1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển kinh tế biển việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

38 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển kinh tế biển Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trường học Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Phát triển Kinh tế Biển, Hội nhập Kinh tế Quốc tế
Thể loại Luận văn
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 844,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương I:Tổng quan về kinh tế biển (3)
    • 1.1 Kinh tế biển và những vấn đề liên quan (3)
      • 1.1.1. Khái niệm kinh tế biển (3)
      • 1.1.2. Vai trò của kinh tế biển với các quốc gia (4)
    • 1.2 Xu hướng phát triển kinh tế hướng ra biển của thế giới (5)
    • 1.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia về phát triển kinh tế biển (7)
  • Chương II:Thực trạng phát triển kinh tế biển của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (13)
    • 2.1 Tiềm năng phát triển kinh tế biển của Việt Nam (13)
    • 2.2 Thực trạng phát triển kinh tế biển của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (18)
      • 2.2.1 Tác động của quá trình hội nhấp kinh tế quốc tế đến kinh tế biển Việt Nam (18)
      • 2.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế biển Việt Nam (25)
  • Chương III:Quan điểm phát triển kinh tế biển Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (31)
    • 3.1 Quan điểm và mục tiêu về phát triển kinh tế biển (32)
    • 3.2 Một số định hướng và giải pháp chủ yếu thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển (33)
    • 3.3 Trong các vấn đề liên quan đến tranh chấp ở biển Đông (35)
  • Kết Luận (37)

Nội dung

quan về kinh tế biển

Kinh tế biển và những vấn đề liên quan

1.1.1.Khái niệm kinh tế biển

Khái niệm kinh tế biển hiện nay đã mở rộng ra ngoài các lĩnh vực truyền thống như nghề cá, vận tải viễn dương và du lịch biển, bao gồm cả khai thác tài nguyên biển, năng lượng biển, bảo vệ môi trường sinh thái biển, phòng chống thiên tai và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu.

Kinh tế biển là một khái niệm thực tiễn, được chia thành hai phần chính, theo nghị quyết 4 của TW khóa X.

Một là : Toàn bộ những hoạt động kinh tế diễn ra trên biển :

• Kinh tế hàng hải (vận tải biển, khai thác cảng biển và dịch vụ liên quan) • Hải sản (đánh bắt, nuôi trồng, khai thác cảng cá)

• Khai thác dầu khí trên biển

• Dịch vụ tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn trên biển

Hai là những hoạt động khai thác trực tiếp, không nhất thiết phải diễn ra trên biển, mà phụ thuộc vào yếu tố biển và được thực hiện từ đất liền.

• Đóng và sửa chữa tàu biển (có nước xếp vào kinh tế hàng hải)

• Công nghiệp chế biến dầu khí

• Cung cấp dịch vụ biển (khí tượng thủy văn, logistic, và một số lĩnh vực khác….)

• Thông tin liên lạc biển (đài phát tín ven biển, hệ thống định vị)

• Nghiên cứu khoa học – công nghệ biển

• Điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường biển

• Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển

• Bảo vệ môi trường, sinh thái biển

1.1.2.Vai trò của kinh tế biển với các quốc gia

Kinh tế biển là lĩnh vực kinh tế phát triển từ tác động của biển, không chỉ có các quốc gia ven biển mà ngay cả các quốc gia không có biển cũng có thể xây dựng nền kinh tế biển Các quốc gia như Áo, Thụy Sĩ và Slovakia đã tiếp cận biển Đen thông qua sông Danube, minh chứng cho sự đa dạng trong cách tiếp cận kinh tế biển.

Biển đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động của con người, ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của các lĩnh vực kinh tế biển, cả trong phạm vi hẹp và rộng.

Giao lưu thương mại, đầu tư và hội nhập qua hệ thống cảng biển đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế biển của các quốc gia Vị trí địa lý biển hiện nay được coi trọng hơn cả tài nguyên, với những ví dụ điển hình như Singapore, Nhật Bản và Hà Lan Mặc dù thiếu tài nguyên, các quốc gia này vẫn phát triển mạnh mẽ nền kinh tế biển nhờ vào vị trí địa lý thuận lợi của họ.

