ĐẠI DIỆN – THỜI HẠN – THỜI HIỆU QUYỀN SỞ HỮU I Nội dung bài tập 1 Bài tập thời hạn – thời hiệu a B có phải trả lại xe cho A không? Tại sao? B không phải trả lại xe cho A vì Tại Điều 168, BLDS 2015 “Ch.
Trang 1ĐẠI DIỆN – THỜI HẠN – THỜI HIỆU - QUYỀN SỞ HỮU
I Nội dung bài tập
1 Bài tập thời hạn – thời hiệu
a B có phải trả lại xe cho A không? Tại sao?
B không phải trả lại xe cho A vì:
Tại Điều 168, BLDS 2015: “Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền
sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật này”, theo đó được hiểu là A có quyền đòi lại chiếc xe
từ người chiếm hữu Tuy nhiên trong vụ việc này, B hiện tại không đơn thuần là người chiếm hữu mà đã đăng ký quyền sở hữu chiếc xe – tức lúc này B đã là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe
Căn cứ theo Điều 236, BLDS 2015: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản , 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản
đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”, theo đó B đã quản lý và sử dụng ô tô của A liên tục và công
khai từ năm 2005 => năm 2015, B đã đăng ký sở hữu xe.
Theo Điều 151, BLDS 2015: “Trường hợp pháp luật quy định cho các chủ thể được hưởng quyền dân sự hoặc được miễn trừ nghĩa vụ dân sự theo thời hiệu thì chỉ sau khi thời hiệu đó kết thúc, việc hưởng quyền dân sự hoặc miễn trừ nghĩa vụ dân sự mới có hiệu lực” => tại thời điểm A đòi lại chiếc xe (năm 2017) thời hiệu được
hưởng quyền sở hữu chiếc xe của B đã có hiệu lực.
Từ các cơ sở trên, kết luận B không phải trả lại xe cho A.
b Trong vụ việc trên, những thời gian nào được coi là thời hạn/thời hiệu?
- Thời gian từ năm 2006 đến hết năm 2015 là thời hiệu.
- Năm 2015 là một mốc thời hạn.
c Thời gian nêu trên là loại thời hạn/thời hiệu gì?
Căn cứ Điều 150 BLDS 2015, thời hiệu trên (10 năm, từ năm 2006 đến hết năm 2015) là
loại “Thời hiệu hưởng quyền dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể
Trang 2được hưởng quyền dân sự”, cụ thể trong trường hợp này, khi hết thời hiệu là 10 năm B
được hưởng quyền sở hữu chiếc xe.
2 Bài tập quyền tài sản
2.1Tình huống 1
Bà Tú nuôi một đàn 40 con vịt Một hôm lùa đàn vịt về, bà thấy có 20 con vịt khác lạc vào đàn vịt của mình Bà Tú đi hỏi các gia đình gần đó và báo với cán bộ xã để thông báo trên loa truyền thanh xã nhưng mãi không có ai đến nhận nên bà đành phải nuôi đàn vịt lạc đó Mười ngày sau, ông Hoàng cuối thôn đến xin nhận lại 20 con vịt bị thất lạc Sau khi nêu điểm đặc trưng của vịt nhà ông Hoàng, thấy đúng, bà Tú đồng ý trả lại vịt Sau khi nhận vịt, ông Hoàng yêu cầu bà Tú trả lại số trứng mà 20 con vịt của ông
đã đẻ trong 10 ngày Bà Tú không đồng ý vì mặc dù vịt có đẻ nhưng bà phải mất công nuôi và cho ăn nên số trứng ấy là của bà Bù qua xớt lại thì bù trừ công nuôi đi là vừa
đủ, ông nhận vịt về, bà nhận trứng, nhưng ông Hoàng không đồng ý dẫn đến cãi vã, mâu thuẫn.
a Bà Tú có được xác lập quyền sở hữu với số gia cầm bắt được không? Vì sao? Cho biết cơ sở pháp lý.
- Điểm d, Khoản 1, Điều 165 BLDS 2015, bà Tú là người chiếm hữu 20 con vịt có căn
cứ pháp luật; đồng thời theo Khoản 6, Điều 221, BLDS 2015 thì Bà Tú có căn cứ để xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bắt được.
- Căn cứ theo Khoản 1, Điều 232 BLDS, sau thời hiệu 1 tháng kể từ ngày bà thông báo công khai mà không có người đến nhận thì quyền sở hữu số gia cầm thất lạc và hoa lợi do gia cầm sinh gia trong thời gian nuôi giữ thuộc về bà
b Lý do mà bà Tú đưa ra trong việc yêu sách quyền sở hữu đối với số trứng gia cầm
có phù hợp không? Vì sao?
