1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chuyên đề Phát triển kinh tế biển Việt Nam

29 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề Phát triển kinh tế biển Việt Nam
Trường học Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội
Chuyên ngành Phát triển kinh tế biển
Thể loại Báo cáo chuyên đề
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 429,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên đề Phát triển kinh tế biển Việt Nam MỤC LỤC Mở đầu 1 Nội dung 2 CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VÙNG BIỂN VIỆT NAM 2 1 1 Khái quát về biển Đông 2 1 2 Khái quát về vùng biển Việt Nam 2 1 2 1 Nội thủ.

Trang 1

Mở đầu 1

Nội dung 2

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VÙNG BIỂN VIỆT NAM 2

1.1 Khái quát về biển Đông 2

1.2 Khái quát về vùng biển Việt Nam 2

1.2.1.Nội thủy 2

1.2.2 Lãnh hải 3

1.2.3 Vung tiếp giáp lãnh hải 3

1.2.4 Vùng đặc quyền kinh tế 3

1.2.5.Vùng thềm lục địa 4

CHƯƠNG 2:TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN Ở VIỆT NAM 5

2.1 Tiềm năng phát triển kinh tế biển Việt Nam 5

2.1.1Vị trí chiến lược của biển- nhân tố địa lợi đặc biệt của sự phát triển .5 2.1.2 Các nguồn tài nguyên biển có khả nang khai thác lớn, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 5

2.1.3 Nguồn nhân lực dồi dào ven biển là một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định kết quả khai thá tiềm năng nguồn lợi biển 6

2.1.4 Chủ trương phát triển kinh tế biên Việt Nam 6

2.2.Thực trạng phát triển kinh tế biển ở Việt Nam 7

2.2.1 Kinh tế hàng hải 7

2.2.2 Đánh bắt,nuôi trồng và chế biến thủy sản 9

2.2.3 Khai thác và chế biến dầu khí 12

2.2.4 Du lịch biển 13

2.2.5 Nghế làm muối 14

Trang 2

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN

Ở VIỆT NAM 16

3.1.Phát triển kinh tế vùng ven biển, thực hiện quản lý và quy hoạch khai thcs vùng biển quốc gia 16

3.1.1 Phát triển kinh tế vùng ven biển 16

3.1.2 Quản lý và khai thác vùng biển quốc gia 17

3.2 Chủ trương,biện pháp phát triển kinh tế biển Việt Nam 18

3.2.1.Kinh tế hàng hải 18

3.2.2.Đánh bắt, nuôi trồng và chế biến hải sản 19

3.2.3.Khai thác và chế biến dầu khí 20

3.2.4.Du lịch biển 21

3.2.5.Nghề làm muối 21

3.2.6 Kinh tế đảo 22

Kết luận 24

Một số hình ảnh 25

Tài liệu tham khảo 27

Trang 3

MỞ ĐẦU

Nằm trên bán đảo Đông Dương, Việt Nam là một quốc gia biển, có vị thếđặc biệt quan trọng ở Đông Nam Á Biển Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đớigió mùa, có các sông lớn cỡ Thế giới mà lưu vục nằm trên sáu nước đổ vào BiểnViệt Nam giữ vai trò quan trọng về môi trường, sinh thái biển Đông và khu vực,

là vùng chuyển tiếp giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương về mặt địa lý sinhvật và hang hải Theo vị trí và hình thái, biển Việt Nam có thể chia thành cácvùng biển nửa kín, các vùng biển hở ven bờ và vùng biển khơi Vùng bờ biểnViệt Nam dài trên 3.260 km với 114 cửa sông lớn nhỏ và nhiều vũng vịnh, hơn3.000 hòn đảo ven bờ…mang lại nhiều giá trị quý giá như tài nguyên đa dạng,đất sinh cư, du lịch sinh thái, xây dựng cơ sở hạ tầng khai thác biển Tài nguyênthiên nhiên biển truyền thống của Việt Nam được đánh giá khách quan là đadạng nhưng kém phong phú và đang có nguy cơ cạn kiệt, điển hình là thủy sản

và dầu khí mà sản lượng khia thác dự kiến những năm tới sẽ giảm Mặc dù vậy,hiện nay sự tăng nhanh dân số kèm theo nhu cầu sinh hoạt tăng, đã kéo theo nhucầu gia tăng việc sử dụng tài nguyên biển Trong quá trình khai thác sử dụng tàinguyên biển, chúng ta đã làm cho nguồn tài nguyên này thay đổi về quy mô, sốlượng, chủng loại, làm cho môi trường biển ngày càng biến đổi chất lượng và códấu hiệu suy thoái