Giao lưu đường biển không chỉ đơn thuần là buôn bán hàng hóa mà còn dẫn đến sự hình thành các khu công nghiệp, khu kinh tế và chuỗi đô thị, tạo ra các lĩnh vực dịch vụ tài chính và ngân hàng, từ đó làm biến đổi đời sống xã hội Đây là yếu tố cốt lõi trong nền kinh tế biển của mỗi quốc gia; nếu không được chú trọng, sẽ gây ra khiếm khuyết lớn trong chiến lược phát triển kinh tế biển Ví dụ, tại miền Trung Việt Nam, nhờ vào vị trí địa lý và sự phát triển của các cảng biển nước sâu, khu vực này đã chuyển mình từ nghèo đói thành một trục phát triển công nghiệp lớn với các ngành năng lượng, luyện cán thép, và đóng tàu, đồng thời hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ và du lịch dịch vụ, tài chính, ngân hàng.

Ngành công nghiệp khai khoáng biển, đặc biệt là khai thác dầu khí, đang ngày càng trở nên quan trọng Ngoài ra, các hoạt động khai thác từ lòng đất và nước biển cũng đóng góp đáng kể vào sự phát triển của ngành này.

- Ngành công nghiệp đánh bắt cá, nuôi trồng và chế biến hải sản.

- Ngành công nghiệp đóng tàu, công trình biển.

- Ngành du lịch biển đảo.

- Ngành công nghiệp quốc phòng biển.

Ngành nông nghiệp chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ gió mùa mang hơi nước từ đại dương vào đất liền, cùng với sự xâm nhập mặn vào các đồng bằng và mực nước biển dâng Điều này chứng tỏ rằng ngay cả nông nghiệp ở các khu vực đồng bằng cũng bị tác động từ biển, cho thấy nó có thể được xem như một phần quan trọng của lĩnh vực kinh tế biển.

Tư duy về kinh tế biển rất phong phú, vì nó liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế được hình thành và ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp từ biển.

Xu hướng phát triển kinh tế hướng ra biển của thế giới

Biển đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và an ninh của các quốc gia ven biển cũng như toàn cầu Nhiều quốc gia xem phát triển kinh tế biển là một bước đột phá Trong bối cảnh thế giới đa cực hiện nay, cuộc cạnh tranh về phát triển kinh tế biển và tranh chấp tài nguyên, lãnh thổ trên biển ngày càng trở nên gay gắt.

Trên toàn cầu, có 157 quốc gia giáp biển, và mỗi quốc gia đang phát triển kinh tế biển với quy mô và lộ trình khác nhau, tùy thuộc vào khả năng của mình Xu hướng này có thể được lý giải bởi ba nguyên nhân cơ bản.

Với sự gia tăng dân số, không gian sống trên đất liền ngày càng hạn hẹp, nhiều quốc gia đang tìm cách mở rộng ra biển để phát triển kinh tế và cải thiện điều kiện sống.

Tốc độ phát triển kinh tế và gia tăng dân số nhanh chóng đang dẫn đến tình trạng cạn kiệt tài nguyên trên đất liền, trong khi tài nguyên biển lại vô cùng phong phú Ngoài dầu khí, biển còn chứa nhiều khoáng sản quý giá như urani với trữ lượng khoảng 4 tỉ tấn và vàng lên tới 10 triệu tấn, vượt xa trữ lượng trên đất liền Đặc biệt, "băng cháy" - một hợp chất của metan và nước, tồn tại dưới dạng đông lạnh ở đáy biển, có khả năng cháy và cung cấp năng lượng lớn (1m³ tương đương 180 m³ khí thiên nhiên) Ước tính, trữ lượng "băng cháy" chiếm khoảng 10% diện tích hải dương, đủ để phục vụ nhu cầu của nhân loại trong 1000 năm tới.

Hiện nay, sự phát triển vượt bậc của khoa học – công nghệ đã giúp con người nghiên cứu và khai thác biển hiệu quả hơn, dẫn đến tình trạng tranh chấp về biển đảo ngày càng phức tạp Các cuộc tranh chấp như giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ tại đảo Sip, hay giữa Nga và Nhật Bản tại quần đảo Kuril, đã thu hút sự chú ý toàn cầu Biển Đông, với các tranh chấp giữa Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei, hiện đang là khu vực có tình hình căng thẳng nhất do liên quan đến lợi ích của nhiều quốc gia.

Loan là một phần lãnh thổ của Trung Quốc).

