ĐỀ TÀI BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH LỜI CẢM ƠN Trong quá trình làm khoá luận, nhóm em đã nhận được sự hướng dẫn rất tận tình của Tiến.
Trang 1ĐỀ TÀI: BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm khoá luận, nhóm em đã nhận được sự hướng dẫnrất tận tình của Tiến sỹ Phạm Văn Đại - người thầy luôn dành thời gian chỉbảo cho em những kiến thức cần thiết, những tài liệu tham khảo liên quan đến
đề tài tốt nghiệp Chúng em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc củachúng em đối với sự giúp đỡ quý báu đó của thầy!
Chúng em cũng xin được tỏ lòng biết ơn của mình đến các thầy cô giáokhoa Du Lịch của trường Đại Học Công nghiệp Hà Nội đã dày công giảngdạy, tạo cho chúng em một môi trường văn hóa - giáo dục lành mạnh Nhữngkiến thức các thầy cô truyền dạy cho chúng em trong 4 năm học qua là nềntảng giúp chúng em hoàn thiện bản thân và hoàn thành bài khóa luận này
Chúng em xin gửi tới những người thân yêu lòng biết ơn chân thànhnhất, vì luôn ở bên động viên, giúp đỡ chúng em hoàn thành khoá luận!
Chúng em cũng xin cảm ơn tới các cấp chính quyền tại tỉnh Bắc Ninh
đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em hoàn thành khoá luận này! Và chúng
em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới chính quyền, nhân dân làng Diềm (xã HòaLong, thành phố Bắc Ninh), các nghệ nhân làng Diềm đã tạo điều kiện và chia
sẻ những kiến thức quý báu về dân ca Quan họ để chúng em hoàn thành tốtbài khóa luận
Tuy nhiên, những kiến thức và kinh nghiệm thực tế của em cònnhiều hạn chế, khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót
Em rất mong nhận được sự góp ý của các quý thầy cô giáo!
Nhóm sinh viên thực hiệnViêm Thị Nhung, Nguyễn Kim Phượng,Trương Thị Yến, Nguyễn Thị Hoàng Yến
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bắc Ninh là chiếc nôi của người việt cổ Từ ngàn xưa Bắc Ninh đã nổitiếng là vùng đất địa linh nhân kiệt, vùng đất Kinh Bắc này đã sản sinh chođất nước ta những hiền tài như Lý Công Uẩn, Nguyễn Gia Thiều, Ngô GiaTự, Là nơi có phòng tuyến Như Nguyệt vang mãi bài thơ Nam Quốc Sơn Hàlừng danh, khiến quân xâm lược kinh hồn bạt vía Nơi có những ngôi chùa nổitiếng như chùa Dâu, vùng đất của lễ hội, của các làng nghề truyền thống: Vềvới Bắc Ninh là về với cội nguồn dân tộc, quê hương Bắc Ninh giang sơn tụkhí, với thế đất núi sông hùng vĩ linh thiêng và thơ mộng, nổi tiếng vănchương khoa bảng, đã sinh ra những nhân tài cho quê hương đất nước Nơiđây được ví là vùng đất của:“một giỏ ông Đồ/ một bồ ông Cống/ một đốngông Nghè/ một bè Tiến Sỹ/ một bị Trạng Nguyên/ một thuyền Bảng Nhãn”.Miền quê kinh Bắc còn nổi tiếng với “ đặc sản tinh thần”, chính là dân caquan họ
Dân ca quan họ Bắc Ninh là một trong nhưng di sản văn hóa phi vật thể
có giá trị to lớn với nhân dân Việt Nam và toàn nhân loại Vào lúc 16h55’ngày 30 tháng 9 năm 2009, tại thủ đô Abu Đhabi của các Tiểu Vương quốc ẢRập thống nhất, Ủy ban UNESCO của Liên hợp quốc đã công nhận dân quan
ho Bắc Ninh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại dựa trên cácgiá trị về văn hóa, giá trị lưu giữ tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn, phongcách ứng xử văn hóa, kỹ thuật hát, bài bản, ngôn từ và trang phục Đó thực sự
là viên ngọc quý đã tỏa sáng nhiều thế kỉ trong dòng chảy văn hóa đa sắc màucủa loại hình dân ca Việt Nam Quan họ như một làm điệu hội tụ “ khí chất”của rất nhiều làn điệu dân ca Cái trong sáng rộn ràng của chèo Cái thổn thứcmặn mà của hát dặm Các khoan nhịp, sâu lắng của ca trù Cái khỏe khoắnhồn nhiên của dân ca Nam Bộ Nhưng trên hết “ khí chất” của chính Quan
Họ, là hồn của xứ sở Quan họ, là đặc sản tinh thần của Kinh Bắc- Bắc Ninh
Trang 4Dân ca quan họ Bắc Ninh với 44 làng quan họ truyền thống đã được Unescocông nhận.Đây là làng Diềm, vùng quê thanh bình được coi là thủy tổ của dân
ca quan họ, có giếng ngọc nước trong và ngọt quanh năm đã nuôi nấng baothế hệ, đã làm ngọt làm đẹp bao giọng hát của các liền anh liền chị Đây làHội Lim, lễ hội lớn nhất của tỉnh bắc Ninh, cứ đến 13 tháng giêng âm lịchmời khách xa gần về Tiên Du mà chẩy hội lim mà nghe liền anh liền chị xúngxính áo dài, khăn xếp, duyên dáng áo tứ thân nón quai thao đứng hát với nhautrên thuyền rồng Bảo tồn dân ca quan họ Bắc Ninh giúp duy trì và phát huycác nét sinh hoạt phong phú, từ đời sống tâm linh tín ngưỡng đến nhữngphong tục tập quán, trang phục, lề lối ứng xử, ca hát,…vừa độc đáo, vừa thấmđậm tình cộng đồng, giá trị tốt đẹp của dân ca quan họ nói riêng và văn hóatruyền thống Việt Nam nói chung
Mặt khác, đất nước ta đang ngày càng phát triển, có những chuyển biếnthay đổi về kinh tế, chính trị và xã hội, đặc biệt là thời kỳ đổi mới, mở cửa vàhội nhập Văn hóa truyền thống, đặc biệt là dân ca quan họ đứng trước nhữngthử thách, va đập mạnh mẽ với văn hóa ngoại nhập, những thay đội trong nếpsống,… Chính vì vậy, vấn đề bảo tồn và phát triển di sản văn hóa truyềnthống nói chung và dân ca quan họ Bắc Ninh nói riêng là vấn đề cấp thiết, cầnđược thực hiện tốt hơn bao giờ hết Đảng và nhà nước đã đưa ra các đường lối
và chính sách bảo vệ và phát huy các di sản văn hóa: các điều luật về di sảntại Hiến Pháp năm 1992, ban hành Luật Di Sản 2001, nhằm nâng cao đờisống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế xã hội đất nước
Di sản văn hóa truyền thống nói chung và dân ca quan họ Bắc Ninh nóiriêng còn là 1 trong những nguồn tài nguyên quý báu cho phát triển du lịch
Du lịch hiện nay được ví là “ngành công nghiệp không khói”, theo nghị quyết08-NQ/TW của Bộ chính trị ban hành ngày 16/01/2017 đã chỉ ra phát triển dulịch thành ngành kinh tế mũi nhọn Trong nghị quyết này cũng đã đưa ra quanđiểm như sau:“Phát triển du lịch bền vững; bảo tồn và phát huy các di sản vănhóa và các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bảo vệ môi trường và thiênnhiên; giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và an sinh xã hội; bảo đảm
Trang 5quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội” Để có thể phát triển du lịch, tàinguyên du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng, trong đó có tài nguyên du lịchvăn hóa Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tíchcách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệdân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của conngười có thể được sử dụng cho mục đích du lịch (theo luật du lịch 2017).ViệtNam là đất nước có nền văn hóa lịch sử lâu đời, đất nước với “ 4000 năm vănhiến”, phong tục tập quán, văn nghệ dân gian phong phú, độc đáo,… đây làđiều kiện thuận lợi giúp chúng ta có thể phát triển nhiều loại hình du lịch Dân
ca quan họ Bắc Ninh cũng là một trong những tài nguyên du lịch văn hóa vôgiá, cùng với việc dân ca quan họ Bắc Ninh đã được UNESCO công nhậncàng tạo thêm sự hấp dẫn đối với khách du lịch khi trờ về miền quê Kinh Bắc.Bên cạnh việc bảo tồn dân ca quan họ Bắc Ninh thì việc khai thác di sản vănhóa này trong hoạt động du lịch là vấn đề cũng rất cần được quan tâm Hoạtđộng khai thác này không những tạo ra nguồn lợi kinh tế cho người dân, thúcđẩy du lịch phát triển tại địa phương, mà còn quảng bá về dân ca quan họ BắcNinh tới khách du lịch trong và ngoài nước Tuy nhiên khai thác chúng saocho phù hợp với các hoạt động du lịch, đồng thời không làm mất đi, hay làmbiến chất “thương mại hóa” dân ca quan họ cũng như các giá trị tốt đẹp của
nó Chính vì vậy khai thác phải song hành cùng hoạt động bảo tồn
Nghiên cứu vấn đề “Bảo tồn và khai thác di sản văn hóa dân ca quanBắc Ninh trong hoạt động du lịch” để nhận thấy các điểm mạnh điểm yếutrong việc bảo tồn và khai thác di sản văn hóa nói chung và dân ca quan họBắc Ninh nói riêng, đồng thời nhận biết được mối liên hệ giữ hoạt động khaithác và bảo tồn Từ đó, đưa ra các đề xuất giải pháp cho các hoạt động bảo tồ
và khai thác dân ca quan họ Bắc Ninh, góp phần đưa các di sản văn hóatruyền thống đến gần hơn với mọi người, đăc biệt là thế hệ trẻ hiện nay
Trang 6họ Bắc Ninh nói riêng góp phần bảo tồn di sản một cách tốt nhất.
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Bảo tồn và khai thác di sản văn hóa quan họ Bắc Ninh trong hoạt động
du lịch
3.2 Khách thể
Dân ca quan họ Bắc Ninh
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
-Xác định cơ sở lý luận về bảo tồn và khai thác di sản văn hóa trong dulịch
- Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Bắc Ninh.
- Các làng quan họ: làng Diềm, các làng quan họ huyện Tiên Du…
Trang 7- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3 năm 2018 đến tháng 5 năm 2018
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp lý luận:
+ Phương pháp phân tích tài liệu:
Luận án sử dụng một số tài liệu có liên quan như: các nghiên cứu, bàiviết trong nước và ngoài nước về các chủ đề: bảo tồn giá trị văn hóa, bảo tồngiá trị truyền thống của quan họ, các số liệu thứ cấp, các báo, văn bản của các
cơ quan ban ngành trên địa bàn Tỉnh Bắc Ninh và làng Diềm
Từ đó, tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã đượcphân tích tạo ra một hệ thông lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượngđược nghiên cứu
6.2 Phương pháp điều tra:
+Phương pháp phỏng vấn sâu
Thực hiện phỏng vấn sâu bao gồm: Cán bộ sở văn hóa và thể thao tỉnhBắc Ninh, huyện Tiên Du, nhân dân làng Diềm, khách du lịch từ đó có nhữnghiểu biết về bảo tồn, phát hiện những điểm manh yếu trong khai thác du lịchtại đây
+Phương pháp quan sát
Tác giả sử dụng phương pháp quan sát phi hoạt động đến việc bảo tồngiá trị truyền thống của quan họ Bắc Ninh tại hoạt động cộng đồng của ngườidân (sinh hoạt hàng ngày, vui chơi, giải trí,…), tại các lễ hội (Hội Lim,…), tạicác cuộc thi, hội diễn
Ngoài ra, phương pháp quan sát được sử dụng trên các cá nhân trả lờiphỏng vấn để bổ trợ cho các phương pháp nghiên cứu khác
6.3 Phương pháp toán học:
+Phương pháp xử lý số liệu bằng bảng thống kê:
Trang 8Sử dụng toán thông kê như một công cụ xử lý các tài liệu (xử lý cácthông tin định lượng được trình bày dưới dạng: con số rời rạc, bảng số liệu,biểu đồ, đồ thị, xử lý thông tin định tính bằng biểu đồ) đã thu thập được từ cácphương pháp nghiên cứu khác nhau như: quan sát, điều tra, thực nghiệm…làm cho các kết quả nghiên cứu trở nên chính xác, đảm bảo độ tin cậy.
7 Cấu trúc khóa luận
Đề tài: Bảo tồn và khai thác di sản văn hóa dân ca quan họ Bắc Ninh tronghoạt động du lịch
Khóa luận bao gồm:
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
5 Phạm vi nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
7 Cấu trúc khóa luận
NỘI DUNG:
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC
Trang 9CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Những công trình nghiên cứu, các hội thảo với số lượng bài viết vềQuan họ và vùng đất Kinh Bắc rất phong phú và đa dạng trải qua một thờigian tương đối dài, giúp chúng ta lý giải phần nào vấn đề ở trên Điển hình lànhững nhà nghiên cứu như: Đặng Văn Lung, Hồng Thao, Trần Linh Quýcùng viết trong cuốn “Quan họ - Nguồn gốc và quá trình phát triển” (Nhà xuấtbản Khoa học Xã hội, 1978) Trong cuốn sách này, cả ba tác giả đã căn cứ từnhững tư liệu, tài liệu có nguồn gốc thực tế qua quá trình tìm hiểu các hoạtđộng nghệ thuật của Quan họ, kết hợp giữa lý thuyết và thực tế để đi đến việckết luận nguồn gốc ra đời và phát triển của nghệ thuật Quan họ Nhạc sĩ HồngThao với công trình nghiên cứu, sưu tập bền bỉ “300 bài dân ca quan họ BắcNinh” (Viện Nghiên cứu Âm nhạc, 2002) và “Dân ca Quan họ” (NXB Âmnhạc 1997) Đây là công trình rất có ý nghĩa và chất lượng, là nguồn tài liệuquý giá cho việc tìm hiểu về vùng đất, văn hoá và con người Kinh Bắc quacác bài ca, làn điệu Quan họ cổ Có thể nói công trình này của nhạc sĩ HồngThao như là cuốn bách khoa toàn thư về lời Quan họ cổ, bởi ông đã dày côngsưu tầm, ghi âm, ký âm gần như tất cả các làn điệu Ngoài ra, bạn đọc cònđược cung cấp thêm hàng trăm dị bản khác nhau được tác giả kèm thêm vàomỗi bài ca Hai tác giả Lê Danh Khiêm, Hoắc Công Huynh viết trong cuốn
“Dân ca Quan họ - Lời ca và bình giải” (Trung tâm Văn hoá Quan họ BắcNinh, 2001) với rất nhiều tư liệu, cách đánh giá, tìm tòi sâu rộng Ngoài việccung cấp rất nhiều văn bản lời ca dân ca Quan họ cổ, nhóm tác giả còn cắtnghĩa, giải thích một cách tường tận, dễ hiểu cho bạn đọc các sự vật, hiệntượng được sử dụng trong giao tiếp của người Quan họ cũng như trong lời caDân ca Quan họ Từ đó bạn đọc hiểu sâu hơn về ca từ được sử dụng trong bài
ca, thấy được sự đặc sắc trong văn hoá nghệ thuật Quan họ Tiếp là nhóm cáctác giả Nguyễn Văn Phú, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Viêm, Tú Ngọc rất dày 9công trong cuốn “Dân ca quan họ Bắc Ninh” (Nhà xuất bản Văn hoá ,1961)
Trang 10và Dân ca Quan họ, (Nhà xuất bản Âm nhạc,1997) Đây là những công trìnhnghiên cứu có quy mô tương đối lớn, các tác giả đã thể hiện sự tâm huyết củamình trong tình yêu Quan họ bằng sự dày công sưu tầm, phân tích, đánh giá
đa dạng nhiều chiều Từ nguồn gốc, quá trình phát triển của Quan họ tới phạm
vi ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội xưa và hiện tại Ở đây chúng tacòn được cung cấp thêm về sự khác biệt giữa Quan họ lời cổ và Quan họ hiệnđại, trong mối qua hệ mật thiết giữa văn hoá vùng miền của người Quan họ vàlời ca Từ đó, người đọc sẽ cảm nhận về Quan họ sâu rộng hơn, cảm nhận sựsâu sắc tinh tế trong lời ca hơn và thêm yêu loại hình nghệ thuật này hơn.Ngay trong cuốn “Hà Bắc ngàn năm văn hiến”, tập 3 có tựa đề “Đất nước conngười”, đây là kết quả của hội nghị tổng kết mười bảy năm công tác bảo tồn
và bảo tàng (1956-1973), nhiều tác giả trong hội nghị đã có bài phát biểu sâusắc, thể tình yêu và trách nhiệm của mình với quê hương Hà Bắc, trong đóđáng lưu ý là hai bài viết của tác giả Trần Linh Quý “Làng gốc Quan họ và
bảo tồn, bảo tàng đối với Quan họ” Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tổ
chức hội thảo quốc tế: Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã hộ đương đại
Những công trình, tác phẩm này các tác giả đã khai thác nhiều khíacạnh khác nhau xung quanh dân ca Quan họ Bắc Ninh như: nguồn gốc, đặcđiểm, hoạt động bảo tồn,… tuy nhiên chưa có nhiều công trình nghiên cứu vềkhía cạnh khai thác di sản dân ca Quan họ Bắc Ninh trong dun lịch Khóaluận của nhóm thực hiện tập trung tìm hiểu và nghiên cứu về dân ca Quan họBắc Ninh về góc độ bảo tồn và khai thác di sản trong hoạt động du lịch
1.2 Khái niệm công cụ
Trang 11Theo công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, bảotồn di sản văn hóa phi vật thể là “ các biện pháp có mục tiêu đảm bảo khảnăng tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm việc nhận diện, tư liệuhóa,bảo vệ, phát huy,củng cố, truyền dạy, đặc biệt là thông qua hình thức giáodục chính thức hoặc không chính thức cũng như việc làm sống lại các phươngdiện khác nhau của loại hình di sản này”.
1.2.2 Văn hóa và văn hóa phi vật thể
Khái niệm:
Văn hóa: là 1 hệ thống các giá trị chân lý ,chuẩn mực ,mục tiêu mà con
người cùng thống nhất với nhau trong quá trình tương tác và hoạt động sángtạo Nó đc bảo tồn và chuyển hóa cho những thế hệ nối tiếp theo sau
Văn hóa phi vật thể :là các sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học được lưu giữu bằng trí nhớ, chữ viết và được lưu truyền bằngmiệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác Baogồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn hóa nghệ thuật, khoa học, ngữ văn,truyền miệng diễn xướng, dân gian lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết vềnghề thủ công, truyền thông tri thức về y, dược học cổ truyền, văn hóa ẩmthực, về trang phục truyền thống dân tộc và những trí thức dân gian khác.( theo luật di sản văn hóa)
1.2.3 Di sản văn hóa, di sản văn hóa phi vật thể
1.2.3.1 Di sản văn hóa:
Khái niệm:
Di sản văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do một cộngđồng người sáng tạo và tích lũy trong một quá trình lịch sử lâu dài và đượclưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Theo luật di sản VN, di sản văn hóa là bao gồm di sản văn hóa phi vậtthể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử,
Trang 12văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đặc trưng của di sản văn hóa Việt Nam
+Tính nhân sinh và lịch sử: Văn hoá là hoạt động sáng tạo của conngười, tạo ra những hiểu biết mới, những kinh nghiệm sống góp phần vào sựphát triển xã hội Hoạt động sáng tạo ấy được thu hút vào sự vận động trongđời sống xã hội thì mới trở thành văn hoá Trong thực tiễn đời sống, hoạtđộng sáng tạo của con người diễn ra như một quá trình, tức là ý đồ sáng tạophải được khách thể hoá thành sản phẩm và được truyền đạt đến những ngườixung quanh, được ghi vào “bộ nhớ” của xã hội, rồi trao truyền cho các thế hệtương lai Khi ấy mới hoàn tất quá trình văn hoá, đó chính là tính nhân sinhcủa văn hoá
Thành tựu của hoạt động văn hoá được gọi là tác phẩm văn hoá, nhờtham gia vào quá trình trao đổi và sử dụng trong xã hội, qua sự sàng lọc vàthử thách của thời gian, một bộ phận của tác phẩm văn hoá ưu tú đã đọng lại
để trở thành di sản văn hoá Di sản văn hoá dân tộc là toàn bộ sản phẩm docác thành viên trong cộng đồng dân tộc sáng tạo và thể hiện ra dưới dạngnhững đối tượng vật thể và phi vật thể mang tính biểu tượng, được lan toả (vôthức) và trao truyền (hữu thức) từ cộng đồng này sang cộng đồng khác, từ thế
hệ trước cho thế hệ sau
+Tính giá trị: là cái được xã hội coi là cao quý và đáng mơ ước Các giátrị phổ thông được mọi nền văn hóa chấp nhận là cái đúng, cái đẹp, cái tốt vàcái có ích Di sản văn hoá nào cũng mang ít nhiều những phẩm chất cao quý
đó Đây chính là đặc trưng để phân biệt nó với sản phẩm thông thường khác
+Tính hệ thống: Văn hoá và di sản văn hoá của một cộng đồng, một dântộc được sáng tạo và tích luỹ trong những điều kiện, môi trường nhất định,luôn chịu sự tương tác của môi trường; Văn hoá và di sản của nó đều có cấutrúc, bao gồm nhiều thành phần và bộ phận khác nhau, giữa chúng luôn cómối quan hệ qua lại Cấu trúc của hệ thống di sản văn hoá, cũng như hệ thống
Trang 13văn hoá được những nhà nghiên cứu nhận thức khác nhau với những tiêu chíphân loại khác nhau.
