Microsoft Word TH zghfb 28 doc 1 Luận văn Vốn kinh doanh và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần Xây dựng Đại Cát Thành LUAN VAN CHAT LUONG download add luan[.]
Trang 1Luận văn
Vốn kinh doanh và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần Xây dựng
Đại Cát Thành.
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời gian gần đây, đất nước chúng ta đang chuyển mình theo cơ chế mới với chính sách mở cửa của Đảng và nhà nước, chúng ta đã và đang thu được những kết quả đáng khích lệ trong công cuộc đổi mới Bộ mặt đất nước đang dần thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn Đóng góp một phần không nhỏ cho
sự thay đổi đó là sự nỗ lực phấn đấu và quyết tâm của các doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế quốc dân hiện nay Trước thực tế đó, nhà nước cũng đang tìm mọi cách tháo gỡ những khó khăn trong cơ chế, chính sách, nhằm tạo
ra môi trường kinh doanh thông thoáng cho các doanh nghiệp Việt nam Chính điều đó đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có được những thời cơ mới, để nâng cao khả năng cạnh tranh, phát huy mạnh mẽ những lợi thế mà mình có
Tuy nhiên trong xu thế hội nhập, toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp Việt nam đang đứng trước những thách thức mới hết sức khó khăn, phức tạp Chính điều này đã buộc các doanh nghiệp phải có những biện pháp quản lý vốn kinh doanh sao cho tiết kiệm và hiệu quả nhất
Vốn kinh doanh là tiền đề quan trọng nhất khi doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Các doanh nghiệp không những phải đảm bảo có đầy đủ về vốn để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình như đầu tư vào trang thiết bị, máy móc cũng như công nghệ mà còn phải có biện pháp quản
lý vốn có hiệu quả và hợp lý nhằm chống thất thoát và lãng phí vốn
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng trên của vốn kinh doanh, em đã
mạnh dạn chọn đề tài: Vốn kinh doanh và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần Xây dựng Đại Cát Thành.
Qua nghiên cứu lý luận kết hợp với việc tìm hiểu thực tế công tác quản lý vốn ở công ty cổ phần xây dựng Đại Cát Thành, bài chuyên đề này bao gồm 3 phần:
Trang 3Phần I: Những vấn đề cơ bản về quản lý vốn kinh doanh và các biện
pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp
Phần II: Tình hình thực tế công tác quản lý và sử dụng vốn kinh doanh
tại công ty cổ phần xây dựng Đại Cát Thành
Phần III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý và nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cổ phần Xây dựng Đại Cát Thành
Do kiến thức còn hạn chế nên Chuyên Đề của em khó tránh khỏi được nhiều thiếu sót em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp để bản Chuyên
Đề này hoàn thiện hơn Qua đây em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ hết sức tận tình của toàn thể các cô, chú tại phòng Tài chính-Kế toán Công ty cổ phần xây dựng Đại Cát Thành đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành bài chuyên đề này
Trang 4PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ VỐN KINH DOANH
VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP I>Khái niệm và phân loại vốn kinh doanh:
1>Khái niệm vốn kinh doanh:
Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của tất cả các tài sản, vật tư dùng trong sản xuất kinh doanh
- Phân loại vốn kinh doanh:
Vốn kinh doanh được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau
Phân loại theo nguồn hình thành vốn theo cách phân loại này, vốn kinh
doanh của doanh nghiệp được phân thành 2 loại: vốn chủ sở hữu và vốn vay
* Vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp Vốn chủ
sở hữu gồm các khoản chính sau đây
Vốn tự có: đối với doanh nghiệp nhà nước thì vốn tự có do ngân sách nhà nước cấp ban đầu và cấp bổ sung, đối với doanh nghiệp tư nhân thì vốn tự có do chủ doanh nghiệp bỏ ra khi thành lập doanh nghiệp, với công ty liên doanh hoặc công ty cổ phần thì do các chủ đầu tư hoặc các cổ đông đóng góp Vốn tự có bổ sung từ lợi nhuận kinh doanh
Các quĩ được hình thành trong quá trình sản xuất kinh doanh ( quĩ dự trữ, quĩ phát triển kinh doanh )
* Vốn vay: là các khoản vốn mà doanh nghiệp khai thác trên cơ sở chế độ, chính sách của nhà nước như vay ngân hàng hay các tổ chức tín dụng đối với khoản vốn này, doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng trong phạm vi những ràng buộc nhất định
Việc phân loại này giúp cho nhà quản lý nắm được khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp, từ đó có thể đề ra các biện pháp huy động vốn sao cho phù hợp với tình hình tài chính của doanh nghiệp