Chính vì những yếu tố trên từ xưa đến nay biển vẫn đóng vai trò vô cùngquan trọng trong cả đời sống vật chất và tinh thần của người dân Việt Nam Do

đó việc nắm vững những tiềm năng thế mạnh của vùng biển nước ta và có hướngkhai thác hiệu quả phát triển tổng hợp kinh tế biển dựa trên nguyên tắc phát triểnbền vững là một việc làm mang tính chiến lược, đóng góp không nhỏ cho sựnghiệp phát triển kinh tế hiện tại cũng như lâu dài của đất nước

Trong nội dung chuyên đề “Phát triển kinh tế biển Việt Nam” em sẽ đi

sâu tìm hiểu thực trạng phát triển tổng hợp kinh tế biển ở Việt Nam, những chủtrương, biện pháp cho sự phát triển của nền kinh tế biển ở nước ta ở hiện tại vàtương lai

Trang 4

NỘI DUNGCHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VÙNG BIỂN VIỆT NAM 1.1.Khái quát về Biển Đông

Với diện tích hơn 3447 nghìn km2, Biển Đông là một biển lớn, đứng thứ 3trong các biển của Thế Giới Chiều dài của Biển Đông khoảng 1900 hải lí, chiềungang nơi rộng nhất khoảng 600 hải lí Có 9 quốc gia nằm ven bờ Biển Đông:Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Malaixia, Brunay, Xingapo, Indonexia, TháiLan, Campuchia

Biển Đông là một biển nửa kín vì các đường thông ra đại dương đều cócác đảo và quần đảo bao bọc Biển Đông có địa hình phức tạp, độ sâu trung bình

là 1140m, nơi sâu nhất là 5559m Thềm lục địa của Biển Đông khá bằng phẳng,vùng có độ sâu dưới 200m chiếm hơn ½ diện tích, trong đó vịnh Bắc Bộ, vịnhThái Lan, eo biển Đài Loan chỉ sâu dưới 100m

Vùng biển Việt Nam trong Biển Đông là phần phía Tây của Biển Đôngvới diện tích thuộc chủ quyền của nước ta khoảng hơn 1 triệu km2, lớn gấp ba lầndiện tích đất liền của nước ta Ven bờ biển nước ta có hơn 2.773 hòn đảo lớn nhỏcác loại, phân bố chủ yếu ở vịnh Bắc Bộ với diện tích 1.700 km2 Vì vậy biểngắn bó trực tiếp và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo anninh quốc phòng, bảo vệ môi trường của mọi miền đất nước

Vùng biển của Việt Nam trên Biển Đông tiếp giáp với vùng biển củaTrung Quốc, Philippin, Malaixia, Brunay, Xingapo, Indonexia, Thái Lan,Campuchia…

Vị trí của vùng Biển Đông tạo cho nước Việt Nam rất nhiều điều kiệnthuận lợi cả về tự nhiên và kinh tế xã hội

1.2.Khái quát về vùng biển Việt Nam

1.2.1.Nội thủy

Là vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở và giáp với bờ biển.Đường cơ sở là do quốc gia ven biển vạch ra Theo tuyên bố ngày 12-5-1977 củachính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì đường cơ sở của Việt

Trang 5

Nam chính là đường gãy khúc nối liền 11 điểm, từ điểm A1 (Hòn Nhạn, quầnđảo Thổ Chu, tỉnh Kiên Giang), đến điểm A11 (đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị).

Vùng nội thủy được xem như bộ phận lãnh thổ trên đất liền, có chế độpháp lí của đất liền, nghĩa là được đặt dưới chủ quyền toàn vẹn, đầy đủ và tuyệtđối của quốc gia ven biển Tàu thuyền nước ngoài muốn vào, ra vùng nội thủyphải xin phép nước ven biển và tuân theo luật lệ của nước đó Nước ven biển cóquyền không cho phép tàu thuyền nước ngoài vào vùng nội thủy của mình

Quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ trong vùng lãnh hải,song không tuyệt đối như nội thủy Tàu thuyền của các quôc gia khác đượchưởng quyền qua lại không gây hại trong lãnh hải của nước ven biển

1.2.3.Vùng tiếp giáp lãnh hải

Là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải Công ước quốc

tế veed Luật Biển nêu rõ: “Vùng tiếp giáp lãnh hải không thể mở rộng quá 24 hải

lí kể từ đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải”, nghĩa là chiều rộng của vùngtiếp giáp lãnh hải không vượt quá 12 hải lí tính từ ranh giới ngoài cùng của lãnhhải Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố: “ Vùng tiếpgiáp lãnh hải của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếpliền phía ngoài của lãnh thổ Việt Nam, có chiều rộng là 12 hải lí, hợp với lãnhhải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lí kể từ đường cơ sở dùng để tínhchiều rộng của lãnh hải Việt Nam ”

Trang 6

Có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lí tất cả cáctài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh ở vùng nước đáy biển và tronglòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền về kinh tế của Việt Nam Có cácquyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho thăm dò vàkhai thác cùng đặc quyền về kinh tế nhằm mục đích kinh tế Có thẩm quyềnriêng biệt về nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế biển củaViệt Nam.Có thầm quyền riêng biệt trong việc thiết lập, lắp đặt và sử dụng cáccông trình, các đảo nhân tạo.Có thầm quyền riêng biệt trong việc bảo vệ vàchống ô nhiễm môi trường biển.

1.2.5.Vùng thềm lục địa

Thềm lục địa của Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biểnthuộc phần kéo dài tự nhiên của phần lãnh thổ đất liền của lục địa Việt Nam chođến bờ ngoài của rìa lục địa Nơi nào bờ ngoài rìa lục địa cách đường cơ sở chưađến 200 hải lí, thì thềm lục địa được mở rộng ra đến 200 hải lí kể từ đường cơ

sở Nhà nước Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt tham dò khai thác, bảo

vệ và quản lí các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam

Để phục vụ phát triển kinh tế biển và giữ vững an ninh chủ quyềntrên các vùng biển, đến nay nước ta đã kí kết một số thoả thuận trên biển với cácnước láng giềng: Hiệp định vùng nước lịch sử Việt Nam – Campuchia (1982);Thỏa thuận khai thác chung vùng chồng lấn thềm lục địa Việt Nam – Malaisia(1992); Hiệp định về phân định ranh giới biển Việt Nam – Thái Lan (1997);Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tron vịnhBắc Bộ giữa Việt Nam – Trung Quốc (2004) và Hiệp định phân định thềm lụcđịa Việt Nam – Indonesia (2003) Ngoài ra Việt Nam cũng mở các diễn đàn traođổi về vấn đề chủ quyền hai quần đảo với Philippin, Trung Quốc (1995) vàMalaisia Tham gia kí kết các văn kiện mang tính song phương và đa phương vớicác bên có liên quan, trong đó có dự án nghiên cứu khoa học biển Việt Nam –Philippin

Trang 7

CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN

KINH TẾ BIỂN Ở VIỆT NAM 2.1 Tiềm năng phát triển kinh tế biển Việt Nam

2.1.1 Vị trí chiến lược của biển - nhân tố địa lợi đặc biệt của sự phát triển

Việt Nam có lợi thế là vùng biển nằm ngay trên một số tuyến hàng hảichính của quốc tế qua Biển Đông, trong đó có tuyến đi qua eo biển Malacca, làmột trong những tuyến có lượng tàu bè qua lại nhiều nhất thế giới Bờ biểnViệt Nam lại rất gần các tuyến hàng hải đó nên rất thuận lợi trong việc phát triểngiao thương quốc tế.Hiện nay, hầu hết khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu vàmột phần giao lưu nội địa của nước ta được vận chuyển bằng đường biển trênBiển Đông Trong một vài thập kỷ tới, với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của cácnước trong khu vực, khối lượng hàng hóa vận chuyển qua Biển Đông sẽ tăng gấphai, ba lần hiện nay, khi đó Biển Đông nói chung và vùng biển Việt Nam nóiriêng càng có vai trò to lớn trong thương mại thế giới; vùng biển Việt Nam sẽ trởthành chiếc cầu nối quan trọng để phát triển thương mại quốc tế và mở rộng giaolưu với các nước trong khu vực và trên thế giới

2.1.2 Các nguồn tài nguyên biển có khả năng khai thác lớn, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trên vùng biển rộng hơn l triệu km2 của Việt Nam, có tới 500.000 km2nằm trong vùng triển vọng có dầu khí.Trữ lượng dầu khí ngoài khơi miền NamViệt Nam có thể chiếm 25% trữ lượng dầu dưới đáy Biển Đông Có thể khai thác

từ 30-40 nghìn thùng/ngày (mỗi thùng 159 lít), khoảng 20 triệu tấn/năm Ngoàidầu và khí, dưới đáy biển nước ta còn có nhiều khoáng sản quý như: thiếc, ti-tan,đi-ri-con, thạch anh, nhôm, sắt, măng-gan, đồng, kền và các loại đất hiếm Muối

ăn chứa trong nước biển bình quân 3.500gr/m2 Vùng ven biển nước ta cũng cónhiều loại khoáng sản có giá trị và tiềm năng phát triển kinh tế như: than, sắt, ti-tan, cát thuỷ tinh và các loại vật liệu xây dựng khác

Nguồn lợi hải sản nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khuvực Ngoài cá biển là nguồn lợi chính còn nhiều loại đặc sản khác có giá trị kinh

Trang 8

tế cao như tôm, cua, mực, hải sâm, rong biển… Riêng cá biển đã phát hiện hơn2.000 loài khác nhau, trong đó trên 100 loài có giá trị kinh tế cao với tổng trữlượng hải sản khoảng 3- 4 triệu tấn, khả năng cho phép khai thác 1,5- 1,8 triệutấn/năm Đến nay đã xác định 15 bãi cá lớn quan trọng, trong đó 12 bãi cá phân

bố ở vùng ven bờ và 3 bãi cá ở các gò nổi ngoài khơi Dọc ven biển có trên 37vạn héc ta mặt nước các loại có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nước mặn - lợ, nhất

là nuôi các loại đặc sản xuất khẩu như tôm, cua, rong câu…

Dọc theo bờ biển nước ta có hơn 100 địa điểm có thể xây dựng hải cảng,trong đó một số nơi có thể xây dựng cảng nước sâu, quy mô tương đối lớn (kể cảcảng trung chuyển quốc tế) như: Cái Lân và một số điểm ở khu vực Vịnh HạLong và Bái Tử Long, Nghi Sơn, Hòn La - Vũng Áng, Chân Mây, Đà Nẵng,Dung Quất, Văn Phong, Cam Ranh, Vũng Tàu, Thị Vải Riêng khu vực từVũng Tàu đến Hà Tiên do biển nông, nhiều sình lầy nên ít có khả năng xây dựngcảng biển lớn, nhưng vẫn có thể xây dựng cảng quy mô vừa ở Hòn Chông, PhúQuốc hoặc cảng sông Cần Thơ Khả năng phát triển cảng và vận tải biển là yếu

tố trội cơ bản, là nguồn lực rất quan trọng để phát triển kinh tế biển theo hướngcông nghiệp hoá, hiện đại hoá

Dọc bờ biển Việt Nam có hàng trăm bãi tắm, trong đó có những bãi tắm

có chiều dài lên đến 15- 18km và nhiều bãi tắm có chiều dài 1-2km đủ điều kiệnthuận lợi khai thác phát triển du lịch biển Các bãi biển của nước ta phân bố trảiđều từ Bắc vào Nam Từ Móng Cái đến Hà Tiên có hàng loạt các bãi tắm đẹpnhư Trà Cổ, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cửa Tùng, Lăng Cô, Mỹ Khê, Đại Lãnh, NhaTrang, Ninh Chữ, Mũi Né, Vũng Tàu, Hà Tiên…

2.1.3 Nguồn nhân lực dồi dào ven biển là một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định kết quả khai thác tiềm năng nguồn lợi biển

Với số dân hơn 20 triệu người đang sinh sống, các vùng ven biển và đảocủa Việt Nam đang có lực lượng lao động khoảng 12,8 triệu người, chiếm35,47% lao động cả nước Đây là nguồn nhân lực quan trọng đối với quá trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

2.1.4 Chủ trương phát triển kinh tế biển Việt Nam

Trang 9

Nghị quyết 03-NQ/TW ngày 6/5/1993 của Bộ Chính trị về một số nhiệm

vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt, trong đó khẳng định rằng,phải đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với tăng cường khả năng bảo vệ chủquyền và lợi ích quốc gia Song song với nhiệm vụ đó là bảo vệ tài nguyên vàmôi trường sinh thái biển, phấn đấu trở thành một nước mạnh về biển vào năm2020

Ngày 22/9/1997, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW về đẩymạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa ramột số quan điểm trong phát triển kinh tế biển Đó là: “Thực hiện công nghiệphoá, hiện đại hoá kinh tế biển hướng mạnh vào xuất khẩu, dựa trên những tiến bộkhoa học, công nghệ làm động lực; vừa thúc đẩy nghiên cứu, quản lý, khai tháctiềm năng biển có hiệu quả, vừa tái tạo tài nguyên biển, bảo vệ môi trường, đàotạo nhân lực” Quan điểm này được cụ thể hoá bằng các giải pháp: “Đầu tư thíchđáng cho khoa học- công nghệ; tăng cường năng lực điều tra khảo sát, nghiêncứu khí tượng- thuỷ văn và môi trường, thực trạng tài nguyên và dự báo xu thếbiến động trong những thập kỷ tới

2.2.Thực trạng phát triển kinh tế biển ở Việt Nam

2.2.1 Kinh tế hàng hải

*Về vận tải biển:

Trong 10 năm qua, đội tàu biển quốc gia Việt Nam đã có những bước pháttriển đáng khích lệ, bình quân tăng gần 10%/năm về số lượng tàu và trên10%/năm về trọng tải Theo thống kê sơ bộ, hiện nay cả nước có trên 1.000 tàuvới tổng trọng tải hơn 3,5 triệu DWT Năng lực vận tải tăng lên, đồng thời có sựthay đổi cơ bản về cơ cấu, chất lượng đội tàu, tạo thêm thị trường và trực tiếptham gia thị trường khu vực, khách hàng nước ngoài đã sử dụng trên 50% nănglực đội tàu của Việt Nam

Hiện Việt Nam đang thiếu trầm trọng đội ngũ thuyền viên, đặc biệt làthuyền trưởng, máy trưởng Để đào tạo được một người sau khi tốt nghiệp Đạihọc Hàng hải lên thuyền trưởng, máy trưởng mất thêm ít nhất 10 năm, tuy mứclương khá cao nhưng do tính chất công việc thường xuyên xa nhà nên không

Trang 10

nhiều người theo đuổi Chính vì vậy rất nhiều tàu của Việt Nam đang thuêthuyền trưởng hoặc quản lý là người nước ngoài, và không ít nơi còn cho nướcngoài thuê tàu, điều này cũng khiến vận tải biển Việt Nam còn “đánh vật” ngaytrên sân nhà.

*Về cảng biển và dịch vụ cảng biển:

Với hơn 3.260 km bờ biển, Việt Nam có một tiềm năng về cảng biển hếtsức to lớn Hệ thống cảng biển bao gồm trên 100 cảng biển lớn nhỏ, trong đó cómột số cảng đã và đang được nâng cấp và mở rộng như Hải Phòng, Cái Lân, ĐàNẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Sài Gòn, Cần Thơ

Xu thế vận tải hiện nay là sử dụng tàu có trọng tải lớn, áp dụng các côngnghệ vận tải tiên tiến, đặc biệt là vận tải đa phương thức Do vậy, việc xây dựngcác cảng nước sâu với trang thiết bị hiện đại, công nghệ quản lý điều hành tiêntiến là yêu cầu bức xúc Nhận thức rõ vai trò quan trọng của hệ thống cảng biểnđối với phát triển kinh tế nên trong 10 năm qua Nhà nước đã tập trung vốn đầu tưcho một số cảng trọng điểm như:

- Cảng Hải Phòng hoàn thành giai đoạn I với công suất 6,2 triệu tấn/năm,cho tàu 10.000 DWT ra vào và dự kiến sẽ hoàn thành giai đoạn II trong kế hoạch

2000 - 2010 với công suất 8 - 8,5 triệu tấn/năm, cho tàu 10.000 tấn ra vào

- Cảng Cái Lân: Công suất 1,8 - 2,8 triệu tấn/năm, cho tàu đến 40.000 tấn

ra vào giai đoạn I (năm 2003) và 16 – 17 triệu tấn/năm cho tàu 50.000 tấn ra vàogiai đoạn II (đến năm 2010 - 2020)

- Cảng Sài Gòn: Công suất 8,5 - 9,5 triệu tấn/năm cho tàu 25.000-35.000tấn ra vào (giai đoạn II đến năm 2010) và một số cảng khác sẽ được đầu tư cảitạo mở rộng cơ sở vật chất như cảng Cửa Lò, Quy Nhơn, Nha Trang

- Một số cảng chuyên dùng như bến thứ nhất của cảng tàu Dung Quất (liêndoanh Việt Xô); Cảng Nghi Sơn (xi măng); Cảng Cát Lái (xi măng và container)

và một số cảng ở khu công nghiệp Gò Dầu, Hiệp Phước…

khu vực, thậm chí có người gọi là xảy ra hiện tượng “cảng sau đè cảngtrước”

*Về công nghiệp đóng tàu:

Trang 11

Hiện nay, Việt Nam có hơn 60 nhà máy sửa chữa và đóng tàu trực thuộc

Bộ Quốc phòng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Giao thông Vậntải, trong đó Bộ Giao thông Vận tải có số lượng lớn nhất chiếm trên 70% côngsuất đóng tàu của ngành Trong những năm gần đây, Chính phủ đã đẩy mạnh đầu

tư vào một gói thầu nhằm nâng cao hoạt động toàn ngành thông qua Chươngtrình Phát triển Công nghiệp Tàu thủy 2002 - 2010.Chính phủ đã quyết định đưađóng tàu trở thành một ngành xuất khẩu mũi nhọn

2.2.2 Đánh bắt, nuôi trồng và chế biến hải sản

*Về đánh bắt (khai thác) hải sản:

Đánh bắt hải sản là nghề biển truyền thống có thế mạnh của nước ta, là lựclượng nòng cốt trong việc thực hiện ba mục tiêu chiến lược phát triển ngành thủysản Việt Nam, đó là: khai thác tiềm năng nguồn lợi hải sản tạo sản phẩm cungcấp cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; tạo công ăn việc làm, thu nhập, cảithiện đời sống ngư dân các tỉnh ven biển; đảm bảo sự hiện diện, bảo vệ chủquyền quốc gia trên các vùng biển

Sự dễ dãi tiếp cận khai thác nguồn lợi hải sản, những bất cập trong quản

lý, kiểm soát khai thác và những hạn chế về tài chính, đội tàu cá Việt Nam đượcđầu tư phát triển theo phong trào, thiếu quy hoạch, tập trung tăng về công suấtmáy đẩy và tăng về số lượng dẫn đến, sau gần vài thập kỷ tập trung khai thác,nguồn lợi hải sản đã có những biến động đáng kể về mật độ sản lượng, chủngloài, kích thước… đặc biệt vùng biển ven bờ, tập trung trên 80% tổng số phươngtiện nghề cá, sản lượng khai thác hằng năm chiếm từ 70 -80% tổng sản lượng hảisản của cả nước Ba ngư trường trọng điểm là Hải Phòng-Quảng Ninh, NinhThuận-Bình Thuận và Cà Mau-Kiên Giang, những khu vực tập trung trên 50%tổng số phương tiện nghề cá tham gia đánh bắt hàng năm, qua kết quả khảo sát,mật độ sản lượng đều giảm Cùng với những thay đổi về sản lượng, chủng loàihải sản cũng biến động đáng kể về mật độ, kích cỡ và ngày càng có nhiều loài trởthành quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng Sự thay đổi trên là nguyên nhân giảmnăng suất, sản lượng khai thác của nhiều nhóm nghề (khai thác cá nổi nhỏ ven

bờ, cá đáy, câu cá rạn…), đồng thời tăng thời gian khai thác thực tế trên biển,

Trang 12

thời gian tìm kiếm ngư trường, chi phí, giá thành sản phẩm… Thống kê gần đâycho thấy dấu hiệu dư thừa cục bộ phương tiện đánh bắt hải sản đã xuất hiện,công suất huy động tàu tham gia đánh bắt giảm dần, có tàu chỉ huy động khoảng50% thời gian hoạt dộng (khai thác cá nổi, tôm biển…)

Nghề cá biển thuộc nhóm nghề vất vả, tai nạn luôn rình rập, đặc biệt đốivới những quốc gia nằm trong khu vực thường chịu tác động của các hiện tượngthời tiết bất thường như Việt Nam Môi trường hoạt động khai thác hải sản rấtkhắc nghiệt, song đội tàu cá lại chưa được đầu tư tương thích Trong khoảng95.000 phương tiện nghề cá hiện nay, loại dưới 50 CV và thuyền thủ công cókhoảng 64.500 chiếc, chiếm 68%, số tàu cá lắp máy từ 90 CV trở lên có khoảng13.600 chiếc, chiếm khoảng 14,3% Cơ cấu đội tàu cá Việt Nam hiện nay, xét về

sự tương thích với ngư trường, với nguồn lợi hải sản cho thấy không có sự bấtcập lớn, song chất lượng kém của vỏ, máy, các thiết bị an toàn hàng hải đã hạnchế thời gian hoạt động hữu ích trong năm

*Về nuôi trồng hải sản:

Bên cạnh đánh bắt hải sản, nuôi trồng hải sản cũng có nhiều tiềm năng vàlợi thế Tính trên phạm vi cả nước, diện tích có khả năng nuôi trồng hải sản trênbiển gồm hơn 400.000 ha vùng vịnh và đầm phá; nhiều vùng biển có điều kiệnphát triển như Quảng Ninh - Hải Phòng hơn 200.000 ha, khu vực ven biển miềntrung từ Thừa Thiên - Huế đến Bà Rịa - Vũng Tàu hơn 41.000 ha, khu vực Ðông

và Tây Nam Bộ có hơn 62.000 ha, vịnh Văn Phong tỉnh Khánh Hòa 20.000 ha Giống loài thủy sản nuôi phong phú, đối tượng nuôi chủ yếu là tôm hùm, cásong, cá giò, cá cam, cá hồng, cá đù đỏ, cua, ghẹ, hải sâm, bào ngư, nuôi trai lấyngọc, nuôi ngao, nghêu, hầu, trồng rong sụn, nuôi sứa đỏ và san hô

Trước tình trạng nguồn lợi hải sản đang suy kiệt, ngư dân đã chuyển từkhai thác sang nuôi trồng thủy sản ở biển với nhiều hình thức đa dạng Nhà nước

đã ban hành các chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổchức, hộ gia đình, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế trong nước và nướcngoài đầu tư vào lĩnh vực nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo Nhà nước phâncấp cho UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giao, cho thuê đất và

Trang 13

mặt nước biển cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu sử dụng mặt nướcbiển, đất trên đảo để nuôi trồng hải sản, tạo điều kiện để nhà đầu tư tự quản lýđất mặt nước, yên tâm đầu tư phát triển sản xuất Nhà nước đã đầu tư và hỗ trợđầu tư cho quy hoạch nuôi hải sản trên biển, hải đảo; cho nhập khẩu giống gốcmột số loài đặc sản sạch bệnh có giá trị kinh tế cao, quý hiếm và kỹ thuật sảnxuất giống nhân tạo đòi hỏi công nghệ sản xuất cao và nuôi thương phẩm hải sảntrên biển và hải đảo; đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật; ưu tiên bố tríkinh phí cho công tác khuyến ngư nuôi hải sản; hỗ trợ các dự án xây dựng cơ sở

hạ tầng thiết yếu của các vùng nuôi hải sản biển

Việc phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo giúp các tổ chức,giúp người dân có cơ hội đầu tư phát triển, góp phần điều chỉnh nghề khai thácven bờ bằng phương tiện thủ công sang nuôi trồng thủy sản biển (nhất là ngườidân ở các xã nghèo vùng bãi ngang ven biển, hải đảo), bảo vệ và phát triển đượcnguồn lợi thủy sản Nuôi trồng thủy sản biển còn giúp người dân có điều kiệntăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo, thay đổi cơ cấu kinh tế; góp phần bảo vệ anninh vùng biển và hải đảo Ngành thủy sản dự kiến đến năm 2010 nuôi cá biển ởnước ta ước đạt khoảng 200.000 tấn, nuôi nhuyễn thể đạt 380.000 tấn, rong biểnđạt 50.000 tấn khô, đuổi kịp và vượt các nước tiên tiến trong khu vực và vùnglãnh thổ về trình độ nuôi hải sản trên biển

* Về chế biến hải sản:

Nghị quyết 03/NQ/TW ngày 6/5/1993 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số NQ/HNTW ngày 10/6/1993, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khoá VII đều khẳng định xây dựng thủy sản trở thành ngànhkinh tế mũi nhọn.Bởi vậy, ngành chế biến thủy sản (trong đó có chế biển hải sản)cũng nhận được sự chú trọng đặc biệt của các cấp, các ngành và các địa phương.Nhiều chương trình, dự án táo bạo đã được thực hiện nhằm phát triển ngành này.Chương trình chế biến và xuất khẩu thủy sản đến năm 2005 đã được Thủ tướngChính phủ phê duyệt, và bắt đầu thực hiện từ năm 1998 là một chương trình tạobước ngoặt trong thế kỷ 21 cho ngành chế biến thủy sản nước ta Có thể nói, chếbiến xuất khẩu thủy sản là động lực cho tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu trongkhai thác và nuôi trồng thủy sản.Đến nay, cả nước đã có tổng số hơn 470 cơ sở -

Trang 14

05-doanh nghiệp chế biến thủy sản Trong đó, 248 cơ sở - 05-doanh nghiệp (chiếm gần53%) đã đạt tiêu chuẩn của thị trường EU - một thị trường khó tính vào bậc nhấtthế giới; trên 300 cơ sở - doanh nghiệp được Hàn Quốc công nhận tiêu chuẩnchất lượng… Hiện nay, hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt trên 140 nước vàvùng lãnh thổ trên thế giới, có chỗ đứng vững chắc ở các thị trường lớn như NhậtBản, EU và Bắc Mỹ Về giá trị kim ngạch xuất khẩu, thủy sản Việt Nam hiện đãvươn lên đứng hàng thứ 7 trên thế giới Năm 2006, sản lượng thuỷ sản Việt Namđạt 3,75 triệu tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 3,75 tỉ USD.

2.2.3 Khai thác và chế biến dầu khí

Hiện tại, Việt Nam có sáu mỏ dầu đang khai thác: Bạch Hổ, Rạng Đông,Ruby, Đại Hùng, Bunga và Kekwa Thêm nữa, một giếng dầu mới, Sư Tử Trắng,

đã có kế hoạch khai thác vào năm 2008 Trữ lượng khí đốt thậm chí được coi là

có nhiều hứa hẹn hơn so với trữ lượng dầu mỏ Việt Nam đã xác định trữ lượngkhí đốt là 220 tỷ m3, nhưng dự kiến trữ lượng có thể lên tới 651 tỷ m3 Sản xuất

và tiêu thụ khí đốt tự nhiên của Việt Nam đang tăng lên và dự kiến còn tăngthêm nữa khi có thêm các mỏ được đưa vào khai thác

Tuy nhiên, dầu và khí đốt nằm khá sâu 3.000 – 4.000 m dưới lòng đất nênviệc tìm kiếm và khai thác dầu khí là việc rất khó khăn, cần nhiều vốn, kinhnghiệm và trình độ kỹ thuật cao Cũng giống như nhiều nước đang phát triểnkhác, Việt Nam có các chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài trong lĩnhvực này.Hiện có 25 công ty dầu khí nước ngoài từ 13 quốc gia đang hoạt độngtại Việt Nam, trong khuôn khổ 27 dự án khác nhau Các công ty dầu khí nướcngoài đã đầu tư hơn 7 tỷ USD vào Việt Nam Có nhiều đối tác nước ngoài đãlàm việc với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) trong nhiều thập kỷ

Không chỉ hoạt động tại thị trường nội địa, Petro Vietnam đang tăngcường các hoạt động tìm kiếm và khai thác dầu khí trên thị trường quốc tế.Trong khoảng thời gian từ năm 2006 - 2010, tập đoàn này đã lên kế hoạch ngânsách 6,7 tỷ USD cho việc thăm dò ở nước ngoài, và sẽ tăng thêm 9,7 tỷ USD chogiai đoạn 2011-2015 Trong năm 2007, Petro Vietnam đã tiến hành thăm dò dầukhí ở Cuba và Peru và hiện tiến hành đấu thầu để thăm dò dầu khí ở Nigeria và

Ngày đăng: 14/11/2022, 08:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Khoa học về biển và kinh tế miền biển. NXB Chính trị Quốc gia, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học về biển và kinh tế miền biển
Tác giả: Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
2. Biển và đảo Việt Nam ( Tài liệu bồi dưỡng giáo viên PTTH), Hà Nội 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biển và đảo Việt Nam
Năm: 1994
3. Nguyễn Chu Hồi, Cơ sở tài nguyên và môi trường biển.NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở tài nguyên và môi trường biển
Tác giả: Nguyễn Chu Hồi
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
4. Lê Thông, Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam, NXB Đại học sư phạm, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam
Tác giả: Lê Thông
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2011
5. Lê Đức Tố, Hoàng Trọng Lập, Trần Công Trục, Nguyễn Quang Vinh, Quản lí biển, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí biển
Tác giả: Lê Đức Tố, Hoàng Trọng Lập, Trần Công Trục, Nguyễn Quang Vinh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
6. Phùng Ngọc Đĩnh, Tài nguyên Biển Đông. Việt Nam, NXB Giáo dục, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên Biển Đông
Tác giả: Phùng Ngọc Đĩnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
7. Trần Đức Thạnh (chủ biên), Biển đảo Việt Nam – tài nguyên vị thế và những kỳ quan địa chất, sinh thái tiêu biểu, Nxb Khoa học tự nhiên và công nghệ, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biển đảo Việt Nam – tài nguyên vị thế và những kỳ quan địa chất, sinh thái tiêu biểu
Tác giả: Trần Đức Thạnh
Nhà XB: Nxb Khoa học tự nhiên và công nghệ
Năm: 2012
9. Vũ Phi Hoàng, Kể về hải đảo của chúng ta, NXB Giáo dục, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể về hải đảo của chúng ta
Tác giả: Vũ Phi Hoàng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1984
10.Vũ Tự Lập, Địa lý tự nhiên Việt Nam, NXB Đại học sư phạm, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý tự nhiên Việt Nam
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w