Lý do bà Tú đưa ra là hoàn toàn phù hợp, vì:
- Căn cứ theo Khoản 2, Điều 232 BLDS 2015, ông Hoàng nhận lại số gia cầm bị thất lạc phải thanh toán tiền công nuôi giữ và chi phí khác phát sinh từ số gia cầm đó cho
bà Tú, cũng theo đó bà Tú được hưởng hoa lợi do gia cầm sinh ra – trong trường hợp này là số trứng cho 20 con vịt thất lạc đẻ ra
- Vậy theo luật định, bà được nhận số trứng do vịt thất lạc đẻ và ông Hoàng phải thanh toán tiền công nuôi giữ cho bà, tuy nhiên thực tế bà chỉ yêu cầu lấy trứng.
c Nêu hướng giải quyết của anh/chị đối với tranh chấp trên.
Bà Tú yêu cầu ông Hoàng thanh toán tiền công nuôi giữ và chi phí thức ăn của số vịt thất lạc nếu muốn nhật lại vịt => ông Hoàng nản lòng mà không đòi hỏi nữa
d Suy nghĩ của anh/chị về căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm thất lạc.
Không.
2.2 Tình huống 2
Một tối đi đường, ông A nhặt được chiếc túi, trong đó có 01 máy tính xách tay, 05 triệu đồng và một số giấy tờ tùy thân của ông B nhưng không rõ địa chỉ Ông A đã liên hệ với cán bộ xã để thông báo cho người bị mất biết đến nhận , đồng thời mang tiền, máy tính
về nhà; giao máy tính cho con trai là M sử dụng , do vô tình M đã làm đổ chai nước dẫn đến chập điện và hỏng máy tính Ba ngày sau, ông B đến nhà ông A xin nhận lại tài sản
Trang 3vì hôm đó do say rượu lên đánh rơi mà không biết Ông A đồng ý trả lại 5 triệu và giấy
tờ tùy thân cho ông B, riêng máy tính do đã chập điện và hỏng lên ông A xin phép ông
B thứ lỗi và chấp nhận đền bù 03 triệu đồng Ông B không đồng ý vì máy tính đó ông mới mua giá 12 triệu đồng, ít nhất ông A phải bồi thường 8 triệu , do không thống nhất được mức bồi thường nên hai bên đã lời qua tiếng lại gây mâu thuẫn, tranh chấp.
Giải quyết tranh chấp:
- Căn cứ theo Khoản 1, Điều 230 BLDS 2015: “…thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban
nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ
sở hữu biết mà nhận lại”, ông A nhặt được tài sản (01 máy tính xách tay, 05 triệu
đồng và một số giấy tờ tùy thân của ông B), việc ông A thông báo cho UBND cấp xã
để người mất đến nhận và tự bảo quản các tài sản trên là phù hợp quy định pháp luật.
- Tuy nhiên việc ông A giao máy tính cho con trai sử dụng và vô tình
đổ nước dẫn đến hư hỏng máy tính và chấp nhận đền bủ 03 triệu Ông B yêu cầu mức bồi thường 8 triệu => tranh chấp.
+ Về mặt pháp lý, trong điều 230, BLDS 2015 không đề cập đến việc người nhặt được của rơi phải bồi thường thiệt hại cho chủ tài sản trong trường hợp làm hư hỏng tài sản trong thời gian chiếm hữu Tuy nhiên có thể tham khảo Điều 231, 232 BLDS 2015, nhà làm luật có quy định đến việc bồi thường cho chủ sở hữu tài sản nếu có “lỗi cố ý”, dữ liệu bài tập cũng nhấn mạnh việc con trai ông M làm đổ nước vào máy tính là vô ý.
+ Đồng thời xét về phương diện đạo đức xã hội cho thấy rõ ràng ông A không có lòng tham chiếm hữu tài sản nhặt được làm của riêng qua các hành động: thông báo cho UBND xã để người làm rơi đến nhận, đồng ý giao trả toàn bộ tài sản khi có người đến nhận, nhận lỗi và chấp nhận đền bù thiệt hại.
Xét thấy trong trường hợp này ông B nên chấp nhận nhận đền bù của ông A Trường hợp ông B vẫn nhất quyết không đồng ý với đền
bù của ông A thì có thể yêu cầu Toàn án giải quyết theo Khoản 1 Điều 584, Điều 585 BLDS 2015, tuy nhiên xét thấy thời gian, công sức, chi phí bỏ ra trong trường hợp này ông B phải bỏ ra có thể sẽ lớn hơn mức đền bù mà ông mong muốn nhận được là 8 triệu
Nội dung bài tập
A Tình huống 1: (chủ đề Cá nhân mất năng lực hành vi dân sự và giám hộ)
Trang 4 Năm 2019, bà Hoa chết trong một tai nạn giao thông và để lại một số tài sản, trong đó
có căn nhà tại số 15 Hàm Nghi, Q.1, TP.HCM
Năm 2020, Tòa án xác định bà Mai mất năng lực hành vi dân sự do cao tuổi và UBND Phường đã công nhận bà My là giám hộ cho bà Mai, cháu Cúc và cháu Đào
Năm 2021, ông Mẫn yêu cầu thay đổi người giám hộ (ông giám hộ thay cho bà My)
để được quản lý căn nhà trên => tranh chấp phát sinh.
1 Trong trường hợp nào, cá nhân được xác định là mất năng lực hành vi dân sự?
Việc Tòa án xác định bà Mai mất năng lực hành vi dân sự do cao tuổi có thuyết phục không? Tại sao?
Căn cứ Khoản 1, Điều 221 “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.”, như vậy, nói cách khác Cá nhân được xác định là mất
năng lực hành vi dân sự khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện:
+ Do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi;
+ Có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan;
+ Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự theo yêu cầu của những chủ thể trên, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
Căn cứ nội dung tại mục a, như vậy việc Tòa án xác định bà Mai mất năng lực hành vi dân sự phải dựa trên 3 điều kiện bên dưới chứ không phải do bà Mai cao tuổi:
+ Bà Mai bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi;
+ Có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan;
+ Có kết luận giám định pháp y tâm thần của Bà Mai.
1 Các Điều luật trích dẫn trong bài tập này được căn cứ tại Bộ luật Dân sự 2015.
Trang 52 Ngay sau khi bà Hoa chết, cháu Đào có phải là người được giám hộ không, và có
thuộc trường hợp phải có người giám hộ không? Cho biết cơ sở pháp lý khi trả lời.
Ngay sau khi bà Hoa chết, cháu Đào tại thời điểm này chưa đủ 18 tuổi -> là người chưa thành niên (theo Khoản 1, Điều 21), đồng thời căn cứ theo Điểm a, Khoản 1,
Điều 47 “Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ” -> cháu Đào là người được giám hộ.
Thuộc trường hợp phải có người giám hộ, căn cứ Khoản 1 Điều 46 “để thực hiện
3 Việc UBND công nhận bà My làm giám hộ cho cháu Đào có phù hợp với BLDS
không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Việc UBND công nhận bà My làm giám hộ cho cháu Đào là phù hợp BLDS, căn cứ
Khoản 3, Điều 52 người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên: “Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ”.
4 Bà Mai có thuộc trường hợp phải có người giám hộ không? Việc UBND công
nhận bà My làm giám hộ cho bà Mai có phù hợp với BLDS không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Bà Mai có quyết định của Tòa án công nhận là mất năng lực hành vi dân sự năm
2020, vì vậy, căn cứ theo Điểm c, Khoản 1, Điều 47 bà Mai thuộc trường hợp phải
có người giám hộ
Việc UBND công nhận bà My làm giám hộ cho bà Mai là phù hợp BLDS, căn cứ theo Khoản 2, Điều 53 người giám hộc đương nhiên của người mất năng lực hành
vi dân sự: “Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám
hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ”
5 Việc bà My giám hộ cùng lúc cho nhiều người có phù hợp với BLDS không? Nêu
cơ sở pháp lý khi trả lời.
Bà My giám hộ cùng lúc cho nhiều người là phù hợp với BLDS, căn cứ Khoản 3, Điều
48: “Một cá nhân, pháp nhân có thể giám hộ cho nhiều người”.
6 Trường hợp nào thì được thay đổi giám hộ? Yêu cầu thay đổi giám hộ của ông
Mẫn có được chấp nhận không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
a Trường hợp được thay đổi giám hộ, căn cứ Khoản 1, Điều 60:
“Người giám hộ được thay đổi trong trường hợp sau đây:
a) Người giám hộ không còn đủ các điều kiện quy định tại Điều 49, Điều 50 của Bộ luật này;
b) Người giám hộ là cá nhân chết hoặc bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân
sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, mất năng lực hành vi dân sự, mất tích; pháp nhân làm giám hộ chấm dứt tồn tại;
c) Người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ;
d) Người giám hộ đề nghị được thay đổi và có người khác nhận làm giám hộ.”
Trang 6b Yêu cầu thay đổi giám hộ của ông Mẫn, như các điều kiện về thay đổi người giám
hộ tại mục a đã nêu, yêu cầu thay đổi người giám hộ của ông Mẫn để được quản lý căn nhà của bà Hoa để lại không được chấp nhận.
7 Ông Mẫn và bà My có thể cùng giám hộ cho cháu Đào không? Vì sao? Cho biết
cơ sở pháp lý khi trả lời.
Căn cứ Khoản 2, Điều 47 “Một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp cha, mẹ cùng giám hộ cho con hoặc ông, bà cùng giám hộ cho cháu” -> ông Mẫn
và bà My không thể cùng giám hộ cho cháu Đào.
8 Hãy cho biết điểm giống và khác nhau giữa hạn chế năng lực hành vi dân sự và
mất năng lực hành vi dân sự.
năng lực hành vi dân sự
Mất năng lực hành vi dân sự
1 Đối tượng Người nghiện ma túy, nghiện các
chất kích thích khác dẫn đến phá
tán tài sản của gia đình
Người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh
khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi
2 Căn cứ ra
quyết định Theo yêu cầu của người có quyền,
lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan
Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu
quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
3 Hệ quả pháp
lý
Không bị mất hết năng lực hành
vi dân sự, vẫn có thể tự mình
tham gia được một số giao dịch dân sự nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của họ
Không còn năng lực hành vi dân sự,
không thể tham gia bất kì một giao dịch dân sự nào, các giao dịch dân sự của họ
sẽ do người đại diện của họ xác lập và thực hiện
4 Điều kiện khôi
phục năng lực
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế/mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế/mất năng lực hành vi dân sự
pháp lý
9 Chị Cúc có được coi là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không? Vì sao?
Căn cứ theo Khoản 1, Điều 24: “Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự” -> như vậy chị Cúc không
được coi là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
10 Quan hệ giám hộ chấm dứt khi nào? Đến nay, việc giám hộ của chị Cúc đã
chấm dứt chưa? Vì sao?
Căn cứ Khoản 1, Điều 62:
Trang 7“1 Việc giám hộ chấm dứt trong trường hợp sau đây:
a) Người được giám hộ đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Người được giám hộ chết;
c) Cha, mẹ của người được giám hộ là người chưa thành niên đã có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình;
d) Người được giám hộ được nhận làm con nuôi.”
Đến nay (năm 2022), chị Cúc đã đủ 18 tuổi -> đã thành niên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ căn cứ theo Điều 20 => Việc giám hộ của chị Cúc đã chất dứt.
11 Suy nghĩ của anh/chị về các quy định hiện hành liên quan đến quan hệ giám hộ
(về xác định người giám hộ, số lượng người giám hộ, v.v…)
Không có nhận định gì
B Tình huống 02: (chủ đề Tuyên bố cá nhân chết và hậu quả pháp lý liên quan)
Ngày 22/4/2021 bà Đ yêu cầu TAND tuyên bố bà M, ông H đã chết để phân chia di sản thừa kế
Ngày 04/5/2021 TAND quyết định đăng thông tin tìm kiếm trên các phương tiện không có thông tin còn sống
Tòa quyết định tuyên bố bà M và ông H chết sau 5 năm biệt tích:
+ Bà M được tuyên bố chết ngày 17/12/1985;
+ Ông H được tuyên bố chết ngày 02/6/1981
1.1. Ngoài bà Đ, ai là người có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Huỳnh Thị N M và ông Huỳnh
Quốc H là đã chết?
Ngoài bà Đ thì Ông V, bà T hoặc bất cứ người nào có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố bà M và ông H là đã chết (theo quy định tại Khoản 1 Điều 71
Bộ Luật dân sự 2015)
1.2 Lý do mà bà Đ nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà M, ông H là đã chết?
Trang 8Lý do Bà Đ nộp đơn yêu cầu TAND tuyên bố bà M và ông H đã chết: để xác lập quan hệ tài sản như đối với người đã chết (làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế)
1.3 Hậu quả pháp lý về mặt tài sản, nhân thân khi Tòa án tuyên bố bà N M, ông H là đã chết?
Hậu quả pháp lý về mặt tài sản và nhân thân khi Tòa án tuyên bố bà M và ông H đã chết: quan hệ nhân thân được giải quyết giống như người đã chết (chấm dứt quan hệ hôn nhân), quan hệ tài sản được giải quyết theo quy định về thừa kế
1.4 Ngày bà N M chết là ngày nào? Ngày ông H chết là ngày nào?
Xác định ngày chết theo điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ Luật dân sự 2015 “Biệt tích 05 năm liền
trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này”
Bà M được tuyên bố chết ngày = ngày xác định biệt tích sau ngày 16/12/1980 +5 năm=
17/12/1985
Ông H được tuyên bố chết ngày = 5/1976 (không xác định ngày) ngày xác định biệt tích
sau ngày 1/6/1976 + 5 năm = 02/6/1981.
1.5.Anh/chị có nhận xét gì về quyết định trên?
Việc tuyên bố có quá vội vàng?
Vì sao không qua bước tuyên bố mất tích?
2.1.Quyền lợi của ông H được giải quyết như thế nào khi ông trở về?
Quan hệ nhân thân được khôi phục: nhân thân, hộ tịch, quan hệ hôn nhân gia đình (vợ chưa kết hôn với người khác nên tình trạng hôn nhân cũng được hôi phục); Ông H có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn (theo bản án thì không có)
2.2 Trường hợp Bà M là người thừa kế của ông H, biết ông H còn sống mà cố tình giấu giếm thì
quyền lợi của ông của ông được giải quyết như thế nào theo quy định pháp luật?
Trường hợp Bà M là người thừa kế của ông H, biết ông H còn sống mà cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì bà M phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận, kể cả hoa lợi, lợi tức; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường
2.3 Suy nghỉ
Trang 9- Có vẻ như tòa giải quyết việc tuyên bố một người đã chết quá dễ dàng trong khi hậu quả
về nhân thân và tài sản xảy ra sẽ là rất lớn Theo như bản án mô tả tháng 4/2010 Ông M
có về nhà thì tuyên bố ngày ông chết (của quyết định tuyên bố chết) là ngày 01/12/2014
có đúng quy định
- Trường hợp quyết định tuyên bố chết trước đây không đúng quy định do Bà M cố tình khai gian dối nhưng pháp luật có xử lý vi phạm gì với bà M?
3.1 Căn cứ để Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện chấp nhận yêu cầu của anh Q là gì? Đoạn nào của quyết định cho thấy điều đó?
Căn cứ pháp lý chấp nhận yêu cầu của Anh Q: khoản 1 Điều 71 Bộ Luật dân sự 2015 “Biệt tích
05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này”
Đoạn số 1 phần Quyết định cho thấy Điều đó
3.2 Ngày chết của bà C được xác định là ngày nào? Giải thích phương pháp xác định ngày chết của bà C
Ngày chết của Bà D được xác định trong quyết định là ngày 01/1/2005
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 và khoản 1 Điều 68 Bộ Luật dân sự thì thời hạn biệt tích được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; trong trường hợp này chỉ biết trong năm 1999 mà không xác định được chính xác ngày hoặc tháng có tin tức cuối cùng thì
thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng Ngày
biệt tích được xác định là ngày 01/01/2000 + 5 năm theo điểm d khoản 1 Điều 71 = ngày chết 01/1/2005
3.3 Việc xác định ngày chết có ý nghĩa gì về mặt pháp lý và về mặt thực tế?
Pháp lý: làm căn cứ để thay đổi, phát sinh, chấm dứt các quan hệ pháp luật dân sự về nhân thân, tài sản như: hôn nhân, thừa kế, thực hiện nghĩa vụ của người bị tuyên bố chết để lại
Thực tế: xác định ngày chết không có ý nghĩa về mặt thực tế (có thể thực tế người đó chưa chết hoặc đã chết nhưng ở một thời điểm khác)
Điều 20 Người thành niên
Trang 101 Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên.
2 Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của
Bộ luật này
Điều 21 Người chưa thành niên
1 Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi
2 Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện
3 Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi
4 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý
Điều 22 Mất năng lực hành vi dân sự
1 Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự
2 Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện
Mục 4 GIÁM HỘ
Điều 46 Giám hộ
1 Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ)
2 Trường hợp giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phải được sự đồng ý của người đó nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm yêu cầu
3 Việc giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hộ tịch Người giám hộ đương nhiên mà không đăng ký việc giám hộ thì vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của người giám hộ
Điều 47 Người được giám hộ
1 Người được giám hộ bao gồm:
a) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ;
b) Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ;
c) Người mất năng lực hành vi dân sự;
d) Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
2 Một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp cha, mẹ cùng giám hộ cho con hoặc ông, bà cùng giám hộ cho cháu
Điều 48 Người giám hộ
1 Cá nhân, pháp nhân có đủ điều kiện quy định tại Bộ luật này được làm người giám hộ
2 Trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý Việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực
3 Một cá nhân, pháp nhân có thể giám hộ cho nhiều người