BÀI THI MÔN LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ (CQ57 TRỞ ĐI) Hình thức thi Tiểu luận Thời gian thi 3 ngày Đề bài Lý thuyết địa tô của A Smith và D Ricardo Mác đã kế thừa và phát triển lý thuyết địa tô của.
Trang 1BÀI THI MÔN: LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ (CQ57 TRỞ ĐI)
Hình thức thi: Tiểu luận Thời gian thi: 3 ngày
Đề bài: Lý thuyết địa tô của A.Smith và D.Ricardo Mác đã kế thừa và phát triển lý thuyết
địa tô của A.Smith và D.Ricardo như thế nào? Liên hệ sự vận dụng lý thuyết này tại Việt
Nam?
BÀI LÀM
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Công tác quản lý sử dụng đất đai ngày càng được quan tâm chú trọng của Đảng, nhà nước
và các đối tượng sử dụng, đối tượng có nhu cầu sử dụng đất đai Việc quản lý và sử dụng đất đai đã có nhiều chuyển biến và thay đổi theo hướng tích cực, từng bước phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Bên cạnh đó chính sách quản lý và sử dụng đất vẫn còn một số tồn tại cần được giải quyết Hiểu được tầm quan trong của việc quản lý và sử dụng đất đai, em đã tiến hành thực hiện
đề tài “Lý thuyết địa tô của A.Smith và D.Ricardo Mác đã kế thừa và phát triển lý thuyết địa tô của A.Smith và D.Ricardo như thế nào? Liên hệ sự vận dụng lý thuyết này tại Việt Nam?” Bài viết chủ yếu trình bày về lý thuyết địa tô của A.Smith và
D.Ricardo và sự học hỏi kế thừa của K.Marx cùng với sự vận dụng của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Do kiến thức lý luận và thực tiễn của em còn nhiều thiếu sót, rất mong thầy/cô giáo góp ý
để bài làm của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn
Chương I: LÝ THUYẾT ĐỊA TÔ CỦA A.SMITH VÀ D.RICARDO
1.1 Lý thuyết địa tô của A.Smith
A.Smith cho rằng, địa tô là khoản khấu trừ đầu tiên vào sản phẩm lao động Ông cho rằng lao động nông nghiệp có năng suất cao hơn lao động ở các ngành khác do tác động của tự nhiên và thượng đế nên thu địa tô là hợp lý Theo ông, thu nhập trong công nghiệp bao gồm tiền lương và lợi nhuận còn thu nhập trong nông nghiệp bao gồm tiền lương, lợi nhuận và địa tô
Khi nghiên cứu địa tô, A.Smith cho rằng địa tô là kết quả tác động của tự nhiên Mức địa tô trên một mảnh ruộng là do thu nhập trên mảnh ruộng đó mang lại quyết định Địa tô trên đất trồng các loại cây chủ yếu (lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc…) quyết định mức địa tô trên đất trồng các loại cây khác Theo K.Marx, đây là phán đoán tài tình của A.Smith
A.Smith phân biệt được địa tô với tiền tô Theo ông, tiền tô lớn hơn địa tô, tiền tô bao gồm địa tô và lợi tức của tư bản đầu tư cải tạo đất đai Đây là bước tiền bộ trong lý thuyết địa tô được một số nhà kinh tế sau này kế thừa
Lý thuyết địa tô của A.Smith chưa đề cập địa tô chênh lệch II và phủ nhận địa tô tuyệt đối Ông cho rằng, nấu thừa nhận địa tô tuyệt đối là vi phạm quy luật giá trị Nguyên nhân của sai lầm này là do ông chưa thấy được sự khác nhau giữa giá trị và giá cả sản xuất
Trang 31.2 Lý thuyết địa tô của D.Ricardo
D.Ricardo đã xuất phát từ lý thuyết giá trị lao động để phân tích địa tô và bác bỏ lý luận địa tô là sản vật của tự nhiên hoặc do năng suất đặc biệt trong nông nghiệp mang lại Ông dựa vào quy luật giá trị để giải thích địa tô, nhấn mạnh địa tô là một phần khấu trừ vào sản phẩm lao động của công nhân nông nghiệp
D.Ricardo cho rằng, giá trị nông phẩm hình thành trên ruộng đất xấu nhất vì ruộng đất là yếu tố có giới hạn, trong khi dân số tăng nhanh làm cho tư liệu sinh hoạt khan hiếm, nên xã hội phỉa canh tác trên cả ruộng đất xấu Tư bản kinh doanh trên ruộng đất tốt và trung bình được lợi nhuận siêu ngạch và lợi nhuận siêu ngạch này phải nộp cho địa chủ, đó là địa tô, còn những mảnh đất xấu không phải nộp địa tô Ông phê phán tính chất ăn bám của địa chủ không tham gia sản xuất nhưng lại thu địa tô nhân danh quyền sở hữu đất đai
