1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định hướng dư luận xã hội và truyền thông (giáo trình nội bộ sau đại học)

97 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: DƯ LUẬN XÃ HỘI (5)
    • 1.1. Sơ lược lịch sử hình thành khái niệm dư luận xã hội (0)
    • 1.2. Khái niệm, định nghĩa và đặc trưng của dư luận xã hội (0)
      • 1.2.1 Khái niệm về dư luận xã hội (9)
      • 1.2.2 Một số quan điểm khác nhau về dư luận xã hội (11)
      • 1.2.3 Đặc trưng của dư luận xã hội (16)
    • 1.3 Tin đồn (16)
      • 1.3.1. Định nghĩa (16)
      • 1.3.2. Các tác động của tin đồn (0)
      • 1.3.3. Các yếu tố trong quá trình truyền tin đồn (0)
      • 1.3.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới niềm tin về tin đồn (0)
    • 1.4. Các tiếp cận khác nhau về dư luận xã hội (0)
      • 1.4.1. Các đặc trưng của dư luận xã hội (0)
      • 1.4.2. Quá trình hình thành và biến đổi dư luận xã hội (0)
      • 1.4.3. Chủ thể và đối tượng của dư luận xã hội (25)
  • CHƯƠNG 2: TRUYỀN THÔNG (27)
    • 2.1. Khái niệm truyền thông (27)
    • 2.2. Khái niệm kênh truyền thông (28)
    • 2.3. Các chức năng của truyền thông (28)
    • 2.4. Các lí thuyết truyền thông trong định hướng dư luận xã hội (29)
      • 2.4.1. Thuyết khung (Framing theory) (29)
      • 2.4.2. Thuyết tâm lý học truyền thông (32)
      • 2.4.3. Mô hi ̀nh truyền thông theo tiến trình song song mở rộng ( thuyết hấp dẫn sự sợ hãi) (33)
      • 2.4.4. Thuyết ha ̀ nh động duy lý (33)
      • 2.4.5. Thuyết chức năng (33)
      • 2.4.7. Các lí thuyết diễn ngôn và bất định (38)
      • 2.4.8. Elizabeth Noel Newmann về Thuyết dòng xoáy im lặng (39)
    • 2.5. Đặc trưng của quá trình truyền thông (0)
    • 2.6. Rào cản đối với hiệu quả truyền thông (44)
    • 2.7. Hiệu ứng Hawthorne trong truyền thông (45)
    • 2.8. Một số mô hình truyền thông của Lasswell; Claude Shannon, Warren (45)
    • 2.9. Các loại hình truyền thông (46)
    • 2.10. Ý nghĩa của hoạt động truyền thông (46)
    • 2.11. Quan hệ giữa truyền thông và dư luận xã hội trong định hướng dư luận xã hội (47)
      • 2.11.1. Phân loại công chúng (47)
      • 2.11.2. Định nghĩa thành phần của DLXH (47)
      • 2.11.3. Các giai đoạn trong quá trình phổ biến hay lan truyền tin (0)
  • CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI TRÊN CÁC KÊNH TRUYỀN THÔNG (51)
    • 3.1. Các nguyên tắc chung (51)
      • 3.1.1. Tính đảng (51)
      • 3.1.2. Tính khoa học (51)
      • 3.1.3. Tính quyền con người (51)
      • 3.1.4. Phê bình và tự phê bình (0)
    • 3.2 Định nghĩa định hướng dư luận xã hội (52)
    • 3.3 Những nhân tố tác động đến quá trình DLXH (52)
    • 3.4. Tác động của nhận thức đến độ ổn định và biến đổi DLXH (53)
      • 3.4.1. Thiếu hiểu biết nhiều chiều và sư đa nghi (53)
      • 3.4.2. Đồng thuận giả (54)
      • 3.4.3. Nhận thức phản chiếu (54)
      • 3.4.4. Hiệu quả của tác động của dư luận đối với nhân vật thứ ba (0)
    • 3.5. Định hướng dư luận trên các kênh truyền thông (55)
      • 3.5.1. Quan niệm chung về Định hướng dư luận trên các kênh truyền thông Các kênh truyền thông đại đại chúng bao gồm các kênh báo nói, báo viết, báo hình, phim ảnh, pano, áp phíc, băng đĩa v.v (55)
      • 3.5.2. Mục đích của định hướng dư luận trên các kênh truyền thông đại chúng (56)
      • 3.5.3. Định hướng dư luận theo các kênh truyền thông đại chúng (57)
      • 3.5.4. Định hướng dư luận qua kênh tổ chức (57)
      • 3.5.5. Định hướng dư luận qua kênh liên cá nhân (58)
    • 3.6. Định hướng dư luận trên các kênh đại chúng theo thuyết dòng xoáy im lặng (59)
    • 3.7. Vận dụng thuyết ―dòng xoáy im lặng‖ trong công tác định hướng dư luận xã hội thực hiện các nghị quyết (63)
    • 3.8. Định hướng dư luận thực hiện ―Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay‖ (67)
    • 3.9. Một số kiến nghị định hướng dư luận trong tình hình hiện nay (72)
  • CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN TRÊN MẠNG XÃ HỘI (74)
    • 4.1. Xu hướng sử dụng mạng xã hội và những thách thức (74)
    • 4.2. Cơ sơ ̉ lí luâ ̣n nghiên cứu chiến tranh thông tin và lòng tin xã hô ̣i (0)
    • 4.3. Cuô ̣c chiến tranh thông tin (80)
  • KẾT LUẬN (93)

Nội dung

Herbert Blumer có quan điểm hoàn toàn khác với Haberrmas, theo Blumer, dư luận xã hội là một hình thức của hành vi tập thể được hình thành bởi những người đang tranh luận về một vấn đề x

DƯ LUẬN XÃ HỘI

Khái niệm, định nghĩa và đặc trưng của dư luận xã hội

Theo Habermas, phải tôn trọng những qui tắc như:

- Cho công dân tranh luận và thảo luận công khai

- Mọi người đều có quyền đưa ý kiến của mình

- Đều tỏ thái độ mong muốn và nhu cầu của mình

- Không được gây sức ép từ bên ngoài

- Đề cao sự giải phóng tự do cá nhân và vai trò cá nhân tạo dư luận xã hội Trong khi đó, Lunman thì lại đề cao các chủ đề mà dư luận quan tâm tức là đối tượng của dư luận xã hội Đối tượng của dư luận phải liên quan đến vấn đề có liên quan đến lợi ích và những quan tâm của số đông

Noell Neuman đưa ra thuyết Dòng xoáy im lặng, mô tả cơ chế điều chỉnh quan hệ xã hội dựa trên nguyên tắc đa số và sự rút lui của nhóm thiểu số khỏi lĩnh vực tranh luận Theo thuyết này, ý kiến của số đông được coi là hợp lẽ và các quan điểm trái chiều dễ bị loại bỏ hoặc im lặng Quan trọng là thuyết này được áp dụng như một chiến thuật tuyên truyền và gây áp lực, buộc số ít phải rút lui ý kiến của mình khỏi công luận.

1.2 Khái niệm, định nghĩa và đặc trƣng của dƣ luận xã hội

1.2.1 Khái niệm về dư luận xã hội

Dư luận xã hội là ý kiến công chúng thể hiện ý thức cộng đồng, phản ánh qua quan hệ giữa các thành viên và được thể hiện gián tiếp hoặc qua các đánh giá giá trị cũng như hành động thiết thực của họ Nó luôn phản ánh vị trí tập thể và phát sinh từ các vấn đề lợi ích công chúng; bản chất là sự kết hợp của những ý tưởng lý thuyết, ý nghĩa thông thường và cả ảo tưởng, trước hết thể hiện qua cảm xúc và phán đoán, sau đó qua hành động Nhiều nhà nghiên cứu coi dư luận xã hội là cơ chế quan trọng của sự tương tác xã hội, bởi mọi tương tác đều bắt nguồn từ mục đích chung, quan điểm chung và hệ thống giá trị chuẩn mực để đưa ra các giải pháp cho các vấn đề xã hội Cùng một vấn đề xã hội đứng ở các vị trí xã hội khác nhau dựa trên giá trị đạo đức và hệ tư tưởng khác nhau sẽ không có giải pháp và cách giải quyết giống nhau.

Dư luận xã hội được các chuyên gia ở hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu phân tích và được đại diện báo chí, nhà công nghệ, nhà chính trị, lãnh đạo các cấp và nhà hoạt động phong trào xã hội sử dụng làm cơ sở định hướng thông tin và hoạch định chính sách Trong xã hội hiện đại, dư luận xã hội đóng vai trò quan trọng trong quản trị và điều hành xã hội đồng thời dự báo sự phát triển theo các xu hướng văn hóa, chính trị và xã hội cụ thể Ý kiến công chúng là một hình thức sống động của đời sống tinh thần xã hội, và nó luôn gắn với nhóm chủ đạo, đại diện cho đặc trưng riêng của một cộng đồng hay một nhóm xã hội Với nền tảng xã hội rộng lớn, việc khai thác hiệu quả dư luận có thể tác động tới quan hệ xã hội, chuyển đổi địa vị và tư thế chính trị từ bị động sang chủ động và giành được lợi thế Điều này được thể hiện rõ trong các cuộc chiến chống tham nhũng mà Đảng ta đang thực hiện.

Ý kiến công chúng là một hiện tượng tâm lý xã hội, đóng vai trò như một kích thích tích cực thúc đẩy cả hành động cá nhân và hành động xã hội của quần chúng, từ đó có khả năng định hình phạm vi hoạt động và mang lại sự ổn định trong một thời gian dài Đồng thời, ý kiến công chúng còn là một dạng công nghệ xã hội, nơi cải thiện thực hành quản lý có thể mở rộng việc sử dụng nó bởi các nhà lãnh đạo và nhà chính trị, bất kể họ có đánh giá cá nhân về hiệu quả sử dụng trong thực tế hay không.

Dư luận xã hội là biểu hiện cụ thể của ý thức xã hội, được thể hiện qua các đánh giá của công chúng bằng lời nói và bằng văn bản, và được nhận diện rõ ràng hoặc ngầm qua các quan hệ giữa các nhóm xã hội lớn với những vấn đề cấp bách của đời sống xã hội Những đánh giá này phản ánh xu hướng, mong muốn và biến động xã hội, đồng thời cho thấy mức độ quan tâm và ảnh hưởng của các vấn đề nổi lên trong đời sống hàng ngày.

Quan điểm khác cho rằng dư luận xã hội là tổng hợp các ý kiến cá nhân, thái độ và cả niềm tin của một nhóm người đối với những vấn đề họ quan tâm Định nghĩa này được dùng nhiều hơn khi xem xét dư luận của dân số một quốc gia hoặc một vùng địa lý nhất định, phản ánh cách công chúng đánh giá và phản ứng với các vấn đề xã hội mà họ quan tâm.

Theo các nhà xã hội học Mác xít, dư luận xã hội là hình thức cụ thể của ý thức xã hội và là một trạng thái tinh thần phức tạp phản ánh quan hệ thẩm định của các nhóm xã hội, giai cấp và cả dân tộc trước những vấn đề cấp bách của đời sống xã hội được xã hội quan tâm Những vấn đề này cho thấy dư luận xã hội thể hiện sự đồng thuận hoặc tranh luận của xã hội về thực trạng và đóng vai trò như thước đo động lực, tác động đến quá trình hình thành các quyết định và hành động xã hội.

1.2.2 Một số quan điểm khác nhau về dư luận xã hội

Dư luận xã hội là trạng thái ý thức xã hội phản ánh các sự kiện và hiện tượng của thực tại xã hội, bao gồm cả những quan hệ đã hiện rõ lẫn những quan hệ tiềm ẩn trong các cộng đồng Nó có các chức năng cơ bản như thể hiện và phản ánh thực tế, kiểm soát xã hội, tham vấn hay tư vấn và chỉ đạo hay định hướng hành động Theo quan niệm xã hội học Mác xít, xã hội là một chỉnh thể có cấu trúc do các thành phần như giai cấp xã hội, dân số, nơi cư trú (nông thôn, đô thị), dân tộc và sắc tộc tạo thành Khái niệm xã hội được hiểu rộng nhất là xã hội loài người, hẹp hơn là xã hội quốc gia và hẹp hơn nữa là xã hội của các cộng đồng trong một quốc gia Dư luận xã hội có vị trí và vai trò nhất định trong quan hệ xã hội: đưa ra lời khuyên, đưa ra quyết định về các vấn đề xã hội, điều chỉnh hành vi cá nhân, cộng đồng và tổ chức, đồng thời ủng hộ hay bác bỏ các niềm tin, giá trị và chuẩn mực xã hội.

Dư luận xã hội là trạng thái ý thức xã hội phản ánh các sự kiện và hiện tượng của thực tại xã hội, đồng thời thể hiện và kiểm soát các quan hệ xã hội Nó có các chức năng cơ bản gồm thể hiện/phản ánh, kiểm soát, tham vấn và tư vấn, chỉ đạo các vấn đề xã hội, điều chỉnh hành vi cá nhân và tập thể; ủng hộ hay bác bỏ các quan niệm và chuẩn mực xã hội Theo xã hội học Mác-xít, xã hội được xem như một chỉnh thể có cấu trúc từ các thành phần xã hội như giai cấp, dân số, nơi cư trú (nông thôn, đô thị), dân tộc và sắc tộc Khái niệm xã hội được hiểu ở mức rộng nhất là xã hội loài người, hẹp hơn là xã hội quốc gia và hẹp nữa là xã hội của các cộng đồng trong một quốc gia Dư luận xã hội có vị trí và vai trò nhất định trong quan hệ xã hội, như đưa ra lời khuyên, đưa ra quyết định về các vấn đề xã hội, điều chỉnh hành vi cá nhân, cộng đồng và tổ chức, cũng như ủng hộ hay bác bỏ các giá trị và chuẩn mực xã hội.

Xã hội học Mác xít xem dư luận xã hội là một hình thức của ý thức xã hội, đồng thời là một hiện tượng tinh thần có cấu trúc, thể hiện mức độ phản ánh hiện thực xã hội khác nhau và là khía cạnh tinh thần của quá trình lịch sử Dư luận xã hội đóng vai trò như một thiết chế xã hội và là một chủ thể tác động tích cực đến quá trình quản lý điều hành xã hội; bài viết này đặc biệt nhấn mạnh thuộc tính này của dư luận xã hội và phân tích cách nó tác động tới công tác quản trị và đời sống xã hội.

Bên cạnh các quan niệm Mác Xít về dư luận xã hội, các quan điểm phi Mác Xít không thống nhất trong định nghĩa dư luận xã hội Hiện nay, có ba quan điểm tiếp cận nghiên cứu dư luận xã hội từ phía các nhà khoa học xã hội: quan điểm thứ nhất nhấn mạnh từ cấp độ cá nhân; quan điểm thứ hai tập trung nghiên cứu dư luận xã hội ở cấp độ tập thể; và quan điểm thứ ba xem dư luận xã hội như một quá trình xã hội Cách tiếp cận cá nhân thiên về tâm lý học xã hội, xem dư luận xã hội ở góc nhìn của cá nhân như một thái độ, niềm tin và sự phán xét được cho là đúng; quan điểm này không chú trọng đến việc đánh giá và phán xét và cho rằng thái độ của cá nhân có thể đúng hoặc sai, đồng thời có thể thay đổi khi được cung cấp thông tin bổ sung so với cơ sở đã dùng để đánh giá, phán xét trước đó.

Trong khoa học xã hội, có ba cách tiếp cận dư luận xã hội được công nhận rộng rãi Thứ nhất, dư luận xã hội được xem là tập hợp các cá nhân hình thành nên các nhóm xã hội có ý kiến đồng thuận về những vấn đề họ quan tâm Thứ hai, cách tiếp cận dư luận xã hội tập thể cho rằng ý kiến của cá nhân hoặc của một nhóm không bị áp đặt bởi ý kiến của tập thể hay nhóm đó Thứ ba, theo quan điểm cấp độ tập thể, dư luận xã hội không chỉ là những đánh giá hay phán xét của một nhóm người mà là một tập thể đang vận động, thay đổi Nói cách khác, dư luận xã hội liên quan đến một nhóm người đang đối mặt với một mâu thuẫn trong nhận thức của chính họ, vì thế họ cần gặp gỡ và trao đổi với nhau để tìm cách giải quyết mâu thuẫn ấy.

Một định nghĩa của các nhà xã hội học Mỹ rất đáng quan tâm nghiên cứu:

Dư luận xã hội được xác định bởi hình thức thể hiện của nó, như một hành vi tập thể cơ bản, và bởi chức năng của nó như một công cụ kiểm soát xã hội Hình thức dư luận phản ánh cách chúng ta tương tác, thảo luận và biểu đạt quan điểm, trong khi chức năng của nó là định hướng hành vi và thiết lập các chuẩn mực xã hội Nhờ sự kết nối giữa hình thức và chức năng, dư luận có thể tác động đến quyết định công và quản lý xã hội một cách hiệu quả.

Dư luận xã hội được xem như một hình thức tồn tại của hành vi tập thể và chức năng kiểm soát xã hội, theo Blumer (1972) và Ross (1901) Một định nghĩa phổ biến khác cho dư luận xã hội cho rằng đó là toàn thể các thái độ và niềm tin cá nhân được tổ chức bởi một nhóm dân số trưởng thành Trong khi định nghĩa này phản ánh nội hàm của thái độ và niềm tin của một nhóm, một học giả khác là Warner cho rằng dư luận xã hội là công luận, tức là ý kiến của công chúng với quy mô đủ lớn và có thể đo đạc được thông qua các cuộc thăm dò dư luận.

3 The oxford dictionary of pshycology ,2006, mục từ: public opinion

4 The Blackwell Encyclopedia of Sociology ,2007, Blackwell Publishing Ltd.p.3712

5 Edgar E Bo rgatta, Rhonda J.V.Montgomery, Encyclopedia of sociology , Macmilan reference USA, 2000 P.2273 luâ ̣n Theo Warner, dư luận xã hội chính là công luận và được hiểu như sau:

―Công luận là kết quả tổng hợp các ý kiến trả lời của mọi người đối với các câu hỏi nhất định, dưới điều kiện của cuộc phỏng vấn‖ 7

Tin đồn

Trong công trình này, chúng tôi coi tin đồn là những thông tin mà người đưa tin không chịu trách nhiệm pháp lí về thông tin mà mình đưa

Tin đồn được định nghĩa khác nhau giữa các nhà nghiên cứu xã hội, chủ yếu là các nhà xã hội học, tâm lý học và chính trị học Sự đa dạng trong định nghĩa phản ánh cách mỗi lĩnh vực nhấn mạnh các yếu tố tâm lý, động lực lan truyền và bối cảnh xã hội—chính trị tác động tới cách tin đồn hình thành và lan rộng trong cộng đồng Do đó, để phân tích tin đồn một cách toàn diện, cần kết hợp các quan điểm từ xã hội học, tâm lý học và chính trị học nhằm có cái nhìn sâu sắc về tác động của tin đồn đối với hành vi công chúng và sự diễn giải thông tin.

Chức năng: Giải thích; Giải tỏa tâm lý

 Quy luâ ̣t rút bớt chi tiết

Người đưa tin đồn thường rút bớt chi tiết trong thông tin để tạo ra nội dung kích thích sự tò mò và dễ lan truyền Bằng cách bỏ qua các dữ liệu xác thực và thêm thắt những yếu tố kỳ dị, câu chuyện nghe có vẻ hấp dẫn hơn và dễ được chia sẻ Ví dụ về con gà ba chân hay con lợn 4 tai cho thấy cách thông tin kỳ dị được thiết kế để chạm vào sự tò mò và hiếu kỳ của con người, từ đó tăng lượt xem, lượt chia sẻ và sự chú ý của khán giả.

 Qui luâ ̣t đồng hóa

Người đưa tin đồn thường đồng hóa và gửi gắm cảm xúc cá nhân vào chính tin tức họ phát đi, khiến nội dung mang sắc thái chủ quan nhiều hơn sự thật khách quan Thông tin do ai đó cung cấp thường bị hòa trộn với tri thức và quan điểm của người kể, làm giảm độ tin cậy và làm méo mó nhận thức về sự việc Ví dụ, những người ghét tham nhũng thường truyền bá thông tin tiêu cực về kẻ tham nhũng hoặc người tham ô và cho rằng họ đã bị tòa án xử phạt, từ đó sự thiên lệch cảm xúc làm khuếch đại mức độ tin cậy của thông tin trong cộng đồng.

 Quy luâ ̣t cường điê ̣u hóa

Người đưa tin đồn thường không chịu trách nhiệm pháp lý cho nội dung họ phát tán, nên họ hay cường điệu thông tin về sự vật, hiện tượng để câu chuyện trở nên ly kỳ hơn thực tế Sự cường điệu này làm tin tức dễ bị hiểu sai, làm giảm tính xác thực và lan rộng nhanh trên mạng xã hội Người đọc nên chú ý nguồn tin, kiểm tra thông tin và nhận ra dấu hiệu phóng đại để tránh bị lừa đảo thông tin giả Ví dụ minh họa cho hiện tượng này là câu chuyện về việc nhìn thấy voi chui lọt qua lỗ kim, một ẩn dụ cho việc phóng đại sự kiện đến mức không còn phản ánh thực tế.

1.3.2 Các tác động của tin đồn

Tin đồn có thể gây ra các kết quả cu ̣ thể Tin đồn có thể có tác đô ̣ng tích cực và tiêu cực đến đối tượng mà nó gửi thông điê ̣p Tin đồn có thể bô i nho ̣ thanh danh của cá nhân hay tâ ̣p thể mô ̣t cách dễ dàng hơn dư luâ ̣n vì bản chất của tin đồn khác với dư luận ở nguồn gốc và cơ sở pháp lý của thông tin Các nghiên cứu thực nghiê ̣m đã chỉ ra rằng , tin đồn có thể thu hú t các nhà đầu tư từ mô ̣t chiến lươ ̣c thương ma ̣i ―mua thấp bán cao‖ mô ̣t cách có lợi , hợp lý 13 Các nghiên cứu thực đi ̣a cũng cho thấy rằng thi ̣ trường chứng khóan có phản ứng mạnh mẽ với những tin đồn Mă ̣c dù người ta không tin tưởng vào tin đồn nhưng tin đồn vẫn có tác đô ̣ng thực sự đến đời sống xã hô ̣i nhất là các lĩnh vực chính tri ̣ và tài chính

1.3.3 Các yếu tố trong quá trình truyền tin đồn

- Sự không chắc chắn về mô ̣t tình huống hay hoàn cảnh là yếu tố tác động mạnh tới niềm tin của con người Trong mô ̣t tình huống không chắc chắn , con người luôn đă ̣t ra và trả lời cho chính mình những câu hỏi có liên quan đến bản thân, đến danh dự, sự nghiê ̣p và điều kiê ̣n sống, môi trường làm viê ̣c vv Ở trong tình huống đó con người dễ bị dao động dễ mất niềm tin và dễ bị kích động Ví dụ: Trong điều kiê ̣n khó khăn của nền kinh tế , quan hê ̣ giữa người lao đô ̣ng và

13 The Cambridge dictionary of Psychology, Cambridge University Press, 2009, p.453 giới chủ dễ mất niề m tin về nhau ; người lao đô ̣ng rất dễ bi ̣ cho ̣c tức bởi những tin đồn xấu liên quan đến viê ̣c làm và thu nhâ ̣p , họ rất dễ tham gia đình công , phản đối giới chủ Trước những cuô ̣c bầu cử , thường xuất hiê ̣n những tin đồn làm cử tri khó cho ̣n lựa các ứng viên vì các thông tin về suy thoái đa ̣o đức lối sống của nhân vâ ̣t nào đó mà ho ̣ đang phải lựa cho ̣n sẽ gây cho ho ̣ tâm tra ̣ng dao đô ̣ng, lòng tin bị lung lay…

Mối lo âu và mối băn khoăn là trạng thái cảm xúc liên quan đến sự kiện tiêu cực tiềm ẩn, vốn kích thích con người thảo luận về tin đồn với nhau nhằm ngăn chặn cái xấu và tạo cho họ một cảm giác kiểm soát về mặt tâm lý Những tin đồn này thường kết nối và lan truyền nhanh, khiến người tham gia càng tin tưởng và biên tập lại thông tin theo hướng giúp họ đối phó với nỗi sợ Trong bối cảnh số hóa, chu trình lan truyền tin đồn có thể tăng cường sự chú ý vào các khía cạnh tiêu cực, ảnh hưởng đến cách chúng ta đánh giá sự kiện và tiếp nhận thông tin Do đó, nhận diện tin đồn một cách có thẩm định và rèn luyện phê bình thông tin giúp cân bằng cảm xúc, giảm áp lực tâm lý và cải thiện chất lượng thông tin mà chúng ta tiếp cận.

- Ngườ i ta có thể dễ vươ ̣t qua các ti n đồn mà người ta tin hơn những tin đồn không tin

Xu hướng cho thấy người dùng thường trao đổi và thảo luận những tin đồn quan trọng hơn so với các tin đồn khác; những tin đồn này thường liên quan đến cá nhân, vì thế chúng khuyến khích cá nhân tham gia thảo luận các tin đồn đó.

Con người thường lan truyền và thảo luận tin đồn nhằm tìm ra sự thật về một sự kiện và xác định trạng thái thực tế của vấn đề Việc này giúp đánh giá đúng tình hình, từ đó đối phó hiệu quả với vấn đề và nhận diện các mối đe dọa đối với bản thân.

Thảo luận tin đồn là một hành động xã hội cơ bản, phản ánh cách con người xử lý thông tin và kết nối với nhau Tuy nhiên, có thể có người lợi dụng việc lan truyền tin đồn để tuyên truyền và củng cố các mối quan hệ chính trị hoặc nhóm lợi ích Vì vậy, thảo luận tin đồn không chỉ giải tỏa tâm lý xã hội mà còn đóng vai trò củng cố các quan hệ xã hội giữa các cá nhân và cộng đồng.

- Tin đồn có thể nói cho ai đó để thúc đẩy lòng tự tro ̣ng của ho ̣

-Ngườ i ta cũng thường sử du ̣ng tin đồn để nâng cao uy tín của nhóm mình và hạ uy tín của nhóm khác

1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới niềm tin về tin đồn

Có 4 yếu tố chính tác đô ̣ng ma ̣nh tới niềm tin về tin đồn 14 :(1) sự đồng ý với thái đô ̣ đã được tổ chức hiê ̣n hành đ áng tin cậy hơn sự phản đối ; (2) Tin đồn đươ ̣c bắt nguồn từ mô ̣t nguồn có đô ̣ tin câ ̣y dễ gây được lòng tin hơn từ nguồn ít đô ̣ tin câ ̣y (Thông tin trên báo có uy tín khác nhau sẽ có đô ̣ tin câ ̣y khác nhau Tờ báo nào càng có u y tín càng có đô ̣ tin câ ̣y cao ); (3) Viê ̣c nghe những tin đồn lă ̣p đi lă ̣p la ̣i có thể ta ̣o được niềm tin ở mức đô ̣ nhất đi ̣nh ;(4) Nghe sự phủ nhâ ̣n tin đồn dẫn tới làm giảm niềm tin về tin đồn

Từ những phân tích trên, chúng tôi định nghĩa tin đồn như sau: tin đồn là những thông tin được lan truyền mà người phát tin không chịu trách nhiệm pháp lý về nội dung mình đưa Đặc điểm của tin đồn là thiếu nguồn tin đáng tin cậy và sự thiếu cam kết chịu trách nhiệm về hậu quả của thông tin đó Định nghĩa này giúp phân biệt tin đồn từ thông tin được xác thực, có nguồn gốc rõ ràng và được kiểm chứng Nhận diện tin đồn giúp người đọc và người dùng mạng xã hội thận trọng khi tiếp nhận và chia sẻ thông tin, đồng thời thúc đẩy sự minh bạch và trách nhiệm nguồn tin trong quá trình lan truyền.

1.4 Các tiếp cận khác nhau về dƣ luận xã hội

Tonnies cho rằng, Dlxh là chức năng cân bằng xã hội của xã hội còn tôn giáo là chức năng giành cho hay thiên về cộng đồng 15

Jürgen Habermas cho rằng lĩnh vực công hay dư luận xã hội là không gian nơi dư luận có thể hình thành Dư luận xã hội (DLXH) có ba đặc trưng: cách tiếp cận một vấn đề một cách khách quan, tranh luận duy lý, và không có thứ bậc xã hội.

Herbert Blumer cho rằng hành vi tập thể—ví dụ biểu tình—là hình thức của hành vi xã hội được hình thành bởi những người đang tranh luận về một vấn đề xã hội tại bất kỳ thời điểm nào, chứ không phải là một vấn đề đã kết thúc tranh luận Nói cách khác, hành vi của tập thể trước một vấn đề xã hội hay mối quan tâm xã hội nào đó là kết quả của quá trình tranh luận liên tục trong nhóm, chứ không phải một kết luận đã đạt được Ví dụ điển hình là hành vi biểu tình tập thể chống lại việc thu hồi đất nông nghiệp do đền bù chưa thỏa đáng; trong tình huống này, hành vi biểu tình phản ánh thái độ của nhóm biểu tình về sự bất đồng ý kiến với quyết định thu hồi đất đai của chính quyền địa phương Quan điểm của Blumer hoàn toàn khác với Habermas.

14 The Cambridge dictionary of Psychology, Cambridge University Press, 2009, p.454

Các tiếp cận khác nhau về dư luận xã hội

Hầu như mọi ngành học liên quan đến con người đều phải nghiên cứu giao tiếp hay truyền thông ở mức độ nào đó Sau Chiến tranh thế giới II tâm lý học và xã hội học đã có nhiều đóng góp để hiểu được hành vi giao tiếp của con người Bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các lý thuyết Marxist, Các học giả Châu Âu bắt đầu gây ảnh hưởng đến các lý thuyết truyền thông tại Hoa Kỳ sau Chiến tranh thế giới II; họ đưa các lý thuyết văn hoá và phương pháp phê phán vào nghiên cứu truyền thông Các khoa truyền thông dần dần được thành lập Đầu tiên người ta hình thành các khoa diễn thuyết để thực hiện cả cơ sở diễn ngôn lẫn khoa học xã hội Sau đó tách dần thành khoa học truyền thông Một số học giả trong các lĩnh vực nghiên cứu các vấn đề liên quan tới truyền thông có có xu hướng xem truyền thông là một quá trình thứ cấp để truyền thông tin về thế giới, trong khi đó , các học giả truyền thông lại coi truyền thông là nguyên tắc tổ chức đời sống xã hội của con người, tức là truyền thông xây dựng thế giới xã hội thay vì chỉ cung cấp phương tiện để mô tả thế giới đó Ngày càng có nhiều nhà truyền thông tiếp cận từ các nền văn hóa khác nhau trên thế giới để miêu tả tính khách quan của truyền thông đa văn hóa Truyền thông và giao tiếp là hai phạm trù rất gần gũi với nhau nhưng cũng có khác biệt nhất định

Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin giữa các cá nhân trong tương tác xã hội, mang sắc thái cá nhân và tính liên cá nhân, được thể hiện bằng lời nói và các yếu tố cảm nhận khác Truyền thông là quá trình truyền tin và tiếp nhận thông tin có ý nghĩa xã hội rộng, nhắm tới công chúng và được thực hiện qua các kênh có lời và không lời Hai dấu hiệu để phân biệt giao tiếp và truyền thông là phạm vi và mục tiêu của thông điệp: giao tiếp diễn ra giữa các cá nhân hoặc nhóm nhỏ, mang tính cá nhân và trực tiếp, trong khi truyền thông hướng tới công chúng rộng và được thiết kế để lan tỏa thông tin qua nhiều kênh nhằm thúc đẩy sự đồng thuận và nhận thức chung.

- Giao tiếp thiên về sắc thái tình cảm và liên cá nhân

- Kênh giao tiếp được thực hiện bời lời nói

TRUYỀN THÔNG

Khái niệm truyền thông

Giao tiếp và truyền thông là các khía cạnh thiết yếu của hầu hết các ngành nghiên cứu liên quan đến con người Sau Chiến tranh thế giới II, tâm lý học và xã hội học đã đóng góp nhiều để hiểu hành vi giao tiếp Dưới ảnh hưởng của các lý thuyết Mác-xít, các học giả châu Âu bắt đầu ảnh hưởng tới các lý thuyết truyền thông ở Mỹ, đưa các quan niệm văn hóa và phương pháp phê phán vào nghiên cứu truyền thông Các khoa truyền thông lần lượt được thành lập, ban đầu từ các khoa diễn thuyết với cơ sở diễn ngôn và khoa học xã hội, rồi dần tách thành khoa học truyền thông riêng Có một số học giả xem truyền thông như một quá trình thứ cấp để truyền tin về thế giới, trong khi đó nhiều học giả truyền thông cho rằng truyền thông là nguyên tắc tổ chức đời sống xã hội, tức là truyền thông xây dựng thế giới xã hội thay vì chỉ mô tả nó Ngày càng nhiều nhà truyền thông tiếp cận từ các nền văn hóa khác nhau trên thế giới để mô tả tính khách quan của truyền thông đa văn hóa Truyền thông và giao tiếp là hai phạm trù gần gũi nhưng cũng có những khác biệt nhất định.

Giao tiếp là quá trình trao đổi và truyền đạt thông tin giữa các cá nhân trong tương tác xã hội, mang sắc thái cá nhân và tính liên cá nhân có tính tình cảm và nhận thức thông qua lời nói Truyền thông là quá trình truyền tin và tiếp nhận thông tin có ý nghĩa xã hội rộng lớn tới công chúng qua các kênh có lời và không lời Để phân biệt giữa hai khái niệm này, ta nhận diện hai dấu hiệu chính: phạm vi và đối tượng, khi giao tiếp tập trung vào trao đổi giữa các cá nhân hoặc nhóm nhỏ còn truyền thông hướng tới công chúng và xã hội rộng lớn; và hình thức cùng mục tiêu, khi giao tiếp nhấn mạnh sự tương tác, đồng cảm và yếu tố cá nhân, thì truyền thông chú trọng truyền tải thông tin qua nhiều kênh (lời và phi lời) nhằm lan tỏa ý nghĩa xã hội.

- Giao tiếp thiên về sắc thái tình cảm và liên cá nhân

- Kênh giao tiếp được thực hiện bời lời nói

- Truyền thông thiên về ý nghĩa xã hội của thông tin và công chúng rộng lớn

- Truyền thông được thực hiện bằng lời nói và cả không phải lời nói mà là các tín hiệu, ngôn ngữ hình ảnh, âm thanh, ánh sáng v.v

Tóm lại ta có thể định nghĩa truyền thông như sau:

Truyền thông là sự trao đổi thông tin giữa các chủ thể tương tác xã hội trên cơ sở trợ giúp của hệ thống kí hiệu và ngôn từ

Chủ thể của tương tác xã hội có thể là cá nhân, nhóm, tổ chức, thiết chế, cộng đồng các dân tộc, thậm chí nhà nước, quốc gia và liên quốc gia Ngược lại, chủ thể của giao tiếp chỉ là các cá nhân, tồn tại trong các quan hệ liên cá nhân và ở phạm vi tương tác trực tiếp, tương đối hẹp.

Khái niệm kênh truyền thông

Kênh truyền thông là kênh mà nhà truyền thông sử dụng để truyền tải những thông điệp nào đó

Thông thường người ta phân chia các kênh truyền thồng thành:

- Kênh truyền thông đại chúng ( đài, báo, sách, tạp chí, pano, áp phíc, băng, đĩa …)

- Kênh truyền thông liên cá nhân

- Kênh truyền thông tổ chức hay nội bộ

Các chức năng của truyền thông

- Chức năng tạo dựng và duy trì công chúng và người tiêu dùng hay cử tri

- Chức năng liên lạc với công chúng

- Chức năng thu hút vào chủ đề, chương trình và khung cảnh truyền thông

- Chức năng mã hóa và giải mã thông tin

- Chức năng vần điệu thông tin, làm cho thông tin có vần điệu và sắc tố

* Các chức năng thông tin hay hành động truyền thông:

- Đưa ra ý kiến, quan điểm

Các lí thuyết truyền thông trong định hướng dư luận xã hội

Lý thuyết khung nhằm xác định những khuôn mẫu nhận thức mà con người dùng để hiểu thế giới Nguồn gốc của lý thuyết này thường được gắn với nhà xã hội học Erving Goffman, người cho rằng các khung giải thích đóng vai trò trung tâm trong hệ thống tín ngưỡng và văn hóa Goffman gọi những khung này là các thiết kế giải thích mà chúng ta sử dụng trong kinh nghiệm hàng ngày để tạo ra ý nghĩa cho thế giới Khung giúp làm giảm sự phức tạp của thông tin và đồng thời là một quá trình hai chiều: nó vừa giải thích vừa tái tạo thực tế Khái niệm khung của Goffman có gốc từ hiện tượng học, một trường phái triết học cho rằng ý nghĩa thế giới được nhận thức bởi cá nhân dựa trên niềm tin, kinh nghiệm và kiến thức Theo truyền thống, ý nghĩa thế giới được chuyển tải qua quá trình xã hội hóa, hình thành thực tại tập thể trong một nền văn hóa hoặc xã hội; ngày nay, truyền thông trung gian được xem là nguồn tạo ra các khung nhận thức về thế giới, và các khung này bị thách thức và điều chỉnh qua các trải nghiệm và thương lượng.

Không có gì ngạc nhiên khi lý thuyết khung đã trở thành khái niệm quan trọng trong nhiều lĩnh vực của xã hội truyền thông đa quốc gia ngày nay Kiến thức về lý thuyết khung rất quan trọng để lên kế hoạch cho các chiến dịch truyền thông trong quảng cáo, quan hệ công chúng và chính trị Lý thuyết khung được các chuyên gia tư vấn hình ảnh (spin doctors) vận dụng để điều chỉnh cách trình bày một vấn đề chính trị nhắm tới một đối tượng cụ thể Tuy nhiên, một trong những lĩnh vực trọng yếu của lý thuyết khung là nghiên cứu truyền thông trong báo chí và truyền thông chính trị Khi các phương tiện truyền thông đóng vai trò như “tầng thứ tư của xã hội” trong các xã hội dân chủ, các nhà nghiên cứu truyền thông dùng lý thuyết khung để phân tích sự mất cân bằng và các cấu trúc quyền lực ngầm đang tác động và trung gian cho các vấn đề chính trị.

Khung câu chuyện về môi trường có thể khác nhau giữa các phương tiện truyền thông bảo thủ và tự do; tuy nhiên, lý thuyết khung hình không chỉ xác định các khung câu chuyện trên nhiều kênh tin tức mà còn giúp phát hiện sự thiên vị của báo chí Việc áp dụng khuôn mẫu, khung hình theo giới tính và sự mất cân bằng trong đại diện cho các cộng đồng xã hội liên quan—như nhóm dân tộc thiểu số trong công chúng quốc gia hoặc xuyên quốc gia—là ví dụ về các khung hình khác nhau có thể được sử dụng để định hình thông tin môi trường Bằng cách phân tích khung hình, người đọc có thể nhận diện các xu hướng thiên vị và hiểu rõ cách thông tin môi trường được trình bày trên các nền tảng truyền thông khác nhau.

Lý thuyết khung hình xuất hiện trong thời đại truyền thông đại chúng những năm 1970 ở Mỹ, khi nghiên cứu về phương tiện truyền thông chuyển từ mô hình tác động đơn thuần sang xem xét vai trò của khán giả và cách media định hình các vấn đề chính trị trong công chúng Khi khán giả liên tục tiếp xúc với luồng thông tin, phương tiện truyền thông không chỉ ảnh hưởng đến nhận thức trong các chiến dịch bầu cử mà còn hình thành nhận thức và diễn ngôn chính trị ở quy mô toàn cầu Như Benjamin Cohen lập luận, truyền thông không nói cho chúng ta biết những gì ta nghĩ, mà nói cho ta biết nên nghĩ về cái gì, và quan điểm này được mở rộng bởi nhiều nghiên cứu sau này Maxwell McCombs và Donald Shaw đề xuất một cách tiếp cận agenda-setting cho thấy có mối liên hệ giữa mức độ xuất hiện của các vấn đề trên chương trình nghị sự và sự chú ý của khán giả; ví dụ, việc đưa tin về khủng hoảng nhân đạo trên truyền thông quốc gia ở Hoa Kỳ có thể định hình nhận thức của công chúng và kích hoạt các sáng kiến chính sách đối ngoại.

Lý thuyết khung (framing theory) trong nghiên cứu truyền thông cho thấy có những khung chủ đạo được sử dụng trên màn hình tin tức và trong các chiến dịch bầu cử: một khung định kỳ cho các sự kiện cụ thể và một khung chuyên đề đưa một vấn đề vào ngữ cảnh công khai rộng hơn Các nghiên cứu ban đầu xác định các khung này và cách chúng hình thành cách công chúng tiếp nhận tin tức, đồng thời cho thấy khung còn có thể được dùng để thuyết phục trong tranh luận chính trị Gần đây, lý thuyết khung được tinh chế với khái niệm sâu hơn, xem xét các khung hình thể hiện qua các bài thuyết giảng hoặc quan điểm của các bên liên quan xã hội, cho thấy nhiều câu chuyện ủng hộ quan điểm của các nhóm có ảnh hưởng Một nhánh nghiên cứu khác tập trung vào khung hình nghiêng hoặc nội dung để phác họa cách khung có thể có lợi cho một bên trong một tranh chấp Có nghiên cứu xem xét cả quá trình xã hội cơ bản của việc xây dựng khung, và nhiều học giả cho rằng khung bao gồm thành phần cấp vĩ mô và cấp vi: cấp vĩ mô gắn với phương thức trình bày và lập trình nghị sự, còn cấp vi mô liên quan đến cách khán giả sử dụng thông tin này để hình thành thái độ đối với các vấn đề, tương đồng với quá trình chuẩn bị Priming đề cập đến việc truyền thông cung cấp bối cảnh trước khi khán giả diễn giải các thông tin tiếp theo, từ đó hình thành các khung tham chiếu cho người xem.

Vào đầu thế kỷ 20, Walter Lippman, một nhà báo và nhà văn, đã lưu ý trong cuốn sách Public Opinion rằng thế giới được nhìn nhận thông qua những khuôn mẫu như hình ảnh trong đầu của chúng ta Như các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin từ một số lượng nhỏ các kênh truyền hình quốc gia đã ảnh hưởng đến các khán giả trong nước và khi các phương tiện truyền thông chuyển thành một môi trường truyền thông nối mạng, nơi các cá nhân chủ động lựa chọn thông tin, cần phải định vị lại lý thuyết Quan điểm của Lippman về các quan điểm trên thế giới cá nhân dường như quyết định hơn bao giờ hết các kênh thông tin đang được sử dụng Theo nghĩa này, lý thuyết khung bao gồm cả cá nhân như một diễn viên trong quá trình tạo khung Các cách tiếp cận gần đây hơn đối với lý thuyết khung làm nổi bật các cấu trúc xã hội của khung Trong những cuộc tranh luận này, các khung được xem như là những nguyên tắc tổ chức cấu trúc thế giới xã hội Tuy nhiên, cần phải làm nhiều hơn nữa để định vị lại khái niệm quan trọng này trong diễn thuyết công khai trong văn hoá thông tin nối mạng ngày nay

2.4.2.Thuyết tâm lý học truyền thông

Trong tâm lý ho ̣c xã hô ̣i , các nhà tâm lý học đã cắt nghĩa hành động cá nhân tham gia ma ̣ng xã hô ̣i trong quá trình truyền thông

Trong quan niệm của Heider, con người luôn chủ động tìm kiếm dữ liệu để dự báo và giải thích hành vi của người khác, từ đó diễn giải và gắn nhãn cho các động thái dựa trên những giả thuyết về nguyên nhân Hành động cá nhân được xem như một quá trình nghiên cứu, thăm dò và phân tích hành vi của các cá nhân trong đời sống xã hội Chủ thể hành động phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành động của chính mình và của người khác, và nhờ phương pháp phân tích nhân tố này mà người thực hiện hành động có thể nhận ra ý nghĩa đằng sau hành vi.

Chủ thể dự đoán hành vi của người khác và điều chỉnh hướng tác động của mình để đạt được mục tiêu đã đề ra Việc đáp lại các hành vi của người khác phụ thuộc vào cách mỗi cá nhân diễn giải động cơ và hành động của chính mình Một mối quan hệ có thể thất bại khi chủ thể hành động thiếu năng lực phù hợp hoặc không có mong muốn hành động theo những gì tình huống đòi hỏi.

2.4.3 Mô hi ̀nh truyền thông theo tiến trình song song mở rộng ( thuyết hấp dẫn sự sợ hãi)

Mô hình tiến trình song song mở rộng (Extended Parallel Process Model - EPPM) cho rằng một thông điệp hấp dẫn sự sợ hãi có thể thúc đẩy hành động bảo vệ khi người nhận nhận thấy mối đe doạ là nghiêm trọng và có khả năng xảy ra cao, đồng thời tin vào hiệu quả nhận thức của biện pháp được đề xuất Hiệu quả nhận thức gồm hai yếu tố: hiệu quả bản thân và hiệu quả của hành động Nếu đe doạ ở mức cao mà hiệu quả nhận thức thấp, người nhận sẽ kiểm soát nỗi sợ bằng né tránh hoặc phủ nhận thay vì thực hiện hành động được khuyến nghị Ngược lại, khi cả hai yếu tố đều ở mức cao, họ sẽ thực hiện hành động bảo vệ và tuân thủ các biện pháp được đề xuất Vì thế, để một thông điệp thuyết phục và có thể chuyển đổi hành vi, cần cân bằng giữa mức độ đe doạ và sự tin tưởng vào khả năng kiểm soát và hiệu quả của hành động. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.

Đi dưới ánh nắng mặt trời trong thời gian dài mà không bảo vệ da có thể làm tăng nguy cơ ung thư da Nhận thức về tác hại của tia UV khiến nhiều người chủ động mặc quần áo chống nắng và sử dụng kem chống nắng khi ra ngoài Để tăng hiệu quả bảo vệ da, thông điệp nên đề cập tới các biện pháp dễ thực hiện như áo dài tay, mũ che chắn, kính râm và kem chống nắng có SPF phù hợp, tránh tiếp xúc với nắng gắt trong giờ cao điểm Việc kết hợp nhận thức và hành động sẽ giúp nâng cao sự bảo vệ da và giảm thiểu nguy cơ ung thư da cho cộng đồng.

2.4.4 Thuyết ha ̀nh động duy lý

Thuyết này cho rằng hành động của con người có thể được dự đoán dựa trên ý định hoặc mục đích liên quan đến hành vi đó Ý định được xem là động lực quyết định hướng đi của hành vi, và hiểu rõ ý định sẽ cho phép dự đoán trước các bước tiếp theo cũng như kết quả của hành động Do đó, phân tích ý định trở thành công cụ quan trọng trong nghiên cứu và ứng dụng dự đoán hành vi, từ tâm lý học đến khoa học dữ liệu, nhằm nắm bắt mối liên hệ giữa ý định và hành động.

Ý định hay mục tiêu hành vi của chủ thể được dự đoán dựa trên hai yếu tố cốt lõi: thái độ đối với hành vi và chuẩn mực chủ quan mà chủ thể nhận thức Thái độ tích cực hay tiêu cực đối với hành vi cho thấy mức độ sẵn sàng tham gia, trong khi chuẩn mực chủ quan phản ánh ảnh hưởng từ những người quan trọng và áp lực xã hội lên quyết định của chủ thể Sự kết hợp của hai yếu tố này giúp tạo nên dự báo chính xác hơn về ý định hành vi, phục vụ cho các nghiên cứu, chiến lược tiếp thị và các can thiệp nhằm thay đổi hoặc thúc đẩy hành vi.

Để nghiên cứu ý định của đối tượng – đối tượng của truyền thông – ta có thể phân tích thái độ và các chuẩn mực mang tính chủ quan mà đối tượng ấy thể hiện Việc phân tích thái độ giúp làm rõ động cơ tiếp nhận và phản hồi thông tin, còn nhận diện các chuẩn mực chủ quan cho thấy cách đối tượng đánh giá tin tức, lựa chọn thông tin và hình thành quan điểm Sự kết hợp giữa phân tích thái độ và chuẩn mực chủ quan cho phép xác định ý định truyền thông của đối tượng và dự báo hành vi tiếp nhận thông tin trong các tình huống khác nhau.

Chuẩn mực chủ quan là các chuẩn mực xã hội được cá nhân (chủ thể hành động) nhận thức có liên quan mật thiết tới thái độ và niềm tin của bản thân Chính nhận thức này làm cho chuẩn mực xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến cách họ hình thành thái độ, niềm tin và hành vi trong các tình huống hàng ngày Do vậy, chuẩn mực chủ quan đóng vai trò là yếu tố định hình hành vi cá nhân trong bối cảnh xã hội.

Chuẩn mực chủ quan được dự đoán bởi các niềm tin quy pha ̣m và các đô ̣ng cơ thực hiê ̣n niềm tin quy pha ̣m đó

Rào cản đối với hiệu quả truyền thông

Trong lĩnh vực truyền thông, thường xuất hiện một số rào cản khách quan khó tránh Để khắc phục nhược điểm của quá trình truyền thông và hạn chế của các phương tiện truyền thông, các nhà làm truyền thông liên tục tối ưu hóa chiến lược, chỉnh sửa nội dung và lựa chọn kênh phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả truyền đạt Quá trình này nhấn mạnh việc nhận diện rào cản, tối ưu hóa thông điệp và phương tiện, từ đó tăng tính lan tỏa và độ tin cậy của thông tin trong môi trường truyền thông hiện đại.

Có một số rào cản sau:

Thứ nhất, loại rào cản do mã hoá thông điệp

Sự vô cảm đối với người nhận ( khi người nhận bực tức thì hãy biết cách chờ…!);

Thiếu kỹ năng giao tiếp cơ bản;

Thiếu tri thức về chủ thể;

Nhiễu cảm ( không thích ai đó, thù địch);

Nội dung tin xung đột;

Kênh truyền không hợp ( người gửi chọn sai kênh);

Mắt xích truyền thông quá dài;

Thứ hai, rào cản do đáp ứng phản hồi:

Không cung cấp thông tin phản hồi; Đường phản hồi không phù hợp;

Người gác cổng truyền thông;

Hiệu ứng Hawthorne trong truyền thông

Hiệu ứng Hawthorne cho thấy mối quan hệ giữa con người trong quá trình truyền thông ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả xử lý thông tin Mối quan hệ giữa người đưa tin và người nhận tin đóng vai trò quyết định đối với chất lượng và sự chính xác của thông tin được trao đổi Vì vậy, các nhà truyền thông đặc biệt quan tâm đến việc cải thiện mối quan hệ con người trong các tình huống và môi trường truyền thông, nhằm tăng cường độ tin cậy, sự tương tác và sự đồng thuận giữa hai bên Trong chiến lược truyền thông, nhà truyền thông cần tối ưu hóa việc truyền tải thông tin mà công chúng và người nhận quan tâm để nâng cao mức độ tiếp nhận và tác động của thông tin.

Một số mô hình truyền thông của Lasswell; Claude Shannon, Warren

- Các thành phần của kênh truyền thông của Lasswell

Ai nói, cái gì, tại kênh nào, với ai, có hiệu quả gì?

(Who say, what, in Which Channel, to Whom with, What Effect?)

Người gửi, kênh truyền, và người nhận

Claude Shannon và Warren Weaver đưa ra cấu trúc mô hình này dựa trên các yếu tố sau đây:

1 Một nguồn thông tin, trong đó sản xuất một thông điệp

2 Một máy phát, mã hóa thông điệp thành tín hiệu

3 Một kênh, tín hiệu được điều chỉnh để truyền

4 Một máy thu để giải mã (tái cấu trúc) các thông điệp từ tín hiệu

5 Một điểm đến, nơi mà thông điệp được gửi tới

Các hoạt động truyền thông

Các loại hình truyền thông

- Nội diên ( intra- personal)- theo Okunna (1999)

- Truyền thông trong tổ chức ( hiệu trưởng với các trưởng khoa)

- Truyền thông giữa các thiết chế (một Nhà nước)

- Truyền thông đại chúng(mass) v à công chúng cùng nhóm lợi ích(public)

- Truyền thông bằng lời và không lời

Ý nghĩa của hoạt động truyền thông

Truyền thông là đặc thù của hoạt động của con người, song song với đặc tính loài là hoạt động lao động Theo Marx, hoạt động lao động là một dạng đặc thù giúp con người khác biệt với động vật Habermas cho rằng bên cạnh lao động, hoạt động có tính loài còn được thể hiện thông qua truyền thông Một số nhà tâm lý học và xã hội học cho rằng giao tiếp giữa các cá nhân chính là nền tảng của hoạt động truyền thông trong xã hội.

Hoạt động truyền thông làm cho con người có tính xã hội và giúp nhân cách phát triển một cách bình thường trong một trật tự xã hội xác định Nhờ truyền thông, con người hình thành ngôn ngữ, chữ viết và các chuẩn mực giao tiếp chung, từ đó củng cố khả năng kết nối xã hội và duy trì trật tự xã hội Nếu thiếu truyền thông, con người sẽ không có chữ viết và tiếng nói như ngày nay, khiến sự phát triển của cá nhân và xã hội bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Nhờ truyền thông, con người có thể nhận thức sâu sắc tư tưởng và mục đích sống của mình, từ đó định hình hướng đi và giá trị tồn tại Qua truyền thông, họ được giải phóng khỏi sự kìm hãm của các yếu tố bản năng sinh vật để dần trở thành những cá nhân có văn hóa trong xã hội, đồng thời đạt được sự tự do nhờ nhận thức rõ ràng về cái tất yếu của cuộc sống mà trước đây họ chưa từng nhận ra.

Nhờ truyền thông, đặc biệt là truyền thông công nghệ cao, quá trình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội được đẩy nhanh Điều này góp phần xây dựng một thế giới công bằng và văn minh hơn so với thời kỳ tiền công nghiệp và thời kỳ công nghiệp.

Quan hệ giữa truyền thông và dư luận xã hội trong định hướng dư luận xã hội

2.11.1 Phân loại công chúng Để hiểu được quá trình dư luận xã hội diễn ra như thế nào? Chúng ta cần phân loại công chúng

- Công chúng với tất cả các vấn đề;

- Công chúng với từng loại vấn đề;

- Công chúng với những vấn đề nóng;

Một cách phân loại khác theo kiểu gán nhãn công chúng của Grunig:

Vai trò phân loại công chúng

Phân loại công chúng rất quan trọng vì tác động đến mỗi loại đòi hỏi những chiến thuật khác nhau trong quá trình định hướng truyền thông

Để xây dựng chiến lược truyền thông hiệu quả, cần nghiên cứu kỹ các cấu phần hình thành dlxh, gồm giá trị, niềm tin, thái độ, ý kiến và hành động của công chúng Việc phân loại công chúng giúp nhà truyền thông xác định đúng đối tượng và gửi thông điệp phù hợp với từng nhóm Đồng thời, nhà truyền thông cần lựa chọn và sử dụng các kênh truyền thông một cách hợp lý và hiệu quả để chuyển tải thông tin, nhờ đó thông điệp được lan tỏa một cách phù hợp và có tác động.

2.11.2 Định nghĩa tha ̀nh phần của DLXH Ý kiến là quan điểm được hình thành trong tâm trí về vấn đề cụ thể

Niềm tin (beliefe) là một trạng thái hoặc một thói quen trong đó lòng tin( trust) v ề con người hay sự vật cụ thể đã được xây dựng nên

Thái độ là một chỗ đứng tinh thần gắn với một thực tế hoặc một tình trạng cụ thể; nó được thể hiện qua tâm trạng và xúc cảm (ví dụ như yêu, ghét) liên quan đến thực tế hay trạng thái ấy Nói cách khác, thái độ phản ánh cách nhìn nhận và cảm nhận của một người đối với một tình huống nhất định, từ đó ảnh hưởng đến cách họ suy nghĩ, phản ứng và hành động trong cuộc sống hàng ngày.

Giá trị là những cái mong muốn , kính trọng, có ý nghĩa…

Trong quan hệ giữa cá nhân và tập thể, ý kiến cá nhân nổi lên và được hòa nhập vào ý kiến tập thể, cho thấy sự giao thoa giữa quan điểm cá nhân và hệ thống niềm tin của tập thể Trong hành động tập thể, người ta đặt câu hỏi về tính cơ động của ý kiến tập thể và cách nó thể hiện như thế nào khi chịu ảnh hưởng của thời gian, hoàn cảnh và áp lực từ nhóm.

Trong một tình huống xã hội cụ thể, tồn tại sự đồng thuận chung hoặc cảm xúc của công chúng Tuy nhiên, theo từng thời điểm, mỗi cá nhân có quan điểm khác nhau, khiến việc tranh luận trở nên cần thiết Qua tranh luận tập thể, cộng đồng có thể đạt được sự thống nhất về tinh thần và định hình hướng đi chung cho xã hội.

Khi mọi người tạo ra tinh thần chung, dư luận xh bắt đầu phát triển

Dư luận mới dẫn đến hành động tập thể ( bỏ phiếu bầu)

Hành động xã hội dẫn đến hình thành giá trị tập thể có tình cảm chung có thái độ tập thể

Truyền thông tạo ra sự hiện diện của vấn đề mà công chúng quan tâm và tranh luận

Trong một chu kỳ tiếp theo, quá trình vẫn diễn ra bất chấp thông tin từ ngày hôm trước có thể đã bị mất đi Tuy nhiên, dữ liệu này vẫn tồn tại trong nhận thức và niềm tin của người dùng, từ đó ảnh hưởng đến hành vi và quyết định của họ Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của quản trị thông tin, xác thực nguồn tin và sự nhất quán của dữ liệu để đảm bảo sự tin cậy và hiệu quả của chu trình xử lý dữ liệu.

Chương trình nghị sự truyền thông dựa trên nguyên tắc trên được xây dựng Khái niệm 1:

Chương trình truyền thông cơ động để phù hợp và thu hút sự chú ý của công chúng và nhà hoạch định chính sách

Chương trình nghị sự là tổ chức các vấn đề( có thể tổ chức nhiều lĩnh vực, vấn đề)

Mô hình thuyết truyền bá, phổ biến tin

Truyền bá tin hay lan toả tin là quá trình nhờ đó những tư tưởng mới có thể được phổ biến, áp dụng hoặc loại bỏ;

Chúng ta là người tạo ra thói quen;

Con người không thích sự thay đổi

Nhờ thuyết lan toả tin ta có thể hiểu và giải thích được:

Tại sao ta không thể thực hiện những thay đổi lớn trong khoảng thời gian ngắn;

Tại sao chúng ta không thể hoàn thành một sự thay đổi căn bản thông qua phương tiện truyền thông mới;

Loại truyền thông liên cá nhân nào là hiệu quả nhất đối với việc thực hiện sự thay đổi căn bản;

Tại sao kênh truyền thông liên cá nhân lại là kênh hiệu quả nhất trong việc thực hiện sự thay đổi căn bản?

Lời nói rất quan trọng trong quá trình phổ biến tin

Chúng ta cần những công chúng có mục tiêu để phổ biến cái mà họ đang đọc trên báo hoặc đang xem trên TV

Quá trình phổ biến hay lan truyền tin gồm năm giai đoạn chính: Nhận thức, khi cá nhân nhận thức về sự tồn tại của thông tin; Điều quan tâm, khi người nhận muốn tìm hiểu thêm; Đánh giá, khi họ hỏi ý kiến và tìm phản hồi từ người khác sau khi tin lan truyền; Thử nghiệm, khi áp dụng bằng cách sử dụng các mẫu hoặc ví dụ để kiểm chứng; và Chấp nhận, khi họ sử dụng hoặc tin tưởng vào thông tin ấy Hiểu rõ chu trình này giúp tối ưu hóa chiến lược truyền thông và tăng khả năng lan tỏa tin một cách hiệu quả.

- Các nhà truyền thông phân loại công chúng theo 5 tiêu chí về con người trong thuyết phổ biến tin: a.Những nhà đổi mới; b Sớm chấp nhận; c Phần lớn là sớm chấp nhận; d Tính theo đa số chấp nhận; e Không chấp nhận (lạc hậu);

- Nâng cao hiệu quả truyền thông;

Các vấn đề kỹ thuật: làm thế nào chính xác thông điệp ?

Vấn đề ngữ nghĩa: làm thế nào chính xác ngữ nghĩa được "chuyển tải"? Vấn đề hiệu quả: làm thế nào có hiệu quả ảnh hưởng đến hành vi?

Hiện nay, về hiệu quả của truyền thông người ta thường nói tới nội dung của từ ngữ, giọng nói và ngôn ngữ cơ thể theo công thức "7% -38% -55%‖

Trong điều kiện nhiều nhóm công chúng không thể xem truyền hěnh do không phủ sóng của đài phát hay do khuyết tật mà người ta không xem được tivi( người mù) thì kênh phát thanh và điện thoại lại phát huy tác dụng đối với nhóm công chúng này.

ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI TRÊN CÁC KÊNH TRUYỀN THÔNG

ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN TRÊN MẠNG XÃ HỘI

Ngày đăng: 12/11/2021, 11:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
20. White, D.M. (1950). The"gatekepper":acasestudy in theselection of news. JournalismQuarterly, 27, 383-390 Sách, tạp chí
Tiêu đề: gatekepper
Tác giả: White, D.M
Năm: 1950
9. Internet connection speed by country. Retrieved from: https://www.fastmetrics.com/internet-connection-speed-by-country.php (17 July, 2017) Link
10. Top websites in Vietnam. Retrieved from: https://www.similarweb.com/top-websites/vietnam. (17 July, 2017) Link
25. Walter J. Ong (2005, September 30). Wikipedia The Free Encyclopedia. Retrieved September 30, 2005, from http://en.wikipedia.org/wiki/Walter_Ong Link
1. Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay&#34 Khác
2. Phạm Chiến Khu, Vũ Hào Quang, Đỗ Thanh Hà ―Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác nghiên cứu dư luận xã hội‖, NXB Th ông tin ,2011 Khác
3. Văn kiện Đại hội đảng toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011 Khác
4. Tạ Ngọc Tấn, Truyền thông đại chúng, Nxb Chính trị Quốc gia, 2001 5. Từ điển xã hội học giản yếu, NXB Chính trị, Matx cơ va 1988, trang 139 (tiếng Nga) Khác
6. ―World Economic Outlook: Vietnam―. International Monetary Fund Khác
7. Digital in 2017: A study of Internet, Social Media, and Mobile use throughout the region of Southeast Asia. We Are Social Khác
8. Estes, M. (2016). Time for a Response: Responsive Design, Accessibility, and University Websites Khác
12. Edgar E. Borgatta, Rhonda J.V.Montgomery, Encyclopedia of sociology, Macmilan reference USA, 2000. P.2273 Khác
15. Noelle-Neumann, E. (1984). The Spiral of Silence: Public Opinion — Our social skin. Chicago: University of Chicago Khác
16. Lasswell, H.D. (1938). Propaganda techniquein theworld war. NewYork:Peter Smith Khác
17. Lippmann, W. (1922). Public opinion. NewYork:The Free Press Khác
18. McCombs, M., &Shaw, D. L. (1972). Theagenda-setting function of massmedia. PublicOpinion Quarterly, 36, 176-187 Khác
19. R.D. Casey (Eds.), Propaganda, communication, and publicopinion(pp. 74 – 94). Princeton, New Jersey:Princeton University Press Khác
21. Heider, F. (1958). The Psychology of Interpersonal Relations. NewYork:John Wiley &Sons, Inc Khác
22. Douglas, W. (1990). Uncertainty, information-seeking, and liking during initialinteraction. Western Journal of Speech Communication, 54, 66-81 Khác
23. Berger, C. R. (1987). Communicating under uncertainty. In M. E. Roloff &G. R. Miller (Eds.), Interpersonal processes: New directionsin communication research(p. 39-62). Newbury Park, C.A.: Sage Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w