Các cuộc tranh chấp biển đảo xuất phát từ vai trò quan trọng của chúng đối với quốc gia trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế và quân sự Việc phân định biên giới trên biển gặp khó khăn do nhiều vùng chồng lấn và các vấn đề lịch sử phức tạp, cùng với những quan điểm khác nhau giữa các nước Nguyên nhân chủ yếu là tham vọng của các quốc gia, đặc biệt là các nước lớn, muốn tận dụng ưu thế kinh tế và quân sự để chiếm lợi ích Hơn nữa, hiện nay chưa có tổ chức nào đủ mạnh và trung lập để giải quyết vấn đề này, ngay cả Liên hợp quốc cũng bị ảnh hưởng bởi các nước lớn.

Kinh nghiệm của một số quốc gia về phát triển kinh tế biển

Nhiều quốc gia nổi tiếng với sự phát triển kinh tế biển, trong đó có các thành phố và trung tâm kinh tế ven biển như New York (Hoa Kỳ), Manchester (Vương quốc Anh) và bán đảo Hồng Kông Tuy nhiên, ba mô hình kinh tế biển nổi bật với sự phát triển ấn tượng trong những năm gần đây là Thâm Quyến (Trung Quốc), Incheon (Hàn Quốc) và Dubai (UAE).

Trước khi trở thành đặc khu kinh tế, Thâm Quyến chỉ là một làng chài thuộc huyện Bảo An, tỉnh Quảng Đông Năm 1979, Trung Quốc thành lập Đặc khu kinh tế Thâm Quyến, đánh dấu bước khởi đầu cho mô hình kinh tế thị trường tại nước này, nhờ vào vị trí gần Hồng Kông và Macau Sự thành công của đặc khu đã thúc đẩy quá trình cải cách kinh tế mở cửa của Trung Quốc Chỉ trong hai thập kỷ, Thâm Quyến đã trở thành một trong những thành phố lớn nhất vùng đồng bằng châu thổ Châu Giang, nơi đây cũng trở thành trung tâm kinh tế quan trọng của Trung Quốc và là phân xưởng sản xuất toàn cầu Đặc khu kinh tế Thâm Quyến có diện tích 2.050 km² với dân số đạt 8,6 triệu người vào năm 2007 và GDP năm 2008 là 780,65 tỷ nhân dân tệ, tương đương với GDP/người hơn 13.100 USD Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm giai đoạn 2001-2005 đạt 16,3% Thâm Quyến, giáp biên giới với Hồng Kông và cách Quảng Châu 160 km về phía Nam, có cảng Thâm Quyến là một trong những cảng bận rộn nhất Trung Quốc, chỉ sau cảng Thượng Hải, và đã thu hút trên 30 tỷ USD đầu tư nước ngoài trong 30 năm qua.

Thâm Quyến đứng thứ 4 trong số 659 thành phố của Trung Quốc về GDP, chỉ sau Bắc Kinh, Thượng Hải và Quảng Châu Thành phố này dẫn đầu về kim ngạch xuất nhập khẩu, đứng thứ 2 về sản lượng công nghiệp, và thứ 3 về thu ngân sách cũng như sử dụng vốn đầu tư nước ngoài Vào cuối thập niên 1990, Thâm Quyến đã phát triển mạnh mẽ với 13 tòa cao ốc cao hơn 200 m, trong đó có tòa nhà Quảng trường Tôn Hinh, cao thứ 8 thế giới Hơn 400 trong số 500 công ty lớn nhất thế giới hiện diện tại đây, cùng với 540 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Thâm Quyến, thu hút 35 triệu nhà đầu tư và 177 công ty buôn bán chứng khoán, với tổng vốn đạt 122 tỷ USD và 600.000 giao dịch mỗi ngày, trị giá 807 triệu USD.

Cảng Thâm Quyến nằm kề cảng Hồng Kông (cách 20 hải lý) Năm

Năm 2005, cảng Thâm Quyến đứng thứ 4 thế giới về khối lượng container với 16,2 triệu TEU Sân bay Thâm Quyến, cách trung tâm thành phố 35 km, cung cấp các chuyến bay quốc tế Hệ thống giao thông hiện đại bao gồm đường sắt và đường bộ kết nối Thâm Quyến với Hồng Kông và các thành phố khác của Trung Quốc Ngoài ra, hai tuyến tàu điện ngầm đã chính thức đi vào hoạt động.

