1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lịch sử sử học (giáo trình nội bộ)

177 6 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 21,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ sâu xa, sử học với mục đích là tìm hiểu và giải thích hiện thực lịch sử, khám phá ra nguyên nhân của các sự kiện, những mối liên hệ giữa các hoạt động của con người trong các thời đại

Trang 1

HOC VIEN BAO CHi VA TUYEN TRUYEN

KHOA LICH SU DANG

woLes

DE TAI KHOA HOC CAP CO SO

LICH SU SU HOC

(GIAO TRINH NOI BO)

Chủ nhiệm đề tài: TS Phạm Thị Kim Oanh

Hà Nội/2017

Trang 2

Đề tài đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng

Hà Nội, ngày Í C thang nam 20} ?

CHỦ TỊCH HỘI ĐỎNG (Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 3

MUC LUC

ĐẺ CƯƠNG CHI TIẾT MÔN HỌC -iiiseeeeererrree 1

Mở đầu: NHẬP MÔN LỊCH SỬ SỬ HỌC 2-©ce+2zevzrtrrreerrred 7

1.1 Khái niệm Lịch sử sử hỌC - 5-55 S2 S13 E S9 ng ngư 7 1.2 Đối tượng, chức năng và nhiệm vụ nghiên cứu của Lịch sử sử học 8

Chương 1: SỬ HỌC PHƯƠNG ĐÔNG THỜI CÔ - TRUNG ĐẠI 11

| 1.1 Nhận thức lịch sử của con người trong thời kỳ công xã nguyên thủy 1 1

1.2 Sử học phương Đông thời cỗ đại -2 ¿7s ccecreereereesikreeee 12 1.3 Sử học phương Đông thời trung đại - 55555555 cc<c<sccccse 16 Chương 2: SỬ HỌC PHƯƠNG TÂY THỜI CỔ - TRUNG ĐẠI 24

2.1 Sử học phương Tây thời cổ đại 222 c ccc22c222EE2 ccererrree 25

2.2 Sử học phương Tây thời trung đại - 5-55 <5 << ccsssezsees 32

Chương 3: SỬ HỌC THÊ GIỚI THỜI KỲ CẬN ĐẠI cs 42 3.1 Ste hoc thoi Khai sing cccscsccsssscssseccsssseccccessssssessssssssssssseseeseeesesssen 42

3.2 Str hoc tir thé ky XIX dén dau thé ky XX ecccccccssesssseesseesneeees 53 3.3 Sự ra đời và phát triển của sử học mácxít s-cc¿ccsccea 73 Chương 4: SỬ HỌC THẾ GIỚI THỜI KỲ HIỆN ĐẠI -2-csss¿ 85

4.1 Sử học mácxít từ năm 1917 đến nay . 5c cxcrevsexesrecxeee 85 4.2 Sử học tư sản trong thời kỳ hiện đại . - 5- 5< cscccxcreecsees 92

Chương 5: SỬ HỌC VIỆT NAM TU DAU THE KY XI DEN GIU'A THE

KY XIX ieccccccsesccsecececsssscstscsssscevsssesusecsessessussesavavansectesececaseratsesavarsecaens 116

5.1 Sử học thời Lý, TrẦn 2- 5-52 ©vse++xeEEe+kztrxrrrksErxrrrkerred 117 5.2 Sử học thời Lê - ¿-¿-©2+©ke+x9EEEESE32EE1 2E EEEEEETEEEEEExrreererred 126 5.3 Sử học thời Nguyễn - - 2 cscnLE2x S12 ch tr ereereervred 130 _ Chương 6: SỬ HỌC VIET NAM TU NAM 1858 ĐẾN NĂM 1945 145

6.1 Các khuynh hướng sử hỌC - 5 <2<SS< 11s s3 scseesesererxee 145

6.2 Sự hình thành khuynh hướng sử học mácxít ở Việt Nam 151 Chương 7: SỬ HỌC VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 DEN NAY 154

7.1 Sử học g1ai đoạn 1945-11954 -c set HH nga 154

7.2 Sử học giai đoạn 1954-19/75 -sccks re vcerrreerkerevrecsrxee 159 7.3 Sử học giai đoạn 1975 đến nay TH HH ng nirrệp 161 TÀI LIỆU THAM KHẢO 2° + ++ESEEESEEEEEEEEevrvExeerrrrerre 174

Trang 4

DE CUONG CHI TIET MON HOC

1 Thông tin chung về học phan

- Diéu kién tiên quyét: Da hoc xong hoc phan Nhập môn sử học

- Các yêu cầu khác đối với học phần: Lớp học có máy chiếu, có tăng âm, thư viện đủ giáo trình và tài liệu tham khảo phục vụ sinh viên

Trang bị cho người học những kiến thức cơ bản vẻ lịch sử sử học thế giới

và lịch sử sử học Việt Nam Người học được tiếp cận với thành tựu vĩ đại của sử

học thế giới cũng như của sử học Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

Trang 5

- Tu duy hé théng hóa, khái quát hóa và phản biện một cách khoa học về các nhận định, các quan điểm khi nghiên cứu lịch sử;

- Khả năng giao tiếp, làm việc nhóm khi nghiên cứu về sử học Việt Nam

và sử học thế giới qua các thời kỳ

* Thái độ

- Có thái độ khách quan, trung thực trong nghiên cứu lịch sử;

- Có thái độ nghiêm túc, trân trọng lịch sử

- Hoàn thành đầy đủ và có chất lượng những vấn đề trong các nội dung của môn học;

Trang 6

2.1 Sử học phương Tây thời cô đại

3.1.2.Các tác giá, tác phẩm tiêu biểu

3.2 Sir hoc thé ky XIX dén dau thé ky XX

3.2.1 Khái quát sử học châu Au thé ky XIX —

XX

3.2.2 Các khuynh hướng sử học chủ yếu

3.3 Sự ra đời và phát triển của sử học mác

xit

3.3.1 C.Mác và V.ILLênin đối với việc xây

dựng và phát triển nền sử học mácxit

3.3.2 Một số quan điểm sử học cơ bản

Chương 4 Sử học thế giới thời kỳ hiện đại

4.1 Sử học mácxit từ năm 1917 đến nay

4.1.1 Khái quát chung về sử học mácxít

4.1.2 Thành tựu sử học mácxít

4.1.3 Ý nghĩa

Trang 7

4.2 Sử học tư sản trong thời kỳ hiện đại

4.2.1 Khái quát chung

6.1 Hoan canh lich sir

6.1.1 Sử học của các học giả Việt Nam

6.1.2 Sử học của người Pháp

6.2 Sự hình thành khuynh hướng sử học

Mácxít ở Việt Nam

6.2.1 Nguyễn Ái quốc với việc truyền bá chủ

nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam

6.2.2 Một số tác phẩm tiêu biểu

6.2.3 Hoạt động của các trí thức yêu nước,

tiểu tư sản những năm 30-45

Trang 8

7.1.1 Hoan canh lich str

3 Những vấn đề về lịch sử trong tác phẩm Hà Chí Minh, Nxb Đại học

Quốc gia, Hà Nội, 2000

4.2 Học liệu tham khảo

1 Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường: Một số chuyên đề về phương pháp dạy học lịch sử, Nxb Đại học Quốc gia, Hà

Trang 9

Đánh giá định kỳ | Bài kiểm tra viết: Do giáo viên giảng dạy 0.3

tổ chức trên lớp vào giữa hoc phan

Thi hết học phân | Thi viết: Đề thi gôm 2 câu hỏi tự luận 0.6

Thời gian làm bài 120 phút

6 Hệ thống câu hỏi ô ôn tập

Câu 1: Trình bày những thành tựu của sử học Trung Quốc thời kỳ cỗ đại?

Câu 2: Trình bày những thành tựu của sử học Hy Lạp thời kỳ cỗ đại?

Câu 3: Trình bày những thành tựu của sử học La Mã thời kỳ cỗ đại?

Câu 4: Trình bày những thành tựu của sử học Trung Quốc thời kỳ trung đại? Câu 5: Trình bày những thể loại của sử học Trung Quốc thời kỳ cô đại? Nhận xét?

Câu 6: Những nội dung cơ bản bộ Sử Ký của Tư Mã Thiên?

Câu 7: Trình bày sự ra đời và phát triển của sử học mácxít thế kỷ XIX?

Câu 8: Trình bày những thành tựu cơ bản của sử học mácxít đầu thế kỷ XX? Câu 9: C.Mac, F.Ăngghen, V.I.Lênin và sự phát triển sử học mácxít?

Câu 10: Trình bày những thành tựu của nền sử học thời Lý-Trần? Nhận xét? Câu 11: Trình bày những thành tựu sử học thời Hậu Lê? Nhận xét?

Câu 12: Trình bày thành tựu sử học vương triều Nguyễn (1802-185 8) Nhận xét?

Câu 13: Trình bày những thành tựu cơ bản của sử học Việt Nam (1858-1945)?

Câu 14: Trình bày những thành tựu của sử học Việt Nam tir 1945-1975? Nhan xét?

Câu 15: Trình bày những thành tựu của sử học Việt Nam từ năm 1975 đến nay? Nhận xét??

Trang 10

Mé dau: NHAP MON LICH SU sU HOC

Sử học là khoa học chuyên nghiên cứu về lịch sử, về những ghi chép quá khứ, giúp chúng ta tìm hiểu và lưu truyền lại cho các thế hệ sau ký ức của các

thời đại đã trôi qua, vì thế, lịch sử vừa là quá khứ mà cũng là ký ức của quá khứ

Từ sâu xa, sử học với mục đích là tìm hiểu và giải thích hiện thực lịch sử, khám phá ra nguyên nhân của các sự kiện, những mối liên hệ giữa các hoạt động của con người trong các thời đại khác nhau của quá khứ

Sử học là một khoa học và việc nhận thức quy luật là cơ sở của mọi khoa học Khoa học phải đi vào bản chất của sự vật, phải phát hiện những quy luật

khách quan phát triển của thế giới về tự nhiên và xã hội, sử dụng những quy luật khách quan đó vào lợi ích của loài người một cách thích hợp nhất Cho nên,

khoa học lịch sử, mặc dầu đối tượng của nó là những hiện tượng về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội rất phức tạp, nhưng một khi đã trở thành một khoa học thì cũng giống như những khoa học khác, cũng có thể và cẦn phải phát hiện và sử dụng quy luật phát triển của xã hội vào thực tế

Khoa học lịch sử cũng như các bộ môn khoa học xã hội khác đều nghiên cứu một khách thể chung là xã hội loài người Nếu đối tượng của mỗi một bộ môn khoa học xã hội là một mặt cụ thể riêng rẽ nào đây của đời sống xã hội, thì đối tượng của khoa học lịch sử là quá trình phát triển xã hội nói chung, là toàn bộ những hiện tượng của đời sống xã hội, là tất cả các mặt của đời sống xã hội trong mối liên hệ

và tác động lẫn nhau của chúng Trải qua một chặng đường dài lâu, những tri thức ban đầu ấy trở thành khoa học lịch sử, cách ngày nay khoảng 2000 năm

1.1 Khái niệm Lịch sử sử học

Lịch sử sử học ra đời trong quá trình phát triển của khoa học lịch sử, là

một ngành học trong đại gia đình khoa học lịch sử Thuật ngữ «Lịch sử sử học » được hiểu là một khoa học chuyên nghiên cứu lịch sử của khoa học lịch sử, bao gồm: Quá trình hình thành, phát triển thông qua việc tìm hiểu và tích lũy tri thức

lịch sử; việc hình thành các quan điểm, phương hướng nghiên cứu, phương pháp

luận nghiên cứu các tác giả, tác phẩm, các thời đại phát triển của sử học

Lịch sử sử học với tư cách một khoa học thể hiện ở việc tong két những hiểu biết của con người về lịch sử, đạt tới trình độ khái quát hóa, trừu tượng hóa,

Trang 11

đi sâu vào bản chất, phát hiện quy luật của quá trình nhận thức lịch sử, tiếp cận

chân lý khách quan

Hiểu biết về khoa học lịch sử thực chất là một vấn đề hết sức rộng lớn, diễn ra từ lúc khoa học lịch sử được hình thành cho đến ngày hôm nay, với nhiều cơ sở khoa học, nhiều quan điểm nghiên cứu của các nhà chuyên môn và

nhiều cách tiếp cận khác nhau

Trên cơ sở năm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về lịch sử và nhận thức lịch

sử, người học xác định đúng trọng tâm nghiên cứu trong quá trình học tập và nghiên cứu lịch sử nói riêng, quá trình nghiên cứu khoa học nói chung, phương pháp nhận thức lịch sử như thế nào?Về mối tương quan giữa Sử học và các ngành khoa học xã hội nhân văn Đây cũng chính là vai trò quan trọng của môn

học trong việc nâng cao hiệu quả nghiên cứu lịch sử, cũng như nâng cao chất

lượng các công trình khảo cứu lịch sử

1.2 Đối tượng, chức năng và nhiệm vụ nghiên cứu của Lịch sử sử học Mỗi một ngành khoa học có đối tượng nghiên cứu riêng và chức năng, nhiệm vụ được xác định Lịch sử sử học đạt được những thành tựu quan trọng là dựa trên phương pháp luận đúng đăn Phương pháp luận (Methodology) đúng

đắn là làm rõ đối tượng nghiên cứu (Object), chức năng (Duty), nhiệm vu (Mission) và phương pháp nghiên cứu (Method) đồng thời tuân thủ những nguyên tắc cơ bản (Principle) Những yếu tố của nhận thức lịch sử đã có từ lâu, từ lúc |

con người mới xuất hiện, bởi vì “lịch sử bắt đầu từ đâu thì quá trình tư duy cũng bắt đầu

từ đây” Sự nhận thức lịch sử phát triển theo trình độ nhận thức con người nói chung,

_ đặc biệt từ khi lịch sử trở thành một khoa học, thì lý luận sử học cũng dần dần phát triển

Dĩ nhiên, nội dung giải quyết các vẫn đề này lại khác nhau, thậm chí trái ngược

nhau ở các thời kỳ lịch sử, ở các giai cấp khác nhau

1.2.1 Đối tượng của Lịch sử sử học

Vấn đề quan trọng trước hết là phải xác định đối tượng của lịch sử sử học

là gì, cân trả lời câu hỏi cụ thể “Lịch sử sử học nghiên cứu cái gì?”?, để xác định

"C Mac Ph Angghen: Tuyén tap, Nxb Sy That, Ha N6i, 1962,tr.304

Trang 12

mục đích, nội dung và phạm vị nghiên cứu không trùng lặp với các khoa học

khác Giải quyết đúng các vấn đề như vậy, các nhà sử học cần xác định đúng quan niệm về đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của lịch sử sử học là quá trình ra đời, phát triển của khoa học lịch sử Quá trình phát triển của sử học trở thành một khoa học phải trải qua một thời kỳ lâu dài, tính từ khi con người xuất hiện, cách ngày nay khoảng 3 đến 4 triệu năm và có sự nhận thức lịch sử Vì vậy, lịch sử sử học phải nghiên cứu việc nhận thức lịch sử từ khi nó trở thành một khoa học trong xã hội

có giai cấp đầu tiên Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng không thể bỏ qua thời

kỳ xã hội chưa có giai cấp, vì con người trong thời kỳ nguyên thủy cũng có sự

nhận thức lịch sử, dù đó chỉ là những yếu tế tri thức dưới hình thức các bản anh hùng ca, dân gian, truyền miệng

Cũng như các khoa học khác, đối tượng của lịch sử sử học là hiện thực, vận động hợp quy luật, đa dạng và muôn màu muôn vẻ

1.2.2 Chức năng của Lịch sử sử học

Bat cứ khoa học nào muốn tồn tại và phát triển đều phải phục vụ lợi ích của con người, của xã hội Tri thức lịch sử có vai trò quan trọng, vừa là phương tiện bồi dưỡng kiến thức, vừa có tác dụng giáo dục trí tuệ và tình cảm Tri thức lịch sử là một trong

những bộ phận quan trọng nhất của nền văn hoá nhân loại, không hiểu biết lịch sử thì

không thể xem là con người có văn hoá toàn diện, sâu sắc và không thể xem việc giáo

dục con người là hoàn thiện và đầy đủ

Lịch sử quá khứ gắn với hiện tại, kinh nghiệm, bài học của quá khứ rất quý báu

và bồ ích cho cuộc sống ngày nay và mai sau Song phải biết sử dụng những hiểu biết

về quá khứ cho thực tiễn sinh động, phong phú và đa dang

Lịch sử là một khoa học có sứ mệnh thiêng liêng là làm cho con người biết quá khứ, trên cơ sở đó hiểu sâu sắc hiện tại, tăng sức mạnh cho hiện tại và tiên đoán được sự phát triển của tương lai, để từ đó có hành động đúng phù hợp với quy luật

Do vậy, cùng với khoa học lịch sử, lịch sử sử học có những chức năng cụ thể:

- Chức năng nhận thức: hiểu biết quá khứ, phản ánh khoa học hiện thực khách quan, nhận thức quy luật

Trang 13

- Chức năng giáo dục: nêu gương, giáo dục đạo đức, lý tưởng cách mạng, rèn luyện phẩm chất Giáo dục truyền thống của dân tộc

- Chức năng dự báo: dự báo chiều hướng phát triển của lịch sử

1.2.3 Nhiệm vụ của Lịch sử sử học

Do chức năng của lịch sử sử học và tình hình nhiệm vụ chính trị cụ thể của mỗi giai đoạn lịch sử quy định mà sử học có những nhiệm vụ cụ thể Đặc điểm của khoa học mácxít là không những giải thích thế giới mà còn góp phần xác định con đường cải tạo

thế giới như các khoa học khác |

Thứ ba, tìm hiểu tác dụng của sử học đối với sự phát triển của xã hội loài

người nói chung, của mỗi thời kỳ, mỗi dân tộc nói riêng

Thi tu, tìm hiểu những khuynh hướng, tư tưởng, quan điểm của một nền

sử học, những cuộc đấu tranh trên lĩnh vực sử học giữa các giai cấp khác nhau

Thứ năm, đánh giá những điểm chung của các nền sử học (tích lũy phương pháp sưu tẦm tư liệu, các phương pháp, kỹ năng nghiên cứu lịch sử); đánh giá sự

Thi sáu, ghi chép về cuộc đời sự nghiệp của các nhà sử học; đánh giá các công trình nghiên cứu sử học tiêu biểu theo các quan điểm khác nhau

Việc nghiên cứu lịch sử sử học góp phân tích cực vào việc đây mạnh và

phát triển của khoa học lịch sử, giúp các nhà sử học hiện nay và các thế hệ nghiên cứu rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích về phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu chuyên ngành

Trang 14

Chuong 1

SỬ HỌC PHUONG DONG THOI CO - TRUNG ĐẠI

Ngay từ khi mới xuất hiện, con người đã có ý thức về nguồn gốc, tổ tiên,

quê hương, dòng họ của mình Có thể xem đây là những nhận thức sơ khai về lịch sử, như Ph.Ăngghen đã khẳng định: Lịch sử bắt đầu từ đâu thì quá trình tư

duy của con người bắt đầu từ đấy Song, từ những nhận thức lịch sử đầu tiên đến khoa học lịch sử là một chặng đường tất dài Sử học chỉ mới ra đời khoảng 2.000 đến 3.000 năm, khi xã hội đã có giai cấp, còn lịch sử tồn tại của xã hội

loài người đã có khoảng từ 4 đến 5 triệu năm

1.1 Nhận thức lịch sử của con người trong thời kỳ công xã nguyên thủy Trước khi có văn tự, một số kiến thức, quan niệm về lịch sử đã có trong các

câu chuyện truyền miệng của mọi dân tộc Là sản phẩm của tư duy, phản ánh

những quan niệm của tập đoàn người về bản thân mình, về các sự kiện lịch sử lớn, về mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, các bản anh hùng ca dưới hình thức văn học, thần thoại thường mô tả những sự kiện lịch sử Ngay sự lựa chọn sự kiện (quá trình lao động, đấu tranh với thiên nhiên, quan hệ giữa con người trong tập đoàn, sự thay đổi trong cơ cấu xã hội ) đã nói lên quan niệm của người xưa về nhận thức lịch sử Phân tích các chuyện cô tích Việt Nam; các ban anh hing ca “Mahabarata’, “Ramayana” (An Độ), “Kinh Thị ”(Trung Quốc), “7/47 và Ôãixê "(Hy Lạp), những bài “Tráng sĩ ca” (Nga) có thể tìm được dấu vết cảm nhận về những gì đã xảy ra trong lịch sử

Tiền đề quan trọng nhất cho sự xuất hiện các câu chuyện về quá khứ là sự nhận thức thời gian Thời gian được quan niệm như một quá trình liên tục và

| không quay trở lại (các câu chuyện cổ tích, dân gian, truyền miệng đều bắt đầu bằng câu “Ngày xửa, ngày xưa”; “Đã lâu lắm rồi ” _

Tiếp đó, sự phát minh ra chữ viết đóng vai trò quan trọng trong việc nhận thức được sự vận động của thời gian

Do đó, các câu chuyện thần thoại, truyền thuyết, cỗ tích là một sử liệu quý Qua nội dung của các loại hình văn học dân gian cỗ xưa này, các nhà nghiên cứu, dạy học lịch sử có thể tìm thây nhiêu tài liệu quý vê cuộc sông của

Trang 15

người đời trước Trong các câu chuyện ấy, chúng ta tìm thấy sự mô tả hiện thực

xã hội, những nhận thức, ước mơ của người xưa một cách rõ rệt, tuy nó được bao phủ những quan niệm thần bí Tước bó cái vỏ thần bí ấy sẽ tìm thấy những chất liệu phản ánh hiện thực lịch sử Thái độ đúng đắn khoa học của người học tập, nghiên cứu lịch sử không phải bác bỏ hoặc sử dụng nguyên xi các tài liệu văn học dân gian như vậy, mà phải biết phân tích, lựa chọn, rút ra các tài liệu lịch sử chân thực

1.2 Sử học phương Đông thời cỗ đại

Việc chuyển từ xã hội không có giai cấp sang xã hội có giai cấp, nhu cầu của giai cấp thống trị về việc sử dụng kiến thức làm một công cụ, vũ khí để khống chế, đàn áp về mặt tỉnh thần nhân dân bị trị, sự xuất hiện của chữ viết, đã

giúp cho việc tích luỹ kiến thức được nhiều hơn, tốt hơn Trong xã hội có giai

cấp, một số người trong tầng lớp thống trị có điều kiện vật chất (không phải lao động mà vẫn sống sung sướng, do bóc lột lao động) và dành cho mình quyền biên soạn lịch sử để phục vụ cho chế độ xã hội có áp bức Như vậy, từ việc nhận thức chung của mọi người trong xã hội, lịch sử trở thành độc quyền của một số ít người Tuy vậy, nhân dân lao động vẫn ghi nhớ, kể chuyện, giáo dục lịch sử cho

thế hệ trẻ và đương nhiên hình thành những quan điểm nhận thức khác nhau về

lịch sử của người bị trị và kẻ thống trị Cuộc đầu tranh giai cấp trong xã hội kéo theo việc đấu tranh trên lĩnh vực nhận thức lịch sử

Sử học (của giai cấp thống trị) được hình thành trong xã hội có giai cấp, trong xã hội chiếm hữu nô lệ và thể hiện quan điểm tư tưởng của giai cấp thống trị Chúng ta có thể tìm thấy nhiều tài liệulịch sử trong các văn kiện của vua Sume, Acát, trong các văn tự thời Ân - Thương (Trung Quốc), các bảng biên

niên sử thời kì sơ kì ở Ai Cập, những tài liệu lưu trữ của nhà thờ và tư nhân Những tài liệu này rất quý, vì nó ghi lại những sự kiện đương thời Song, việc

lựa chọn và giải thích sự kiện lịch sử trong các loại tài liệu nêu trên đã mang tính

chất giai cấp rõ rệt, nhằm phục vụ cho giai cấp thống trị Chẳng hạn, tài liệu thời

kì cổ vương quốc va Trung vương quốc ở Ai Cập ca tụng chiến công của Pharaông trong các cuộc chiên tranh xâm lược

Trang 16

Giáo lý của các tôn giáo cũng ảnh hưởng rất nhiều trong việc mô tả và giải thích lịch sử; mọi hiện tượng lịch sử được giải thích bằng “ý trời”

Do điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể ở các vùng khác nhau trên thế giới mà cũng hình thành các nền sử học khác nhau ở phương Đông và phương Tây

Ở các nước phương Đông cổ đại, sử học đã sớm ra đời và phát triển, tiêu

biểu như sử học cổ đại Trung Quốc và An Dé Tuy vậy, ở các nước cổ đại

phương Đông khác cũng đã sớm có lịch sử, giúp cho sử học phát triển Thời kỳ

nay, ở các nước này đã xuất hiện nhiều hình thức biên soạn lịch sử, như biên

niên sử, tiểu sử, tự truyện

1.2.1 Sử học Trung Quốc cổ đại |

Khoảng 2.000 năm TCN, xã hội có giai cấp đầu tiên và nhà nước Trung Quốc hình thành trên lưu vực sông Hoàng Hà Cư dân cỗ Trung Quốc là những người có nhiều kinh nghiệm làm thủy lợi, trồng kê, cao lương, đệt vải, đúc © đồng Nhà vua đầu tiên, theo truyền thuyết của người Trung Quốc, có công trong việc trị thuỷ là vua Vũ

Trong quá trình phát triển, giai cấp thống trị Trung Quốc xâm chiếm đất đai, mở mang lãnh thổ của mình ở khu vực sôngDương Tử Quyền lực của giai cấp thống trị được mở rộng, bao gồm địa chủ, quý tộc, quan lại (vương hầu, tôn thất, quan lại lớn trong triều đình ) Trong bộ máy chính quyền ấy có các quan

chuyên lo việc giấy tờ của triều đình Họ cũng có nhiệm vụ ghi chép các sự việc

xảy ra chủ yếu trong cung đình, gọi là sử quan

Theo đạo lý của các nhà nho học thời bấy giờ, những sử quan cố giữ được

khí tiết của mình là thà chết chứ không chịu chép sai sự thực, dù bị đe dọa, trấn

áp Tiêu biểu là câu chuyện về những nhà chép sử thời Xuân Thu (ti thé ki VIL đầu thế ki V TCN) Nhưng nhìn chung, các sử quan vì “ăn lộc triều đình” luôn

luôn trung thành với nhà vua, ghi chép mọisự việc có liên quan đến đời sống của

nhà vua, mà phản ánh rất ít đời sống của xã hội, của nhân dân

Trong tình hình các chư hau của nhà Chu gây chiến tranh để tranh giành quyền lực, xã hội Trung Quốc cổ đại vô cùng hễn loạn, nhân dân khổ cực, trật

tự, kỉ cương bị đảo lộn lớn Vì vậy, Không Tử (tên là Khâu, hiệu Trọng Ni, sống

Trang 17

vào những năm 551 - 479 TCN) người nước Lỗ, đã đề ra một số cải cách xã hội,

lấy “nhân” và “lễ” làm hạt nhân tư tưởng chính trị của mình Theo Khổng Tử,

“nhân” là lòng thương yêu con người; còn “lễ? là khuôn phép xã hội trong vòng

kỉ cương, trật tự Để góp phần vào việc giữ gìn trật tự phong kiến, Khổng Tử nêu một số tắm gương đạo đức, nghĩa hiệp trong quá khứ để răn dạy người

đương thời và tập hợp trong bộ kinh “Xuân Thu”

“Xuân Thu” vốn là cuỗn sử của nước Lỗ Goi la “Xudn Thu” vì lịch sử

được chép theo thể biên niên với yếu tố thời gian là hai mùa xuân, thu Trên cơ

sở cuốn sử này, xuất phát từ quan điểm chính trị của mình, Khổng Tử đã thêm bớt, chỉnh lý, đánh giá lại các sự kiện lịch sử từ Lỗ Ân Công (722 TCN) đến Lỗ

Ai Công (481 TCN) Ngoài ra, ông còn chép một số chuyện của nhà Chu và các nuéc chu hau Xudn Thu con tap hợp một số tắm gương đạo đức, nghĩa hiệp

trong quá khứ để răn dạy người đương thời, thể hiện rõ quan điểm “ôn cố nhi tri

tân”, nhằm lấy chuyện xưa để dạy người đời nay theo quan niệm của Khổng Tử

Tư tưởng chủ yếu của Kinh Xuân Thu bao gồm: "chính danh tự"; "định danh phận"; “ngụ bao biếm" Trong Kinh Xuân Thu, ranh giới, thứ bậc của xã hội được phân định một cách tuyệt đối, rành mạch Sự phân định còn được biểu hiện

trong từng từ ngữ của tác phẩm; chẳng hạn như khi thiên tử chết thì gọi là

“băng”, vua chư hầu chết gọi là “hoẵng”, vua cướpngôi chết gọi là“tŠ”, kẻ nịnh thần chết gọi là “tử”, hoặc vua Sở và vua Ngô tự xưng là “Vương” thì Kinh Xuân Thu hạ xuống gọi là “tử” Điều này không chỉ thể hiện mục đích “ôn cố

tri nhi tn” ma Khổng Tử còn thể hiện rất rõ quan điển của mình là viết sử để phục vụ chế độ đương thời, tôn sùng nhà vua, phân biệt rõ các tầng lớp trong xã

hội, từ vua, quần thần đến thứ dân Vì vậy, khi đánh giá về “Kinh Xuân Thu"của

Khổng Tủ, nhà sử học Tư Mã Thiênđời Hán đã viết: “Cái nghĩa của Kinh Xuân

Thu được thi hành thì bọn bẩy tôi làm loạn và bọn giặc trong thiên hạ phải sợ”

Ngoài Xuân Thu, trong “Kinh Thi", cac quan 4m nhạc đờiChu còn ghi chép các bài hát dân gian từ đời Thương cổ đếnđời vua Bình Vương nhà Chu Những bài ca này không chỉ có giá trị văn học mà còn là nguồn sử liệu quý giá về cuộc

sống của các tang lớp nhân dân Trung Quốc từ thoi Tay Chu (thé ki XI - VII

Trang 18

TCN), đến giữa thời Xuân Thu (thé ki VI TCN) “Kinh Thu” chép nhitng điển,

mô, huấn ca, thể mệnh của vua tôi dạy bảo khuyên răn nhau từ thời Nghiêu,

Thuần đếnĐông Chu Đây là một tác phẩm có giá trị sử học vì nó cungcấp cho

người đời sau những hiểu biết về phép tắc, trật tự xã hội lúc bấy giờ -

1.2.2 Sử học Ấn Độ cổ đại | |

Thời cổ đại, đất nước Ấn Độ bao gồm cả bán đảo Induxtan và toàn bộ lưu

vực hai con sông Ấn và sông Hằng Ấn Độ là nơi sớm hình thành xã hội có giai cấp Các nhà nước cổ Ấn Độ đã xuất hiện đầu tiên ở ven sông Ấn từ 2500 năm

TCN và ở ven sông Hằng vào khoảng 1500 TCN Lịch sử của thời đại xa xưa

của đất nước này còn được phan ánh trong bộ kinh “Vêđa” và các bộ sử thi

Bộ kinh Vêđa gồm 4 tập, tập hợp những bài ca ngợi các vị thần, tượng trưng cho các thế lực của thiên nhiên, như thần mưa và sấm, lửa, sông biến Qua các tập kinh ƒ2đø, người đời sau hiểu được tình hình xã hội lúc bấy giờ (sự phân chia thứ bậc, đẳng cấp, các luật lệ, tập tục, những cuộc chiến tranh ) và cuộc đấu tranh của con người với thiên nhiên

Những bộ sử thi Mahabarata va Ramayana được quần chúng sáng tác tập thể trong nhiều thế ký thuộc thiên niên kỷ thứ I TCN, khi những bộ tộc Aryan đã

định cư ở đồng bằng Ấn - Hằng và phát triển thế lực xuống miền Nam Ấn

Mahabaraía gồm 110.000 câu thơ đôi, tức 220.000 dòng thơ Nội dung cơ bản của bộ sử thi này diễn tả quá trình né ra, diễn biến và kết quả của trận chiến đấu lịch sử 18 ngày đêm trên cánh đồng Kurusêtra tại vùng đồng bằng sông Hằng giữa hai dòng họ Rauvara và Panđava Họ đều là con cháu của Bara, được coi là thủy tổ của nhân dân Ấn Độ Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nội dung bộ

sử thi phản ánh những cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc Aryan trong quá trình xây dựng những quốc gia cỗ đại ở vùng đồng bằng song Hang

Mahabarata dugc xem là bộ bách khoa toàn thư của An Độ Nó cung cấp

nhiêu hiểu biết về đời sống văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị của nhân dan An

-_ Độ lúc bấy giờ Vì vậy, lúc Ấy lưu truyền trong dân gian câu: “Cái gì không tìm

thấy trong Mahabaraiathì cũng không thể tìm thấy ở Ấn Độ”

Bộ sử thi Ramayana gồm 7 cuốn, 500 đoạn và 24.000 câu thơ đôi Theo

Trang 19

truyền thuyết, tác giả là Vanmiki, một tu sĩ Balamôn, sáng tác vào thé ki thir III

TCN bằng tiếng Sanskrit và tác phẩm được xem là "cùng tồn tại với trời đất",

Cuốn thứ bảy của bộ sử thi được viết theo một phong cách khác hắn, có thể là do người đời sau thêm vào Nội dung câu chuyện kể về cuộc chiến đầu giữa hoàng tử Rama với bọn quý tộc xứ Racxaxa trong rừng Danđaca suốt 14 năm trời, Ramayana phản ánh cuộc sống, nguyện vọng, ước mơ của nhần dân Ân Độ lúc

bấy giờ Nhà văn Ấn Độ R.K Narayan khi biên soạn lại bộ sử thi này ra tiếng

Anh, dựa theo bản tiếng Tamil của Kamban, đã viết trong “Lời nói đầu” rằng: "

tác phẩm Ramayana ảnh hưởng tới đời sống văn hoá của chúng tôi dưới hình thức

này hay hình thức khác, trải qua tất cả các thời đại Bất cứ ở trình độ nào, người nghe, người xemluôn luôn là những người say mê nồng nhiệt Ramayanacó thể gọi là một quyên sách “triết lí trường cửu” theo cái nghĩa đầy đủ nhất của từ này Ramayana trởthành nguồn cảm hứng lớn nhất cho các nhà thơ Ấn Độ qua các thế

kỉ Ân Độ là một nơi có nhiều ngôn ngữ, mỗi ngôn ngữ thống lĩnh ở một vùng đất

riêng; vì vậy, trong mỗi ngôn ngữ nhưvậy lại có một bản Ramayana được lưu hành Thế là chúng tôi có những bản Ramayana lâu đời bằng tiếng Hindi, tiếng

Bengali, tiéng Atxami, tiéng Oriya, tiéng Tamil, tiéng Canada, tiéng Casomia, tiéng Télégu, tiéng Malayalam; d6 chi méi ké mt it thoi”

Những điều Narayan nói về Ấn Độ cũng có thể áp dụng cho cả vùng Đông

Nam Á chịu ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ Các nước Thái Lan, Lào, Campuchia,

Inđônêxia cũng đều có những sử thi Ramayana bằng ngôn ngữ của họ Trong các

bộ sử thi này, từ nhân vật đến các chỉ tiết đều được sửa đổi cho phù hợp vỗi đặc

trưng văn hoá của từng tộc người Ramayana đã phản ánh khá đầy đủ cuộc sống, nguyện vọng, ưóc mơ của nhân dân Ấn Độ trong thời cỗ đại, ảnh hưởng sâu sắc

đến xã hội Ấn Độ và nhiều nước Đông Nam Á, có quan hệ văn hoá Ấn Độ

1.3 Sử học phương Đông thời trung đại

1.3.1 Hoàn cảnh lịch sử

Các nước phương Đông bước vào thời kì phong kiến sớm hơn so với châu

Âu Cũng như ở phương Tây, sử học phương Đông thời trung đại cũng không thoát khỏi sự kìm kẹp, khống chế của tư tướng phong kiến Tuy nhiên, sử học

Trang 20

phong kién phương Đông có một điểm khác với sử học phương Tây Ở phương Tây, nền sử học thời trung đại, dưới sự khống chế của tôn giáo và triều đình phong kiến đã tỏ ra có những bước lùi so với thời cổ đại, còn ở phương Đông

thời trung đại, sử học không bị đình trệ mà vẫn tiếp tục phát triển theo hai dòng

chính thống do Quốc sử quán triều đình đảm nhận và dòng tư nhân do các cá nhân biên soạn Tiêu biểu là sử học Trung Quốc Các nhà sử học phong kiến Trung Quốc có những đóng góp trong việc xác lập ra những thể loại và phương pháp sử học mô tả thực trạng các chế độ xã hội trong lịch sử

1.3.2 Sử học Trung quốc

Chúng ta có thể nêu các thể loại sau đây:

“Đoạn đại sử” ghi chép lịch sử của các triều đại chứ khôngphải viết theo

từng nước nhỏ như trước đó Đoạn đạisửcó bến nội dung: ki, truyện, biểu, chỉ

Ki viết về các hoàng đế; Truyện nói về tang lớp quan lại hoặc họ hàng thân thíchnhà vua và một số nhân vật danh tiếng trong xã hội; liệt kê nhân vật theo các loại như: “Thân vương biểu”, “Bách quan công khanh biểu”, “Phi tần biểu”:

Chỉ ghi chép về “nước” hay một địa phương về mọi mặt, trừ những hoạt động

của con người Các bộ “Đoạn đại sử” thường viết rất dài, mỗi bộ gồm tới hàng trăm tập Các sử gia Trung Quốc chia bộ“Đại đoạn sử” thành hai phần: “Hội yếu” (tóm tắt phần quan trọng nhất) và “Bản mạt” (phần gốc, chính)

“Cương, mục” là thê loại lịch sử có từ đời Tống “Cương” tómlược nội dung chủ yếu trong một đoạn ngắn; “Mục” sự việc xảy ra một cách tỉ mỉ, cụ thể Nguyên tắc lối viết sử theo cương, mục thê hiện tính khoa học ở sự chínhxác về niên đại các sự kiện, về giải thích rõ việc lên ngôi, sự thoán nghịch, sự ban phong (đất đai, chức tước ) Vìvậy, thể loại này trở thành mẫu mực cho việc viết sử ở Trung Quốc và nhiều nước phương Đông Thời Tống, Chu Hy viết bộ

“Thông giám cương mục”, chép lịch sử theo thê biên niên và chia thành

“cương”, “mục” Mục đích của tác phẩm là qua trình bày sự kiện theo năm tháng, để cao chính thống, làm cho mọi người hiểu rõ, tuân thủ và bảo vệ chính thống Do đó, lối viết sử “cương”, “mục” khó tránh khỏi chủ quan, phiến diện, thiên vị để tôn thờ nhà vua

Trang 21

“Sử thông” là thể loại viết lịch sử cả nước, còn gọi là “thông sử” Vào thế

kỉ XI, dưới đời Tống, sử gia Tư Mã Quang đã chủ trì biên soạn bộ “Tư trị thông giám”, gồm hơn 300 quyển Mục đích là làm cho người đọc: ““Thông qua các chính sự, hiểu biết mọi thời kì thái bình hay loạn lạc” Qua việc khảo sát cần:

thận một khối lượng lớn tài liệu, kế thừa những thành tựu sử học đời trước, Tư

Mã Quang đã trình bày theo thứ tự thời gian những việc thịnh, suy của các triều đại kế tiếp nhau trong 1.3 62 năm của lịch sử phong kiến Trung Quốc

Sử học Trung Quốc thời phong kiến có nhiều tiến bộ mà đỉnh cao là Tư Mã Thiên với tác phẩm “Sử ký”

Tư Mã Thiên, tự là Tử Trường, sinh năm 145 TCN ở Long Môn (nay thuộc

huyện Hàn Thành, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc) Tổ tiên của ông từ đời Chu đã làm Thái sử Đến đời cha ông là Tư Mã Đàm làm Thái sử lệnh của nhà Hán Tư

Mã Đàm là một người học rộng, thích học thuyết Lão Trang, say mêlịch sử dù chức quan sử lúc bấy giờ chưa được coi trọng, nhưông nói: “Nghề viết văn, viết

sử, xem sao, xem lịch thì cũnggần với bọn thầy bói, thầy cúng Chúa thượng vẫn

đùa bỡnnhư nuôi bọn con hát, còn thế tục vẫn coi thường”

Năm Tư Mã Thiên 20 tuổi, được cha cho lên đường đi du lịch, đểxem tận mắt những nơi đã xảy ra các sự kiện mà sau ông sẽ viết trong “Sử kí” Nhớ lời

cha dặn trước lúc lâm chung: “Tổ ta đời đời làm sử quán Sau khi ta chết đi, thế nào con cũngnỗi nghiệp ta làm thái sử Khi làm thái sử chớ quên những điều ta

muốn bàn, muốn viết Hiện nay bốn biển một nhà, vua sáng, tôi hiền, ta làm thái sử mà không chép được rất lấy làm xấu hỗ Con hãy nhớ lấy!”, Tư Mã

Thiên đã thừa kế truyền thống của gia đình tiếp tục nghiên cứu, biên soạn lịch

sử Dù có thiên tư đặc biệt, ông vẫn bỏ nhiều công sức khôngchỉ để chăm chú

đọc sách cổ mà còn đi du ngoạn nhiều nơi trong nước để thu thập tài liệu

Tư Mã Thiên lớn lên vào thời Hán Vũ Đế, lúc bộ máy quan liêu phong kiến

đang phát triển mạnh mẽ; yêu cầu xã hội đặt ra là phải có những tổng kết, rút kinh nghiệm giúp cho triều đình phong kiến quản lý Nhà nước Năm 38 tuổi,sau

3năm mãn tang cha, Tư Mã Thiên thay cha làm Thái lệnh (năm 108 TCN) và chuẩn bị viết bộ “Sứ ký”, thực hiện hoài bão lớn nhất của người cha, đông thời

Trang 22

là điều mong ước duy nhất của mình Từ năm 106 TCN, ông không giao tiếp với

khách khứa, bỏ cả việc nhà, ngày đêm miệt màibiên chép sử Bảy năm sau, khi xảy ra cái vạ Lí Lăng, ông bị tội “hoạn” |

Sau khi ở ngục ra, Tư Mã Thiên lại được cử làm Trung thư lệnh - một chức quan ở gần vua, được ra vào cung cắm, được xem tất cả các loại tài liệu mật Hiện nay, người ta vẫn chưa biết ông mất năm nào, chỉ biết ông viết bức

thư trả lời cho Nhâm An năm 53 tuổi (năm 93 TCN) Theo Vương Quốc Duy

trong “Thái sử công hành niên khảo” có lẽ ông mất năm 60 tuổi (năm 86 TCN),

Sau khi Tu Ma Thién mat, chưa ai biết đến cuốn “Sử ký” Quyền sách này được cất giữ đến đời cháu ngoại ông là Dương Vận, thời Tuyên đế, mới được công bố

Ngoài “Sử ký”, Tư Mã Thiên còn cùng với Công Tôn Khanh, Hồ Toại sửa lại lịch cũ, đặt ra lịch Hán vào năm 104 TCN Âm lịch còn dùng đến ngày nay là công trình của nhóm này, trong đó, ông đóng vai trò chủ chốt

Sử kýgồm 130 thiên, với 52 vạn chữ, được chia làm: Banky, Biểu, Thư, Thế g1a, Liệt truyện

Bản kỷ chép sự tích các đế vương từ thời Ngũ để đến Hạ, Thương, Chu,

Tân, Sở của Hạng Vũ và nhà Hán, bao gồm 12 bản kỷ Về Hạ, Thương, Chu, mỗi triều đại được ghi ở một bản kỷ NhàTần có hai bản kỷ - một bản chép từ khi có nước Tần đến Tần Thuỷ Hoàng, một bản về Tần Thuỷ Hoàng Một bản

kỷ về Hạng Vũ Hán có các bản kỷ về Cao Tổ, Lữ Hậu, Văn, Hiếu Cảnh, Hiếu

Vũ Hiện nay, thiếu mắt bản kỷ Cảnh và Hiếu Vũ

Bản kỷ chép lại sự việc của những người, những nước đã chi phối cả thiên

hạ Ông chép riêng lịch sử nước Tần trước Tần Thủy Hoàng thành một bản kỷ,

vì trong thời Chiến quốc,Tần là nước chỉ phối vận mệnh của tất cả các nước Dù - Huệ Đếlàm vua, nhưng Lữ Hậu thực sự cầm quyền nên ông viết bản ký về Lữ Hậu Đặt một người đàn bà lên ngang vớiđịa vị các bậc “Đế" là một điều mà cả các sử gia đời sau Trung Quốc cũng không dám làm Ông còn dành cho Vũnhững lời đẹp nhất, mặc dù Hạng Vũ là kẻ thù của nhà Hánvà về danh nghĩa

Trang 23

chưa phải là “đế” mà trong thực tế là người có công nhất trong việc tiêu điệt nhà

Tần Điều này,thể hiệnTư Mã Thiên rất tôn trọng sự thực khách quan

Biểu: Ghi chép năm tháng các biến cố của các nhân vật để vương, của các

nước chư hầu và của một số công thần, danh thần nhà Hán Các biểu trong “Sử

ký” được Tư Mã Thiên lập ra giúp người đọc có cái nhìn đối chiếu các sự kiện, hoặc căn cứ vào niên đại, hoặc căn cứ vào sự tương quan đồng thời giữa các nước, để hiểu biết toàn diện về lịch sử một nước rộng lớn và bị chia cắt, phân tán như Trung Quốc

Trong “Sở ký”, Tư Mã Thiên lập ra 10 biểu, gồm Thế biểu thời Tam đại; Niên biểu mười hai nước chư hầu; Niên biểu sáu nước thời Chiến quốc; Nguyệt biểu những việc xảy ra thời Hán Sở; Niên biểu các nước chư hầu từ thời Hán; Niên biểu các công thần của Hán Cao Tổ; Niên biểu các nước chư hầu từ thời Huệ Đề và Cảnh Đế; Niên biểu các nước chư hầu từ niên hiệu Kiến Nguyên; '

Niên biểu các vị vương thời Vũ Đế; Niên biểu các danh thần từ khi nhà Hán lên

Thư: gồm có tám thư viết tám mặt thiết chế chủ yếu của lịch sử một nước

Đó là: Lễ thư, Nhạc thư, Luật thư, Lịch thư, Thiên quan thư, Phong thiện thư,

Ha cv thư, Bình chuẩn thư Trong các thư nêu rõ sự biến đổi, những công hiến

về lễ, nhạc, luật lệ, việc làm lịch, thiên văn v.v qua các thời đại Lễ nghi được thể hiện trong “Léthw”; nhac trong “Nhạc thư”; luật lệ trong “Luật thư ” thiên

nhiên trong “Thiên quan thz”, việc mê tín, cúng tế của vua chúa trong “Phong thiên thư”; các con sông đào ở Trung Quốc trong “Hà cờ fwz”; tình hình kinh tế

_trong “Bình chuẩn thư” Các kiến thức được ghi lại rất chính xác Ở “Phong thiên thư”, “Hà cừ thư” và “Bình chuẩn thư”, các tài liệu chính xác đến nỗi người đời sau thường dựa vào đó để đính chính những sai sót trong các sách cổ

nói về những thể chế xã hội

Thế gia:bao gồm 30 thiên, chủ yếu nói về lịch sử các nước chư hau(Té, Lé, Triệu, Sở ) và những người có địa vị trong giớiquý tộc, gồm các thái hậu, những người được phong tước ởmột nước, như Chu Công, Thiệu Công và

những người có cônglớn như Trương Lương, Trần Bình Tư Mã Thiên còn ghi

ở phần này hai người thường dân không có một tắc đất phong Đó là Không Tu, ©

Trang 24

một nhà tư tưởng lớn thời cổ TrungQuốc và Trần Thiệp, người cố nông đã cầm đầu khởinghĩa nông dân đầu tiên trong lịch sử thời Hán

Liệt truyện gồm 70 thiên viết về những nhân vật và các sự kiện khácnhau Danh từ “Liét truyén” do chinh Tu Ma Thiên đặtra, ghi lại sự tích không chỉ những người có vị trí xã hộïTrung Quốc như các danh tướng (Mông Điềm, Lý

Quảng, Vệ Thanh) những vị quan to (Trương Thích Chi, Công Tôn Hoằng ) ma

cả những nhân vật ở ngoài Trung nguyên Tư Mã Thiênlà người đầu tiên đưa

vào lịch sử những sự kiện của Nam Việt, Đông Việt, Triều Tiên, Tay Di, Dai Uyén, Hung Nô,cuộc đời và hành trang của những du hiệp, những thích kháchtrong nghĩa khinh tài (trong “Thích khách liệt truyện”, “Du hiép liét truyện”), những nhà tư tưởng như Lão Tử, TrangTử, Tuân Khanh , những nhà _văn như Khuất Nguyên, TưMã Tương Như, những thầy bói, thầy thuốc, thậm chícả nhữnganh hè, những tên sâu mọt, đàn áp bóc lột dân chúng, những bọn

quan lại nịnh vua, tàn sát dân lành, những bọn ngoại thích lộng quyền và vô số

những nhân vật t¡ tiện khác

Có thể nói Tư Mã Thiên là “người cha của sử học Trung Quốc” về hai thể loại chủ yếu đầu tiên: đoạn đại sử và sử thông, cả hai thể loại này đều bắt nguồn

từ phương pháp biên soạn sử kí của Tư Mã Thiên Ông là người đầu tiên viết

lịch sử toàn Trung Quốc Trước đó chỉ có những người viết lịch sử từng nước

nhỏ, như nước Lỗ, Tần, hoặc viết về một sự kiện (như chiến tranh) Trong khi viết về lịch sử Trung Quốc, ông đã thấy có mối liên hệ nhất định giữa kinh tế với chính trị, luật pháp, cũng như lịch sử trên mọi mặt của đời sống xã hội “Sử ky” cia Tư Mã Thiên mô tả toàn bộ lịch sử Trung Quốc trong suốt 3.000 năm,

từ đời Hoàng để cho đến đời Hán Vũ Đế, với một không gian lịch sử rộng lớn, gồm nhiều lĩnh vực của đời sống và các tang lớp xã hội khác nhau |

Tư Mã Thiên có một thái độ công minh, dứt khoát, không thiên vị đối với các nhân vật lịch sử Lời khen, chê của ông rất rõ ràng, đôi khi vượt qua sự ràng | buộc của chế độ đương thời để nêu sự thật lịch sử Ông đã dành những trang đẹp nhất để nói về Hạng Vũ - kẻ thù của nhà Hán; theo ông, đó là một con người phi

thường “tài năng và chí khí hơn người” “từ cận cỗ đến nay chưa có ai được như

Trang 25

thế” Trái lại, Lưu Bang - người sáng lập nhà Hán - lại được mô tả là một kẻ

“không lo làm ăn, thích rượu và gái ngạo mạn, thô lỗ”, ông phơi bảy bức tranh đau thương của xã hội đương thời như cảnh vua chúa mê tín (trong “Phong

thiên fhư”), vua quan phung phí tài sản của nhân dân (trong “Bình chuẩn

the"),canh quan lại tàn ác “Khốc lại truyện”, cảnh nhà nho cầu an, giả dối

“Công Tôn Hoằng truyện”, “Thúc Tôn Thông truyện `

Những phân tích, nhận xét của Tư Mã Thiên rất độc đáo, táo bạo, vượt lên trên thời đại của mình Ở một mức độ nào đó, ông đã nhìn thấy sức mạnh nằm trong dan ching Vi du, trong “Cao Tổ bản ký' và “Trần Thiệp thếgia", ông

chorằng mặc dùLưu Bang và Trần Thiệp tài trí bình thường nhưng vì luôn nắm

bắt được nguyện vọng dân chúng nên đã lập nên công trạng

Tư MãThiên cũng là sử gia Trung Quốc đầu tiên viết về dântộc bị gọi là

"moi ro" mà tuyệt nhiên không tỏ thái độ khinh miệt

Chínhvì những thành công trên, “Š% ky” của Tư Mã Thiên đượccác nhà sử

học đời sau đánh giá là một công trình soạn lịch sử vào bậc nhất của sử học phương Đông thời phongkiến, trở thành mẫu mực cho việc biên soạn lịch sử sau đó

Nhìn chung, sử học Trung Quốc thời phong kiến, trải qua các triều đại từ

Tần, Hán, Đường, Tống đến Minh, Thanh, đã phát triển với nhiều sử gia, nhiều

công trình lịch sử nổi tiếng, đánh dấu sự phát triển của một nền văn hoá rực rỡ Tuy nhiên, sử học cũng như các ngành khoa học xã hội, văn học nghệ thuật khác

thời bấy giờ, không thoát khỏi sự chỉ phối của tư tưởng Nho giáo và là công cụ,

phương tiện để thống trị, đàn áp nhân dân trong nước, phục vụ trực tiếp cho âm mưu xâm lược của phong kiến Trung Quốc với các nước lang giéng

1.3.3 Sử học các quốc gia phương Đông khác

Ngoài Trung Quốc, sử học thời phong kiến cũng khá phát triển ở nhiều

nước khác của phương Đông, như Việt Nam, Nhật Bản, Ân Độ

Nhà sử học người Ả Rập, Ibn Haldun (1332 - 1406), trong “Phần mở đầu” của tác phẩm “Sách về những tắm gương rút từ lịch sử người Á Rập, Ba Tư, Bécbe và các tộc người cùng sống với họ trên quả đất", ông đã phát triển tư

tưởng triết học - lịch sử khá tiến bộ, gần giống như quan điểm của các đại biêu

Trang 26

tiên tiến của nền sử học nhân văn ở Italia Ibn Haldun bác bỏ sự giải thích bằng quan điểm của ý thức hệ tôn giáo Ông xem lịch sử là sự thay đổi thường xuyên

của đời sống và phong tục của con người, là một quá trình diễn biến không

ngừng sự thịnh suy của các quốc gia Ông nêu rõ rằng, trong nghiên cứu lịch sử

một mặt phải “đi sâu nghiên cứu các hiện tượng riêng lẻ bằng cánh cửa lớn của

nguyên nhân chung”; mặt khác lại phải đặc biệt chú trọng ý nghĩa to lớn của

hoàn cảnh địa lý đến lịch sử xã hội

Trang 27

Chương 2

| SỬ HỌC PHƯƠNG TÂY THỜI CỎ - TRUNG ĐẠI

Trên cơ sở tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến hình thành

và ý thức hệ phong kiến cũng phát triển, chỉ phối mạnh mẽ đến sử học Sự hình thành và phát triển của chế độ phong kiến ở các nước trên thế giới không giống

nhau về mặt thời gian, tính chất; do vậy sử học phong kiến ở các nước cũng

mang những màu sắc, nội dung khác nhau Tuy vậy, những nhà nghiên cứu vẫn tìm thấy những nét chung của sử học phong kiến Thắm nhuằn tư tưởng củng cố chế độ phong kiến, tôn phù nhà vua, các tác phẩm sử học thời kì này đều xem lịch sử là kết quả sự can thiệp của Trời, của Chúa vào đời sống con người thông qua người đại diện là vua Mọi diễn biến lịch sử là theo ý Trời đã định trước Đó

là nội dung cơ bản của thuyết thiên mệnh trong sử học phong kiến

— Hình thức chép sử phổ biến nhất thời phong kiến lúc đầu là thể loại biên

niên, tiểu sử, thánh truyện Cùng với cơ sở tư tưởng tôn giáo thời phong kiến, tư tưởng về lịch sử toàn thế giới cũng phát triển, thể hiện rõ nhất trong tác phẩm

“Lịch sứ các nhà tiên tri và vua chúa” của Tabari, người Bátổa, viết vào cuối

thé ki IX đầu thế kỉ X

Do hạn chế của thế giới quan tôn giáo mà các tác giả biên niên sử mới nêu lên quan hệ bên ngoài, liệt kê các sự kiện theo thứ tự niên đại mà chưa đi sâu

phân tích, phê phántài liệu Các loại biên niên sử thời trung đại tuy còn mang nội

dung của các truyện cỗ dân gian, song cũng bước đầu phân loại giải thích sự

kiện theo tinh thần chung của thời đại, như các biên niên sử của Nga thế kỉ XI

Sự phức tạp của cơ cấu xã hội thời trung đại, sự phát triển của các thành thị, cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt, quá trình tập quyền của các quốc gia phong

kiến làm cho hình thức biên niên sử cũ không còn phù hợp, do đó đã xuất hiện nhiều loại biên niên sử mới Các hình thức chép sử này phức tạp hơn về nguyên

tắc chọn lựa sự kiện và giải thích lịch sử Ngoài ra các loại hồi kí, sách giáo

khoa và văn tuyển lịch sử ngày một phổ biến

Từ thế kỉ XV, với sự phát triển của Văn hoá Phục hưng, sử học bắt đầu có

bước phát triển mạnh mẽ với tư tưởng mới: tư tưởng phê phán mà nội dung chủ

Trang 28

yếu là xác định nguồn tư liệu pốc Từ đó, sử học phát triển thêm nhiều ngành mới như Văn bản học, Niên đại học

2.1 Sử học phương Tây thời cỗ đại

2.1.1 Sử học Hy Lạp cổ đại

2.1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử

Đời sống chínhtrị sôi động ở Hy Lạp cổ đại dựa trên sự phát triển của quan

hệ thương mại và giao lưu văn hóa trong vùng Địa Trung Hải Sự quan sát cáchiện tượng tự nhiên và lòng mong muốn giải thích các hiện tượng này một cách khoa học đã góp phần làm cho thế giới quan biện chứng tự phát của người

Hy Lạp cỗ đại phát triển

Thế giới quan biện chứng tự phát của người Hy Lạp cổ đại là thế giới quan

của phái dân chủ chủ nô, gồm những chủ nô công thương - đại diện cho xu hướng

tiến bộ của lịch sử lúc bay giờ Họ ra sức xây dựng một chế độ cộng hoà dân chủ,

có tác động tích cực đối với việc phát triển lực lượng sản xuất Chủ nghĩa duy vật của họ mặc dù còn rất mộc mạc, thô sơ, dựa trên sự quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên, nhưng cũng ảnh hưởng lớn đến sự ra đời của sử học

Cảm xúc trước sự hùng vĩ của thiên nhiên, lòng say mê cái đẹp, tỉnh thần thượng võ, sự khao khát một cuộc sống đạo đức nhân văn của người Hy Lạp,

đã làm nảy sinh từ văn học một thê loại mới - Sử học Các học gia Hi Lap cé dai

đã sử dụng lịch sử như một công cụ để khái quát, tìm ra cái đẹp và lẽ phải của

cuộc sống trên cơ sơ khôi phục lại hình ảnh quá khứ

Các nhà sử học đầu tiên của Hy Lạp cũng được gọi là “Lôgôgrap” Thuật ngữ này dùng để chỉ các nhà văn thời cổ Hy Lạp, chuyên viết những bài văn trình bày truyện cỗ dân gian và anh hùng ca Tác phẩm sử học của họ chủ yếu để

mô tả một cuộc chiến tranh, lịch sử một thành phố hay một địa phương nào đó

Họ không đặt ra cho mình nhiệm vụ chủ yếu là tái tạo chân thật quá khứ mà chỉ cần qua lịch sử đem lại những tắm gương, những kinh nghiệm, những bài học Tác dụng của sử học được xem như người thầy của cuộc sống, tư tưởng chủ đạo tương ứng là thực dụng - như cách gọi của nhà sử học Topolski Sự thịnh hành rất sớm của tư tưởng thực dụng trong sử học Hy Lạp được thể hiện ở chỗ người

ta đặt cho Nữ thần Clio là "Người bảo hộ cho lịch sử"

Trang 29

Trong thời cổ đại, Hy Lạp là nơi phát triển rực rỡ nhất của sử học Tư tưởng nhân văn được thể hiện trong toàn bộ các tác phẩm sử học của Hy Lạp cỗ

đại Phương pháp chủ yếu mà các tác giả sử dụng là sưu tầm, tìm tòi trong dân

gian những câu chuyện lịch sử để qua đó nêu lên những tấm gương và bài học cho hau thé Tuy các sử gia Hy Lạp cỗ đại viết sử còn với mục đích thực dụng,

nhưng họ đã bước đầu biết phân tích nguyên nhân của các biến cố (như Pôlibi),

mặc dù chưa đạt được nhiều kết quả

Sử học Hy Lạp cổ đại chưa mang tính khoa học đầy đủ mà còn nhiều hạn

chế: Các sử gia Hy Lạp lúc bấy giờ xem nhiệm vụ chủ yếu của sử học chỉ là thu thập các sự kiện trong khứ và trình bày lại một cách đơn giản Theo họ, sử

học là sự kéo dài kí ức, làm cho kí ức sống lại theo trí nhớ của từng người Thậm chí các sử gia Hy Lạp cỗ đại còn xem sử học là một loại hình

nghệ thuật, chỉ có tác dụng tái hiện, không có tác dụng khám phá Aristốt đã

từng khẳng định, nhà sử học và nhà thơ chỉ khác nhau ở chỗ, nhà sử học nói về những cái gì có thực xảy ra, còn nhà thơ nói về những gì có thể xảy ra; vi vậy thơ ca có tính triết học hơn sử học: “Thơ ca nói về những gì chung nhất còn sử học nói về những cái đơn nhất”

Các sử gia Hy Lạp cổ đại cũng chưa chú ý đến sự chân xác của sử liệu

Ngay cả Tuyxiđit, người đã phê phán các nhà sử học khác là muốn gây cho người đọc một sự hứng thú chứ không phải để đạt tới chân lý và quan tâm nhiều

hơn đến sự chuẩn xác của sử liệu, nhưng ông vẫn nói hộ quá nhiều cho nhân vật Thông qua các nhân vật, ông trình bày những suy nghĩcủa cá nhân mình

Tư tưởng của sử học Hy Lạp cỗ đại cũng phản ánh quan niệm về sự phát triển của lịch sử “theo một vòng tròn khép kín" Tuyxidit đã trình bày nguyên

nhân khiến ông ghi lại cuộcchiến tranh Pêlôpône như sau: “Sẽ có ích đối với tất

cả những ai muốn có một khái niệm rõ ràng về sự kiện đã xảy ra màtheo thuộc tính, bản chất của con người thì sự kiện đó đượclặp lại vào một lúc nào đó trong

tương lai dưới dạng như thế này hay tương tự như thế

2.1.1.2 Một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu

Thời Hy Lạp cổ đại xuất hiện nhiều nhà sử học, ở đây chúng ta tìm hiểu một số nhà sử học tiêu biểu:

Trang 30

Hêrôđốt (Herodot, 490 - 425 TCN) là nhà sử học tiêu biểu đầu tiên của Hy

Lạp cỗ đại Ông là một kiều dân cư trú ở Aten, đã từng đến nhiều nơi ở châu Âu

và châu Á, thu thập được nhiều tài liệu quý về kinh tế, chính trị, xã hội của

nhiều dân tộc Tác phẩm của ông gồm 9 quyển, viết vẻ lịch sử Hy Lạp và các

nước phương Đông, như Atxiri, Babilon, Ba Tư, Ai Cập Nổi tiếng nhất trong số tác phẩm của ông là cuốn “Cuộc chiến tranh Hý Lạp - Ba Tư”, trình bày cuộc chiến tranh nổ ra vào thế kỉ V TƠN Nhân dân Hy Lạp đã chiến đấu vô cùng

dũng cảm để đánh thắng đội quân hùng mạnh của đế quốc Ba Tư Cảm phục

trước tinh thần hi sinh cao cả của người Hy Lạp và với mong muốn giữ lại mãi mãi những tắm gương anh hùng, Hêrôđốt đã dày công sưu tầm trong dân gian những câu chuyện về cuộc chiến tranh và tái hiện nó với một văn phong hùng hồn, bi tráng Trong khi trình bày cuộc chiến tranh, ông đã cố găng chứng mỉnh tính chất chính nghĩa của người Hy Lạp, sự phi nghĩa của đề quốc Ba Tư Ông

đã viết những dòng sôi động nhất khi mô tả chiến công của Maratông và

Técmôphin

Nguyên tắc sáng tác của Hêrôđốt là truyền lại tất cá những điều người ta nói Ông bài bác những chuyện hoang đường nhưng vẫn còn tin những lời tiên tri, bói toán Mục đích viết sử của ông được xác định rõ và có nhiều yếu tố tiễn

bộ Trong lời nói đầu của tác phẩm, ông viết: “Hêrôđốt quê ởHalikarônát đã thu thập và ghi chép các kiến thức này là để cho các biến cố xảy ra trong quá khứ

không bị lãng quên cùng với thời gian và những hành động cao cả khiến chúng

ta phải kinh ngạc về người Hy Lạp, cũng như người dã man, để không bị mai một đi và đặc biệt là giải thích rõ vì sao họ lại tiến hành triến tranh với nhau”

Trong mục đích và phương phápbiên soạn lịch sử, tuy Hêrôđôt còn chưa tách

lịch sử với những câu chuyện kể về khoa học tự nhiên, địa lý, nhân chúng, văn học, song trong trình bày lịch sử ông đã thành công trong việc ghi lại cho đời

sau những tắm gương anh hùng của các chiến sĩ Hi Lạp trong cuộc chiến tranh

chống xâm lược Ông đã lý giải sai khi cho rằng nguyên nhân của cuộc chiến tranh nằm trong sự khác biệt giữa hai nền văn minhphương Đông và Hy Lạp mà không thấy nguồn gốc của chiến tranh ở tham vọng của các giai cấp thống trị

Trang 31

Hêrôđốt có kiến thức rất uyên bác về địa lí và một vốn hiểubiết rất sâu sắc

về phong tục, tập quán, thể chế của nhiềudân tộc Vì vậy, với tư duy sâu sắc, kĩ năng trình bày câu chuyện mạch lạc, cùng với sự đề cao các nhân tố thâm mỹ,

khiến tác phẩm của ông đã làm rung động nhiều thế hệ độc giả Ông xứng đáng với danh hiệu là “Người cha của sử học phương Tây”

Tuyxidit (Tucydyes, 460 - 391/395? TCN) cũng là một nhà sử học nỗi tiếng cùng thời với 'Hêrôđốt Tuyxiđít vốn là một vịchỉ huy trong quân đội Aten, trực tiếp tham gia chiến tranh Do đó, ông có điều kiện viết cuốn “Lịch sử cuộc chiến tranh Pêlôpônc”, miêu tả cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ HyLạp giữa hai

phe: phe Xpác với đồng minh Pêlôpône và phe Aten với đồng minh Đêlết Có

thê nói, TuyxiđÍt có vai trò, vị trí quan trọng trong sử học cỗ đại, vì ông đã vượt

lên trên nhiều sử gia đương thời về quan niệm tính chân thực của sử liệu và

phương pháp nghiên cứu sử liệu

Tuyxidit nói rõ mục đích viết sử của ông là dé đời sau có “quan niệm rõ ràng hơn về quá khứ” Cũng như Hêrôđốt, Tuyxiđít dựng lại cuộc chiến tranh Pêlôpône bằng những câu chuyện mà mình được chứng kiến hoặc nghe kể lại Tuy nhiên, là một nhà sử học nghiêm túc, cân thận, ông luôn đặt tính chính xác của câu chuyện

ở vị trí quan trọng, ông nêu một số yếu tố ảnh hưởng đến sự chân xác của sử liệu

là tình cảm và trí nhớ Từ đó, ông đặt ra phương châm viết sử là: “Tôi không cho

rằng nhiệm vụ của mình là miêu tả những øì biết được qua người gặp đầu tiên hay những gì có thể phỏng đoán được mà phải ghi chép những sự kiện mà bản thân được mục kích và những gì nghe được của người khác sau khi đã nghiên cứuchính xác, nếu có thể nghiên cứu từng sự kiện riêng biệt” Ông đãbỏ nhiều công sức để thu thập, xác minh tư liệu, đôi khi ông đến cả nơi xảy ra sự kiện lịch

sử để kiểm tra, xem xét Trên cơ sở tài liệu, ông miêu tả sự kiện quá khứ -

Tuyxiđít nghiên cứu cả những điều kiện tự nhiên, điều kiện vật chất và chế độ

xã hội, coi đó như những yếu tố có ảnh hưởng đến sự phát triển của lịch sử Ông

không tin vào những lời tiên tri, sắm truyền, bác bỏ sự can thiệp của thần linh vào hoạt động của con người Mặc dù không vượt khỏi khuôn khổ của quan niệm số phận ràng buộc con người nhưng Tuyxiđít đã tỏ thái độ hoài nghi đối với tôn giáo

Trang 32

Những quan niệm viết sử của Tuyxiđít được xem như là đỉnh cao của sử

học Hy Lạp thời cỗ đại Thành tựu của ông không chỉ ảnh hướng đến các sử gia thời cổ đại mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến giới sử học phương Tây thời

Pôlibi (Polibius, 201 - 120 TCN) là một nhà sử học nổi tiếng sống trong

thời kì suy yếu của Hy Lạp cổ đại Tác phẩm của ông là bộ “Thông sử” đồ sộ,

gồm 40 quyền, trình bày lịch sử các: nước Địa Trung Hải bị Rôma chiếm đóng

từ năm 246 đến 146 TCN Pôlibi chú trọng nghiên cứu mối quan hégitta các vùng và các quốc gia, ông là người đầu tiên đưa ra kháiniệm “Lịch sử:hế giới ` `

Sự quan tâm hàng đầu của PôHbi là tính giáo dục của sử học, ông đã gọi sử

học là “cô giáo của cuộc sống” Vì vậy, những câu chuyện mà ông thu thập đều nhằm nêu gương cho mọi người Tuy nhiên, khác với các nhà sử học cùng thời, Pôlibi không chỉ dừng lại ở chỗ tái tạo lịch sử chính trị hay những tắm cương anh hùng mà ông đã tiến xa hơn trong việc xác định nhiệm vụ của sử học Ông tìm nguyên nhân của các biếncố và coi đó như một nhiệm vụ của sử học Ông viết: “Bởi vì việc miêu tả đơn thuần những gì diễn ra cũng rất thú vị nhưng nó không có tác dụng giáo dục, việc nghiên cứu lịch sử chỉ bốích khi nào ta bỗ sung

những câu chuyện đó bằng việc trình bày nguyên nhân các sự kiện”

Trong quá trình đi tìm nguyên nhân để giải thích các sự kiện lịch sử, Pôlibi

là nhà sử học đầu tiên đã tách các nhân tố siêu nhiên ra khỏi lập luận của mình

và cho rằng đem thần linh vào lịch sử là che giấu sự dốt nát và bất lực

Các tác phẩm của sử gia Hy Lạp cỗ đại đóng góp không nhỏ vào việc xây dựng cơ sở đầu tiên của sử học, tuy rằng sử học lúc bấy giờ chưa mang tính khoa học, mà chỉ là một loại hình nghệ thuật Người ta đã ghép sử học với thi ca,

chỉ có sự khác biệt ở chỗ “Thơ ca nói về những gì chung nhất, còn sử học nói về những cái đơn nhất” (Arixtốt)

Sử học của Hy Lạp cỗ đại từ thế kỉ IV — II TCN đã phát triển về số lượng tác phẩm và trình độ nghiên cứu, song phát triển nhất là thời Hêrôđốt và Tuyxidit

Trang 33

2.1.2 Sử học Rụma cổ đại

2.1.2.1 Hoàn cảnh lịch sử

Cỏc nhà sử học Rụma cổ đại đó tiếp thu những thành tựu của sử học Hy Lap cộ đại và phỏt triển lờn một bước mới Nếu ở thời Hy Lạp cổ đại cỏc sử gia chưa nờu cụ thể, chớnh xỏc thời điểm cỏc sự kiện diễn ra thỡ ở thời Rụma cổ đại,

với sự tiến bộ của phộp đo thời gian (năm 46 TCN, lịch Juliu xuất hiện), cỏc nhà

sử học đó cú thể xỏc định niờn đại của sự kiện - một yếu tố vụ cựng quan trọng trong nghiờn cứu lịch SỬ

Cựng với việc xỏc định niờn đại của sự kiện, tỏc phẩm của cỏc nhà sử học Rụma cỗ đại cũng thể hiện việc phỏt triển về hỡnh thức biờn soạn lich str Taxit

cú “Biờn niờn sử Rụma”;Plutắc cú Tiểu sử so sỏnh; Apian viết “Lịch sử _đờma” Tuy nhiờn, cỏc sử gia vẫn tỡm cỏch giải thớch cỏc sự kiện bằng tõm lý của những nhõn vật đó tham gia vào những sự kiện, đặc biệt là sự can thiệp của thần linh Do vậy, những sự kiện đỏng tin cậy vẫn lẫn lộn với cỏc cõu chuyện hoang đường

2.1.2.2 Một số tỏc phẩm tiờu biểu

Chỳng ta tỡm hiểu một số sử gia Rụma cổ đại tiờu biểu

Tito Livơ (59 - 17 TƠN) là nhà sử học nỗi tiếng nhấttrong thời kỡ trị vỡ của Oguyxto Tac phẩm “Lịch sử Rụmg” của ụng gồm 142 quyền, trỡnh bày diễn biến của Rụma từ khi được xõy dựng cho tới năm 19 TCN Ong ca ngợi quỏ khứ vinh quang của người Rụma và coi đú là cơ sở tạo nờn sức mạnh của cường quốc Rụma ở vựng Địa Trung Hải Tỏc phẩm của ụng cũng thể hiện lũng yờu nước và

sự quan tõm đến những suy giảm về đạo đức cổ truyền của người Rụma

Taxi: (khoảng 50 - 120), tỏc giả bộ “Lịch sử” và “Lịch sử biờn niờn ”,viết

về lịch sử buổi đầu của để quốc Rụma ễng ghi chộpquỏ trỡnh diễn biến của nền

chớnh trị ở đế quốc Rụma và búc trần sự thối nỏt của nền chuyờn chế Rụma, đồng thời giỏng “một đũn vào đầu bọn vua chỳa tàn bạo”, như cỏc nhà bỡnh luận lịch sửđó núi Taxit cho rằng trong quỏ trỡnh phỏt triển của lịch sử, con người cú vai trũ quyết định, tuy nhiờn, ụng vẫn chưa thoỏt khỏi quan niệm về vai trũ của

số mệnh trong lịch sử, về cỏc điềm lành, dữ, cỏc hiện tượng thần bớ, chỉ phối lịch

Trang 34

sử con người Ông nói: “Tôi không thể giải đáp được rằng hành động củacon người được tiến hành theo quy luật của số mệnh là tất yếu haylà nó bị phụ thuộc

vào sự ngẫu nhiên”

Plutiác (khoảng 45 - 1272), sống cùng thời với Taxit, là nhàvăn và nhà sử

học Plutác là người Hy Lạp song làmquan chấp chính cho chính quyền Rôma _Tác phẩm “Tiểu sử so sánh” của ông viết về cuộc đời các nhân vật lịch sử

quan trọng của Hi Lạp và Rôma Plutác không chỉ viết về các nhân vật lịch sử

mà còn nêu cả tính tình, lời nói và những việc làm thường ngày của họ Theo ông, muốn đánh giá một nhân vật phải dựa vào tính cách của họ chứ không chỉ

về vai trò chính trị Vì vậy, ông đánh giá cao Xpactacút, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa nô lệ Tác phẩm của Plutác viết theo thể truyện kí, vừa có gia tri str hoc, vừa có giá trị văn hoc

Apian(? - những năm 70 của thế kỉ II) là tác giả bộ “Ƒjchsử Rôma” gồm 24

tập, viết về thời kì bắt đầu xây dựng thành Rôma đến đầu thế kỉ II Ph.Ăngghen _

đánh giá cao Apian: “Trong số các sử gia cỗ đại mô tả cuộc đấu tranh nảy sinh trong lòng Cộng hoà Rôma chỉ có Apian nói rõ nhất với chúng ta rằng, cuộc đấu tranh ấy nỗ ra là vì quyền sở hữu ruộng đất” Còn C.Mác nhận xét rằng: “Apian muốn khám phá ra những cơ sở vật chất của những cuộc nội chiến ấy và đã mô

tả Xpactacút như một người đẹp nhất trong lịch sử cổ đại”

Nhìn chung, các nhà sử học Rôma cô đại đã có những đóng góp quan trọng

vào sự phát triển của nền sử học thế giới Mặc dù trong các tác phẩm của họ,

diễn biến chính trị - xã hội vẫn được giải thích một cách thần bí, siêu nhiên, song điều chủ yếu là họ đã miêu tả được tương đối chính xác hiện thực quá khứ của đề quốc Rôma và một số vùng lân cận khá rộng lớn mà trước kia các nhà sử

học Hy Lạp chưa đề cập được

Ngoài các nước Trung Quốc, Ân Độ, Hy Lạp, Rôma kế trên, nền sử học ở một số nước khác ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ trước thời Côlông cũng bắt đầu hình thành Nhiều di tích thành văn của các dân tộc này chứng tỏ tư duy lịch sử của họ đã khá phát triển Song đến nay, những nhà nghiên cứu sử học chưa biết

nhiêu về những công trình của họ Đây là một trong những vân đề cân tìm hiểu

Trang 35

2.2 Sử học phương Tây thời trung đại

2.2.1 Sử học phương Táy từ thế kỉ V đến thế kỉ XI

Vào thế kỉ thứ V, chế độ phong kiến hình thành ở châu Âu và trải qua các thời kỳ phát triển, trong đó sử học cũng chịu ảnh hưởng

Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của thần học và sử học được sử dụng

để củng cố giáo lý nhà thờ, cũng như chính sách thống trị của giai cấp phong

kiến cẦm quyền Các nhà thần học tìm mọi cách để chứng minh rằng, cần phải

có quyền uy thế giới của giáo hội để tỏ rõ thần quyền là một tồn tại tất yếu

Đó là thời kì “đêm trường trung cỗ”, chìm ngập trong bóng đen của tư tưởng thần quyền

Đến cuối thế kỉ XI, ở châu Âu đã hình thành nền triết học của chủ nghĩa phong kiến theo Thiên chúa giáo; đó là chủ nghĩa kinh viện Chủ nghĩa kinh viện là triết học của giai cấp phong kiến muốn giữ địa vi thống trị trong hệ thông giáo dục của xã hội Nhiệm vụ của chủ nghĩa kinh viện là biện hộ và bảo vệ cho

hệ thống tư tưởng của nhà thờ bằng những mánh khóe, giả tạo có tính chất lôgIc

hình thức, tuyên truyền cho sự cuồng tín, thủ tiêu tư tướng tự do Đặc điểm của chủ nghĩa kinh viện là duy tâm cực đoan Các nhà kinh viện chủ nghĩa cho rằng

tắt cả những gì được tôn giáo ghi lại là chân lý tuyệt đối và bất di bất dịch, do đó

họ không quan tâm đến cái mới, đến khoa học tự nhiên

Trong bối cảnh như vậy, sử học có địa vị hết sức nhỏ bé, chỉ là nô bộc của thần học Điều này thể hiện ở việc sử học phục vụ giáo hội và nhà nước phong kiến Giai cấp cằm quyền sử dụng sử học như một công cụ để cúng cố giáo lý và chính sách thống trị Mục đích thực dụng của sử học vẫn được duy trì như thời cổ đại, tuy nhiên, sử học thời trung đại không còn mang tư tưởng nhân văn của thời kì

Hy Lạp, Rôma cổ đại Trong điều kiện ấy, đối tượng nghiên cứu của sử học bị thu

hẹp; chỉ hạn chế ở việc tìm hiểu cuộc sống các đại diện của giai cấp thống trị:

Hoàng đế, những người cầm đầu giáo hội, cáctướng lĩnh và quan lại Nội dung chủ

yếu tronp các tác phẩm sử học còn là những biến cỗ trong đời sống chính trị,như chiến tranh, hoạt động ngoại giao, lập pháp, việc thay đổi vua và các triều đại Toàn

bộ đời sống và lao động của quần chúng nhân dân không được đề cập

Trang 36

Nhiệm vụ của sử học cũng được quan niệm đơn giản: ghi chép các hoạt động của vua chúa và giáo hội để rút ra những kinh nghiệm thống trị và minh họa cho các giáo lí của nhà thờ Vì thế, sử học lúc bay giờ còn được gọi là “khoa học của vua chúa” Nhà sử học Pháp Giăng Bốitxuê (J.Bossuef) trong cuốn "Bàn

về lịch sử thế giới? cho rằng: “Nếu đối với người khác, lịch sử là điều vô ích thì

đối với vua chúa việc học lịch sử vẫn cần thiết Nếu như kinh nghiệm đem lại sự sáng suốt để cai trị tốt hơn thì để có Sự sáng suốt đó không có gì hơn là kết hợp

kinh nghiệm hằng ngày với những tắm gương rút ra từ những thế kỷ qua” Nhà viết sử biên niên Oócđê Vích Vitali(1075 - 1148) trong cuốn “Lịch sử giáo hội ”

đã xác định nhiệm vụcủa sử học: “Trong một công trình nghiên cứu lịch sử mọicái đều phải nhằm ca ngợi Đắng Sáng thế là người cai quản mọisự vật, vì

Đắng Sáng thế vĩnh hằng cho đến nay vẫn là ngườitrực tiếp điều khiến lịch sử

một cách diệu kì” Nhà kinhviện Giôhan Xônxbơri cho răng cần phải có lịch

sửvì “cảnh tượng của quá khứ giúp chúng ta hiểu được những kế hoạch và ý

định của Chúa”

Déi tượng, mục tiêu, nội dung nghiên cứu lịch sử nêu trên chỉ phối nhiều đến phương pháp trình bày của các sử gia thời bay gid