+Tính biểu tượng: Đó là khả năng trình bày, diễn đạt một ý nghĩa trừutượng, sâu sắc bằng một hình tượng cụ thể Nhờ có tính biểu tượng mà vănhóa nói chung và di sản văn hóa nói riêng giàu có, phong phú hơn rất nhiều sovới số lượng các hiện vật hay hình tượng mà một nền văn hóa sản sinh ra
+Tính hiểu biết: Hiển thị ở khả năng sáng tạo và tích luỹ thông tin Nhưvậy, trong di sản văn hoá có chứa đựng vốn kinh nghiệm và tri thức sống củacon người
+ Tính sử liệu: Bất cứ vật thể nào đại diện cho sự kiện lịch sử trọng đại,một giai đoạn lịch sử tiêu biểu, hay một nhân vật lịch sử kiệt xuất đều có thểtrở thành di sản văn hoá Nó ghi dấu ấn của các sự kiện trọng đại đó Ngoài ra
di sản văn hoá còn cung cấp các dữ liệu, sử liệu phản ánh trình độ, quan niệmcủa mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc trong quá trình lịch sử Mỗi một tác phẩm,một hiện tượng văn hóa để trở thành di sản đều được lưu truyền qua nhiềuthời đại lịch sử khác nhau để đến được với hiện đại Do có tính khả biến củavăn hóa mà trên dòng chảy lịch sử các di sản này luôn tích hợp vào bản thânchúng những dấu tích của thời đại Vì vậy chúng chứa trong mình những sửliệu thuộc về nhiều lớp thời gian lịch sử khác nhau
1.2.3.2 Di sản văn hóa phi vật thể:
Khái niệm:
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồnghoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, vănhóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo vàđược lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyềnnghề, trình diễn và các hình thức khác
Theo luật di sản Việt Nam, Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh
thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết,
Trang 14được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thứclưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệthuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếpsống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học
cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và nhữngtri thức dân gian khác
1.2.4 Dân ca
Dân ca là những bài ca không biết ai là tác giả, được truyền miệng từ
đời này sang đời khác, dính liền với đời sống hàng ngày của người dân quê
Dân ca là một loại hình sinh hoạt nghệ thuật dân gian đặc sắc của ViệtNam Trong kho tàng di sản văn hóa nghệ thuật thì dân ca chiếm một vị tríquan trọng Mỗi một vùng miền đều có nhưng làn điệu dân ca riêng, mangđậm nét văn hóa địa phuơng Hiện nay chúng ta còn lưu giữ được hàng ngànlàn điệu dân ca khác nhau Dân ca thường được trình diễn trong những ngàyhội hoặc cả khi đang lao động sản xuất Nhiều làn điệu dân ca của Việt Namrất độc đáo như hát xoan ghẹo Phú Thọ, Hát Quan họ Bắc Ninh, hát Then củangười Tày, hát của người Mường
1.2.5 Khai thác và khai thác di sản văn hóa
Khai thác: là phát hiện và sử dụng những cái có ích còn ẩn giấu hoặc
chưa được tận dụng, tiếm hành hoạt động thu lợi từ nguồn tài nguyên có sẵn
mà chưa được sử dụng
Các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Việt Nam đã trở thành nguồntài nguyên nhân văn vô cùng quý giá để phát triển du lịch bền vững khi Nhànước chủ trương phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn Trongnhững năm qua, di sản văn hóa luôn luôn có vai trò tích cực trong việc bảotồn các giá trị văn hóa và giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dântộc Tiềm năng của các di sản văn hóa đã và đang phát huy mạnh mẽ, đónggóp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Doanh thu du lịch thông
Trang 15qua bán vé các loại hình dịch vụ tại các điểm du lịch có Di sản văn hóa thếgiới ngày càng tăng, góp phần không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế, tạo thêmnhiều việc làm cho người dân.
Khai thác di sản văn hóa trong hoạt động du lịch: phát hiện các giá
trị tiềm năng của các di sản vật thể và phi vật thể, xây dựng các chương trình
du lịch để sử dụng các giá trị đó phục vụ cho phát triển du lịch
1.3 Một số yêu cầu trong hoạt động bảo tồn di sản văn hóa Việt Nam
Di sản văn hóa cần được bảo vệ và phát huy giá trị với tư cách là một
bộ phận cấu thành môi trường sống của nhân loại (môi trường văn hóa xãhội, cái thiên nhiên thứ hai), trong đó lãnh thổ quốc gia, không gian sinh tồn
và hệ thống đô thị và các địa điểm cư dân là những đại diện điển hình nhất
Di sản văn hóa còn được coi trọng và tôn vinh vì đó là loại tài sản quý giákhông thể thay thế, không thể tái sinh, nhưng lại rất dễ bị biến dạng và tổnthương trước tác động của các nhân tố tự nhiên và cách hành xử thiếu vănhóa do chính con người gây ra Môi trường sống của con người có 3 bộ phậncấu thành: môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo và môi trường văn hóa
xã hội, trong đó di sản văn hóa hàm chứa trong bản thân nó cả 3 hợp phần(nơi chúng ta sống - văn hóa vật thể, cách chúng ta sống - văn hóa phi vậtthể và môi trường thiên nhiên quanh ta) Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa
và danh lam thắng cảnh lại bao hàm: các hạng mục kiến trúc, các địa điểmlịch sử; môi trường - cảnh quan thiên nhiên bao quanh di tích và giá trị vănhóa phi vật thể gắn với di tích
Bản chất của hoạt động bảo tồn là giữ gìn, bảo vệ các yếu tố nguyêngốc trong di sản văn hóa Trước hết cần nhận thức di sản văn hóa như là mộtdạng sản phẩm được sáng tạo trong những điều kiện kinh tế, lịch sử và vănhóa cụ thể qua nhiều giai đoạn phát triển Do đó chúng ta cần làm rõ mốiquan hệ giữa di sản văn hóa với các giai đoạn lịch sử mà nó đã được sángtạo để tìm thấy những thông tin, kinh nghiệm và cả bài học lịch sử, trong đóquan trọng nhất là tính nguyên gốc và tính chân xác lịch sử của di sản
Trang 16Tính nguyên gốc gắn với những bộ phận cấu thành của di tích đượcsáng tạo ngay từ lúc khởi dựng ban đầu Còn tính chân xác lịch sử lại gắn vớinhững dấu ấn sáng tạo được hình thành trong quá trình tồn tại của di tích.Như vậy, yếu tố nguyên gốc và yếu tố chân xác lịch sử sẽ quyết định các mặtgiá trị của di tích Yếu tố gốc gắn với sự khởi thủy, sáng tạo ban đầu, tínhnguyên mẫu, nó đối lập với sự sao chép, yếu tố gốc còn là những căn cứ đángtin cậy, ngược với những gì là phỏng đoán hoặc giả thiết Còn tính chân xáclịch sử lại đối lập với những gì là giả mạo hoặc làm giả như thật.
-Đối với di sản văn hóa vật thể, tính nguyên gốc cần được xem xét ở
cả 3 thuộc tính dưới đây:
Tính nguyên gốc biểu hiện ở kiểu dáng, phong cách; về vật liệu, kỹthuật xây dựng và độ tinh xảo trong chế tác thi công; về công năng sử dụng;
về địa điểm xây dựng và về môi trường cảnh quan sinh thái
Tính nguyên gốc liên quan tới sự diễn biến liên tục trong quá trình lịch
sử hình thành và phát triển của di sản Và do đó, trong cùng một di sản vẫn cóthể tích hợp các yếu tố nguyên gốc của nhiều giai đoạn phát triển tạo nên sựhoàn chỉnh của một tổng thể
Tính nguyên gốc gắn với những khoảnh khắc thời gian, thời điểm di sảnđạt đến đỉnh cao về các mặt giá trị: lịch sử, văn hóa và khoa học
Cần xuất phát từ đặc trưng của loại hình di sản văn hóa phi vật thể đểxác định tính nguyên gốc của nó
-Di sản văn hóa vật thể có khả năng tồn tại như một thực thể khách
quan ngoài bản thân con người; ngược lại, di sản văn hóa phi vật thể tiềm ẩntrong bản thân con người và chỉ được biểu hiện ra như một hiện tượng vănhóa nhờ hành vi, hành động (hoạt động diễn xướng) của con người Đặc biệt,
di sản văn hóa phi vật thể chỉ được sáng tạo, bảo tồn và trao truyền bằngphương thức truyền miệng, truyền nghề (bí kíp nghề nghiệp) và thị phạmbằng hành động diễn xướng
Trang 17Về cơ bản, di sản văn hóa phi vật thể bao giờ cũng mang tính chất dângian, tức là chúng liên tục được phát triển và biến đổi tùy thuộc vào điều kiện
tự nhiên và xã hội của các nền văn hóa, các cộng đồng văn hóa địa phương,đồng thời lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và nhu cầu hưởng thụ của chủthể văn hóa
Điều kiện tiên quyết đảm bảo sự tồn tại lâu dài và chuyển giao di sảnvăn hóa phi vật thể từ thế hệ này sang thế hệ khác là nó phải được gắn với đờisống đương đại luôn sôi động của một cộng đồng cư dân nhất định (gia đình,dòng tộc, làng xã ) chứ không phải đông cứng hay hóa thạch trong kho bảotàng Nghĩa là, di sản văn hóa phi vật thể phải tồn tại ngay trong không gianvăn hóa nơi cộng đồng cư dân đã sáng tạo ra nó và tiếp tục cung cấp nguồnsinh khí cho nó tồn tại mãi mãi
Di sản văn hóa phi vật thể thuộc sở hữu cộng đồng và các nghệ nhândân gian, cho nên nó không bao giờ nhất thành bất biến, nó luôn hàm chứanhững nhân tố lịch sử, đồng thời phải mang hơi thở thời đại của các chủ thểvăn hóa và vùng miền văn hóa - nơi nó được sáng tạo và đang được lưutruyền
Trang 181.4 Khai thác di sản văn hóa trong hoạt động du lịch ( làng du lịch văn
hóa)
1.4.1 Các yếu tố chính phục vụ khai thác làng du lịch văn hóa
Sơ đồ 1: Mô hình các yếu tố chính trong khai thác làng du lịch văn hóa
- Yếu tố thứ nhất làng văn hóa du lịch phải có cảnh quan tự nhiên,môi trường sạch đẹp:
+ Cảnh quan thiên nhiên
+ Môi trường cư trú của cộng đồng địa phương
-Yếu tố thứ hai: Làng văn hóa du lịch cần có các di sản văn hóaphong phú và mang tính độ đáo, hấp dẫn du khách:
+ Di sản văn hóa phi vật thể
+ Di sản văn hóa vật thể:
-Yếu tố thứ ba là khai thác các nguồn lực tài nguyên du lịch văn óanhằm phục vụ phát triển du lịch
CÁC YẾU TỐ CHÍNH TRONG KHAI THÁC
DU LỊCH LÀNG VĂN
HÓA
CÁC YẾU TỐ CHÍNH TRONG KHAI THÁC
CÁC DI SẢN VĂN HÓA NGUYÊN DU LỊCH NGUYÊN DU LỊCH NGUỒN LỰC TÀI NGUỒN LỰC TÀI
GIAO THÔNG VẬN TẢI
GIAO THÔNG VẬN TẢI
Trang 19-Yếu tố thứ tư là đảm bảo đi lại cho du khách thuận lợi
Trang 201.4.1.1 Môi trường tự nhiên
Địa hình: Đối với hoạt động du lịch, địa hình của một vùng đóng mộtvai trò quan trọng với việc thu hút khách Địa hình Đồng bằng tương đối đơnđiệu về ngoại cảnh nhưng là nơi tập trung tài nguyên du lịch nhân văn, đặcbiệt là các di tích lịch sử văn hoá và là nơi hội tụ các nền văn minh của loàingười
Khí hậu: Là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển dulịch, nó tác động tới du lịch ở hai phương diện :
+Ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạt động dịch
vụ về du lịch
+Một trong những nhân tó chính tạo nên tính mùa vụ du lịch
Cảnh quan thiên nhiên đẹp: có hệ thống cây xanh, rừng cây, suối, sông,đồng lúa,… đồng thời mang bản sắc đặc trưng của văn hóa từng tộc người,từng vùng, làng quê Việt Nam Đặc trung này phản ảnh cấu trúc không gianvật chất của làng gồm: đường làng, không gian ở, không gian sản xuất (đồngruộng, ao hồ, ) thậm chí ngay các cây trồng ở làng cũng có thể trở thànhnhững đặc điểm để phân biệt các làng du lịch văn hóa với nhau
Môi trường cư trú của dân làng phải đảm bảo yếu tố sạch, hợp vệ sinh (
có nguồn nước sạch, nhà nghỉ phải có công trình vệ sinh, đường làng sạch sẽ,
…) Đồng thời moi trường đó cũng phải an toàn, không có sự cố môi trường, 1.4.1.2 Hệ thống di sản văn hóa
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị văn hóa khoa họclịch sử bao gồm: kiến trúc nhà của, các công trình văn hóa tôn giáo, các ditích lịch sử, danh làm thắng cảnh, các di vật về nghề thủ công, trang phụctruyền thống…
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử vănhóa, khoa học được lưu giữ trong trí nhớ, chữ viết được truyền bằng truyền
Trang 21miệng, truyền nghề,… Di sản văn hóa vật thể tại các làng du lịch văn hóa baogồm lễ hội, phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian, văn nghệ dân gian, trithức dân gian, ẩm thực…
Các di sản này càng hấp dẫn với khách du lịch hơn khi nó khác lạ vớicác làng du lịch văn hóa xung quanh, có sắc thái riêng
Cùng với môi trường du lịch, hệ thống các di sản trở thành nhóm nhân
tố liên quan đến sức hấp dẫn của làng du lịch văn hóa
1.4.1.3 Các nguồn lực tài nguyên du lịch
Đây là nhóm nhân tố gồm những nhân tố liên quan đến việc đảm bảo
du khách lưu lại nở làng du lịch văn hóa Đó là cơ sở phục vụ việc nghỉ ngơi(cơ sở lưu trú như nhà nghỉ, phòng nghỉ,…), các cơ sở phục vụ ăn uống, phục
vụ nhu cầu vui chơi giải trí (xem văn nghệ, lễ hội,…), mua sắm hàng thủ cônglưu niệm, các dịch vụ bổ sung,…
Khai thác các tài nguyên, nguồn lực nhằm đáp ứng nhu cầu xem giải trícủa du khách như tổ chức tham quan cảnh đẹp thiên nhiên tổ chứ lễ hội, sinhhoạt văn hóa, giới thiệu trình diễn văn nghệ dân gian…
Khai thác các nguồn lực, tài nguyên du lịch văn hóa đáp ứng nhu cầunghỉ ngơi, ăn uống Xây dựng các nhà nghỉ, phòng nghỉ mang phong cách dântộc, tổ chức cửa hàng ăn uống, nấu ăn, phòng ăn,…
Tổ chức các dịch vụ phục vụ du lịch khác như dịch vụ cho thuê cáctrang phục truyền thống, quầy bán hàng lưu niệm gắn với các nghề thủ công,
…
1.4.1.4 Giao thông vận tải
Đây là nhóm nhân tố gồm những nhân tố đảm bảo giao thông chokhách đến điểm du lịch (bao gồm những điều kiện đã có và khả năng mở cáctuyến đường mới thuận tiện…)
Trang 22Làng du lịch văn hóa phải nằm trong tuyến du lịch, có thị trường dulịch Yếu tố này rất quan trọng, vì một làng dù tài nguyên du lich văn hóaphong phú nhưng không nằm trong liên kết thị trường du lịch cũng rất khó thuhút du khách Làng du lịch văn hóa cần có giao thông thuận lợi, lối đi sạch
sẽ, dễ dàng di chuyển,
1.4.2 Phân tích SWOT
Mô hình phân tích SWOT là một công cụ hữu dụng được sử dụngnhằm hiểu rõ Điểm mạnh ( Strengths), Điểm yếu ( Weaknesses), Cơ hội( Opportunities) và Nguy cơ ( Threats) đối với một dự án hay hoạt động kinhdoanh Phân tích này bao gồm việc xác định mục tiêu phát triển du lịch tạiđiểm đến, xác định các yếu tố bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng tích cựchoặc tiêu cực đến việc thực hiện mục tiêu
-Điểm mạnh: Những đặc điểm của điểm đến du lịch đã được phát huy
hoặc nên được phát huy để thu hút khách, đặc biệt là khi những đặc điểm này
là lợi thế của điểm đến so với các điểm đến du lịch khác
-Điểm yếu: Các đặc điểm khiến cho điểm đến du lịch kém thu hút hơn
so với các địa điểm khách
-Cơ hội:Những cơ hội đến từ môi trường bên ngoài giúp thu hút thêm
khách và tăng tiêu dùng của khách, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển củađiểm đến du lịch
Thách thức:Những yếu tố bên ngoài môi trường kinh doanh du lịch
-có thể hạn chế sự phát triển của điểm đến du lịch
Mục đích của phân tích SWOT nhằm xác định vị thế cạnh tranh củađiểm đến du lịch, từ đó phát triển sản phẩm du lịch và xây dựng chiến lượcmarketing phù hợp để phát huy điểm mạnh, hạn chế điểm yếu
Bằng việc đánh giá vị thế cạnh tranh cần xác định những đặc điểm nàocủa điểm đến du lịch là: điểm mạnh chính, điểm mạnh phụ, yếu tố trung gian,điểm yếu phụ, điểm yếu chính
Trang 231.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn và khai thác di sản văn hóa
Họ không chỉ góp phần vào hoạt động bảo tồn, mà họ còn là nguồnnhân lực dồi dào cho hoạt động du lịch tại địa phương Họ có thể trử thànhcác nhà cung ứng dịch vụ, các hướng dẫn viên tại điểm, tham gia vào hoạtđộng thực hành các di sản văn hóa phi vật thể,…
-Phong tục tập quán, tín ngưỡng (địa phương): Phong tục là nếp
sống, thói quen, là những lề thói trong xã hội hay 1 địa phương Duy trìphong tục, tập quán tốt đẹp góp phần bảo tồn các di sản văn hóa, đặc biệt làcác di sản văn hóa phi vật thể ( dân ca, lễ hội,…) Phong tụ, tập quán còn tácđộng đến đời sống và nếp nghĩ của mỗi người dân địa phương
Trang 24-Giáo dục và đào tạo: Công tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực
(cán bộ nhân viên) tham gia vào các tổ chức thực hiện bảo tồn di sản vănhóa là rất cần thiết Giáo dục còn nâng cao trình độ hiểu biết của người dân,giúp người dân có thể bài trừ các hủ tục, duy trì các phong tụ tốt đẹp…
- Công ty lữ hành, tổ chức kinh doanh du lịch: Họ đóng vai trò
quan trọng trong việc khai thác các di sản văn hóa vào hoạt động du lịch.Các công ty, đơn vị du lịch dựa vào các di sản văn hóa để xây dựng cácchương trình , sản phẩm du lịch đa dạng phong phú, thu hút du khách cảtrong và ngoài nước, từ đó góp phần phát triển du lịch, phát triển đời sốngcủa cộng đồng địa phương Phát triển du lịch tại địa phương có di sản vănhóa còn góp phần vào việc bảo tồn các di sản này, Tuy nhiên việc khai thácquá mứ, ồ ạt, mang tính thương mại hóa cao có thể làm mất đi các giá trị tốtđẹp vốn có của di sản văn hóa Đây là thách thức của các cong ty, đơn vị tổhức kinh doanh du lịch trong việc khai thác di sản văn hóa phục vụ cho hoạtđộng du lịch
- Hướng dân viên du lịch: Là những người đại diện cho ông ty du
lịch, thực hiện chương trình du lịch cùng khách du lịch Họ là người gópphần quảng bá hình ảnh điểm đến, các di sản văn hóa,… nâng cao hiểu biếtcủa khách du lịch về các di sản văn hóa, và ý thức của khách du lịch thamgia vào hoạt động bảo tồn các giá trị tuyền thống, phong tục tốt đẹp
1.5.2 Các yếu tố khách quan
- Yếu tố ngoại cảnh:
Các yếu tố như cảnh quan thiên nhiên, khí hậu, điều kiện thời tiết,…
có những tác động nhất định trong việc thực hành các di sản văn hóa phi thểnhư: các lễ hội, nghệ thuật ca múa nhạc,…
- Các chính sách của nhà nước và địa phương:
Chính sách phát triển du lịch là chìa khóa dẫn đến thành công trong việcphát triển du lịch Nó có thể kìm hãm nếu đường lối sai với thực tế Chính
Trang 25sách phát triển du lịch được ở hai mặt: Thứ nhất là chính sách chung của Tổchức du lịch thế giới đối với các nước thành viên; thứ hai là chính sách của
cơ quan quyền lực tại địa phương, quốc gia đó Mặt thứ hai có ý nghĩa quantrọng hơn cả vì nó huy động được sức người, căn cứ vào khả năng thực tế tạimỗi vùng, quốc gia đó để đưa ra chính sách phù hợp
Đảng và Nhà nước ta luôn xác định: di sản văn hóa Việt Nam là tài sảnquý giá của cộng đồng Để tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước, nângcao trách nhiệm của nhân dân trong trong việc tham gia, bảo vệ và phát huygiá trị di sản văn hóa, bên cạnh sự tôn trọng các điều luật và Công ước quốc
tế, trên cơ sở đặc điểm riêng của đất nước Nhà nước đã tiến hành soạn thảo
và đưa ra những điều khoản quy định riêng phù hợp với tình hình trong nước.Những điều khoản đó đã đưa thành Luật Di sản, được Quốc hội nướcCHXHCN Việt Nam thông qua
Luật Di sản văn hóa đã có những quy định rõ về bảo vệ và phát huy disản văn hóa phi vật thể ( chương III- luật di sản văn hóa 2001)
Đảng và nhà nước đã đưa ra các chính sách để phát triển du lịch: luật
du lịch 2017, nghị quyết 08-NQ/TƯ về phát triển du lịch thành ngành kinh
tế mũi nhọn,… giúp thúc đẩy phát triển du lịch, hoạt động của các đơn vịkinh doanh du lịch, tạo điều kiện cho các hoạt động khai thác tài nguyên dulich trong đó có di sản văn hóa vào du lịch
- Nền kinh tế:
Một trong mhững yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự phát sinh vàphát triển du lịch là điều kiện kinh tế chung Nền kinh tế chung phát triển làtiền đê cho sự ra đời và phát triển của ngành kinh tế du lịch
Phát triển kinh tế giúp nâng cao và cải thiện đời sống của người dân,góp phần nâng ao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lự cho họađộng bảo tồn di sản văn hóa Tuy nhiên phát triển kinh tế quá nhanh có thểgây những tác động xấu: ô nhiễm môi trường,… trong xu thế kinh tế hội
Trang 26nhập, hiện đại hóa đất nước mang lại nhiều thách thứ trong việc bảo tồn các
di sản văn hóa, đặc biệt là các di sản văn hóa phi vật thể
- Môi trường chính trị-xã hội:
Tình hình chính trị- xã hội cũng có những ảnh hưởng nhất định tớihoạt động bảo tồn Chính trị-xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi choviêjc thực hiện các chính sách bảo tồn di sản văn hóa, không gây sự mâuthuẫn bất đồng trong tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân
Để du lịch không ngừng phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đấtnước, sự phối hợp chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh với các hoạt động dulịch cũng như các ngành kinh tế khác có ý nghĩa cực kì quan trọng Sự bảođảm vững chắc về quốc phòng, an ninh tạo môi trường ổn định cho đất nước
và khách tới tham quan
1.6 Dân ca Quan họ Bắc Ninh
1.6.1 Nguồn gốc của dân ca Quan họ Bắc Ninh
Về nguồn gốc, theo các tác giả Lưu Khâm, Nguyễn Đình Tấn, NguyễnViêm trong “Tìm hiểu nguồn gốc và sinh hoạt Quan họ” cho rằng quan họ
đã có khoảng 12 đời: “12 đời trước có hai người làm quan trong triều, mộtngười quê ở làng Diềm, một người quê ở làng Bịu là bạn thân của nhau từkhi còn làm quan tới lúc về hưu Trong những dịp lễ khao, lễ cưới quantrọng đều mời cả hai họ tới dự và hát những câu hát đúm, một sinh hoạtnghệ thuật dân gian vốn đã có từ xưa kia Từ đó lưu truyền tục lệ này, cứ hộiDiềm tháng 8, hội Bịu tháng 1 người ta lại tụ họp xung quanh một ngọn đènlớn ca hát và Quan họ do đó sinh tên (hai họ nhà quan hát với nhau)” Từ
đó các tác giả cho rằng hát quan họ là hai họ nhà quan hát với nhau
Theo Việt Báo số 1059 (năm 1940), Nguyễn Duy Kiện có ghi lại mộttruyền thuyết như sau: “Đã lâu lắm từ thời thượng cổ nhân dân hai làng LũngGiang và làng Tam Sơn giao hảo với nhau rất thân mật Hễ làng nào có việcquan, hôn, tang, tế,… thì báo cho làng kia biết để dân làng cử vài người làm
Trang 27đại biểu đem đồ lễ sang hoặc biếu hoặc mừng nhà hữu sự Làng Tam Sơnhàng năm cứ tháng giêng có đám lễ vào đám thờ cúng Thành Hoàng, tronglàng mở hội Các cụ bên làng Lũng Giang sang chơi Sáng ngày 13 thángGiêng, họ họp độ năm, sáu, bẩy cụ ông, cụ bà và một số đông nam nữ biết hátquan họ kéo sang Tam Sơn dự hội Bên Tam Sơn cũng cử người ra phù tiếpbạn Sau khi đã ngồi trên dưới theo thứ tự hai làng bắt đầu hát Trai bên nàyhát, gái bên kia đáp, còn các cụ thì ngồi nghe Từ thuở ban sơ cổ đại, hai làng
cứ theo tục này mà di truyền Đó là nguồn gốc của Quan họ.”
Trong “ Bắc Ninh tỉnh khảo dị” có ghi lại: “Làng Viêm Xá kết nghĩavới làng Hoài Bão Viêm Xá mở hội thờ thần vào mùng 4 tháng Giêng vàmùng 10 tháng 8 âm lịch Mỗi lần có hội Viêm Xá mời một đoàn trai HoàiBão sang Sau khi tế lễ song thì tổ chức ca hát Bên Viêm Xá toàn nữ, bênHoài Bão toàn nam Trai gái hai làng hát đối đáp với nhau Dân Viêm Xáquan niệm rằng năm nào làng không cử hành như vậy thì trong làng sẽ xảy ranhiều sự bất an, người- vật bị ốm, mùa màng thất bại, buôn thua bán lỗ, danlàng cãi cộ, trai gái sinh ra tật hư nết xấu Vì vậy mà có hát Quan họ.”
Tác giả Trần Văn Khê căn cứ vào những chuyến điền dã, và qua nghiên
cứu truyền thuyết Trạng Bựu vinh quy về làng, hay quân lính ông Trạng Bựu
“đi kéo gỗ trên ngàn về bị cạn” tại sông Tiêu Tương, “hò hét kéo gỗ rồi sau
cứ lưu truyền mãi với tên Quan họ”, ông tổng hợp và đưa ra con số Quan họ
có khoảng 300 năm
Cũng có thuyết cho rằng quan họ có nghĩa quan là quan quân, họ làđứng lại, vì ngày xưa khi vua nhà Lý (khoảng 1000 năm trước) chạy giặc quaBắc Ninh, nhân dân hát đúm cho quan quân họ lại để vua chạy
Tương tự, theo tác giả Nguyễn Tiến Chiêu, thứ nhất, Quan họ phát sinh
từ thời Lý (1010 - 1025); thứ hai, quan họ xuất xứ từ những làng thuộc tỉnhBắc Ninh, nhất là những làng thuộc huyện Tiên Du, Yên Phong, Từ Sơn; thứ
ba, quan họ thoát thai từ hát đúm hay có liên quan gần xa tới hát đúm, hoặchát đúm là một trong những nguyên nhân đã cấu tạo nên dân ca Quan họ
Trang 28Có truyền thuyết chi rằng: “ có một cô gái lấy củi trên núi Chè, cô cấttiếng hát: “Tay cầm bán nguyệt xênh xang- Bao nhiêu cây cỏ lai hàng tay ta”,lúc ấy chúa Trịnh đang đi kinh lý, trên đường dừng lại nghe tiếng hát cảmphục người đẹp lại có khí phách anh hùng, chúa lấy làm vợ và gọi là bà ChúaChè Bà Chúa Chè tức Đặng Thị Huệ, câu hát hay làm cho quan phải dừng lạinên gọi là Quan họ.”
Những truyền thuyết trên đã cho thấy tâm lý và triết lý dân gian củanhân dân và những điều kiện giúp dân ca Quan họ có khả năng được duy trì
và phát triển tại Bắc Ninh Về nguồn gốc phát sinh quan họ, trong cuốn “ Dân
ca Quan họ Bắc Ninh” cho rằng: “đây là tiếng hát của những người lao độngđầu tiên trên dải đất Bắc Ninh”
Như vậy, qua truyền thuyết dân gian, ít nhất, tên gọi Quan họ được giảithích bằng 4 nghĩa:
- Tiếng hát họ nhà quan
- Tiếng hát quan viên hai họ trong đám cưới
- Tiếng hát hay, làm quan quân họ lại, dừng lại
- Tiếng hát giữa hai làng kết chạ, kết họ
1.6.2 Đặc điểm của dân ca Quan họ Bắc Ninh
Dân ca Quan họ là một trong những làn điệu dân ca tiêu biểu củavùng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc Việt Nam Nó được hình thành và pháttriển ở vùng văn hóa Kinh Bắc xưa, đặc biệt là khu vực ranh giới hai tỉnh Bắc
Giang và Bắc Ninh ngày nay với dòng sông Cầu chảy qua được gọi là "dòng sông Quan họ".
Quan họ Bắc Ninh là một loại hình sinh hoạt văn hóa âm nhạc độc đáo,không chỉ mang đặc trưng riêng của vùng quê Kinh Bắc mà còn mang đậmdấu ấn văn hóa của của vùng đồng bằng Bắc Bộ Giá trị di sản văn hóa quan
họ được thể hiện trên hai khía cạnh cơ bản, đó là âm nhạc và trang phục Nét
Trang 29đặc trưng của âm nhạc quan họ là hát đối đáp giữa một bên là liền anh và mộtbên là liền chị trong không gian văn hóa Quan họ.
1.6.2.1 Một số điểm trong giao tiếp Quan họ:
Dân ca Quan họ là hát đối đáp nam,nữ, thời xưa người ta gọi là “chơiquan họ” Hát Quan họ gắn liền với tục kết chạ, tục kết bạn giữa các bọnquan họ,tục “ngủ bọn” Muốn đi hát quan họ phải có bọn: bọn nam hoặc bọnnữ.Trong một làng quan họ thường có nhiều bọn quan họ nam, nữ Họ tữnguyện rủ nhau thành bọn Mỗi bọn quan họ thường có 4, 5, 6 người vàđược đặt tên theo thứ tự chị Hai, Ba, Tư, Năm hoặc anh Hai, Ba, Tư, Năm.Cũng có bọn quan họ có tới anh Sáu, chị Sáu Hát quan họ có 3 hình thứcchính: Hát canh,hát thi lấy giải,hát hội
Nề nếp Quan họ đòi hỏi mọi người khi đã đến với quan họ đều phảilịch sự, trang nhã từ trang phục, cử chỉ, ngôn ngữ, khi ăn, nói, lúc đứngngồi cho đến miếng trầu, chén nước Cho nên giao tiếp trong ca quan họ làmột mảng giá trị đẹp trong văn hoá lối sống, văn hoá giao tiếp của một thời
- Mời và tiếp khách Quan họ : Một nhóm Quan họ này muốn mời một
nhóm Quan họ đến nhà mình ca hát một canh thì cũng phải biết mời theo lềlối Sau khi đã hẹn trước ngày sẽ sang mời, nhóm đi mời thường đi ít nhất làhai người mang theo một cơi trầu đến làng Quan họ của bạn Khi đến nơi,bên chủ thường đã tụ họp đủ cả nhóm Quan họ ở nhà hẹn nào đấy để đón.Trước nhóm Quan họ và có cả thày, mẹ của anh Hai, hoặc chị Ba (căn nhà
đã hẹn), những người mời phải đặt cơi trầu lên bàn rồi trang trọng nói:
"Năm, năm mới, tháng, tháng xuân, trước là thăm thày, thăm mẹ, chúc thày,chúc mẹ sống lâu, giàu bền, sau là thăm anh Hai, anh Ba, anh Tư, anh Năm,đương (đông) Quan họ liền anh, chúc đương Quan họ liền anh năm mớithêm tài, thêm lộc, sau nữa là ngỏ lời xin phép thày mẹ, mời anh Hai, anh
Ba, anh Tư đương Quan họ liền anh, đến ngày hẹn , đến vui hội cùng làng
em, cùng chúng em ca vui một canh cho vui dân, vui hội, cho chị em chúng
em học đòi đối lối, đôi câu " Thường là Quan họ bạn nhận lời, làm cơm
Trang 30thết bạn và thế nào tối hốm đó cũng "ca dăm câu" để mừng cuộc hội ngộ,sau đó, bên được mời ân cần tiễn đưa bên đi mời một đoạn đường dài khỏilàng mình mới trở lại Sau khi biết bạn nhận lời, bên đi mời về tấp nập sửasoạn: Luyện tập ca hát, lo xếp đặt, trang hoàng căn nhà sẽ là nơi gặp gỡ cahát, lo đóng góp tiền nong mua sắm thức ăn, thức uống, lo người nấu nướngkhéo léo,…
Ðúng hẹn khách đến, bên chủ phải ra tận đầu làng đón khách đưa vềđiểm sẽ hát Với nét mặt hồ hởi, hân hoan thái độ ân cần niềm nở, chủ lấythau, khăn mặt, mời khách đi rửa mặt, chân tay rồi đón khách vào nhà.Trong nhà đón khách đã kê, xếp bàn, ghế, giường phản sạch sẽ, gọn gàngvới đông đảo các bậc cha mẹ, bạn bè cùng mừng vui đón khách Mời kháchuống nước, xơi trầu, chuyện trò thăm hỏi thân tình thắm thiết Nước uốngmời Quan họ, nhiều nơi pha trà ướp hương sen, hoặc hương sói, hươngngâu, hương nhài, hương bưởi Miếng trầu cũng phải bổ miếng cau, lạngmiếng vỏ sao cho mịn đường dao Cau chọn loại vừa đến hạt - Lá trầu tìmcho được là trầu ngon vừa cay vừa thơm Vỏ ngon nhất vẫn là loại vỏ sen,mềm, mịn, dày cùi, vị chát ngọt Nếu trời lạnh, trong miếng trầu têm cánhphượng có cài thêm chút quế hoạch chút hồi cho thêm thơm, thêm nồng,thêm đượm Có nơi nhuộm vôi trắng thành vôi hồng Sau khi mời trầu,nước, Quan họ bắt đầu vào canh hát Ðến chừng nửa đêm, Quan họ chủthường mời Quan họ khách ăn tiệc mặn, hoặc tiệc ngọt hoặc cả hai
- Tiệc mặn Quan Họ: Tuỳ theo từng làng, cũng có những nét riêng.
Nhưng nhìn chung, cỗ mời Quan họ ăn thường là cỗ to, bày ba dàn trênmâm khi mới bưng lên Những món ăn thường là những món trong cỗ ngàyhội, ngày khao: các loại giò (giò nạc, giò mỡ, giò thủ, giò hoa ), măng,miến, mọc, bóng cỗ to nhưng quan trọng nhất vẫn là lời chào cao hơnmâm cỗ Các Quan họ chủ chia nhau ân cần mời mọc Quan họ khách:
"Năm, năm mới, tháng, tháng xuân, mỗi năm có một lần vui hội Thôi thì,bây giờ canh đã quá khuya, anh em chúng em xin mời chị Hai, chị Ba, chị
Tư, chị Năm Quan họ uống chén rượu mừng xuân, mừng hội, vui bàu, vui
Trang 31bạn rồi sau đây lại ca xướng cho tan canh mãn võ, cho tàn đêm ngày đấy ạ" Những làng có tục mời Quan họ rượu thì thường mỗi người bưngmột chén rượu nhỏ mời từng người, vừa mời, vừa hát Nhưng có nơi khôngmời Quan họ uống rượu thì dù bữa ăn có sửa soạn to đến đâu, Quan họ cũnggọi là cơm Quan họ mà không gọi là Cỗ Quan họ Xưa, tục không mời uốngrượu khi mời Quan họ ăn khi hát được các Quan họ ở Diềm và Bịu giữthành lệ
-Tiệc ngọt Quan họ: bao gồm các món bánh ngọt và chè thường làm
vào các ngày hội lệ của làng Có khi có cả cam, bưởi, mía Tuỳ theo từngnơi có các loại bánh: Bánh trưng, bánh giò, bánh gai, bánh mật, bánh xu xê,bánh chè lam ngũ vị, bánh bỏng v.v Các loại chè: chè đường bột lọc, chè
đỗ đãi, chè con ong v.v Ăn xong, Quan họ lại tiếp tục ca hát, và ngay khicác Quan họ khách ăn uống, Quan họ chủ chỉ cử người tiếp, còn các nhómQuan họ khác trong làng vẫn có thể ca hát cùng nhau
- Ngôn ngữ, cử chỉ trong giao tiếp Quan họ :
Ngôn ngữ của người Quan họ là một ngôn ngữ giàu chất thi ca của cadao, tục ngữ, chuyện nôm,… Ngôn ngữ giao tiếp của người Quan họ tuymềm mại, khéo léo, tinh thế, nhiều khi bóng bẩy, lững lờ nhưng khônggợn lên những ẩn ý dối trá, lừa lọc mà đậm đà tình người, sự tôn trọng giữangười và người luôn hướng tới sự giàu đẹp, của ngôn ngữ
Vì vậy, người Quan họ không thích, không chấp nhận sự thô kệch,vụng về trong ngôn ngữ Cho nên, khi các em bé được các anh, chi quan họ
rủ bọn để luyện ca hát thì cũng hướng dẫn các em "học ăn, học nói, học gói,học mở" để sau này giao tiếp trong Quan họ
Người Quan họ cũng rất coi trọng sự lịch thiệp, thanh nhã trong mọiviệc cử chỉ giao tiếp Từ việc đỡ ô, đỡ nón khi đón bạn, nâng cơi trầu mờibạn, nâng chén nước, chén rượu, đến dáng đi, dáng đứng, thế ngồi, cáimiệng, đôi mắt, tư thế khi chuyện trò cùng bạn, gần như đều có chuẩnmực thế này là phải, là duyên, thế kia là không phải, vô duyên Có những
Trang 32người, những nhóm hát hay, thuộc nhiều bài, nhưng cử chỉ giao tiếp kémcũng không có nhiều bạn muốn hát cùng, muốn kết bạn, thậm chí kết bạn rồicũng lại nhạt dần rồi thôi Một chùm hoa bưởi đặt trong cơi trầu, một nhànhhoa sói cài trên mái tóc nép kín vào vành khăn hoặc dấu trong khăn tayvốn
là sự tinh tế của người Quan họ
1.6.2.2 Đặc trưng ngôn ngữ lời ca của dân ca Quan họ
Dân ca Quan họ là loại hình hát đối giọng, thường xuyên ra đời cáclàn điệu mới, cho nên có thể nói nghệ thuật sáng tạo quan họ là nghệ thuậtsáng tác ca khúc Đặc trưng ngôn ngữ đời sống thể hiện qua việc sử dụngphương hư từ và phương thưc trật tự từ Phương thức hư từ sử dụng rộng rãitrong lời ca, khiên sự miêu tả tâm trjang trong lời ca quan họ thêm sinhđộng, mang hơi thở cuộc sống
Lời một bài ca có hai phần: lời chính và lời phụ Dân ca Quan họ chủyếu là nghệ thuật phổ lời ca dao và thơ Nghệ thuật này đòi hỏi phải sử dụngnhững tiếng phụ, lời phụ bên cạnh những tiếng chính, lời chính nhằm làm chotiếng hát trôi chảy, bổ sung ý nghĩa cho lời ca chính, làm cho lời ca themphong phú, linh hoạt, tăng cường tính nhạc của bài ca, phát triển giai điệu,làm cho âm nhạc của bài ca trở nên sinh động, bố cục trở nên hợp lí Khôngdung tiếng phụ, lời phụ, lời ca dễ đơn điệu, mất cân đối
1.6.2.3 Kỹ thuật hát
Có 4 kỹ thuật hát đặc trưng: Vang, rền nền, nảy Hát Quan họ khôngchỉ đòi hỏi hát tròn vành, rõ chữ, mượt mà, duyên dáng, bằng nhiều kỹ thuậtnhư: rung, ngân, luyến, láy mà còn phải hát nảy hạt Kỹ thuật nảy hạt củacác nghệ nhân quan họ tuy có nét chung với lối hát chèo và ca trù nhưng lạirất riêng, khó lẫn Tùy theo theo cảm hứng và thị hiếu của người hát, nhữnghạt nảy có thể lớn nhỏ về cường độ
Trình tự trong canh hát Quan họ
Trang 33Cuộc hát quan Họ được xem là canh hát chính thống thường phải tuân
thủ đủ trình tự các chặng: Lề lối, Giọng vặt và Giã bạn Trong ba chặng hát: Lề lối, Giọng vặt, Giã bạn – mỗi giai đoạn đều có những biểu hiện khác
biệt ở phần nội dung cũng như hình thức cấu trúc bài bản
+Lề lối là các bài quan họ cổ, thường được hát ở nhịp độ chậm, bài bản
có nhiều tiếng đệm, lời phụ Người hát những bài quan họ lề lối phải biết kỹthuật hát vang, rền, nền, nảy, ngắt, rớt mới có thể thực hiện tốt và “đúng chất”quan Họ
+Giọng vặt có số lượng bài bản phong phú, nội dung vǎn học cũng như
ngôn ngữ âm nhạc có sức hấp dẫn nhiều đối tượng thưởng thức âm nhạc trong
và ngoài nước
Nhiều nơi kiêng chữ hát, nên canh hát còn được gọi là canh ca; chẳnghạn: ca một canh Một canh hát Quan họ đúng lề lối xưa thường diễn ra vàomùa xuân hoặc mùa thu, mùa của hội chùa, hội đình làng vào đám, giữanhững nhóm quan Họ nam và nữ mời nhau đến nhà “ca một canh cho vui bàuvui bạn, vui xóm, vui làng, cầu may, cầu phúc”
+ Chặng đầu tiên: Canh hát thường được giữ đúng các lề lối như Quan
họ đã định ra và thường kéo dài từ 7, 8 giờ tối đến 2, 3 giờ sáng Ðôi khi, hộilàng mở nhiều ngày, cũng có những canh hát kéo dài 2, 3 ngày đêm Trình tựmột canh hát đúng lề lối có thể chia thành 3 chặng Trong chặng đầu tiên, saunhững nghi thức giao tiếp giữa quan Họ khách và quan họ chủ, thường là bênnam, bên nữ, Quan họ đi vào chặng đầu tiên Ở chặng hát này, người ta hátnhững giọng cổ cũng gọi là giọng lề lối Truyền rằng xưa quan họ có đến 36giọng cổ đã được ghi nhận trong một bài văn vần theo thể lục bát về tên cácgiọng Nhưng cho đến trước tháng 8-1945 thì chặng hát này thường chỉ hát
chừng 5, 6 giọng: Hừ la, La rằng, Ðương bạn (Bạn lan), Tình tang, Cây gạo, Cái ả…
Các giọng cổ thường mang âm điệu cổ kính, chậm rãi, rền, nẩy, nhiềutiếng đệm lót, mang nhiều dấu hiệu đặc trưng của ca hát Quan họ truyền
Trang 34thống Chặng ca những bài cổ là chặng bắt buộc, được duy trì rất nghiêm, cóthể coi là tiêu chuẩn để đánh giá sự nghiêm chỉnh, đúng lề lối quan họ Khônglàm như vậy sẽ bị chê cười.
+Chặng giữa: tiếp theo sau chặng hát những bài giọng cổ như trên Lúc
này, Quan họ hát sang những bài thuộc hệ thống mà người Quan họ gọi
là giọng vặt Vào chặng ca giọng vặt, không phải ca theo một trình tự bắtbuộc theo thứ tự tên các bài ca Nhưng cũng do tập truyền lâu đời, về đại quát,các canh hát cũng có những trình tự không khác nhau nhiều Trình tự này đã
được người quan họ chỉ rõ bằng một câu nói quen thuộc, cửa miệng:“Quan
họ càng về khuya càng bổng, càng trầm, càng mặn nồng tình nghĩa.”
Nhờ vậy, canh càng về khuya những bài hát thiết tha gắn bó, về nỗinhớ, niềm thương, đôi khi, kể cả những nỗi trăn trở về cuộc đời, về số phậncon người… càng được người Quan họ hát, ca, đối, đáp, khiến canh hát, nóinhư cách nói hôm nay, càng đẩy tới cao trào của tình cảm và sự tài hoa, baylượn, luyến láy của nghệ thuật ca hát Người Quan họ như tỉnh, như say trongtình bạn, tình yêu, tình người trong chặng ca này
+Chặng cuối: Thường diễn ra vào khoảng 12 giờ đêm, 1 giờ sáng, có
thể cuối hoặc gần cuối chặng hát giữa, có lúc người Quan họ mời nhau xơitiệc mặn và tiệc ngọt có nơi uống rượu, có nơi không Nếu nơi có uống rượuthì quan họ chủ thường nâng chén rượu hát bài ca chuốc rượu để mời bạn:
“Đôi tay nâng chén rượu đào
Đổ đi thì tiếc uống vào thời say.
Tay nâng đĩa muối, đĩa gừng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau…”
Xong bữa tiệc và tuần trầu, nước, quan họ cũng có thể hát đối đáp thêmmột số câu nữa rồi chuyển sang ca những bài ca giọng vặt và giã bạn, cũngtức là chuyển sang chặng cuối của canh hát Mở đầu chặng hát này thường làquan họ khách bắt đầu ca một câu giã bạn tỏ ý xin tạm biệt ra về, và, để đốilại (không buộc phải theo lệ đối giọng) quan họ chủ cũng ca bài giã bạn
Trang 35nhưng mang ý níu giữ khách Những bài ca giã bạn được cất lên vào lúc giãhội hoặc vào khi tàn một canh hát, khoảng 2, 3 giờ sáng, trong tâm trạngquyến luyến, bịn rịn, nuối tiếc không nguôi…nên tình, ý, giai điệu, âm thanhbài ca rất xúc động lòng người Những bài ca giã bạn quen thuộc và nổi tiếngcòn lưu hành vẫn là các bài:
“Người ở đừng về Tạm biệt từ đây Chia rẽ đôi nơi
Kẻ bắc người nam Con nhên giăng mùng
Ai xuôi về
Rẽ phượng chia loan Nhớ mãi không nguôi Đêm qua nhớ bạn… “ Tiếp theo là cuộc tiễn đưa nhiều lưu luyến và quan họ hẹn rằng “…đến hẹn lại lên”…
1.6.2.4 Các bài bản dân ca Quan họ Bắc Ninh truyền thống
Dân ca Quan họ Bắc Ninh là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giaiđiệu trong kho tàng dân ca Việt Nam Mỗi một bài Quan họ đều có giai điệuriêng Cho đến nay, đã có ít nhất 300 bài Quan họ đã được ký âm Các bàiQuan họ được giới thiệu mới chỉ là một phần trong kho tàng dân ca Quan họ
đã được khám phá Kho băng ghi âm hàng nghìn bài Quan họ cổ do các nghệnhân ở các làng Quan họ hát hiện vẫn được lưu giữ tại Sở Văn hóa hai tỉnhBắc Giang và Bắc Ninh Cho đến nay không thể biết thật chính xác con số vềlàn điệu, cũng như lời ca Quan họ Số lượng này luôn luôn biến đổi, khi tăng,khi giảm, bởi vì nhân dân không ngừng sáng tạo thêm những làn điệu và lời
ca mới để ứng dụng trong những canh hát kéo dài thâu đêm suốt sáng (songsong với quá trình gọt giũa, trau chuốt chúng về chất lượng nghệ thuật); mặtkhác một số bài Quan họ kém chất lượng tất sẽ bị lu mờ dần qua thời gian thử
Trang 36thách, thậm chí có bài bị đào thải ngay sau khi vừa ra đời, vì ngay từ phút đầu
nó đã không hề được sự hưởng ứng, sự công nhận của những "liền anh, liềnchị" Quan họ Số lượng âm điệu cơ bản (có nghĩa là không kể đến những dịbản) của dân ca Quan họ mà ngày nay chúng ta còn có thể khai thác (phụthuộc phần lớn vào trí nhớ của nghệ nhân) là khoảng 174 Là nghệ thuật dângian, dân ca Quan họ Bắc Ninh có đầy đủ tính truyền miệng và tính tập thể,tính truyền thống và tính sáng tạo, với sự tham gia chỉnh lý, cải biên củanhiều người, ở nhiều nơi, qua nhiều thế hệ trước sau, do đó mà nó có nhiều dịbản Những dị bản trong dân ca Quan họ Bắc Ninh không phải chỉ có sự khácnhau về lời ca, về giai điệu âm nhạc, chúng còn có sự khác nhau về thang âm,
về tiết tấu, về bố cục, về những thủ pháp sáng tạo
Cũng như mọi tác phẩm nghệ thuận dân gian, quá trình sáng tạo mộtbài dân ca Quan họ Bắc Ninh là một quá trình vô tận Ðiều này không phảichỉ vì ý nghĩa nó không giới hạn số lượng người tham gia vào công việc sángtạo, ý nghĩa này có biểu hiện ở chỗ mỗi tác phẩm dân gian thực tế tồn tạikhông phải chỉ qua một "bản gốc" có mang tên tác giả hẳn hoi, mà ở số lượngkhông hạn chế những dị bản Bất kỳ lần biểu diễn nào cũng không thể coi làkết quả cuối cùng trong quá trình sáng tạo một bài dân ca Quan họ Bắc Ninh.Không nhất thiết rằng tác giả của mọi bài dân ca Quan họ Bắc Ninh đều là vôdanh Ðối với một số bài dân ca Quan họ Bắc Ninh được sáng tác vào giaiđoạn cuối (giáp năm 1945), người ta còn biết đến tên tác giả rõ ràng Chẳnghạn, đó là nghệ nhân Tư La cùng nghệ nhân Cả Vịnh ở Thị Cầu đã sáng tácmột loạt bài dân ca Quan họ Bắc Ninh như Con chim Thước, Chè mạn hảo,
Ca đàn, Chia rẽ đôi nơi Nhưng không vì những bài ca này có mang tên tácgiả mà chúng mất đi tính chất sáng tác tập thể Các nghệ nhân của từng vùngkhi hát đã góp phần sáng tạo, cải biên của từng cá nhân mình khi diễn xướngnhững bài ca ấy trong nhiều đám hội hay nhiều canh hát Quan họ
1.6.2.5 Các hình thức diễn xướng dân ca Quan họ Bắc Ninh
Hát đối đáp:
Trang 37Nét đặc trưng của dân ca Quan họ Bắc Ninh gốc chính là ở hình thứchát đối đáp giữa một bên liền anh và một bên liền chị trong không gian vănhoá Quan họ Không có diễn viên và khán giả như các loại hình nghệ thuậtkhác.
Hát hội:
Trong vùng Quan họ, một trong những hoạt động văn nghệ chủ yếu củahội làng là ca hát Quan họ giữa nhiều bọn Quan họ nam nữ Từ ngày 4 thánggiêng âm lịch cho đến ngày 28 tháng hai âm lịch, liên tiếp các hội làng diễn ratrong vùng Quan họ Nam nữ Quan họ cũng tấp nập mời nhau đi các hội làng
" để vui xuân, vui hội, gặp bàu, gặp bạn, ca đôi câu, đôi canh cầu may, cầuphúc" Suốt tháng 8 âm lịch hàng năm, các làng lại có lệ vào đám, ở hội đình,Quan họ lại có dịp mời nhau dự hội, ca hát ở Hội, có 2 hình thức ca hát
+ Hát vui: Hội nào cũng có nhiều nhóm Quan họ kéo đến Hội Lim, có
những năm đông vui, hàng trăm nhóm Quan họ của cả vùng kéo về dự hội và
ca hát cùng nhau Trong đó, có những nhóm đã từng đi ca ở hội nhiều năm,nhưng cũng có nhiều nhóm Quan họ trai, gái, lần đầu tiên được các anh nhớn,chị nhớn Quan họ dẫn đi ca ở hội vừa để thành thạo, mạnh dạn hơn về ca hát,vừa để đi tìm nhóm bạn khác giới, khác làng để kết bạn Cho nên hình thức
"hát vui đôi câu để vui xuân, vui hội, vui bàu, vui bạn" là hình thức ca hátQuan họ chủ yếu ở hội Có thể là đôi nhóm Quan họ nam nữ đã kết bạn hẹnnhau đến hội ca cùng nhau Cũng có thể nhóm nam nữ đã kết bạn mời mộtnhóm nam nữ Quan họ khác cũng đã kết bạn, rồi nhóm nam của nhóm này hátvới nhóm nữ của nhóm kia để "mở rộng đường đi lối lại, học đòi đôi lối, đôicâu".Cũng có thể nhóm anh nhớn, chị nhớn Quan họ dẫn nhóm em bé Quan
họ của mình đi hội lần đầu để tìm nhóm em bé Quan họ của nhóm khác cho
"các em gần bến gần thuyền theo đòi cho kịp anh, kịp em " tạo dịp và bắccầu cho các em bé ca hát cùng nhau Cũng có thể có nhóm Quan họ nào đấy
có một cặp anh Hai, anh Ba, hoặc cặp chị Tư, chị Sáu nổi tiếng có giọng háthay hoặc nổi tiếng có nhiều bài lạ, mới, thì, các nhóm Quan họ khác cũng
Trang 38"đánh đường" tìm đến, xin được ca hát đôi câu để "tai nghe giọng ca, mắtnhìn thấy mặt " cho thoả nỗi ước mong
Tất cả những cuộc hát như vậy toả ra ở khắp đó đây trong hội, làmnên niềm vui và vẻ đẹp đặc trưng của hội ở vùng Quan họ Người Quan họgọi những cuộc hát như vậy là hát vui, ca vui; không phải theo những lề luậtnhư hát thi, hát canh; chỉ cần tuân theo một số điều của lề lối truyền thống:hát đôi, đối đáp nam nữ Trong hát đối vui ở hội cũng không phải đối giọngđối lời mà thường là nặng về đối ý, đối lời để sao cho khi ca lên người ta thấyđược cái tình, cái ý hai bên gắn bó, hô ứng, giao hoà cùng nhau Cũng khôngphải bắt đầu từ những câu giọng cổ mà có thể bắt đầu vào ngay giọng vặt, vàongay một bài nào mà bên hát trước cảm thấy nói ngay được điều muốn nói,hoặc phô diễn được ngay sự thành thạo, khéo léo trong nghệ thuật ca hát củamình Vì vậy, nghe hát ở hội thường dễ nhanh chóng nhận ra những bài háthay, những giọng hát hay Khi trời đã xế chiều, Quan họ sắp phải ra về, cónhiều nhóm quyến luyến cùng nhau, họ tiễn đưa nhau những quãng đường dài
và thỉnh thoảng lại dừng lại ca những câu giã bạn đậm đà tình cảm gắn bó,man mác nỗi buồn chia tay, tạo nên những chiều rã hội rất riêng của hội vùngQuan họ, gây ấn tượng rất sâu, bền vững trong tâm hồn mỗi người
+Hát thi: Không phải hội làng nào trong vùng Quan họ cũng có hát thi
hoặc hát giải Cũng không phải ở một làng nào đấy cứ giữ lệ hàng năm đếnhội là đều có hát giải Tuỳ từng năm, ví dụ được mùa, làng mở hội to, dàingày, Quan họ trong làng náo nức xin dân mời Quan họ các nơi về hát giải ,thì năm ấy, có thể có hát giải trong hội Muốn mở hội hát giải ở một làng thìlàng ấy phải chọn được nhóm quan họ ra giữ giải, để Quan họ các nơi về phágiải hay cũng gọi là giật giải Ðôi khi cũng có làng gần vùng Quan họ, yêumến Quan họ, nhưng trong làng không có Quan họ, mà, vì hội làng đó thường
mở to, đông người, trong đó có nhiều nhóm Quan họ, về dự hội, thì, làng đócũng có thể tổ chức hát thi Quan họ và chọn mời trong số những nhóm Quan
họ xin giữ giải, lấy ra một nhóm giữ giải để nhóm Quan họ khác vào giật giải.Nhóm giữ giải cần phải:
Trang 39- Hát được thành thạo những bài hát Quan họ đã được lưu hành mộtcách rộng rãi trên vùng Quan họ cho đến thời điểm ấy Con số bài bản này cóthể tới trên 200 bài Có như vậy mới mong người ta ca bài nào, mình đối ngayđược bài đó
- Sáng tác và ca được một vài bài mới sáng tác, gọi là bài độc, bí mậtluyện trong nhóm, đến khi vào thi mới ca lên bài đó, hy vọng bên kia không
có bài đối, để giành phần thắng điểm
- Có vốn âm nhạc và thơ ca vào bậc giỏi để hy vọng rằng nếu bên phíanhóm giật giải tung ra bài độc thì có thể nhanh chóng, sau 4, 5 phút đồng hồ(thời gian thông thường để hát xong một bài Quan họ), bắt được làn điệu mới
ấy, ghép ngay vào một đoạn thơ nào đó đã thuộc, tạo nên bài ca đối lại và cangay được bài đó Khả năng này thường hiếm, mỗi thế hệ Quan họ chỉ cóđược một vài đôi đạt tới
Trước ngày thi, làng mở giải phải niêm yết (còn gọi là bố cáo) lời mờicác Quan họ về hội hát giải và thể lệ của hát giải ở trước cửa đình làng Nhómgiữ giải và các nhóm sẽ đi giật giải cũng bắt đầu một đợt ôn luyện đều đặn,kiên nhẫn để hát thạo những bài hát khó, nhất là những bài hát mới được tung
ra trong những hội làng trước đó để giữ chắc phần ít nhất là hoà Từ khả năng
ít nhất là hoà ấy, các Quan họ chỉ định người đặt câu (sáng tác lời thơ) và bẻgiọng (phổ nhạc cho thơ) để có được những bài độc để giành phần thắng Thể
lệ một cuộc hát giải của các làng có thể có những ưu điểm khác nhau về chitiết, nhưng có những nét chung của thể lệ thi hát Quan họ ở hội Trước hết làtrình tự cuộc hát: mở đầu, mỗi bên hát một bài chúc theo giọng La rằng (cũnggọi là giọng sổng) để chúc dân làng Sau đó, chuyển sang giọng lề lối (cũnggọi là giọng cổ) bắt buộc, để khảo xem người dự thi có đủ điều kiện ban đầu
dự thi hay không Khi khảo giọng lề lối bên giữ giải có thể hát trước để bêngiật giải phải đối lại lần lượt đủ cả 5 bài bắt buộc: Hừ La, La rằng, Ðươngbạn, Cây gạo, Cái hời Caí ả Những bài này không tính điểm thi; nhưng nếukhông đối được một bài, thì không được tiếp tục thi Tiếp theo, bên giữ giải
Trang 40có quyền hát trước 5 bài, bất kể bài gì Cứ sau mỗi bài bên giữ giải hát trướcthì bên giật giải phải đối lại đúng cách: đối giọng, đối lời Nếu đối đủ và đúngcách là xong và coi là hoà Xong đủ mười lần hát như vậy, người Quan họ gọi
là đủ năm trên năm dưới Tiếp theo đó, người giật giải được quyền hát trước 5bài và người giữ giải đến lượt phải lần lượt hát đối lại từng bài một Nếu lạiđối đủ và đúng thì hoà, nếu bên nào không đối được bài nào thì coi như làthua điểm Cứ tiếp tục vòng năm trên năm dưới như thế, tuỳ theo hội mở dàihay ngắn Nhưng nhìn chung, nhiều hội chỉ thi ba lượt năm trên năm dưới là
đi vào phân định, thắng, thua Nếu cộng với 2 lượt hát chúc và 10 lượt hát 5bài lề lối thì một cuộc hát thi thường được 21 bài với 42 lượt hát trong khoảngthời gian trung bình 126 phút đến 168 phút đồng hồ, chưa kể thời gian ngừnghát vì những lý do quanh việc hát: gặp bài hát khó hoặc hát mới, khó đối,hoặc tranh luận nghệ thuật về hơn thua v.v Ðôi khi cũng có những cuộc hátkéo dài cả 2,3 ngày hội, nhưng Quan họ đã thoả thuận cùng nhau: đối đápnhững bài thường hát trong một vài ngày cho vui, sau đấy mới sang phần hátthi
Ðể phân định hơn, thua, định giải thi hát Quan họ phải có một ban cầmchịch Ban cầm chịch do làng chọn ra gồm những bô lão am hiểu sau sắc vềluật Quan họ, có đủ trình độ và uy tín để phân định hơn, thua, sai đúng trướcdân và đông đảo Quan họ trong vùng Có thể từ 3 đến 5 cụ, đứng đầu là người
do quan đám - chức vị do dân cử để lo liệu mọi việc ngày vào đám - chỉ định.Hát thi hoặc hát giải Quan họ trong ngày hội thực sự đã đưa hoạt động ca hátvào một cuộc thực hành nghệ thuật lớn hàng năm trên cả các mặt : sáng tạo,diễn xướng, thưởng thức, học tập, phẩm bình nghệ thuật, tiếp tục nâng caotrình độ lên một bước mới cuả tiến trình tồn tại và phát triển Quan họ
Hát mừng:
Xưa khánh thành nhà mới, con cái đỗ đạt bằng cấp, đã đẻ nhiều con gáirồi đẻ được con trai đều có thể ăn mừng Lên thọ tuổi 50, 60, 70, 80 , đỗbằng cấp cao, thăng quan tiến chức thường mở tiệc khao Trong các dịp ăn