Vào ngày 27 tháng 12 năm 2004, hành trình từ Thâm Quyến đến Chu Hải, Macau và Hồng Kông có thể được thực hiện bằng tàu thủy cao tốc từ sân bay Chek Lap Kok, thuộc đặc khu kinh tế Thâm Quyến.

Thâm Quyến nổi bật với tốc độ phát triển nhanh chóng, quy mô lớn và sự hiện đại, gần gũi với Hồng Kông và Macau, tạo nên thương hiệu đặc trưng cho đặc khu kinh tế ven biển này.

Dubai, thành phố lớn nhất của Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), là một trong bảy vương quốc của quốc gia này Hầu hết các khu kinh tế tự do của UAE đều tập trung tại Dubai, nơi có nền kinh tế lớn thứ hai trong số bảy vương quốc, với chỉ 6% GDP đến từ dầu mỏ Phần lớn GDP của Dubai đến từ các dịch vụ như cảng biển, du lịch và tài chính, trong đó Khu tự do Jebel Ali đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của thành phố.

Dubai đang nổi lên như một điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư toàn cầu nhờ vào các dự án xây dựng lớn và sự phát triển mạnh mẽ của nhiều ngành công nghiệp Thị trường bất động sản tại đây đang phát triển nhanh chóng, cùng với các sự kiện thể thao, hội nghị, hội thảo và nhiều kỷ lục Guinness ấn tượng.

Tháp Burj Khalifa, khởi công năm 2004 và khánh thành vào ngày 4/1/2010, là tòa nhà cao nhất thế giới với 164 tầng và chiều cao 828 mét, vượt qua kỷ lục trước đó của Tháp Taipei Công trình được bao phủ bởi 28.000 tấm kính lớn, với tổng diện tích hơn 500.000 mét vuông dành cho văn phòng và căn hộ cao cấp Burj Khalifa có thể nhìn thấy từ khoảng cách 95 km và được xây dựng bởi liên danh Công ty Công trình và Xây dựng Samsung (Hàn Quốc), tập đoàn BESIX và Arabtec (UAE) với chi phí ước tính 1 tỷ USD.

Khách sạn 7 sao Burj Al Arab, khánh thành năm 1999, được xem là khách sạn sang trọng nhất và cao nhất thế giới với độ cao 321m Thiết kế độc đáo của khách sạn, hình dáng như một thuyền buồm Ả Rập, được thực hiện bởi kiến trúc sư Tom Wright từ Tập đoàn WS Atkins PLC, trở thành biểu tượng cho sự đô thị hoá của Dubai Burj Al Arab có 28 tầng với tổng cộng 202 phòng, diện tích phòng nhỏ nhất là 169m² và phòng hoàng gia rộng nhất lên tới 780m² Giá phòng dao động từ 2.500 USD đến 15.000 USD mỗi đêm, trong khi vé tham quan khách sạn là 60 USD Khách sạn này chủ yếu phục vụ các vị vua dầu mỏ, tỷ phú và các ngôi sao nổi tiếng trong lĩnh vực điện ảnh và thể thao.

Khu thương mại Downtown Burj tại Dubai, với giá trị lên tới 20 tỷ USD, là khu mua sắm lớn nhất thế giới, nổi bật với tháp Burj Khalifa Nơi đây không chỉ có 30.000 căn hộ mà còn sở hữu Dubai Mall, siêu thị lớn nhất thế giới với 1.200 cửa hàng.

The world's largest artificial islands include three palm-shaped islands: Palm Jumeirah, Palm Jebel Ali, and Palm Deira, along with a map-shaped island known as The World.

- Khu trượt tuyết trong nhà lớn nhất thế giới; v.v…

Tháp Burj Khalifa cao nhất thế giới (828 mét)

The UAE boasts 12 free economic zones, with 11 of them located in Dubai, including Dubai International Academic City, Dubai Internet City, Dubai Media City, Dubai Knowledge Village, Dubai Healthcare City, Dubai International Financial Center, DuBiotech, Dubai Outsource Zone, Dubai Studio City, International Media and Production Zone, and Jebel Ali Free Zone These zones are meticulously planned for specialized development, aligning with their respective names.

Dubai International Academic City (DIAC), được khởi công vào năm 2006 và dự kiến hoàn thành vào năm 2012, là trung tâm của khoảng 40 trường đại học và viện nghiên cứu quốc tế Đến năm 2015, DIAC dự kiến sẽ thu hút khoảng 40.000 sinh viên theo học.

- Dubai Internet City (DIC) là một công viên công nghệ thông tin do

Chính phủ Dubai đã thiết lập khu công nghệ thông tin tự do nhằm thu hút các công ty hàng đầu thế giới đầu tư vào nghiên cứu và kinh doanh Mô hình này cho phép người nước ngoài quản lý và vận hành toàn bộ khu vực Hiện tại, khu công nghệ thông tin này đã có hơn 850 công ty với hơn 10.000 nhân viên, bao gồm các tên tuổi lớn như Microsoft, IBM, Oracle Corporation, Sun Microsystems, Cisco, HP, Nokia, Cognizant và Siemens, Nera Telecom.

trạng phát triển kinh tế biển của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Tiềm năng phát triển kinh tế biển của Việt Nam

 Vị trí chiến lược của biển Việt Nam

Việt Nam, nằm ở rìa biển Đông, đóng vai trò quan trọng trong các tuyến hàng hải và hàng không giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, kết nối Châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực Biển Đông là "cầu nối" thiết yếu, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế giữa Việt Nam và thế giới, đặc biệt là với các quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi có nhiều trung tâm kinh tế phát triển Sự xuất hiện của các nước công nghiệp mới với nền kinh tế năng động đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam, chủ yếu thông qua vùng biển và ven biển.

Việt Nam có diện tích hơn 330.000 km², trong đó bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền và hơn 4.200 km² biển nội thuỷ, cùng với hơn 4.000 hòn đảo và bãi đá ngầm Vùng biển của Việt Nam, bao gồm lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế, có diện tích gần gấp ba lần đất liền, lên tới hơn 1 triệu km² 28 trong số 64 tỉnh/thành phố ven biển, với diện tích các huyện ven biển chiếm 17% tổng diện tích cả nước và là nơi sinh sống của hơn 1/5 dân số Bờ biển dài 3.260 km trải dài từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang) và tiếp giáp với các nước như Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei, Thái Lan và Campuchia.

Việt Nam là một trong 10 quốc gia có chiều dài bờ biển lớn nhất thế giới, với ba hướng biển Đông, Nam và Tây Vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam rộng lớn, diện tích vượt quá một triệu km², gấp ba lần diện tích đất liền, bao gồm nhiều đảo lớn nhỏ, gần bờ và xa bờ, kéo dài từ vịnh Bắc Bộ đến vịnh Thái Lan Địa lý tự nhiên và tiềm năng kinh tế của vùng biển này đóng vai trò quan trọng trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Biển Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và mở rộng giao lưu quốc tế, với tiềm năng tài nguyên biển phong phú Nếu được khai thác đúng cách, nguồn tài nguyên này sẽ giúp đất nước trở nên giàu mạnh hơn, đặc biệt là dầu khí với trữ lượng khoảng 3-4 tỷ tấn quy đổi, cùng nhiều khoáng sản khác như than, sắt, titan, cát thủy tinh và hải sản với tổng trữ lượng khoảng 3-4 triệu tấn Vùng biển và ven biển Việt Nam còn nằm ở vị trí chiến lược trên các tuyến hàng hải và hàng không quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hội nhập kinh tế hiệu quả với thế giới.

Vùng biển Việt Nam không chỉ có vai trò kinh tế quan trọng mà còn mang tính chiến lược quân sự đặc biệt đối với các nước trong khu vực và các cường quốc Đây là biên giới phía Đông, là điểm tiếp cận và bàn đạp cho các hành động xâm lược Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và thềm lục địa phía Nam đóng vai trò bảo vệ tổ quốc ở phía Đông Lịch sử cho thấy 10 trong số 14 cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù bắt đầu từ hướng biển Hiện nay, Biển Đông và các đảo vẫn đang diễn ra các tranh chấp phức tạp về chủ quyền, đe dọa an ninh và lãnh thổ của Việt Nam.

Việt Nam sở hữu tiềm năng dầu khí lớn với nhiều bể trầm tích triển vọng, đặc biệt là bể Cửu Long và Nam Côn Sơn, có trữ lượng 3-4 tỷ m³ dầu quy đổi, bao gồm 0,9 - 1,2 tỷ m³ dầu và 2.100 - 2.800 tỷ m³ khí, chủ yếu nằm ở vùng nước sâu xa bờ Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đứng thứ ba về trữ lượng dầu khí, chỉ sau Indonesia và Malaysia Mặc dù nguồn phát hiện chưa lớn, nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn khởi động nền kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước.

 Cảng và vận tải biển

Việt Nam sở hữu hơn 3.260 km bờ biển với nhiều vị trí tiềm năng cho việc phát triển hệ thống cảng biển như Của Ông, Cái Lân, Nghi Sơn, Hòn La, Vũng Áng, Chân Mây, Dung Quất, Vân Phong, và Thị Vải, cho phép thông quan hàng trăm triệu tấn hàng hóa mỗi năm Điều này không chỉ hỗ trợ ngành sửa chữa và đóng mới phương tiện thủy mà còn thúc đẩy các dịch vụ biển phát triển bền vững trong tương lai Mặc dù khu vực từ Vũng Tàu đến Hà Tiên có điều kiện biển nông và nhiều sình lầy, hạn chế khả năng xây dựng cảng lớn, nhưng vẫn có thể phát triển các cảng vừa tại Hòn Chông, Phú Quốc và cảng sông Cần Thơ.

Kinh tế thủy sản đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển bền vững, đặc biệt đối với các cộng đồng ven biển và hải đảo ở Việt Nam Thủy sản, với nguồn tài nguyên tái tạo, dựa vào các hệ sinh thái đa dạng, khẳng định rằng "còn biển, còn thủy sản" Việt Nam sở hữu nguồn lợi thủy sản phong phú với khoảng 11.000 loài sinh vật và 15 bãi cá lớn quan trọng, cùng với các bãi tôm ở vùng biển gần bờ Diện tích trên 37 vạn ha mặt nước lợ ven biển cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản xuất khẩu như cá, tôm, cua, và rong câu.

Hệ sinh thái biển và ven biển của Việt Nam có năng suất sinh học cao, đóng góp chủ yếu vào năng suất sơ cấp của toàn bộ vùng biển Tiềm năng sinh học ước tính từ 1,4 đến 1,7 triệu tấn Đồng thời, trữ lượng cá rạn san hô, khu vực dốc thềm lục địa, vùng biển sâu trên 150m, và nguồn lợi nhuyễn thể hai mảnh vỏ đang được tiến hành điều tra và đánh giá.

Dọc bờ biển Việt Nam có tiềm năng bảo tồn thiên nhiên với hơn 125 bãi biển phát triển du lịch, trong đó trên 20 bãi biển đạt tiêu chuẩn quốc tế như Trà Cổ, Bãi Cháy và Nha Trang Khu vực này còn nổi bật với các di tích lịch sử văn hóa như cố đô Huế và phố cổ Hội An Các bán đảo và đảo nhỏ tạo thành quần thể du lịch độc đáo như Vịnh Hạ Long Bên cạnh đó, các thành phố du lịch và trung tâm thương mại như Hạ Long, Hải Phòng, Đà Nẵng cũng thu hút du khách đến khám phá.

Các khoáng sản quan trọng và có tiềm năng lớn ở vùng ven biển là than, sắt, than, cát thủy tinh và các loại vật liệu xây dựng khác.

Than đá tại khu vực Hòn Gai - Cẩm Phả và các đảo lân cận có trữ lượng khoảng 3 tỷ tấn, cho phép khai thác hàng chục triệu tấn mỗi năm Ngành công nghiệp khai thác than đá này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội của vùng ven biển Đông Bắc Việt Nam.

Than nâu, phân bố ở độ sâu từ 300 đến 1000m tại đồng bằng sông Hồng, kéo dài ra biển, có trữ lượng ước tính lên đến hàng trăm tỷ tấn, là một nguồn năng lượng dự trữ khổng lồ của đất nước.

Than bùn phân bố chủ yếu ven biển các tỉnh như Thanh Hóa, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng và Cà Mau, với sự tập trung lớn tại U Minh, nơi có trữ lượng vượt 100 triệu tấn Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này đang bị suy giảm nghiêm trọng.

Việt Nam đã phát hiện hàng chục mỏ và điểm quặng sắt ven biển, nổi bật nhất là mỏ Thạch Khê với trữ lượng khoảng 580 triệu tấn, chiếm 65% tổng trữ lượng quặng sắt cả nước Mỏ này có hàm lượng quặng sắt đạt từ 60-65%, đảm bảo nguồn nguyên liệu dồi dào cho các cơ sở luyện kim quy mô lớn.

Sa khoáng titan có trữ lượng khoảng 13 triệu tấn, phân bố chủ yếu dọc bờ biển tại các khu vực như Bình Ngọc, Sầm Sơn, Kỳ Anh, Cát Khánh và Hàm Tân Các mỏ titan thường nằm ở những khu vực kinh tế phát triển, với nguồn lao động dồi dào và giao thông thuận tiện.

Thực trạng phát triển kinh tế biển của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

2.2.1Tác động của quá trình hội nhấp kinh tế quốc tế đến kinh tế biển Việt Nam a-Bối cảnh kinh tế thế giới

Trong những năm qua, kinh tế thế giới đã trải qua nhiều biến đổi sâu sắc, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính và bong bóng nhà đất tại Hoa Kỳ, dẫn đến khủng hoảng kinh tế toàn cầu với diễn biến phức tạp Cuộc khủng hoảng nợ công đang lan rộng ở châu Âu, đặc biệt là khu vực eurozone, trong bối cảnh căng thẳng chính trị tại Iran, Triều Tiên-Hàn Quốc, và sự bất ổn ở Đông Âu và Nam Mỹ Các nước châu Á-Thái Bình Dương cũng chịu tác động lớn, với Nhật Bản ghi nhận sự phục hồi nhẹ sau thảm họa thiên nhiên, nhưng đồng yên mạnh lại ảnh hưởng đến xuất khẩu và nhu cầu nội địa vẫn thấp Dự báo kinh tế Nhật Bản sẽ giảm 0,5% trong năm nay, trong khi tăng trưởng của Trung Quốc giảm nhẹ từ 10,4% xuống 9,2%.

Theo Goldman Sachs, tăng trưởng kinh tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã giảm xuống còn 6,3% trong năm 2011, thấp hơn so với dự đoán 6,8% GDP của Trung Quốc đạt 9% trong năm 2011, giảm nhẹ so với dự kiến 9,5%, trong khi tốc độ tăng trưởng của Ấn Độ chỉ đạt 7,8%, thấp hơn so với mức dự kiến 8,5%.

Suy thoái kinh tế toàn cầu đã tạo ra cả thách thức và cơ hội cho sự phát triển kinh tế biển của Việt Nam Mặc dù có những tác động tiêu cực như giảm nhu cầu xuất khẩu, nhưng cũng mở ra triển vọng mới cho việc phát triển bền vững và đa dạng hóa ngành nghề trong lĩnh vực kinh tế biển Việt Nam có thể tận dụng thời điểm này để cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao công nghệ và tăng cường hợp tác quốc tế, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế biển và nâng cao vị thế trên thị trường toàn cầu.

Khi các nền kinh tế phát triển rơi vào suy thoái, các nhà đầu tư thường chuyển hướng sang những khu vực an toàn và có tiềm năng phát triển cao hơn Việc tham gia vào các tổ chức hợp tác ven biển như Diễn đàn kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) và các công ước quốc tế về biển mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội mới Trong khuôn khổ đề án này, chúng ta sẽ tập trung vào các vấn đề liên quan đến Biển Đông, vùng biển có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của đất nước và các hiệp ước, công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

 Vốn quốc tế chảy vào nước có thu nhập thấp

Các nước thu nhập thấp (LICs) đã ứng phó tốt hơn với cuộc khủng hoảng tài chính so với các nước có thu nhập trung bình (MICs) Dòng vốn tư nhân vào các nước LICs vẫn duy trì ổn định, bất chấp sự biến động của thị trường tài chính toàn cầu trong ba năm qua.

Sau khủng hoảng năm 2008, dòng vốn tư nhân vào các nước có thu nhập thấp (LICs) giảm 20%, trong khi các nước có thu nhập trung bình (MICs) giảm 30% Đến năm 2011, dòng vốn vào LICs ước tính tăng 15%, ngược lại với sự suy giảm 10% của MICs Sự phục hồi tương đối của dòng vốn vào LICs chủ yếu do tỷ lệ cao về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), với lĩnh vực tài nguyên là điểm thu hút chính của các nhà đầu tư nước ngoài tại LICs.

Từ năm 2011, dòng vốn ODA lần đầu tiên giảm sau hơn một thập kỷ, với mức giảm 2.7% so với năm trước, đạt 133.5 tỷ USD, theo báo cáo của OECD Vấn đề nợ nần giữa các quốc gia có thu nhập cao và các quốc gia khác đã bắt đầu tác động đến các quốc gia thu nhập thấp (LICs) thông qua nguồn viện trợ ODA.

Năm 1998 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam khi chính thức gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Việc trở thành thành viên APEC mang lại ý nghĩa chính trị và kinh tế sâu sắc cho Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước.

Việt Nam, với tư cách là thành viên của APEC, đã nâng cao uy tín chính trị và tạo ra nhiều cơ hội quý báu cho nền kinh tế từ năm 1993, giúp thực hiện các cuộc gặp song phương cấp cao và tham gia vào việc quyết định những vấn đề quan trọng trong khu vực.

Việt Nam đang mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn, công nghệ hiện đại và kiến thức quản lý thông qua các hoạt động thương mại và đầu tư với các thành viên APEC, bao gồm những nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Canada Các sự kiện hàng năm của APEC, như Hội nghị Thượng đỉnh CEO APEC và Hội chợ Cơ hội Đầu tư, đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối doanh nghiệp Việt Nam với cộng đồng doanh nghiệp khu vực, tạo ra cơ hội hợp tác có lợi cho tất cả các bên.

Vào tháng 12 năm 2004, các nền kinh tế thành viên APEC đóng góp 65,6% tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, đồng thời chiếm 60% tổng giá trị xuất khẩu và 80% tổng giá trị nhập khẩu của quốc gia này.

Việt Nam, với tư cách là một nền kinh tế thành viên đang phát triển, đã tích cực tham gia vào việc thực hiện các mục tiêu của APEC nhằm tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại và đầu tư để thúc đẩy sự thịnh vượng khu vực Đặc biệt, vào năm 2003, Việt Nam đã đề xuất sáng kiến thành lập Quỹ hỗ trợ APEC cho các Doanh nghiệp Nhỏ và Xúc tiến Đầu tư Nội khối APEC.

Năm 2003, Tuần lễ APEC tại Hà Nội đã nâng cao sự hiểu biết và tham gia của người dân Việt Nam vào các hoạt động APEC Đến năm 2005, Việt Nam đã đồng bảo trợ cho sáng kiến tăng cường hoạt động của APEC nhằm ứng phó với dịch cúm gia cầm và đại dịch cúm Để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nhân Việt Nam và các thành viên APEC khác, Việt Nam đã tham gia Chương trình Thẻ thông hành Doanh nhân APEC (ABTC) năm 2005, cho phép doanh nhân từ các thành viên ABTC nhập cảnh nhiều lần chỉ với một visa do một thành viên ABTC cấp.

Năm 2006 đánh dấu cột mốc quan trọng khi Việt Nam tổ chức Hội nghị thượng đỉnh APEC, thu hút hơn 1500 đại biểu, trong đó có 125 đại diện từ các tập đoàn nằm trong Top 500 thế giới Tại Hội nghị Thượng đỉnh các Tổng Giám đốc doanh nghiệp APEC, các đại biểu đã thảo luận về cơ hội, thách thức và định hướng thúc đẩy hoạt động kinh doanh trong khu vực Đặc biệt, Diễn đàn đã tập trung vào việc thúc đẩy thương mại và đầu tư với Việt Nam.

Việt Nam gia nhập WTO đã mở ra nhiều cơ hội kinh doanh, thu hút sự quan tâm của hơn 1000 đại biểu tại hội nghị Nhân dịp này, 06 hợp đồng trị giá 2 tỷ đô-la đã được ký kết giữa các doanh nghiệp Việt Nam và đối tác nước ngoài.

Tổ chức thành công Năm APEC 2006 chúng ta đạt các mục tiêu sau:

- Khẳng định đường lối đối ngoại tích cực hội nhập quốc tế, củng cố hòa bình, tăng cường hợp tác ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương;

điểm phát triển kinh tế biển Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Ngày đăng: 06/09/2023, 15:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w