Trong các tác phẩm biên niên sử trung đại thường mô tả những điều kì

diệu, những hiện tượng thân bí, những điều bịa đặt rất vô lý mà không chút nghỉ

ngờ Nhà sử học Guybéctơ(1053 - 1124), trong tác phẩm “Lịch sử cuộc Thập tự

chỉnh ”, đã tìm lối thoát bằng cách chia tất cả “điều kì điệu” thành những “điều

có thật”, là những điều đã được giáo hội chấp nhận, và những “điều giả dối”, tức

là điều không được giáo hội chấp nhận

2.2.2 Sử học phương Tây từ thế ki XII dén thé ki XV

-Trong tác phẩm sử học, nhiều sự kiện hoang tưởng còn lẫn lộn với những sự kiện có thực, thế giới hiện thực luôn có mối quan hệ chặt chẽ với thế giới thần linh Ví như, trong tác phẩm “Lịch sử các nhà vua Anh” của Giépphơrl, khi trình bày các thế hệ vua nước Anh, tác giả đã đưa vào tác phẩm ông vua thần thoại Actua, cùng các hiệp sĩ Tác giả không phê phán những yếu tố hoang đường mà

còn bia dat thêm nhiều chỉ tiết mới Nhà sử học Đức nỗi tiếng của thế kỉ XII là

Trang 37

Ôttô, trong tác phẩm “Bàn về hai vương quốc ”, hay còn gọi là “Sách bàn về tính thay đổi của toà án”, đã trình bày một vương quốc thần thánh và một vương quốc

trần tục Ông cho rằng: “Con người cần phải từ bỏ những công việc 6 tran gian

Và hướng tới thiên đường vĩnh hằng, bởi vì có hai vương quốc đang tồn tại: một là tạm thời, một là vĩnh viễn; một là trần tục, một là thiên đường; một là |

Satăng, một là Chúa trời Tác phẩm còn lặp lại những chuyện bịa đặt về nguồn gốc Giáo hoàng người thừa kế trực tiếp của các hoàng đế Rôma Ốttô không phân biệt những biến cố chủ yếu với những biến cố thứ yếu, lẫn lộn cuộc khởi

nghĩa của người trong nước với cuộcxâm lăng của các bộ tộc “dã man” Trong phần “Các Hoàng đề Rôma”, Ôttô còn đưa vào tác phẩm nhân vật thần thoại nhưThần Thời gian (anus), Thần Mùa màng (Saturnus)trong thần thoại phương Tây Phần cuối của biên niên sử, Ốttô miêu tả ngày tận thế và ngày xuất

hiện của vương quốc thần linh

Khi giải thích những hành động của con người, các nhà sử họcthời kì này

thường viện đến sự can thiệp của Chúa, xem đó lànguyên nhân cơ bản quyết định mọi biến động trong cuộc sống Nhà biên niên sử Giăng Vilơ (1224 - 13 17) cắt nghĩa sumay man trong các trận chiến Ai Cập là “Chúa quyền lực vô biên đã

tha thứ cho chúng ta khi người cứu chúng ta thoát khỏi cái chết và hiểm họa”

Do đó, con người phải kínhChúa và làm theo Chúa: “Bậc thánh nhân này yêu

_ kính Chúa bằng tất cả tắm lòng mình và noi theo những việc từ thiện của chúa”

Tuy nhiên,sử học phong kiến châu Âu cũng có những bước tiến trong sự phát triển của tư duy lịch sử Dù bị tôn giáo kìm hãm, một sốnhà sử học vẫn tìm cách

ghỉ lại sự thực lịch sử Guybéctơ (1003 — 1124) trong cuốn “Lịch sử các cuộc,

thập tự chinh đã phân chia ra bai loại sự kiện “kì diệu”: những “điều có thật” và những “điều giả đối” không được giáo hội tán thành Đây là một lối thoát để các nhà sử học có thé chép lại sự thực lịch sử (mặc dù được xem là “điều giả dối”)

Trong một số tác phẩm, lịch sử bước đầu đã thoát khỏi quan niệm về sự

phát triển theo thiên mệnh mà đã giải thích theo "điều thiện", "cái ác" Thiện sẽ thắng ác Ví như, Ôguýttanh trong tác phẩm “Vẻ trận mưa đá do Chúa tạo nên"

đã giải thích sự diệt vong của đế quốc Rôma như sau: Thế giới bao gồm hai

Trang 38

vương quốc cách biệt, vương quốc thân thánh - hiện thân cho chân lý và chính

nghĩa và vương quốc trần tục - biện thân cho hung ác và bạo lực Từ khi Giêsu xuất hiện, vương quốc thần thánh ngày một hùng mạnh, vương quốc trần tục đang đến ngày tận thế Rôma là một trong những quốc gia trần tục cuối cùng, nó

đã hoàn thành, việc hợp nhất thế giới và sau khi làm xong tất phải diệt vong Như vậy, quá trình lịch sử trong tư duy của Ôguýttanh dù rất giản đơn và hoang tưởng nhưng đã bao hàm yếu tố biến đổi và phát triển

Các nhà sử học thời trung đại cũng nêu lên quan niệm về tính thống nhất của toàn thể nhân loại Quan niệm này của Thiên chúa giáo rộng hơn quan niệm thời cổ đại Giáo lý nhà thờ cho răng, mọi người đều bình đẳng trước Chúa, song trên thực tế của xã hội phân chia giai cấp, các giai cấp thống tri va bi tri chang

_ bao giờ bình đẳng |

Những quan điểm than học trong sử học chỉ bị đánh đỗ khi chế độ phong kiến bị lung lay dưới những đòn giángmạnh mẽ của các cuộc khởi nghĩa nông dân Ví như, ở Tiệp Khắc thế kỉ XV và ở Đức thế ki XVI, do phong trào đấu tranh chống phong kiến mạnh mẽ của nông dân mà nảy sinh nhiều học thuyết xã hội - lịch sử, thù địch với chế độ phong kiến Đỉnh cao của hệtư tưởng mới này

- là quan điểm của Tômát Manda, chủ trương dùng đấu tranh để xóa bỏ sự bất

bình đẳng về giai cấp và chế độ tư hữu

2.2.3 Sử học phương Tây thời kì Phục hưng (từ thế ki XV đến XVID)

Van hod Phục hưng(Renaissance) ra đời ở Italia vào thế ki XV và phát triển mạnh mẽ vào thế kỉ XVI - XVII khắp cả châu Âu Đây là thời kì chế độ phong kiến đã suy yếu, giai cấp tư sản đang trưởng thành và đấu tranh chống lại

chế độ phong kiến về mọi mặt Sử học lúc bấy giờ đang trên đường khắc phục

những quan điểm phong kiến, tôn giáo và trở thành sử học nhân văn Thực ra,

những quan điểm tiến bộ của sử học nhân văn đã ra đời trước đó ở Italia và bắt nguồn từ các nhà sử học cổ đại Ví như, Ibn Handul, sử gia Ảrập, đã bác bỏ sự

_ giải thích lịch sử bằng ý thức hệ tôn giáo Ong xem lịch sử là sự thay đổi thường

xuyên của cuộc sống, phong tục của con người, là quá trình diễn ra không ngừng

sự thịnh suy của cácquốc gia

Trang 39

Trên cơ sở chế độ phong kiến đã suy yếu, giai cấp tư sản đang trưởng thành và

tìm cách chống lại chế độ phong kiến về mọi mặt Đồng thời, những thành tựu lớn trong lĩnh vực khoa tự nhiên đã làm triết học tiên tiến của thời Phục hưng không

đóng vai trd “t6i t6 của thân học” Khuynh hướng "phản kinhviện" xuất hiện Triết

học Phục hưng chống lại cái học thức chicăn cứ vào sách vở trong phòng tu kín, nó

đòi hỏi hòa đồng với tự nhiên và trở lại với quá khứ một cách chân thực

Trong số các nhà triết học lớn ảnh hưởng nhiều nhất đối với sử học Phục hưng có Baicơn (F.Bacon) và Đêcác (R.Descartes)

Baicon (1561 - 1626) là nhà triết học Anh, người sáng lập ra chủ nghĩa duy

vật Anh và khoa học thực nghiệm Ông phê phán triết học trung cổ, đồng thời

cho rằng triết học kinh viện và thần học đã ngăn cán bước tiến của khoa học, làm cho khoa học bị lẫn lộn với mê tín dị đoan Theo ông, phải kiểm tra kỹ các giáo lý bằng con đường thực nghiệm Ông cho rằng, triết học chân chính phải có tính chất thực tiễn, nghĩa là phải dựa trên sự phân tích các hiện tượng tự nhiên

và trên những tài liệu của kinh nghiệm

Baicơn sáng lập ra triết học quy nạp cho rằng, phải dựa trên chứng cứ cụ

thé dé rút ra mệnh đề lý thuyết Ông nêu rõ cần phải thận trọng khi nêu các phán

đoán Vì vậy, trong sử học ông coi trọng sự chính xác của nguồn tư liệu gốc Ông nêu ý kiến các nhân tố cản trở nhà sử học tái tạo quá khứ một cách khách quan Đó là, xây dựng sự kiện qua lời kể; thụ động theo các học thuyết; định kiến cá nhân; huyền thoại

Trong nghiên cứu, Baicơn coi trọng phương pháp; ông nêu hình tượng người thọt đi đúng đường đến đích trước người khỏe chân mà chạy sai đường để nói về tầm quan trọng của phương pháp

Đêcác (1596 - 1650) coi nhiệm vụ cuối cùng của tri thức là sự thống trị của con người đối với lực lượng tự nhiên, sự phát minh và sáng chế các phương tiện

kỹ thuật, sự nhận thức những nguyên nhân và hành vi, sự hoàn thiện bản tính con người Để thực hiện nhiệm vụ này, Đêcác cho rằng trước hết phải hoài nghĩ mọi sự tồn tại hiện có Hoài nghi như vậy không phải là không tin vạn vật mà chỉ là thủ đoạn để tìm ra cơ sở tuyệt đối xác thực của sự hiểu biết Ong coi

Trang 40

nguyên lý “Tôi suy nghĩ do đó tôi tồn tại? là cơ sở của nhận thức Triết học

củaĐêcác theo lối suy diễn, nhận thức quy luật tự nhiên, xã hội để soi sáng các

hiện tượng

Đối với sử học, Đêcác không coi đó là một khoa học, nếu nhưchỉ mô tả su

kiện mà không tìm ra quy luật Ông cho rằngsử học quá yếu về tính phê phán,

mang tính nghệ thuật nhiều hơn và không biết chọn lựa sự kiện Tuy nhiên,

những quan điểm triết học của Đêcác đã ảnh hưởng lớn đến sửhọc Nó tạo ra

không khí triết học cho những cốgăng nghiên cứu dé dat tính chính xác, tính trong sáng và tính phê phántrong công tác sử học Ông để ra quan niệm về sự tiến bộ không ngừng và cho rằng sự tiến bộ đó đã được xác định từ đầucho đến

khi đạt được tình trạng hoàn hảo Ông để cao phươngpháp trong nghiên cứu:

“Thiếu phương pháp, người tài cũng có thể không đạt kết quả Có phương pháp

thì người tầm thường cũng trở nên phi thường”

Văn hoá Phục hưng mà hai trào lưu triết học của Baicơn, Đêcác đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới các nhà sử học, làm nảy sinh một tư tưởng mới trong sử học

- tư tưởng phê phán mà nội dung chủ yếu là nguồn tư liệu gốc Cùng với tư tưởng phê phán, các nhà sử học đã đấu tranh bác bỏ quan điểm lịch sử của giáo

hội phong kiến Họ giải thích lịch sử ở ngay chính bản thân lịch sử, đặt vấn đề

về quy luật nội tại của lịch sử và cho rằng bản tính con người quy định các quy

luật ấy Chính vì vậy, sử học thời Phục hưng đạt được nhiều thành tựu lớn trên

các mặt

Về phê phán tư liệu, các nhà sử học Italia theo chủ nghĩa nhân văn trong cuộc đấu tranh để quay về với văn hoá Hy Lap, Rôma cỗ đại đã rất chú ý tìm hiểu sâu sắc các tác phẩm thời kì này Qua đó, họ trở thành những người đầu tiên xây dựng kĩ thuật khôi phục bản gốc, phát hiện những chỗ sai lạc, những

điều thêm bớt và thiếu sót trong các văn kiện, phân rõ bản văn chính của tác giả với những chỗ vay mượn, đồng thời chú dẫn tư liệu Đại diện xuất sắc cho khuynh hướng này là L Bruni, F Bôngđô, N Makiavéli

Một trong những người đầu tiên tỏ thái độ nghi ngờ tính khoa học của các tài

liệu đương thời là nhà sử học nhân văn Italia Lô Renx6 Vanle (1407 — 1457) Là

Ngày đăng: 08/11/2022, 20:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN