên cứu: “Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô ở Sơn La” nhằm xác định được những tiềm
năng và hạn chế trong quá trình sản xuất và tiêu thụ ngô ở khu vực này làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách đề ra được những chính sách phù hợp giúp Sơn La trở thành một vùng ngô hàng hoá
II Phương pháp nghiên cứu
2.1 Thu thập số liệu
Số liệu dùng cho nghiên cứu có hai loại: số liệu thứ cấp, số liệu sơ cấp
2.1.1 Số liệu thứ cấp
Chúng tôi tiến hành thu thập số liệu thứ cấp trên các tài liệu, tạp chí, báo cáo của các tỉnh đã được công bố về tình hình diện tích, năng suất, sản lượng, lượng ngô được tiêu thụ hàng năm
2.1.2 Số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp đó là tình hình đầu tư chi phí, năng suất, sản lượng, tình hình tiêu thụ sản phẩm của các hộ được chúng tôi thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp thông qua biểu mẫu câu hỏi điều tra được chuẩn bị sẵn Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi tiến hành điều tra 100 hộ tại 2 huyện là Mộc Châu và Mai Châu của tỉnh Sơn La
2.2 Phương pháp phân tích
Trong quá trình phân tích chúng tôi sử dụng các phương pháp như sau:
a Phương pháp hạch toán chi phí và kết quả sản xuất
b Phương pháp so sánh  
Trang 2III Kết quả nghiên cứu 3.1 Tình hình sản xuất ngô ở Sơn La
Qua điều tra chúng tôi thấy, ngô ở Sơn La được trồng vào hai vụ chính đó là vụ hè thu trên các chân đất nương (trồng từ tháng 4 và thu hoạch vào tháng 7 hàng năm), vụ đông trồng trên các vùng đất bãi ven sông suối Trong thời gian gần đây, bà con đã trồng thử nghiệm vụ ngô xuân trên các chân đất ruộng sau khi đã thu hoạch lúa mùa Với lợi thế về đất đai và khí hậu của mình, sản xuất ngô ở Sơn La đã không ngừng phát triển trong những năm vừa qua Diện tích và sản lượng ngô của Sơn La không ngừng tăng lên và chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng diện tích và sản lượng ngô của cả nước
Ðồ thị 1 Diện tích và sản lượng ngô của Sơn La giai đoạn 1998-2002
0 20 40 60 80 100 120 140 160 180 200
DiÖn tÝch S¶n l- î ng
Qua đồ thị 1 cho thấy, diện tích ngô của Sơn La không ngừng tăng lên trong những năm vừa qua Diện tích ngô của Sơn La năm 1998 là 35,5 nghìn ha, đến năm 2002 diện tích ngô của Sơn La là 64,9 nghìn ha
Cùng với sự tăng lên về diện tích, sản lượng ngô của Sơn La cũng không ngừng tăng lên trong những năm vừa qua Năm 1998 sản lượng ngô của Sơn La là 82,3 nghìn tấn, đến năm 2002 con số này đã là 175,1 nghìn tấn
Như vậy ta thấy, diện tích và sản lượng ngô ở Sơn La đã không ngừng tăng lên trong những năm vừa qua Ðiều này cho thấy ngô đã trở thành một loại cây trồng chính, có vai trò quan trọng trong
cơ cấu cây trồng của tỉnh Sơn La
Qua điều tra chúng tôi cũng xác định được vị trí của cây ngô trong cơ cấu cây trồng tại
tỉnh Sơn La như sau:
* Chân đất nương:
1 vụ lúa Ngô hè thu
* Ðất bãi ven sông, suối:
1 vụ lúa mùa Ngô đông
* Ðất ruộng Lúa Lúa Ngô xuân
Trang 33.2 Tình hình sản xuất ngô của các hộ điều tra
3.2.1 Tình hình đầu tư chi phí sản xuất ngô của các hộ điều tra
Việc đánh giá được các mức đầu tư chi phí (cao hay thấp) trong sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng trong một quá trình sản xuất Nó giúp cho người sản xuất có thể nhìn nhận một cách tổng quát quá trình đầu tư của mình, từ đó họ sẽ có mức đầu tư hợp lý hơn Trong nông nghiệp, việc xác định được mức đầu tư phù hợp sẽ góp phần nang cao năng suất cây trồng, hạn chế sự lãng phí nguyên vật liệu và nâng cao hiệu quả sản xuất
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi tiến hành đánh giá mức độ đầu tư chi phí trong sản xuất ngô của các hộ điều tra, trong các vụ khác nhau nhằm xác định xem vụ nào là vụ có ưu thế hơn trong việc hạ giá thành trong sản xuất ngô
Bảng 1 Tình hình đầu tư chi phí sản xuất ngô của các hộ điều tra tỉnh Sơn La
(tính bình quân cho 1 tấn sản phẩm)
So sánh (lần) Diễn giải ÐVT Vụ hè thu (1) Vụ đông (2) Vụ xuân (3)
2/1 3/1
1 Chi phí vật chất 1000 đ 441,94 513,87 518,67 1,16 1,17
2 Các khoản thuê, nộp 1000 đ 346,31 301,46 334,41 0,87 0,97
Tổng chi phí sản xuất 1000 đ 788,25 815,33 853,08 1,03 1,08
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra
Kết quả điều tra cho thấy, chi phí sản xuất 1 tấn ngô trong vụ hè thu có chi phí thấp nhất mức chi phí này cao nhất ở vụ xuân là 853,08 nghìn đồng/tấn Nguyên nhân là do ngô hè thu thường được trồng trên các chân đất đồi, đất nương, đây là các loại đất có độ màu mỡ cao, chính vì vậy mà chi phí vật tư, phân bón ở vụ hè thu cũng thấp, do vậy mà chi phí sản xuất thấp Còn ngô đông và ngô xuân được trồng trên các chân đất ruộng, hoặc các vùng đất bãi ven suối Ðây là các diện tích có hệ số quay vòng cao, do vậy độ màu mỡ giảm Chính vì thế mà chi phí vật tư, phân bón cao từ đó dẫn tới chi phí sản xuất cao
Như vậy, ta có thể kết luận chi phí sản xuất ngô/ 1 tấn sản phẩm trong vụ hè thu là thấp nhất trong các vụ ngô ở Sơn La Hay nói cách khác, vụ hè thu ở Sơn La là vụ có ưu thế hơn trong việc hạ giá thành sản xuất ngô ở Sơn La
Bảng 2 Tình hình đầu tư chi phí sản xuất ngô của các nhóm hộ điều tra
(tính bình quân cho 1 ha canh tác)
So sánh (lần) Diễn giải ÐVT
Quy mô lớn (1)
Quy mô tr
bình (2)
Quy mô nhỏ (3)
2/1 3/1
1 Chi phí vật chất 1000 đ 2385,84 2668,9 3073,28 1,12 1,29
2 Các khoản thuê, nộp 1000 đ 2505,38 1901,25 1330,87 0,76 0,53
Tổng chi phí sản xuất 1000 đ 4891,22 4570,15 4404,15 0,93 0,90
Nguồn: Số liệu điều tra Ghi chú: Nhóm hộ quy mô lớn, diện tích > 1 ha
Nhóm hộ quy mô trung bình, diện tích từ 0,5 1 ha Nhóm hộ quy mô nhỏ, diện tích < 0,5 ha
Trang 4Bên cạnh việc đánh giá mức độ đầu tư của các hộ qua các vụ, chúng tôi cũng tiến hành
đánh giá mức độ dầu tư chi phí của các nhóm hộ theo quy mô diện tích khác nhau (quy mô
lớn, trung bình, quy mô nhỏ), nhằm xác định xem nhóm hộ sản xuất theo quy mô diện tích
nào sẽ có ưu thế trong việc hạ giá thành sản xuất ngô ở Sơn La
Số liệu bảng 3 cho thấy, tổng chi phí sản xuất của nhóm hộ có quy mô diện tích lớn là cao nhất, thấp nhất là tổng chi phí của nhóm hộ có quy mô diện tích nhỏ Tuy nhiên, khi xét
cụ thể từng khoản mục chi phí thì chi phí vật chất của nhóm hộ có quy mô diện tích nhỏ cao hơn so với các nhóm hộ khác Do vậy, xét ở một góc độ nào đó thì sản xuất theo quy mô lớn sẽ tránh được sự lãng phí các yếu tố đầu vào hơn
Nếu xét về chi phí thuê (trong đó chủ yếu là chi phí thuê lao động) thì nhóm hộ có quy
mô diện tích nhỏ có chi phí thuê thấp hơn rất nhiều so với nhóm hộ có quy mô diện tích lớn
Nguyên nhân là do nhóm hộ có quy mô diện tích lớn do quy mô sản xuất lớn hơn nên họ phải thuê lao động thường xuyên Như vậy, qua đây ta thấy nhóm hộ có quy mô diện tích lớn sản xuất ngô vẫn mang tính sản xuất hàng hoá cao hơn so với nhóm hộ khác Bên cạnh đó, chính việc sử dụng nhiều lao động thuê, nhóm hộ sản xuất ngô theo quy mô lớn đã góp phần giải quyết được việc làm cho một bộ phận lao động tại địa phương
3.2.2 Hiệu quả kinh tế sản xuất ngô của các nhóm hộ điều tra
Cùng với việc đánh giá tình hình đầu tư chi phí của các hộ điều tra trong các vụ khác nhau ở Sơn La, chúng tôi tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội sản xuất ngô của các hộ trong các vụ khác nhau nhằm xác định xem vụ nào sản xuất ngô sẽ cho hiệu quả cao hơn
Bảng 3 Năng suất, HQKT cây ngô giữa các vụ tỉnh Sơn La
(tính bình quân cho 1ha canh tác)
So sánh (lần) Chỉ tiêu ÐVT Vụ xuân (1) Vụ đông (2) Vụ hè thu (3)
3/1 3/2
Tổng giá trị sản xuất (GO) 1000đ 8937,54 9213,05 10401,11 1,16 1,13 Chi phí trung gian (IC) 1000đ 2800,81 2826,30 2695,86 0,96 0,95 Giá trị gia tăng (VA) 1000đ 6136,73 6386,75 7705,25 1,26 1,21 Thu nhập hỗn hợp (MI) 1000đ 4330,93 4728,75 5592,75 1,29 1,18 Lao động gia đình công 169,80 161,47 145,85 0,86 0,90 IC/ 1 tấn sản phẩm 1000đ 518,67 513,87 441,94 0,85 0,86 VA/ 1 tấn sản phẩm 1000đ 1136,43 1161,23 1263,16 1,11 1,09
GO/1 công lao động gđ 1000đ 52,64 57,06 71,31 1,35 1,25 VA/1 công lao động gđ 1000đ 36,14 39,55 52,83 1,46 1,34 MI/ 1 công lao động gđ 1000đ 25,51 29,29 38,35 1,50 1,31
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra
Kết qủa điều tra cho thấy, năng suất và các chỉ tiêu hiệu quả trong sản xuất ngô vụ hè thu ở Sơn La đều cao hơn các chỉ tiêu này trong sản xuất ngô ở vụ đông và vụ xuân Số liệu bảng 3 cho thấy, năng suất ngô vụ hè thu ở Sơn La là 6,1 tấn/ha cao gấp 1,13 lần so với năng
Trang 5suất ngô vụ xuân và cao gấp 1,13 lần năng suất ngô vụ đông Giá trị gia tăng tạo ra 1 tấn ngô
ở vụ hè thu là 1263,16 nghìn đồng cũng cao gấp 1,11 lần chỉ số này của vụ xuân và cao gấp 1,09 lần vụ đông Tương tự như vậy, giá trị thu nhập tạo ra do 1 ngày công lao động gia đình trong sản xuất ngô ở vụ hà thu là 38,35 nghìn đồng cao gấp 1,5 lần chỉ tiêu này ở vụ xuân và cao gấp 1,31 lần so với vụ đông Nguyên nhân là do, chi phí vật chất dùng trong sản xuất ngô
ở vụ hè thu thấp hơn so với chi phí sản xuất ngô trong các vụ khác
Như vậy, ta có thể kết luận rằng sản xuất ngô ở Sơn La trong vụ hè thu cho năng suất
và hiệu quả cao hơn so với vụ đông và vụ xuân, vụ hè thu là vụ sản xuất ngô chính của Sơn
La Do vậy, nên mở rộng diện tích ngô hè thu ở Sơn La
Bên cạnh việc đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của sản xuất ngô trong các vụ khác nhau, chúng tôi cũng tiến hành phân tích xem giữa các nhóm hộ có quy mô diện tích khác nhau nhằm xác định xem nhóm hộ với quy mô diện tích nào sẽ cho năng suất và hiệu quả sản xuất ngô cao hơn
Bảng 4 So sánh năng suất, HQKT cây ngô giữa các nhóm hộ
(tính bình quân cho 1 ha canh tác)
lớn (1)
Quy mô
t bình (2)
Quy mô
Tổng giá trị sản xuất (GO) 1000đ 10315,90 10401,10 10656,90 0,97 0,98 Chi phí trung gian (IC) 1000đ 2385,84 2668,90 3073,28 0,78 0,87 Giá trị gia tăng (VA) 1000đ 7930,02 7732,21 7583,60 1,05 1,02 Thu nhập hỗn hợp (MI) 1000đ 4824,64 5830,96 6252,73 0,77 0,93 Lao động gia đình công 105,01 144,39 188,15 0,56 0,77 IC/ 1 tấn sản phẩm 1000đ 394,35 437,52 491,72 0,80 0,89 VA/ 1 tấn sản phẩm 1000đ 1310,75 1267,58 1213,38 1,08 1,04
GO/ 1 công lao động gđ 1000đ 98,24 72,03 56,64 1,73 1,27 VA/ 1 công lao động gđ 1000đ 75,52 53,55 40,31 1,87 1,33 MI/ 1 công lao động gđ 1000đ 45,94 40,38 33,23 1,38 1,22
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra
Qua điều tra thực tế chúng tôi thấy, do nhóm hộ có quy mô diện tích nhỏ (nhóm hộ 3)
có điều kiện đầu tư thâm canh và canh tác cao hơn so với nhóm hộ có quy mô diện tích lớn
(nhóm hộ 1), nên năng suất ngô tính bình quân/ha của nhóm hộ 3 cũng cao hơn so với năng
suất ngô của nhóm hộ 1 Số liệu bảng 4 cho thấy, năng suất ngô của nhóm hộ 3 là 6,25 tấn/ha cao gấp 1,03 lần (0,2 tấn/ha) so với năng suất ngô của nhóm hộ 1
Tuy nhiên, do nhóm hộ 3 có điều kiện đầu tư thâm canh cao hơn so với nhóm hộ 1 nên chi phí vật chất trong sản xuất ngô của nhóm hộ 3 lại cao hơn so với nhóm hộ 1, chi phí sản xuất của nhóm hộ 3 là 3073,28 nghìn đồng/ha cao gấp 1,29 lần so với con số này của nhóm hộ
1 Chính vì thế mà giá trị gia tăng tạo ra trên 1 ha ngô của nhóm hộ 3 là 7583,6 nghìn đồng chỉ bằng 0,96 lần so với giá trị gia tăng tạo ra của nhóm hộ 1 Nếu ta xét bình quân trên 1 tấn
Trang 6ngô sản xuất ra thì chi phí vật chất dùng để sản xuất ra 1 tấn ngô của nhóm hộ 1 là thấp nhất 394,35 nghìn đồng, con số này chỉ bằng 0,80 lần so với mức chi phí vật chất để sản xuất ra 1 tấn ngô của nhóm hộ 3 (491,72) nghìn đồng) Như vậy ta có thể kết luận rằng, nhóm hộ 1 (quy mô diện tích lớn) có ưu thế hơn trong việc hạ giá thành sản xuất ngô so với nhóm hộ 3 (quy mô diện tích nhỏ)
Xét dưới góc độ hiệu quả sử dụng lao động thì giá trị thu nhập tạo ra trên 1 ngày công lao động gia đình của nhóm hộ 3 thấp hơn rất nhiều so với chỉ tiêu này của nhóm hộ 1 Số liệu bảng 5 cũng cho thấy, một ngày công lao động gia đình của nhóm hộ 3 tạo ra 33,23 nghìn đồng thu nhập hỗn hợp, trong khi con số này của nhóm hộ 1 đạt được khá cao là 45,94 nghìn đồng
Bên cạnh đó, nếu xét dưới góc độ hiệu quả xã hội thì việc sản xuất ngô theo quy mô lớn không những góp phần nâng cao thu nhập cho lao động gia đình mà còn góp phần tạo ra việc làm cho lao động dư thừa tại địa phương do sản xuất với quy mô lớn sử dụng rất nhiều lao động thuê
Do vậy, ta có thể kết luận sản xuất ngô theo quy mo diện tích lớn sẽ cho hiệu quả kinh
tế, xã hội cao hơn so với sản xuất theo quy mô nhỏ Vì thế nên có chính sách đất đai thích hợp nhằm tạo điều kiện cho các hộ sản xuất theo quy mô lớn để thu được hiệu quả cao hơn
Cùng với việc đánh giá hiệu quả sản xuất ngô giữa các nhóm hộ với quy mô diện tích khác nhau, chúng tôi cũng tiến hành so sánh hiệu quả sản xuất ngô ở Sơn La với một số loại cây trồng khác trong cùng một thời vụ và trên cùng một loại đất nhằm mục đích xác định xem sản xuất ngô ở Sơn La có thực sự cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với các loại cây trồng khác không
Bảng 5 So sánh HQKT của ngô với một số loại cây trồng khác ở tỉnh Sơn La
(tính bình quân cho 1 ha canh tác)
So sánh (lần) Chỉ tiêu ÐVT Ngô (1) Ðậu tương (2) Lúa nương (3)
1/2 1/3
Tổng giá trị sản xuất (GO) 1000đ 10401,11 6660,00 2207,48 1,56 4,71 Chi phí trung gian (IC) 1000đ 2695,86 2142,90 287,50 1,26 9,38 Gía trị gia tăng (VA) 1000đ 7705,25 4517,10 1919,98 1,71 4,01 Thu nhập hỗn hợp (MI) 1000đ 5592,75 2715,97 1919,98 2,06 2,91 Lao động gia đình công 145,85 148,60 135,20 0,98 1,08
GO/1 công lao động gđ 1000đ 71,31 44,82 16,33 1,59 4,37 VA/1 công lao động gđ 1000đ 52,83 30,40 14,20 1,74 3,72 MI/ 1 công lao động gđ 1000đ 38,35 18,28 14,20 2,10 2,70
Nguồn: Số liệu điều tra
Số liệu bảng 5 là kết quả điều tra của chúng tôi về tình hình sản xuất ngô, đậu tương
và lúa nương ở Sơn La được các hộ canh tác trên cùng chân đất nương và trong cùng vụ hè thu Kết quả cho thấy, mặc dù có chi phí sản xuất cao hơn rất nhiều so với sản xuất đậu tương
và lúa nương nhưng sản xuất ngô ở Sơn La lại cho kết quả và các chỉ tiêu hiệu quả cao hơn rất nhiều so với sản xuất đậu tương và lúa nương trong cùng thời vụ
Trang 7Qua bảng 5 ta thấy, chi phí vật chất của sản xuất ngô là 2695,86 nghìn đồng/ha cao gấp 1,26 lần chi phí sản xuất đậu tương và cao gấp 9,38 lần so với chi phí sản xuất lúa nương
Tuy nhiên, giá trị gia tăng tạo ra do sản xuất ngô lại rất cao 10401,11 nghìn đồng/ha, trong khi con số này của sản xuất đậu tương chỉ là 6660 nghìn đồng/ha, của sản xuất lúa nương chỉ là 1919,98 nghìn đồng/ha Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của sản xuất ngô cũng cao hơn rất nhiều so với sản xuất đậu tương và lúa nương, 1 ngày công lao động gia đình trong sản xuất ngô tạo ra được 38,35 nghìn đồng thu nhập hỗn hợp, cao gấp 2,7 lần chỉ tiêu này trong sản xuất lúa nương và cao gấp 2,1 lần chỉ tiêu này trong sản xuất đậu tương Qua đây ta thấy, sản xuất ngô ở Sơn La đã đóng góp một vai trò đáng kể trong việc nâng cao thu nhập cho lao động nông nghiệp, góp phần xoá đói giảm nghèo cho một tỉnh miền núi như Sơn La
Như vậy, ta có thể kết luận ngô là loại cây trồng mang lại hiệu quả cao hơn rất nhiều các loại cây lương thực khác ở Sơn La Chính vì thế, các hộ nên dần thay thế việc sản xuất các loại cây trồng kém hiệu quả như lúa nương bằng việc sản xuất ngô nhằm nâng cao thu nhập cho hộ gia đình
Tóm lại: Qua việc phân tích, đánh giá tình hình sản xuất ngô ở Sơn La chúng tôi nhận
thấy:
* Chi phí sản xuất ngô trong vụ hè thu ở Sơn La thấp hơn so với chi phí sản xuất trong các vụ khác Hay nói cách khác vụ hè thu là vụ có ưu thế trong việc hạ giá thành sản xuất ngô
ở Sơn La
* Sản xuất ngô ở Sơn La trong vụ hè thu cho năng suất và hiệu quả cao hơn so với vụ đông và vụ xuân, vụ hè thu là vụ sản xuất ngô chính của Sơn La Do vậy, nên mở rộng diện tích ngô hè thu ở Sơn La
* Nhóm hộ quy mô diện tích nhỏ có mức chi phí vật chất trong sản xuất ngô cao hơn
so với nhóm hộ quy mô diện tích trung bình và lớn Trong khi nhóm hộ quy mô diện tích lớn lại có chi phí thuê lao động cao hơn so với các nhóm hộ khác
* Năng suất ngô của nhóm hộ có quy mô diện tích nhỏ cao hơn so với năng suất ngô của nhóm hộ có quy mô diện tích trung bình và lớn Tuy nhiên, sản xuất ngô theo quy mô lớn cho hiệu quả kinh tế, xã hội cao hơn so với sản xuất ngô của nhóm hộ có quy mô nhỏ Do vậy, cần
có các chính sách thích hợp để khuyến khích các hộ sản xuất ngô theo quy mô lớn để giúp họ thu được hiệu quả cao hơn
* Sản xuất ngô với quy mô lớn có ưu thế hơn trong việc hạ giá thành sản xuất ngô so với nhóm hộ sản xuất với quy mô nhỏ Bên cạnh đó, sản xuất ngô với quy mô lớn cũng góp phần nâng cao thu nhập gia đình và tạo thêm việc làm cho số lao động nông nghiệp dư thừa tại địa phương
* Sản xuất ngô cho hiệu quả cao hơn rất nhiều so với sản xuất đậu tương và lúa nương
Do vậy, để nâng cao thu nhập cho gia đình và góp phần xoá đói giảm nghèo các hộ nên thay thế các loại cây kém hiệu quả bằng việc sản xuất cây ngô
3.3 Tình hình tiêu thụ ngô của các hộ điều tra
3.3.1 Kênh phân phối ngô của các hộ điều tra
Qua điều tra thực tế chúng tôi xác định được kênh phân phối ngô chủ yếu của các hộ sản xuất ở Sơn La như sau:
Trang 83.3.2 Tình hình tiêu thụ ngô của các nhóm hộ điều tra
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng trong một chu kỳ sản xuất Tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quyết định trong việc thu hồi vốn và đầu tư tái sản xuất Trong nông nghiệp, việc đánh giá được quá trình tiêu thụ sản phẩm góp phần quan trọng trong việc xác định được chính xác loại cây hàng hoá để
từ đó có hướng đầu tư cho phù hợp và mở rộng sản xuất
Ðể đánh giá được một cách chính xác tình hình tiêu thụ ngô ở các địa phương chúng tôi tiến hành phân tích tình hình tiêu thụ của các nhóm hộ có quy mô diện tích khác nhau nhằm mục đích xác định xem nhóm hộ theo quy mô diện tích nào đã sản xuất ngô theo hướng sản xuất hàng hoá
Bảng 6 Tỷ lệ ngô tiêu thụ của các nhóm hộ Diễn giải Tỷ lệ sản phẩm tiêu thụ (%)
Nhóm hộ quy mô lớn 95,39
Nhóm hộ quy mô nhỏ 84,09
Nguồn: Số liệu điều tra
Qua điều tra chúng tôi thấy, ngô ở Sơn La mang tính hàng hoá rất cao, bởi vì lượng ngô các hộ sản xuất ra hầu như là để bán Số liệu bảng 6 cho thấy, tỷ lệ ngô tiêu thụ của các nhóm hộ là rất cao Nhóm hộ có quy mô diện tích lớn tiêu thụ tới 95,39 % lượng ngô do mình sản xuất ra, tỷ lệ này của nhóm hộ có quy mô sản xuất trung bình là 86,01%, của nhóm hộ quy mô nhỏ là 84,09 % Tuy nhiên, nếu ta so sánh tỷ lệ ngô tiêu thụ giữa các nhóm hộ thì nhóm hộ quy mô diện tích lớn có tỷ lệ ngô tiêu thụ là cao nhất, thấp nhất là tỷ lệ ngô tiêu thụ của nhóm hộ quy mô nhỏ Như vậy ta có thể thấy, ngô của các hộ quy mô diện tích lớn mang tính hàng hoá cao hơn so với ngô của nhóm hộ quy mô diện tích nhỏ
Bảng 7 Tình hình tiêu thụ ngô hè thu theo thời điểm của các hộ điều tra Diễn giải Tỷ lệ lượng bán (%) Giá bán (đ/kg) Thời điểm bán
(tháng)
Nguồn: Số liệu điều tra
Bên cạnh việc xác định tỷ lệ tiêu thụ ngô, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tình hình tiêu thụ ngô của các hộ điều tra ở Sơn La theo thời điểm Bởi vì, thời điểm tiêu thụ là một yếu
Nhà máy
Người bán buôn lớn Người sản xuất
Nhà máy
Người bán buôn
Người thu gom Người sản xuất
55,7%
44,3%
Trang 9tố có ảnh hưởng rất lớn đến giá cả sản phẩm Nếu tiêu thụ vào thời điểm thích hợp sẽ cho giá cao hơn và ngược lại
Qua điều tra chúng tôi thấy các hộ sản xuất ngô có sự lựa chọn thời điểm để bán sản
phẩm khác nhau Số liệu bảng 7 cho thấy, ở Sơn La, tỷ lệ ngô tiêu thụ ở lần bán 1 (là thời
điểm ngay sau khi thu hoạch) là rất thấp chỉ đạt 1,08 % Tỷ lệ này đạt được cao nhất là vào
lần bán thứ 3 (tháng 10) 48,96 % lượng sản phẩm của các hộ, sau đó đến lần bán 4 với tỷ lệ
27,34 % lượng sản phẩm Nguyên nhân có hiện tượng này là do, qua điều tra chúng tôi thấy vào thời điểm tháng 10-11 là thời điểm giáp ranh giữa vụ hè thu và vụ đông ở Sơn La nên giá bán lúc này cũng cao hơn do vậy các hộ đã giành phần lớn sản phẩm của mình để bán vào thời điểm này Còn vào thời điểm tháng 8 đây là thời gian thu hoạch rộ của vụ hè thu, lượng ngô sản xuất ra lúc này nhiều chính vì thế mà giá ngô lúc này không cao bằng lúc giáp hạt Do vậy, các hộ cần có những biện pháp bảo quản ngô sau thu hoạch để có thể tích trữ được sản phẩm để bán vào lúc giáp hạt nhằm đạt được giá cao Tuy nhiên, qua điều tra chúng tôi thấy việc bảo quản ngô ở Sơn La chủ yếu vẫn là thủ công nên tỷ lệ hao hụt còn lớn Do vậy, việc nghiên cứu để lựa chọn phương pháp bảo quản ngô thích hợp là rất cần thiết cho vùng sản xuất ngô lớn như Sơn La
Cùng với việc xác định tỷ lệ tiêu thụ ngô của các hộ, thời điểm tiêu thụ ngô của các
hộ, chúng tôi tiến hành xác định khách hàng mua ngô của các hộ nhằm xác định được những thuận lợi và hạn chế trong việc tiêu thụ ngô của các hộ Qua điều tra chúng tôi thấy, khách hàng chủ yếu mua ngô của các hộ là người thu gom tại địa phương hoặc những người bán buôn lớn Ðây là hai đối tượng chính góp phần rất quan trọng trong việc tiêu thụ ngô nói riêng
và các loại nông sản hàng hoá nói chung Kết quả điều tra cho thấy, ở Sơn La nông dân thường bán ngô cho những người thu gom nhỏ tại địa phương hoặc một số người buôn lớn trên thị trấn Mộc Châu đưa xe ô tô về để thu mua
Bảng 8 Tỷ lệ ngô tiêu thụ theo đối tượng khách hàng của các hộ điều tra Diễn giải Tỷ lệ (%)
Nguồn: Số liệu điều tra
Số liệu bảng 8 cho thấy, các hộ sản xuất ngô ở Sơn La bán phần lớn lượng ngô của mình sản xuất ra (94,32 %) cho hai đối tượng khách hàng chính đó là người thu gom tại địa phương với 44,7 % lượng sản phẩm, người bán buôn lớn với 55,3 % Qua đây ta thấy, các hộ sản xuất ngô ở Sơn La đã mang tính sản xuất hàng hoá rất lớn Tuy nhiên, do chỉ bán sản phẩm cho hai đối tượng khách hàng này đôi khi xảy ra tình trạng người sản xuất bị ép giá, từ
đó dẫn tới tình trạng hiệu quả thu được không cao Do vậy, việc phổ biến thông tin tới người sản xuất, nhất là các thông tin về giá cả thị trường là rất cần thiết cho những vùng sản xuất mang tính hàng hoá cao như ở Sơn La Lượng ngô dùng cho chăn nuôi trong gia đình chiếm một
tỷ lệ khá thấp 5,68 % Ðiều này cho thấy, sản xuất của các hộ mang tính hàng hoá rất cao, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu để bán, lượng tiêu thụ trong gia đình rất thấp
Trang 10Giá bán có ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của người sản xuất, nếu giá bán cao thì thu nhập sẽ cao và ngược lại Trong quá tình nghiên cứu chúng tôi cũng nghiên cứu giá bán ngô của các hộ theo từng đối tượng mua, theo từng thời điểm trong năm nhằm xác định xem giá bán cho đối tượng khách hàng nào cao, giá bán cho đối tượng nào thấp và giá bán vào thời điểm tháng nào trong năm đạt được cao Trên cơ sở đó giúp các hộ có những quyết định đúng đắn trong việc tiêu thụ sản phẩm của mình nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
Bảng 9 Giá bán ngô bình quân theo đối tượng khách hàng
Nguồn: Số liệu điều tra
Qua điều tra chúng tôi thấy, giá mua ngô của người bán buôn cao hơn so với người thu gom, tuy nhiên mức độ chênh lệch giá mua của hai đối tượng này là không lớn Số liệu bảng
10 cho thấy, người bán buôn mua ngô của nông dân với giá là 1,76 nghìn đồng/kg, giá mua của người thu gom là 1,6 nghìn đồng/kg Sở dĩ giá mua của người thu gom lại thấp hơn so với giá mua của người bán buôn bởi vì qua tìm hiểu thực tế chúng tôi thấy, người thu gom chủ yếu là người địa phương nên có mối quan hệ thân thiết với người sản xuất hơn nên họ thường mua được với mức giá ưu tiên hơn Bên cạnh đó cũng chính người thu gom là những người thường xuyên mua hàng cho nông dân hơn kể cả lúc hàng nhiều hay ít nên họ sẽ được ưu tiên hơn Còn những người bán buôn thường là người nơi khác về địa phương để mua hàng những lúc cần do vậy mà họ phải mua với mức giá cao hơn
Ðồ thị 2 Bién động giá bán ngô bình quân của các hộ qua các tháng
0 0.5 1 1.5 2 2.5
Th¸ng
Gi¸ b¸n
Ngoài việc phân tích giá bán ngô của nông dân theo đối tượng khách hàng chúng tôi còn tiến hành phân tích giá bán ngô theo từng tháng trong năm nhằm đánh giá được biến động giá bán ngô của người sản xuất, từ đó giúp người sản xuất có những thông tin cần thiết về giá
cả để có kế hoạch bán sản phẩm cũng như bố trí thời vụ sản xuất ngô cho phù hợp
Sự biến động giá bán ngô của cá hộ điều tra vào các tháng cuối năm 2002 và các tháng
đầu năm 2003 (minh hoạ qua đồ thị 2) Kết quả điều tra cho thấy, tại địa bàn Sơn La, giá bán
ngô bình quân của các hộ đạt cao nhất vào tháng 4 là 2100 đồng/kg, bởi vì tháng 4 là thời