Trang 52 Phân loại theo đặc điểm luân chuyển của vốn:
Theo cách phân loại này, vốn kinh doanh được chia thành 2 loại: Vốn cố định và vốn lưu động
a Vốn cố định:
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp
TSCĐ là những tư liệu sản xuất, tối thiểu phải đáp ứng 2 tiêu chuẩn sau đây:
+ Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên
+ Giá trị sử dụng tối thiểu ở một mức nhất định do nhà nước qui định phù
hợp với tình hình kinh tế của từng thời kỳ ( hiện nay là 5 triệu đồng trở lên)
Đặc điểm của vốn cố định:
TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và nhìn chung không bị thay đổi hình thái hiện vật, nhưng năng lực sản xuất và kèm theo đó là giá trị của chúng bị giảm dần
Thời gian chu chuyển của TSCĐ rất dài Vốn cố định hoàn thành một vòng chu chuyển khi giá trị TSCĐ đã chuyển dịch hết vào giá trị của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ sau nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh
Phân loại TSCĐ:
Trong doanh nghiệp, có nhiều loại TSCĐ khác nhau Để đáp ứng yêu cầu quản lý, người ta phân loại TSCĐ thành những loại khác nhau theo những tiêu thức khác nhau:
Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện và công dụng kinh tế: TSCĐ được chia làm hai loại: TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình
TSCĐ hữu hình: là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể, bao gồm:
Nhà cửa, vật kiến trúc, PTVT, máy móc thiết bị, vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm, và các TSCĐ hữu hình khác
TSCĐ vô hình: Là những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện một lượng giá trị lớn đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 6Việc phân loại này giúp cho người quản lý thấy được kết cấu tài sản theo công dụng kinh tế, từ đó đánh giá được trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp để từ đó có định hướng đầu tư; mặt khác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và thực hiện khấu hao TSCĐ
* Phân loại theo tình hình sử dụng:
Căn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ, có thể chia toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp thành những loại sau:
- TSCĐ đang dùng
- TSCĐ chưa cần dùng
- TSCĐ không cần dùng và chờ thanh lý hoặc nhượng bán
Dựa vào cách phân loại này, người quản lý nắm được tổng quát tình hình sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp sử dụng tối
đa các TSCĐ hiện có, giải phóng nhanh các TSCĐ không cần dùng và chờ thanh
lý để thu hồi vốn
Trên đây là hai cách phân loại chủ yếu, ngoài ra còn có thể phân loại theo mục đích sử dụng, phân loại theo quyền sở hữu mỗi cách phân loại đáp ứng những yêu cầu nhất định của công tác quản lý
Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định:
Thứ nhất, xây dựng dự án đầu tư vào TSCĐ để có thể tính toán được
hiệu quả kinh tế của việc đầu tư vào TSCĐ Trong việc đầu tư mua sắm TSCĐ cần chú ý cân nhắc một số điểm như: Quy mô đầu tư, kết cấu TSCĐ, cách thức đầu tư lựa chọn giữa mua sắm hay đi thuê
Thứ hai, quản lý chặt chẽ, huy động tối đa TSCĐ hiện có vào hoạt động
kinh doanh Cần có sổ sách theo dõi đối với từng TSCĐ và giao cho các bộ phận chịu trách nhiệm quản lý và sử dụng Thường xuyên kiểm soát được tình hình sử dụngTSCĐ để huy động đầy đủ nhất TSCĐ hiện có vào hoạt động, và thực hiện nhượng bán TSCĐ không cần dùng, thanh lý các TSCĐ đã hư hỏng để thu hồi vốn, thực hiện định kỳ kiểm kê TSCĐ
Trang 7Thứ ba, TSCĐ bị hao mòn dần trong quá trình sử dụng Có hai loại hao
mòn là; hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình Hao mòn hữu hình là sự giảm dần về giá trị sử dụng và theo đó giá trị của TSCĐ giảm dần Hao mòn vô hình
là sự giảm thuần tuý về mặt giá trị của TSCĐ mà nguyên nhân chủ yếu là do sự tiến bộ của khoa học và công nghệ.Hiện nay, người ta thường áp dụng một số phương pháp khấu hao sau đây:
* Phương pháp khấu hao tuyến tính cố định (khấu hao theo đường thẳng):
Là phương pháp chủ yếu được áp dụng trong các doanh nghiệp Việt nam hiện nay Mức khấu hao trung bình hàng năm cho TSCĐ được xác định theo công thức sau:
Mức trích khấu hao Nguyên giá của TSCĐ trung bình hàng năm =
Thời gian sử dụng
* Ngoài phương pháp khấu hao tuyến tính còn có các phương pháp khấu hao nhanh, bao gồm 2 phương pháp: phương pháp khấu hao theo số dư giảm
dần và phương pháp khấu hao theo tổng số
Nhược điểm của các phương pháp này là: có thể gây nên sự đột biến về giá thành sản phẩm trong những năm đầu do chi phí khấu hao lớn, sẽ bất lợi trong cạnh tranh
Thứ tư, quản lý và sử dụng tiền khấu hao TSCĐ tiền khấu hao thường
được sử dụng để tái đầu tư vào TSCĐ Khi chưa có nhu cầu đầu tư, doanh nghiệp có thể sử dụng linh hoạt số tiền khấu hao cho hoạt động kinh doanh để đạt được mức sinh lời cao
Thứ năm, doanh nghiệp nên chú trọng thực hiện đổi mới TSCĐ một cách
kịp thời để tăng cường sức cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường
Thứ sáu, để bảo toàn VCĐ, doanh nghiệp phải thực hiện bảo toàn cả về
mặt hiện vật lẫn về mặt giá trị
Trang 8Về mặt hiện vật: Doanh nghiệp cần thực hiện tốt việc bảo dưỡng và sửa
chữa một cách thường xuyên và sửa chữa lớn định kỳ TSCĐ để tránh tình trạng TSCĐ bị hư hỏng trước thời hạn và kéo dài tuổi thọ của TSCĐ Doanh nghiệp cần cân nhắc giữa chi phí SCL bỏ ra với việc thanh lý, nhượng bán TSCĐ để đổi mới TSCĐ Sự cân nhắc này được xem xét ở những lần SCL cuối cùng của TSCĐ
Để xem xét hiệu quả của chi phí SCL, chúng ta có thể sử dụng công thức sau:
Pn: Thiệt hại có liên quan đến việc ngừng TSCĐ để SCL
Cđt Gct: Giá trị còn lại của TSCĐ đã được đánh giá lại theo giá thị trường tại thời điểm SCL
Nếu H<1: Chứng tỏ việc đầu tư SCL là có hiệu quả
Nếu H>=1: Chứng tỏ việc đầu tư SCL không có hiệu quả vì số chi phí bỏ ra>= giá trị thu hồi của TSCĐ
Trong trường hợp này, doanh nghiệp tuỳ tình hình cụ thể mà cân nhắc thanh lý TSCĐ để đổi mới TSCĐ
Ngoài ra, để bảo toàn VCĐ, doanh nghiệp nên chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro như: mua bảo hiểm tài sản, trích lập quĩ dự phòng tài chính, trích lập dự phòng giảm giá các loại chứng khoán đầu tư
Theo thông tư số 64/TC/TCDN ngày 15/09/1997 của Bộ tài chính, doanh nghiệp phải lập dự phòng cho từng loại chứng khoán đầu tư, có biến động giảm giá tại thời điểm 31/12 năm báo cáo, theo công thức sau:
Trang 9Mức dự phòng giảm Số lượng CK bị Giá CK hạch Giá CK thực
giá đầu tư CK cho năm = giảm giá tại thời toán trên sổ tế trên thị
kế hoạch năm BC điểm 31/12 kế toán trường
Doanh nghiệp phải lập dự phòng riêng cho từng loại CK bị giảm giá và được tổng hợp vào bảng kê chi tiết dự phòng giảm giá CK đầu tư, làm căn cứ hạch toán vào chi phí hoạt động tài chính Giá trị của khoản dự phòng này nếu không phát sinh thì được hoàn nhập vào thu nhập hoạt động tài chính
Về mặt giá trị:
Khi nền kinh tế ở mức lạm phát cao cần thực hiện điều chỉnh lại nguyên giá
và giá trị còn lại của TSCĐ để đảm bảo thu hồi đầy đủ VCĐ của doanh nghiệp
Việc điều chỉnh trên có thể thực hiện bằng cách đánh giá lại TSCĐ như sau:
+ Xác định nguyên giá TSCĐ ( đã trình bày ở phần trên) Nguyên giá TSCĐ được thay đổi trong các trường hợp sau: đánh giá lại giá trị TSCĐ; nâng cấp TSCĐ; Tháo dỡ một hay một số bộ phận của TSCĐ
+ Xác định giá trị còn lại của TSCĐ:
Giá trị còn lại trên sổ = Nguyên giá TSCĐ Số khấu hao luỹ
+ Xác định giá đánh lại của TSCĐ: là giá của TSCĐ tại thời điểm kiểm kê đánh giá Giá đánh lại của TSCĐ được xác định bằng công thức sau:
Gđt = Cđt Gct
Trong đó:
Gđt: giá trị còn lại của TSCĐ được đánh giá tại thời điểm t
Cđt: chỉ số đánh giá lại của TSCĐ tại thời điểm t
Gct: giá trị còn lại của TSCĐ theo sổ sách (chưa đánh giá lại)
Cđt = NGt / NGo
Trang 10NGt: giá trị hiện tại của TSCĐ (hiện giá) tại thời điểm đánh giá
NGo: giá trị nguyên thuỷ của TSCĐ
b Vốn lưu động:
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động của doanh nghiệp
- Đặc điểm của vốn lưu động:
Trong quá trình kinh doanh, vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được thu hồi toàn bộ sau khi doanh nghiệp thu được tiền bán hàng Như vậy, vốn lưu động hoàn thành một vòng luân chuyển sau một chu kỳ kinh doanh
Trong một chu kỳ kinh doanh, vốn lưu động được biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau ( T-NVL-SPDD-TP-T’)
Thời gian chu chuyển của VLĐ ngắn hơn so với VCĐ
- Phân loại :
Để quản lý và sử dụng VLĐ có hiệu quả, người ta phân loại VLĐ theo các tiêu thức khác nhau
* Phân loại theo hình thái biểu hiện: VLĐ được chia thành:
Vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán:
+ Vốn bằng tiền: Tiền mặt tại quĩ, TGNH, Tiền đang chuyển
+ Vốn trong thanh toán: Các khoản nợ phải thu của khách hàng, các khoản tạm ứng, các khoản phải thu khác
Vốn vật tư hàng hoá ( hay còn gọi là hàng tồn kho ) bao gồm: Nguyên, nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ, SPDD, TP
Vốn về chi phí trả trước: Là những khoản chi phí lớn thực tế đã phát sinh
có liên quan đến nhiều chu kỳ kinh doanh nên được phân bổ vào giá thành sản phẩm của nhiều chu kỳ kinh doanh như: Chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, chi phí thuê TS, chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chi phí xây dựng, lắp đặt các công trình tạm thời: Chi phí về ván khuôn, giàn giáo phải lắp dùng trong xây dựng cơ bản
Trang 11Việc phân loại theo cách này tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho việc xem xét đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp
* Phân loại theo vai trò của VLĐ đối với quá trình SXKD:
Theo cách phân loại này, VLĐ được chia thành 3 loại:
+ VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất, bao gồm giá trị các khoản NVL chính,
VL phụ, phụ tùng thay thế, nhiên liệu, CCDC lao động nhỏ
+ VLĐ trong khâu sản xuất, bao gồm giá trị SPDD và vốn về chi phí trả trước
+ VLĐ trong khâu lưu thông, bao gồm TP, vốn bằng tiền, các khoản đầu
tư ngắn hạn (Đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn ), các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, tạm ứng )
Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động Thứ nhất, quản lý vốn bằng tiền:
Tiền mặt tại quỹ là một bộ phận quan trọng cấu thành vốn bằng tiền của doanh nghiệp Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn có nhu cầu vốn dự trữ tiền mặt hay tiền mặt tương đương (các chứng khoán có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt dễ dàng) ở một mức nhất định theo quy mô và đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp Nhu cầu dự trữ tiền trong các doanh nghiệp thông thường là để đáp ứng yêu cầu giao dịch hàng ngày như: mua sắm hàng hoá, vât liệu, thanh toán các khoản chi phí cần thiết Chính vì vậy doanh nghiệp cần:
* Xác định mức vốn bằng tiền hợp lý nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp
* Quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi bằng tiền để tránh việc thất thoát vốn
Thứ hai, quản lý các khoản phải thu
Trong cơ chế thị trường hiện nay để bán được hàng hoá các doanh nghiệp thường chấp nhận cho khách hàng nợ lại Việc quyết định cho khách hàng chiếm dụng vốn, doanh nghiệp có thể xem xét từ các khía cạnh: mức độ uy tín, khả năng thanh toán của khách hàng, tình trạng tài chính tổng quát của doanh
Trang 12nghiệp Nói chung đối với mỗi chính sách bán chịu doanh nghiệp cần đánh giá
kỹ theo các thông số chủ yếu sau:
+ Số lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ dự kiến tiêu thụ được
+ Giá bán sản phẩm, hàng hoá dịch vụ
+ Các khoản chi phí phát sinh thêm do việc tăng các khoản nợ
+ Các khoản chiết khấu chấp nhận + Thời gian thu hồi nợ bình quân đối với các khoản nợ
Thứ ba, quản lý hàng tồn kho
Hàng tồn kho dự trữ đối với doanh nghiệp sản xuất là NVL, SPDD,TP còn đối với doanh nghiệp thương mại chủ yếu là hàng hoá để bán Mỗi loại dự trữ có đặc
điểm riêng.Do đó cần có biện pháp quản lý thích hợp đối với từng loại dự trữ
Việc quản lý vốn dự trữ hàng hoá để bán trong các doanh nghiệp thương mại về cơ bản cũng giống như quản lý vốn dự trữ NVL trong các doanh nghiệp sản xuất Để quản lý tốt loại vốn này cần phối hợp nhiều biện pháp từ khâu mua sắm, vận chuyển và dự trữ ở kho
a) Xác định đúng đắn lượng hàng tồn kho cần thiết theo phương pháp trực tiếp:
Số ngày dự trữ cần thiết về NVL chính là số ngày kể từ lúc doanh nghiệp
bỏ tiền ra mua cho đến khi đưa NVL vào sản xuất Hoặc là số ngày cách nhau giữa 2 lần nhập kho NVL và số ngày dự trữ bảo hiểm
Trang 13Mức tiêu dùng về chi phí NVL chính bình quân 1 ngày năm kế hoạch được xác định bằng cách lấy tổng chi phí NVL chính trong năm kế hoạch chia cho số ngày trong năm (360 ngày)
bình quân 1 ngày Số ngày trong kỳ (360 ngày)
Chu kỳ sản xuất là khoảng thời gian kể từ khi đưa NVL vào sản xuất cho đến khi SP được sản xuất xong và hoàn thành các thủ tục nhập kho
Hệ số sản phẩm đang chế tạo là tỷ lệ phần trăm giữa giá thành bình quân SP đang chế tạo và giá thành sản xuất SP
Trang 14Ngoài cách xác định dự trữ HTK nêu trên, ta còn có thể xác định theo phương pháp gián tiếp, xác định theo đơn đặt hàng Đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ, có thể xác định theo kinh nghiệm hoặc theo mức trung bình của ngành, hoặc tính theo tỷ lệ trên doanh thu
b) Xác định và lựa chọn người cung ứng thích hợp
Doanh nghiệp cần cân nhắc các nguồn cung ứng và người cung ứng Mục tiêu cần đạt được trong việc lựa chọn là giá cả thấp, những điều khoản thương lượng thuận lợi (thời gian và địa điểm giao hàng, điều kiện được hưởng tín dụng thương mại)
c) Thường xuyên theo dõi sự biến động của thị trường vật tư hàng hoá Từ
đó dự đoán và quyết định điều chỉnh kịp thời việc mua sắm NVL hoặc hàng hoá
có lợi cho doanh nghiệp trước sự biến động của thị trường Đây là một biện pháp rất quan trọng để bảo toàn vốn cho doanh nghiệp
d) Lựa chọn các phương tiện vận chuyển thích hợp, giảm bớt chi phí vận chuyển, bốc dỡ
e) Tổ chức tốt việc dự trữ, bảo quản NVL hoặc hàng hoá, áp dụng thưởng phạt vật chất để tránh tình trạng bị mất mát hao hụt quá mức vật tư hàng hoá
f) Thường xuyên kiểm tra nắm vững tình hình dự trữ, phát hiện kịp thời tình trạng vật tư hàng hoá bị ứ đọng, có biện pháp giải phóng nhanh số vật tư đó
để thu hồi vốn
g) Tiến hành lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Thứ tư, quản lý vốn về chi phí trả trước
Nhu cầu vốn về chi phí trả trước có thể xác định theo công thức sau:
Vp = Vđ + Vps - Vpb
Trong đó:
Vp: Nhu cầu vốn về chi phí trả trước trong kỳ
Vđ: Số chi phí trả trước đầu kỳ
Vps: Số chi phí trả trước dự kiến phát sinh trong kỳ
Trang 15Vpb: Số chi phí trả trước dự kiến phân bổ vào giá thành SP trong
kỳ
Thứ năm cách xác định nhu cầu VLĐ:
- Theo phương pháp trực tiếp:
Mức dự trữ Các khoản phải Các khoản Nhu cầu VLĐ = hàng tồn kho + thu của khách hàng phải trả
Trong đó:
*) Xác định dự trữ HTK (đã trình bày ở phần trên)
*) Xác định các khoản nợ phải thu của khách hàng:
Nợ phải thu của Thời hạn trung Doanh thu tiêu khách hàng dự = bình cho khách thụ bình quân kiến trong kỳ hàng nợ 1 ngày
Trang 16*) Xác định khoản nợ phải trả:
Nợ phải trả kỳ trả tiền Giá trị NVL hoặc hàng hoá mua vào người cung cấp = trung bình bình quân 1 ngày trong kỳ(loại mua chịu)
- Theo phương pháp gián tiếp:
Nhu cầu VLĐ = Tỷ lệ nhu cầu VLĐ/DTT Doanh thu thuần
Mức dự trữ HTK Các khoản phải Các khoản phải
Tỷ lệ nhu cầu bình quân trả bình quân thu bình quân VLĐ/DTT = +
Doanh thu thuần Doanh thu thuần Doanh thu thuần
3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn:
3.1> Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ:
a) Tốc độ luân chuyển VLĐ:
Tổng mức luân chuyển VLĐ (DTT trong kỳ)
(số vòng quay) VLĐ bình quân sử dụng trong kỳ
VLĐ đầu năm + VLĐ cuối năm VLĐ bình quân sử dụng trong kỳ =
Trang 17c) Mức tiết kiệm VLĐ:
Phản ánh số VLĐ có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ
ở kỳ này so với kỳ trước
M1 M1
VTK ( + ) = (3)
L1 L0 Trong đó:
VTK: VLĐ có thể tiết kiệm được (-) hoặc phải tăng thêm (+) do sự thay đổi của tốc độ luân chuyển VLĐ của kỳ này so với kỳ trước
M1: Tổng mức luân chuyển VLĐ kỳ này (DTT kỳ này)
L1: Số lần luân chuyển VLĐ kỳ này
L0: Số lần luân chuyển VLĐ kỳ trước Mức tiết kiệm VLĐ càng lớn cho thấy hiệu suất sử dụng vốn càng cao và ngược lại
3.2>Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ:
Doanh thu thuần
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
b) Tỷ suất lợi nhuận VCĐ: phản ánh một đồng vốn trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế)
Trang 18lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế)
VCĐ bình quân trong kỳ Các chỉ tiêu (4), (5), (6) các chỉ tiêu càng cao thì hiệu suất sử dụng VCĐ càng lớn và ngược lại
Số tiền KH luỹ kế của TSCĐ Tính đến thời điểm đánh giá d) Hệ số hao mòn TSCĐ: = (7)
Nguyên giá TSCĐ bình quân
ở thời điểm đánh giá
Hệ số hao mòn trên càng lớn (tối đa = 1) thể hiện mức độ thu hồi vốn càng nhanh, do đó việc bảo toàn vốn là tốt
e) Hệ số huy động TSCĐ: chỉ tiêu này phản ánh mức độ huy động TSCĐ hiện có vào hoạt động kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp
Giá trị TSCĐ đang dùng trong hoạt động kinh doanh
Giá trị TSCĐ hiện có của DN Giá trị TSCĐ trong công thức trên là giá trị còn lại của TSCĐ hữu hình và
vô hình của doanh nghiệp ở thời điểm đánh giá
Hệ số càng lớn cho thấy hiệu suất sử dụng VCĐ càng cao
f) Các chỉ tiêu về kết cấu TSCĐ: phản ánh tỷ trọng của từng nhóm hoặc từng loại TSCĐ của doanh nghiệp tại thời điểm đánh giá Chỉ tiêu này cho phép đánh giá mức độ hợp lý trong cơ cấu TSCĐ được trang bị ở doanh nghiệp
3.3>Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VKD:
Quá trình hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp cũng là quá trình hình thành và sử dụng VKD Mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp kinh doanh là thu được nhiều lợi nhuận Xét trên góc độ sử dụng vốn, lợi nhuận thể hiện tổng thể của quá trình phối hợp sử dụng VCĐ và VLĐ của doanh nghiệp
Trang 19Ngoài các chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối, để đánh giá hiệu quả sử dụng VKD trong kỳ có thể sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau:
LN trước thuế + lãi vay
trước thuế và lãi vay VKD bình quân sử dụng trong kỳ b) Tỷ suất lợi nhuận VKD: phản ánh mỗi đồng vốn kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế
Vốn CSH bình quân sử dụng trong kỳ Trong tất cả các chỉ tiêu trên, VKD bình quân sử dụng trong kỳ được tính như sau:
VKD đầu kỳ + VKD cuối kỳ
2 Các chỉ tiêu (9), (10), (11), (12) càng cao thì hiệu suất sử dụng VKD càng
Trang 20PHẦN II: TÌNH HÌNH THỰC TẾ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG
ĐẠI CÁT THÀNH
I Khái quát chung về công ty
1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty Cổ phần Xây Dựng Đại Cát Thành:
1.1 Lịch sử hình thành và sự phát triển của Công ty
Công ty Cổ phần Xây dựng Đại Cát Thành được thành lập theo quyết định số 2409 QĐ/TCCB-LĐ ngày 21/11/1994 của Bộ Giao thông vận tải và theo nghị quyết 22/BCT của Bộ Chính trị, quyết định số 72/CP của Thủ tướng Chính phủ nhằm thực hiện về phát triển kinh tế
xã hội
Công ty được hình thành đã tăng thêm sức mạnh của Tổng Công
ty Đây là sự nhìn nhận có tầm chiến lược của Tổng Công ty về khu vực Tây Bắc
Trụ sở chính của Công ty đặt tại Số 4 Phố Huế – Hà Nội
Với chức năng và nhiệm vụ chủ yếu là nhận thầu thi công xây dựng các công trình dân dụng, xây dựng các loại công trình giao thông như: làm nền, mặt đường bộ, các loại cầu vừa và nhỏ, các công trình thoát nước…
Từ khi thành lập đến nay Công ty đã không ngừng đầu tư vào sản xuất kinh doanh, xây dựng và hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý, trang bị thêm máy móc thiết bị trong dây chuyền thi công xây dựng, đảm bảo năng lực và chất lượng thi công công trình Vì vậy, Công ty
đã trúng thầu và được chỉ định thầu nhiều công trình xây dựng Địa bàn hoạt động của Công ty rất rộng ở các tỉnh phí Bắc từ Lạng S ơn, Hà Giang, Lai Châu, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái… đến các tỉnh thuộc khu vực Miền Trung như Hà Tĩnh, Quảng Bình
Trang 211.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức và chức năng nhiệm vụ
Là Công ty xây dựng nên hoạt động sản xuất kinh doanh là thi công xây dựng mới, nâng cấp cải tạo, hoàn thiện các công trình giao thông, Cổ phần Xây Dựng Đại Cát Thành
Do đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản và của sản phẩm xây dựng có tính đơn chiếc, kết cấu khác nhau, thời gian thi công dài nên việc tổ chức bộ máy quản lý có những đặc điểm riêng biệt
Công ty đã tìm hiểu và bố trí hợp lý mô hình tổ chức sản xuất theo hình thức trực tuyến chức năng, từ Công ty đến các xí nghiệp, đến đội, tổ, người lao động theo tuyến kết hợp với các phòng chức năng
Công ty Cổ phần Xây dựng Đại Cát Thành có đội ngũ cán bộ công nhân chuyên ngành có năng lực và tay nghề cao với đầy đủ máy móc thiết bị thi công nên đáp ứng được mọi yêu cầu kỹ thuật thi công công trình Hiện nay số cán bộ công nhân viên của Công ty là 503 người với các trình độ:
- Trình độ đại học: 72 người
- Trình độ trung cấp: 30 người
- Còn lại là công nhân kỹ thuật và lao động phổ thông
- Giám đốc giữ vai trò lãnh đạo chung toàn Công ty, là đại diện
pháp nhân của Công ty, chịu trách nhiệm trước Công ty, trước Hội đồng quản trị Tổng Công ty và trước pháp luật về việc điều hành hoạt động sản xuất theo chế độ một thủ trưởng, quyết định và tự chịu trách nhiệm về kế hoạch sản xuất của Công ty cũng như kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Giúp việc cho Giám đốc có 2 Phó Giám đốc:
- Một phó giám đốc phụ trách kỹ thuật - thi công: Trực tiếp chỉ
đạo các hoạt động kinh doanh và thay mặt Giám đốc khi được uỷ quyền ký kết các hợp đồng kinh tế xây dựng
Trang 22- Một phó giám đốc phụ trách nội chính: trực tiếp chỉ đạo các sự
việc diễn ra thường xuyên tại Công ty và có quyền ký các hợp đồng lao động với cán bộ công nhân viên
Các phó giám đốc phải chịu trách nhiệm trước giám đốc về lĩnh vực được phân công và chịu trách nhiệm thay mặt Giám đốc khi được
uỷ quyền
Để giúp Ban giám đốc quản lý công việc có các phòng ban chức năng được tổ chức theo yêu cầu của công việc quản lý sản xuất kinh doanh, quản lý kỹ thuật bao gồm:
- Phòng tổ chức hành chính: Tham mưu cho Giám đốc trong
việc sắp xếp bố trí cán bộ, giải quyết các chế độ chính sách, tổ chức các công việc hành chính, chuyển giao công văn, giấy tờ, quyết định nội bộ, quản lý trang thiết bị phục vụ công tác quản lý và điều hành sản xuất
- Phòng kế hoạch - kỹ thuật - tiếp thị: Có trách nhiệm giúp
Giám đốc tiến hành ký kết các hợp đồng kinh tế dựa trên các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của Nhà nước, tiếp cận, tìm kiếm khai thác công việc
để từ đó xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh Phối hợp cùng các phòng ban, căn cứ vào kế hoạch sản xuất để xây dựng kế hoạch về tài chính Tổ chức phân giao nhiệm vụ tới các đội sản xuất, kiểm tra kỹ thuật và chất lượng của công tác xây dựng theo thiết kế cùng với chủ đầu tư, tổ chức giám sát kiểm tra chất lượng từng công việc, từng giai đoạn, từng hạng mục công trình Theo dõi tình hình thực hiện nhiệm
vụ kế hoạch đã đề ra, thanh quyết toán kịp thời bàn giao công trình đưa vào sử dụng Tổ chức đấu thầu theo đúng trình tự quy chế đấu thầu của Nhà nước ban hành Giúp Giám đốc tiến hành phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất theo tháng, quý, năm để hoàn thành kế hoạch sản xuất đồng thời định kỳ làm báo cáo lên cấp trên
các dự án về mua sắm tài sản cố định, khai thác hợp đồng, nhận thầu,
Trang 23hợp đồng kinh tế, theo dõi dự toán, đánh giá sản xuất kinh doanh của Công ty và quản lý vật tư thi công
- Phòng Vật tư - Thiết bị: Có chức năng và nhiệm vụ lo cung
ứng vật tư cần thiết cho quá trình thi công, kế hoạch dự trữ vật tư thiết
bị cho sản xuất để đảm bảo tiến độ thi công theo các hợp đồng đã ký kết Giúp Giám đốc quản lý tài sản và đầu tư tài sản có hiệu quả
Ngoài ra, phòng còn có nhiệm vụ theo dõi việc sử dụng máy của các đội thi công về kỹ thuật và trình độ sử dụng, theo dõi thời hạn đại tu, sửa chữa lớn của mỗi máy, thời gian sử dụng của từng máy để tính khấu hao
- Phòng Kế toán tài chính: Có nhiệm vụ tổng hợp các số liệu,
thông tin về công tác tài chính kế toán, thực hiện việc xử lý thông tin trong công tác hạch toán theo yêu cầu thể lệ tổ chức kế toán nhà nước
Ghi chép cập nhật chứng từ kịp thời, chính xác, theo dõi hạch toán các khoản chi phí, kiểm tra giám sát tính hợp lý , hợp pháp của các khoản chi phí đó nhằm giám sát phân tích hiệu quả kinh tế của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, từ đó giúp ban lãnh đạo đưa ra những biện pháp tối ưu Tập hợp các khoản chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm qua các giai đoạn, xác định kết quả sản xuất kinh doanh, theo dõi tăng giảm tài sản và thanh quyết toán các hợp đồng kinh tế, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước về các khoản phải nộp
Ngoài ra lập kế hoạch tín dụng để vay vốn thi công, vay vốn dài hạn để mua thiết bị, thu hồi công nợ ở các chủ đầu tư
- Khối xí nghiệp và đội trực thuộc Công ty: Có 7 xí nghiệp và
đội công trình có chức năng và nhiệm vụ như nhau đó là cùng đảm nhận công việc xây dựng công trình do các xí nghiệp và các đội tự nhận hoặc do Công ty giao cho
- Các ban điều hành công trình, văn phòng đại diện:
Trang 24- Văn phòng đại diện tại Hà Nội
- Ban điều hành công trình tại Hà Nội
Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty như sau:
2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ Phần Xây Dựng Đại Cát Thành năm 2008 – 2009 (Xem bảng 1)
Phòng
KH KT tiếp thị
Phòng vật tư thiết
bị
Phòng Tài chính
kế toán
Phòng
Tổ chức hành chính Giám đốc
- Văn phòng đại diện
- Các Đội 1, 2, , 7
- Xí nghiệp XDCT 1
Trang 25Bảng 1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2008 –2009
Thuế doanh thu
Trang 2612.Lợi nhuận Sau thuế
Ở bảng 1 ta thấy kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty năm
2009 so với năm 2008 có chiều hướng tăng lên rõ rệt, điều đó được thể hiện qua
số liệu ở mức Tổng doanh thu tăng 17724 triệu đồng với tỷ lệ tăng 135% Doanh thu thuần tăng 16977 triệu đồng với tỷ lệ tăng 136,12%, hay như lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh tăng 818 triệu đồng với tỷ lệ tăng 204,5% Như vậy, để đạt được kết quả này Công ty đã nỗ lực phấn đấu không ngừng nâng cao về chuyên môn và nắm bắt rất nhanh, tìm hiểu đúng nhu cầu thị trường trên cơ sở phù hợp với ngành nghề mình đang kinh doanh Ngoài một số chỉ tiêu trên, các chỉ tiêu khác đều có mức tăng khá như lợi nhuận gộp năm 2008 là: 1926 triệu đồng, và năm 2009 là: 2612 triệu đồng như vậy lợi nhuận gộp năm 2009 so với năm 2008 tăng: 686 triệu đồng với tỷ lệ tăng 35,61% Chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế đã phản ánh rõ về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty sau khi đã trừ đi các khoản chi phí có liên quan, lợi nhuận sau thuế của Công ty năm
2008 là: 405 triệu đồng sang năm 2009 lợi nhuận sau thuế đã là: 1132 triệu đồng, như vậy so với năm 2008 lợi nhuận sau thuế năm 2009 tăng: 727 triệu đồng với tỷ lệ tăng là: 179,5% Như vậy chỉ trong vòng 1 năm mà lợi nhuận đã tăng lên gấp hơn 2 lần điều đó cho thấy Công ty đã kinh doanh rất có hiệu quả
Với đặc thù là một doanh nghiệp Xây dựng nên Công ty có lợi thế trong lĩnh vực có liên quan đến kiến trúc và qui hoạch cơ sở hạ tầng là một vấn đề nóng hổi và bức xúc của toàn bộ nền kinh tế hiện nay Nhận thức được điều này nên Công ty đã không ngừng tìm tòi nghiên cứu sáng tạo lên kế hoạch đưa ra những chiến lược và giải pháp nhằm giải quyết nhu cầu thiết yếu của con người trong vấn đề về cải tạo nơi cư trú và lớn hơn nữa là những công trình mang tầm
vĩ mô
Trang 27II.Vốn kinh doanh và nguồn hình thành vốn của công ty 1.Cơ cấu vốn và nguồn vốn của Công ty Cổ phần Xây Dựng Đại Cát Thành năm 2008-2009
2.Nguồn vốn KD 71164 100 72415,5 100 1251,5 1,76
2.1Vốn CSH 62026 87,16 62628 86,48 602,5 0,97 2.2Vốn vay 9138 12,84 9787,5 13,52 1340,5 7,1
1.1 Về vốn kinh doanh:
nội dung ở bảng 2 cho ta thấy tổng Vốn kinh doanh năm 2009 so với năm
2008 tăng: 1251,5 triệu đồng với tỷ lệ tăng đạt: 1,76% điều đó cho thấy Vốn kinh doanh của Công ty đã được bổ sung thêm dồi dào và đầy đủ hơn, tuy nhiên
tỷ lệ này là không cân đối giữa 2 loại Vốn, Vốn lưu động và Vốn cố định Vốn lưu động năm 2008 đạt: 15006 triệu đồng, chiếm 21,09% và năm 2009 số vốn này đã tăng lên đạt: 16281,5 triệu đồng, chiếm 22,48% Như vậy Vốn lưu động năm 2009 so với năm 2008 đã tăng lên chiếm: 1275,5 triệu đồng với tỷ lệ tăng là: 8,5% Mặc dù chiếm một lượng tương đối nhỏ so với tỷ lệ vốn cố định trong tổng vốn kinh doanh nhưng trong thời gian gần đây Công ty đã biết sử dụng khoản vốn này rất có hiệu quả đặc biệt là khoản vốn này đã giúp Công ty linh hoạt hơn trong việc mở rộng phạm vi kinh doanh cũng như tìm kiếm các đối tác, khách hàng, tham gia cạnh tranh đấu thầu Vốn cố định năm 2009 so với năm
2008 giảm: 0,04% Sự giảm này là kết quả của việc Công ty không đầu tư mua sắm thêm TSCĐ
1.2 Về nguồn vốn kinh doanh:
Trang 28Công ty hoạt động chủ yếu dựa vào 2 nguồn vốn là Vốn CSH và Vốn Vay
Trong 2 năm liên tiếp 2008-2009 ta thấy nguồn vốn kinh doanh của Công ty tăng đều đặn Nguồn vốn kinh doanh năm 2009 so với năm 2008 tăng 1251,5 triệu đồng, chiếm 1,76%, về vốn chủ sở hữu ta thấy vốn CSH chiếm phần lớn trong nguồn vốn kinh doanh năm 2008 vốn CSH chiếm: 87,16%, năm 2009 chiếm: 86,48% Tỷ trọng tuy có giảm nhẹ đôi chút nhưng nhìn chung Công ty đã
Tỷ trọng (%)
Người bán
3 Thuế GTGT được khấu trừ
Trang 29Tổng vốn LĐ 15006 100 16281,5 100 1275,5 8,5
2.1 Quản lý vốn bằng tiền:
Qua bảng kết cấu vốn lưu động ta thấy vốn bằng tiền của Công ty năm
2009 tăng 2825 triệu, với tỷ lệ tăng là 161,98% so với năm 2008, DTT tăng 136,12% trong khi vốn bằng tiền tăng như vậy là tương đối hợp lý vì Công ty đã thu được tiền nợ do khách hàng thanh toán Đặc biệt là tiền gửi NH tăng 162,99% so với DTT tăng 136,12%, như vậy là hơi đột ngột nhưng sự tăng đột ngột này của tiền gửi NH là do các chủ nợ đã thanh toán tiền cho Công ty, và tiền thu được từ các công trình do chủ công trình, chủ dự án thanh toán Hệ số thanh toán nhanh của vốn bằng tiền năm 2009 là 0,47 cho thấy công ty đã đảm bảo được khả năng thanh toán Lượng tiền mặt trong tổng vốn bằng tiền chiếm
tỷ trọng nhỏ năm 2008 là 0,15% năm 2009 là 0,26% với tỷ tăng 86,96% là phù hợp Mức dự trữ bằng tiền của Công ty đủ đảm bảo khả năng thanh toán, không
bị ứ đọng Khi Công ty bị thiếu hụt, Công ty tìm cách bù đắp bằng những nguồn vốn vay bên ngoài Định kỳ hàng tháng, Công ty lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ
2.2 Quản lý các khoản phải thu:
Trong bảng kết cấu vốn lưu động ta thấy các khoản phải thu chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng vốn lưu động Năm 2008 là 73,69% và năm 2009 là 54,49% điều này chứng tỏ trong năm 2009 vừa qua các khoản phải thu của Công
ty đã giảm như vậy là rất tốt DTT tăng 136,12% nhưng tỷ lệ các khoản phải thu lại giảm 19,76% do Công ty đã thu hồi được một số khoản nợ mà khách hàng thanh toán, và thu từ việc thanh lý các TSCĐ của Công ty đã hết hoặc quá hạn
sử dụng hay do hư hỏng và không còn giá trị sử dụng, điều cho thấy Công ty đã khắc phục được tình trạng nợ đọng và thất thoát vốn, gây ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn Đặc biệt là các khoản phải thu của khách hàng, năm 2008 tỷ trọng là 63,48% và năm 2009 là 51,51%, sự giảm về tỷ trọng này là khá tốt vì khách hàng đã chấp nhận thanh toán cho công ty Trong năm 2009 Công ty đã
nỗ lực đốc thúc các khách hàng nhanh chóng thanh toán các khoản tiền đối vơí