D.Ricardo đã phân biệt tiền tô và địa tô Theo ông, địa tô và tiền tô phục tùng những quy luật khác nhau và thay đổi theo chiều hướng ngược chiều nhau, trong đó địa tô là khoản trả công cho những khả năng thuần túy của tự nhiên, còn tiền tô bao gồm địa tô
và lợi nhuận của tư bản đầu tư vào nông nghiệp Như thế tiền tô lớn hơn địa tô
Điểm hạn chế của D.Ricardo là gắn lý luận địa tô với quy luật ruộng đất sinh lợi ngày càng giảm sút Ông chưa hề đề cập đến địa tô chênh lệch II và không thừa nhân địa tô tuyệt đối vì chưa biết đến cấu tạo hữu cơ (c/v) của tư bản, ông cho rằng, nếu thừa nhận địa tô tuyệt đối là phủ nhận quy luật giá trị
Chương 2: SỰ KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN LÝ THUYẾT ĐỊA TÔ CỦA
A.SMITH VÀ D.RICARDO CỦA K.MARX 2.1 Quan điểm về địa tô của K.Marx
Theo Marx, trong chủ nghĩa tư bản, người thực sự canh tác ruộng đất không phải là chủ tư bản mà là những người lao động làm thuê Nhà tư bản thuê đất của địa chủ để kinh doanh, coi nông nghiệp là một lĩnh vực đầu tư kinh doanh Số tiền mà nhà tư bản trả cho người sở hữu ruộng đất theo hợp đồng để được sử dụng đất trong một thời gian nhất định là địa tô tư bản chủ nghĩa
Địa tô tư bản chủ nghĩa thể hiện mối quan hệ giữa người công nhân làm thuê, nhà
tư bản chủ nghĩa và địa chủ Khoản địa tô có được do nhà tư bản bóc lột người công nhân làm thuê để thuê lợi nhuận bình quân Do vậy muốn kéo dài thời gian sử dụng đất để thu lợi nhuận nhiều hơn Tuy nhiên chủ đất luôn tìm cách khống chế nhà tư bản bằng cách tăng khoản địa tô hoặc rút ngắn thời gian sử dụng đất Tóm lại, địa tô tư bản
Trang 4chủ nghĩa là một phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân của nhà tư bản kinh doanh ruộng đất
* Địa tô tư bản bao gồm:
a Địa tô chênh lệch
Địa tô chênh lệch là phần địa tô thu được ở trên những ruộng đất có lợi thế về điều kiện sản xuất (độ màu mỡ của đất đai tốt hơn, vị trí gần thị trường, gần đường hơn, hoặc ruộng đất để đầu tư để thâm canh)
Địa tô chênh lệch = Giá cả sản xuất chung – Giá cả sản xuất cá biệt
Thực chất của địa tô chênh lệch là lợi nhuận siêu ngạch Nguồn gốc của nó là một phần giá trị thặng dư do công nhân nông nghiệp làm thuê tạo ra Địa tô chênh lệch gắn với chế độ độc quyền kinh doanh ruộng đất theo lối tư bản chủ nghĩa
Địa tô chênh lệch có hai loại địa tô:
+ Địa tô chênh lệch (I): là địa tô chênh lệch thu được trên những ruộng đất có độ màu
mỡ tự nhiên thuộc loại trung bình và tốt, có vị trí gần thị trường hoặc gần đường giao thông
+ Địa tô chênh lệch (II): là địa tô chênh lệch thu được do thâm canh mà có Thâm canh là việc đầu tư them tư bản vào một đơn vị diện tích ruộng đất để nâng cao chất lượng canh tác của đất, nhằm tăng độ màu mỡ trên thửa ruộng đó, nâng cao sản lượng trên một đơn vị diện tích
b Địa tô tuyệt đối
Địa tô tuyệt đối là loại địa tô mà tất cả các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp đều phải nộp cho địa chủ, cho dù ruộng đất là tốt hay xấu Đây là loại địa tô thu trên mọi thứ đất Địa tô tuyệt đối là lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, được hình thành do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp luôn thấp hơn cấu tạo hữu cơ của tư bản trong công nghiệp, nó là số chênh lệch giữa giá trị nông phẩm
và giá cả sản xuất chung
Ngoài những loại địa tô trên thì còn có các loại địa tô khác như: địa tô về cây đặc sản, địa tô về hầm mỏ, địa tô về các bãi cá, địa tô về đất rừng, thiên nhiên,…
2.2 Những sự kế thừa và phát triển lý thuyết địa tô của A.Smith và D.Ricardo của K.Marx
Lý thuyết địa tô được A.Smith và D.Ricardo đề cập đến và đã có những thành tựu nhất định nhưng họ lại cho rằng đó là quà tặng của tự nhiên và chưa nghiên cứu địa tô chênh lệch II và địa tô tuyệt đối
Trang 5K.Marx đã nghiên cứu, học hỏi những tinh hoa trong lý thuyết địa tô của A.Smith
và D.Ricardo, như “Địa tô trên đất trồng các loại cây chủ yếu quyết định mức địa tô trên đất trồng các loại cây khác” và chỉ ra những thiếu sót trong lý thuyết của A.Smith
và D.Ricardo như hai ông không đề cập đến địa tô chênh lệch II Ngoài ra sự phân biệt
rõ ràng địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối đã đưa lý thuyết về địa tô của K.Marx đạt đến đỉnh cao, điều mà A.Smith và D.Ricardo nói chung và trường phái cổ điển nói riêng không làm được
Chương 3: SỰ VẬN DỤNG LÝ THUYẾT K.MARX TẠI VIỆT NAM
Ở Việt Nam, chế độ sở hữu đất đai có sự biến đổi qua từng giai đoạn Từ chế độ đa
sở hữu, nhiều thành phần (Hiến pháp 1959) chuyển sang chế độ sở hữu toàn dân (SHTD) về đất đai (Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992), Điều 19 Hiến pháp 1980 ghi rõ: "Đất đai, rừng núi, thuộc sở hữu toàn dân" Đồng thời quy định: " Những tập thể và cá nhân đang SDĐ được tiếp tục sử dụng vàhưởng kết quả lao động của mình "(Điều 20) Hiến pháp 1992 tiếp tục quy định "Đất đai đều thuộc SHTD" và quy định thêm: "Nhà nước giao đất cho tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài được chuyển quyền SDĐ đất " Đến Hiến pháp năm 2013, các quy định về đất đai được sửa đổi, bổ sung chặt chẽ hơn thể hiện quan điểm đất đai của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
3.1 Vận dụng lý thuyết địa tô trong luật đất đai 2013
Nhà nước đã ban hành luật đất đai để quy định một cách rõ ràng quyền và nghĩa
vụ của người dân theo những điều khoản như:
Điều 1: Luật này quy định về chế độ sở hữu đất đai, quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với đất đai thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Điều 4: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này
Điều 5: Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền
sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này, bao gồm:
1 Tổ chức trong nước …;
2 Hộ gia đình, cá nhân trong nước …;
3 Cộng đồng dân cư người Việt Nam …;
Trang 64 Cơ sở tôn giáo …;
5 Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao …;
6 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài …;
7 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Ngoài ra còn có nhiều điều khoản khác như Điều 12; Điều 22; Điều 79 của Luật đất đai
Trong pháp luật về đất đai của nhà nước ta hiện nay cũng ban hành những quy định
để người dân phải trả tiền thuê đất (một hình thức của địa tô) khi sử dụng đất một cách
tự nguyện Hiện nay, đất được cấp cho dân, dân có quyền sử dụng đất vào mục đích của mình Nếu đối với đất ở thì người dân chỉ phải nộp một khoản tiền thuê đất rất nhỏ
so với thu nhập của họ Còn đối với đất để làm nông nghiệp thì người dân phải nộp thuế nhưng họ có thể tự do kinh doanh trên đất của mình sao cho thu được lợi nhuận cao nhất Chẳng hạn như có vùng trồng lúa, có vùng lại trồng đay và có vùng lại trồng
cà phê, điều, bông,…
Thời điểm dịch bệnh Covid 19 bùng phát, người người ở trong nhà giãn cách xã hội, Chính phủ đã có những biện pháp nhanh trong và kịp thời để hỗ trợ người dân trong lúc dịch bệnh Về mặt gia hạn nộp tiền thuê đất, trong tháng 4/2021 Chính phủ
đã ban hành Nghị định 52/2021/NĐ-CP về gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2021 Chính sách này áp dụng đối với người dân có hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản…; kinh doanh trong các ngành: Vận tải kho bãi, nhà hàng, khách sạn, kinh doanh bất động sản… Thời hạn gia hạn là 6 tháng kể từ ngày 31/5/2021./
3.2 Vận dụng trong thuế đất nông nghiệp Thuế nông nghiệp ở đây không phải thể hiện
sự bóc lột đối với nông dân mà đó là quyền và nghĩa vụ của mỗi công Để khuyến khích sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả; thực hiện công bằng, hợp lý sự đóng góp của tổ chức, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp vào ngân sách Nhà nước; Việc miễn giảm thuế cho những người dân có hoàn cảnh đặc biệt là một việc khác xa so với việc thu địa tô tư bản chủ nghĩa Đây là một sự sáng tạo của đảng ta trong việc vận dụng lý luận về địa tô khi đề ra chính sách thuế nông nghiệp, động viên thúc đẩy người dân sản xuất
Theo nghị quyết 55/2010/QH12 quy định các trường hợp được giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp:
+ Trường hợp thiên tai, dịch bệnh làm thiệt hại mùa màng thì nộp thuế theo từng
vụ sản xuất và theo từng mức độ thiệt hại để giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp: Đối với thiệt hại từ 10% đến dưới 20% thì được giảm, miễn thuế tương ứng với
Trang 7mức độ thiệt hại; Thiệt hại giảm từ 20% đến dưới 30% thì giảm 60% thuế; Mức bồi thường thiệt hại giảm từ 30% đến dưới 40% thì được giảm 80% thuế
+ Chủ trương điều kiện theo luật định, giảm thuế cho nông dân vùng cao, miền núi, biên giới, hải đảo, những nông dân còn nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống + Giảm thuế cho nông dân là người dân tộc thiểu số còn khó khăn, có điều kiện sản xuất và sinh hoạt đáp ứng yêu cầu của pháp luật
+ Giảm thuế cho thương binh, bệnh binh, không được miễn thuế nhưng cuộc sống còn nhiều khó khăn
Sự khác biệt lớn nhất của việc quản lý đất đai và thu thuế bây giờ so với giai đoạn
tư bản chủ nghĩa là đất đai là của dân Nhà nước trực tiếp quản lý và điều hành, nhà nước giao đất cho dân làm nông nghiệp, thu thuế nhưng tạo mọi điều kiện cho người dân sản xuất Mặt khác nhà nước còn đưa ra một số quy định cho thấy thuế trong nông nghiệp bây giờ giảm đi rất nhiều mà chủ yếu là tăng thuế trong việc thuê đất để hoạt động phi nông nghiệp
3.3 Vận dụng trong việc cho thuê đất
Hiện nay, một số các nhà kinh doanh có vốn muốn lập ra một công ty thì họ phải thuê đất của nhà nước, họ phải trả cho nhà nước số tiền tương đương với diện tích cũng như vị trí của nơi được thuê Nhà nước đã quy định rất rõ việc thuê đất để kinh doanh, trên cơ sở ấy, ta thấy rõ sự khác biệt và sự vận dụng lý luận địa tô của Mác trong thời đại ngày nay Đó chính là việc nhà nước sử dụng những văn bản pháp lý quy định quyền và nghĩa vụ của người thuê đất để người dân khi nộp tiền thuê đất đều
tự nguyện đóng góp Trong việc thuê đất để kinh doanh thì người đã thuê đất của nhà nước sẽ phát triển kinh doanh trên mảnh đất đó rồi lấy lợi nhuận mà mình làm ra để trả cho nhà nước và số tiền đó sẽ vào ngân sách nhà nước Hiện nay không chỉ có việc thuê đất trong nông nghiệp trong việc kinh doanh mà nhà nước còn cho nước ngoài thuê đất để thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài ở Việt Nam và tăng nguồn thu cho ngân sách
Trang 8KẾT LUẬN
Qua việc nghiên cứu tìm hiểu về luật đất đai, thuế nông nghiệp cũng như trong một
số lĩnh vực kinh doanh, ta có thể khẳng định hiện nay địa tô vẫn còn tồn tại nhưng về bản chất thì hoàn toàn khác so với địa tô phong kiến và địa tô tư bản chủ nghĩa Địa tô gắn liền với sự ra đời và tồn tại của chế độ tư hữu về ruộng đất Địa tô đã từng tồn tại trong các chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cả trong thời kì đầu của chủ nghĩa xã hội Như vậy, lý luận địa tô tư bản chất Mác không chỉ vạch rõ bản chất quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp mà còn là cơ sở khoa học để
Trang 9xây dựng các chính sách thuế đối với nông nghiệp và các ngành khác có liên quan đến đất đai có hiệu quả hơn Như vậy ta một lần nữa ta khẳng định rằng lý luận về địa tô của C.Mác đã được đảng và nhà nước ta vận dụng một cách sáng tạo và hợp lý Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và nhà nước đang dần cải thiện để xây dựng một Việt Nam giàu mạnh, hùng cường như mong muốn của Hồ Chí Minh vĩ đại
Danh mục tham khảo
1 Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế