MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Xã hội loài người đã và đang trải qua những hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người đều có những hiểu biết và cách giải thích khác nhau về các hiện tượng kinh tế xã hội. Lúc đầu, việc giải thích các hiện tượng kinh tế xã hội xuất hiện dưới hình thức những tư tưởng kinh tế lẻ tẻ, rời rạc; về sau mới trở thành những trường phái với những quan điểm kinh tế có tính hệ thống của các giai cấp khác nhau. Cho đến ngày nay, đã xuất hiện nhiều trường phái kinh tế học, nhiều đại biểu đưa ra những quan điểm khác nhau để lý giải hiện thực kinh tế xã hội. Lịch sử các học thuyết kinh tế là một môn khoa học xã hội nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển, đấu tranh và thay thế lẫn nhau của các hệ thống quan điểm kinh tế của các giai cấp cơ bản trong các hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Có thể nói, lịch sử các học thuyết kinh tế là một môn khoa học cung cấp cho chúng ta một cách có hệ thống những tư tưởng kinh tế, mà cốt lõi, xuyên suốt là tư tưởng về giá trị hàng hoá. Vì thế, việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn khoa học này phải đối diện với một khối lượng kiến thức rất rộng lớn, từ thời cổ đại đến hiện đại. Đó là vấn đề rất khó khăn. Sự thành công của những người nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn Lịch sử các học thuyết kinh tế phụ thuộc vào việc nắm được vấn đề cơ bản, xuyên suốt trong hệ thống các tư tưởng kinh tế của nhân loại. Vấn đề cơ bản, xuyên suốt trong môn khoa học này trở thành đối tượng mà môn học phải nghiên cứu lại có hai mặt. Thứ nhất, giá trị hàng hoá là gì? nó được hình thành, phân phối, trao đổi và sử dụng như thế nào? Thứ hai, Nhà nước có vai trò như thế nào trong việc sản xuất, phân phối, trao đổi và sử dụng giá trị trong tiến trình phát triển của lịch sử. Lịch sử các học thuyết kinh tế, về thực chất là môn khoa học nghiên cứu để giải quyết vấn đề trung tâm có tính hai mặt đó. Nó xuyên suốt trong các tư tưởng học thuyết kinh tế, hay như cách nói hình ảnh mà chúng ta thường dùng, là sợi chỉ đỏ của các tư tưởng kinh tế trong lịch sử. Lý luận địa tô là một trong những vấn đề quan trọng, xuyên suốt lịch sử học thuyết kinh tế việc nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoạch định chính sách đất đai ở các nước trên hế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Trong điều kiện kinh tế thế giới hiện nay nói chung và của nước ta nói riêng, việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế nói chung lý luận địa tô nói riêng càng cần thiết để hiểu và thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới. Vì lý do đó em xin chọn vấn đề “Lý luận lợi nhuận, lợi tức, địa tô của C.Mác là sự kế thừa và phát triển lý luận lợi nhuận, lợi tức, địa tô của trường phái kinh tế tư sản cổ điển. Sự vận dụng lý luận lợi nhuận, lợi tức, địa tô trong thực hiện các chính sách tài chính, tiền tệ và ruộng đất của đảng và nhà nước ta hiện nay” làm tiểu luận môn Lịch sử các học thuyết kinh tế.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội loài người đã và đang trải qua những hình thái kinh tế - xã hộikhác nhau Mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người đều có nhữnghiểu biết và cách giải thích khác nhau về các hiện tượng kinh tế - xã hội Lúcđầu, việc giải thích các hiện tượng kinh tế - xã hội xuất hiện dưới hình thứcnhững tư tưởng kinh tế lẻ tẻ, rời rạc; về sau mới trở thành những trường phái vớinhững quan điểm kinh tế có tính hệ thống của các giai cấp khác nhau Cho đếnngày nay, đã xuất hiện nhiều trường phái kinh tế học, nhiều đại biểu đưa ranhững quan điểm khác nhau để lý giải hiện thực kinh tế - xã hội
Lịch sử các học thuyết kinh tế là một môn khoa học xã hội nghiên cứu quátrình phát sinh, phát triển, đấu tranh và thay thế lẫn nhau của các hệ thống quanđiểm kinh tế của các giai cấp cơ bản trong các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau
Có thể nói, lịch sử các học thuyết kinh tế là một môn khoa học cung cấpcho chúng ta một cách có hệ thống những tư tưởng kinh tế, mà cốt lõi, xuyênsuốt là tư tưởng về giá trị hàng hoá Vì thế, việc nghiên cứu, giảng dạy và họctập môn khoa học này phải đối diện với một khối lượng kiến thức rất rộng lớn,
từ thời cổ đại đến hiện đại Đó là vấn đề rất khó khăn Sự thành công của nhữngngười nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn Lịch sử các học thuyết kinh tế phụthuộc vào việc nắm được vấn đề cơ bản, xuyên suốt trong hệ thống các tư tưởngkinh tế của nhân loại
Vấn đề cơ bản, xuyên suốt trong môn khoa học này trở thành đối tượng mà
môn học phải nghiên cứu lại có hai mặt Thứ nhất, giá trị hàng hoá là gì? nó được hình thành, phân phối, trao đổi và sử dụng như thế nào? Thứ hai, Nhà
nước có vai trò như thế nào trong việc sản xuất, phân phối, trao đổi và sử dụnggiá trị trong tiến trình phát triển của lịch sử
Lịch sử các học thuyết kinh tế, về thực chất là môn khoa học nghiên cứu đểgiải quyết vấn đề trung tâm có tính hai mặt đó Nó xuyên suốt trong các tư tưởnghọc thuyết kinh tế, hay như cách nói hình ảnh mà chúng ta thường dùng, là sợichỉ đỏ của các tư tưởng kinh tế trong lịch sử
Lý luận địa tô là một trong những vấn đề quan trọng, xuyên suốt lịch sửhọc thuyết kinh tế việc nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trongviệc hoạch định chính sách đất đai ở các nước trên hế giới nói chung và ở ViệtNam nói riêng
Trong điều kiện kinh tế thế giới hiện nay nói chung và của nước ta nóiriêng, việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế nói chung lý luận địa tô nóiriêng càng cần thiết để hiểu và thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng Cộng sản
Trang 2Việt Nam trong công cuộc đổi mới Vì lý do đó em xin chọn vấn đề “Lý luận lợi nhuận, lợi tức, địa tô của C.Mác là sự kế thừa và phát triển lý luận lợi nhuận, lợi tức, địa tô của trường phái kinh tế tư sản cổ điển Sự vận dụng lý luận lợi nhuận, lợi tức, địa tô trong thực hiện các chính sách tài chính, tiền tệ và ruộng đất của đảng và nhà nước ta hiện nay” làm tiểu luận môn Lịch sử các học thuyết kinh tế.
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là lý luận địa tô của các trường phái kinh
tế trong lịch sử các học thuyết kinh tế
- Phạm vi nghiên cứu của tiểu luận tương đối rộng tập trung nghiên cứu lýluận về địa tô của các trường phái kinh tế trong lịch sử các học thuyết kinh tế
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của tiểu luận là nghiên cứu, đánh giá lý luận về địa tô củacác trường phái, học thuyết kinh tế trên cơ sở đó liên hệ vấn đề địa tô ở Việt Namnhằm đưa ra những chính sách trong việc sử dụng đất đai ở Việt Nam hiện nay
Để đạt được mục tiêu đó tiểu luận có nhiệm vụ giải quyết một số vấn đề sau: Tìm hiểu lý luận địa tô của các trường phái, học thuyết kinh tế trước MácĐánh giá những thành tựu, hạn chế trong lý luận về địa tô của các trườngphái kinh tế trước Mác
Tìm hiểu lý luận địa tô trong học thuyết kinh tế của Mác
Đánh giá chính sách đất đai của Việt Nam trước và sau đổi mới đến nayĐưa ra một số giải pháp trong việc thực hiên chính sách đất đai của ViệtNam hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng phương pháp luận Duy vật Biện chứng và Duy vật lịch
sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin để làm sáng tỏ vấn đề
Ngoài ra để thực hiện mục tiêu nghiên cứu cũng như việc triển khai nộidung, tiểu luận còn kết hợp sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháplôgic- lịch sử, phân tích tài liệu, phân tích - tổng hợp, phương pháp thu thập và
xử lý thông tin…
5.Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dungtiểu luận gồm 3 chương và 13 tiết
Trang 3NỘI DUNG CHƯƠNG I
LÝ LUẬN ĐỊA TÔ CỦA CÁC TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ TRƯỚC
MÁC 1.1 Các tư tưởng kinh tế thời trung cổ
Tư tưởng kinh tế của Thomasd Aquin (1225 - 1274)
Thomasd Aquin xuất thân từ một gia đình quý tộc ở Italia Ông là đại biểunổi tiếng của giới giáo sỹ theo dòng Dominicanh và chịu ảnh hưởng triết họcduy tâm của Platon Tác phẩm "Khái niệm về thần học" của ông trở thành cuốn
từ điển bách khoa của đạo Thiên chúa Theo ông, quyền lực của Giáo hoàng làtối cao Vua phải phục tùng các giáo sỹ mà trước hết là Giáo hoàng La Mã
Tư tưởng của T.Aquin bênh vực cho lợi ích của đại địa chủ và nhà thờ, bảo
vệ chế độ chiếm hữu đại địa chủ về ruộng đất
Trong các tư tưởng kinh tế của mình, ban đầu ông bảo vệ kinh tế tự nhiên,chống lại hoạt động thương mại và cho vay nặng lãi Theo ông, kinh tế tự nhiên
là cơ sở tồn tại của xã hội Nông nghiệp phù hợp với lòng từ thiện vì giới tựnhiên do thượng đế tạo ra tham gia vào nông nghiệp Song, do sự phát triển kinh
tế hàng hoá là tất yếu, hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời ngày càng rộngrãi làm cho ông phải thay đổi cách nhìn nhận kinh tế của mình Trong điều kiện
đó, ông sử dụng quan điểm của Aristote về ba loại thương nghiệp và cho rằngđại thương nghiệp có thể theo đuổi một mục đích chân lý cần thiết Vì vậy, thulợi nhuận không mâu thuẫn với lòng từ thiện
Để bảo vệ quan điểm của nhà thờ cấm thu lợi tức nhưng cho phép sử dụngviệc cho vay có ruộng đất cầm cố, ông đưa ra tư tưởng về cần thiết phải có "tặngphẩm cho tiền vay" Ông nói: "Không cho phép lấy một khoản tiền thưởng nàotrong việc cho vay nhưng được phép lấy một tặng phẩm nào đó để làm tiền công".Ông gọi lãi suất là một "quà tặng vô tư", một khoản tiền cho những rủi ro
Theo ông, địa tô, lợi nhuận thương mại là sự trả công cho lao động gắn liềnvới việc quản lý tài sản ruộng đất Việc thu địa tô là hoàn toàn hợp lý vì địa tô thu
từ ruộng đất, mà ruộng đất là tặng phẩm của thượng đế ban cho vua chúa, quan lại.Trong khi ca ngợi kinh tế tự nhiên, kinh tế nông nghiệp, phê phán kinh tếhàng hoá, ông cho rằng ruộng đất có nhiều ưu thế hơn so với tiền tệ:
Thứ nhất, ruộng đất mang lại thu nhập (địa tô) nhờ sự giúp đỡ của tự nhiên.
Trong khi đó thu nhập của tiền tệ cho vay là sự lừa dối
Thứ hai, ruộng đất làm cho tinh thần đạo đức tốt lên còn tiền tệ gây ra
những tật xấu, thói hư, lòng tham lam vị kỷ của con người
Thứ ba, ruộng đất có thể nhìn thấy rõ, không có sự lừa lọc như tiền tệ
Trong thời kỳ cuối Trung cổ, xã hội phong kiến ngày càng mang tính chất
Trang 4giai cấp rõ rệt T.Aquin bảo vệ quyền lợi của các giai cấp, việc bảo vệ này đượcthể hiện trong việc giải thích "giá cả công bằng" Ông xếp việc trao đổi vào loạihành động chủ quan - đó là sự công bằng trong lợi ích Vì vậy, ông ta dạy rằngluật của chúa trời đã nói nếu như "một vật mang lại lợi ích cho người này và gâythiệt hại cho người khác thì trong trường hợp đó chúng ta có quyền bán cái vật đóđắt hơn chính cái giá của nó Nhưng ở đây cái vật này dù sao cũng không được bánđắt hơn so với bản thân giá trị của nó, bởi vì cái phần tiền bổ sung sẽ bù đắp đượccác khoản thiệt hại mà người bán chịu khi mất đi cái vật đó" Ông mô tả nhữngngười đại diện cho các tầng lớp đặc ân như là những con người luôn quan tâm đếnquyền lợi của những người lao động Điều đó giải thích tại sao, theo ý kiến của ông
ta, ông ta cho phép bán các vật phẩm đắt hơn so với bản thân giá của chúng
1.2 Các tư tưởng kinh tế ở Phương Đông
1.2.1 Tư tưởng kinh tế phong kiến ở Trung Quốc
Quan điểm về ruộng đất
Trong thời cổ đại, ruộng đất chủ yếu thuộc về quyền sở hữu của Nhà nước.Đến thời Xuân - Thu (722- 481 TCN), chế độ thái ấp và tỉnh điền bước vào quátrình tan rã, hiện tượng mua bán ruộng đất xuất hiện Ruộng đất tư hữu bắt đầu
ra đời Từ thời Chiến quốc về sau, ruộng đất tư ngày càng phát triển, trong khi
đó, ruộng công vẫn tiếp tục tồn tại Do vậy, hai hình thức sở hữu ruộng đất củanhà nước và tư nhân tồn tại song song đến cuối chế độ phong kiến
Quan điểm về ruộng đất nhà nước: Ruộng đất thuộc quyền quản lý của nhà
nước gọi là công điền, vương điền, quan điền v.v Do sau các cuộc chiến tranh,
cả nông dân và địa chủ kẻ thì chết, kẻ chạy loạn nên ruộng đất vắng chủ rấtnhiều Các triều đại phong kiến đã biến các ruộng đất ấy thành ruộng công Vìvậy, Nhà nước nắm được nhiều ruộng công Trên cơ sở đó, các triều đại phongkiến đem bán, cấp cho quý tộc làm bổng lộc và tổ chức thành đồn điền, điềntrang để sản xuất hay chia cho nông dân dưới hình thức quan điền để thu thuế.Trong các chính sách xử lý đất công thời phong kiến, đáng chú ý nhất làchế độ quan điền Tuy quy định cụ thể của các triều đại ít nhiều khác nhau,nhưng nội dung chủ yếu của chính sách quan điền là: Nhà nước đem ruộng đất
do mình trực tiếp quản lý chia cho nông dân cày cấy
Theo chính sách đó, ruộng đất được chia cho mọi tầng lớp, giới tính, nhưđàn ông, đàn bà, người già, người ốm đau, tàn tật để trồng lúa (gọi là ruộng khẩuphần) hoặc trồng dâu (ruộng vĩnh nghiệp) Đồng thời, các quan lại, tuỳ theochức vụ cao hay thấp được cấp ruộng đất làm bổng lộc
Người nhận được ruộng trồng lúa, đến 60 tuổi phải trả cho nhà nước, cònruộng trồng dâu, ruộng vĩnh nghiệp được truyền cho con cháu Ruộng chức vụ
Trang 5của quan lại khi thôi chức phải giao lại cho người mới nhậm chức
Trừ ruộng ban thưởng cho quý tộc, quan lại là được tự do mua bán, còn nóichung ruộng cấp cho nông dân thì không được chuyển nhượng Trong một sốtrường hợp đặc biệt như người nông dân thiếu hoặc thừa ruộng trồng dâu, hoặcgia đình có việc tang mà quá nghèo túng có thể mua bán ruộng trồng dâu ĐờiĐường còn quy định nếu nông dân dời chỗ ở từ nơi ít ruộng đến nơi nhiều ruộngthì được bán cả ruộng khẩu phần
Tuy nhiên, cũng có quan điểm chống lại việc sở hữu ruộng đất của Nhànước, việc Nhà nước ban cấp ruộng đất cho nông dân mà coi ruộng đất thuộcdân cày là một tất yếu Vương Phu Chi cho rằng, ruộng đất không phải của riêngnhà vua mà thuộc về tay người cày; người cày có quyền sở hữu ruộng đất,không phải đợi vua phân chia
Quan điểm về ruộng đất tư nhân: Từ thời Chiến quốc, ruộng đất tư xuất
hiện ngày càng nhiều do việc vua ban cấp Việc mua bán ruộng đất đã trở thànhphổ biến càng thúc đẩy sự phát triển quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất TheoĐổng Trọng Thư (179- 104 TCN) “Đến đời Tần, dùng luật của Thượng Ưởng,sửa đổi điều luật của đế vương, bỏ tỉnh điền, dân được mua bán, nhà giàu ruộngliền bờ bát ngát, người nghèo không có đất cắm dùi” Trước thực trạng như vậy,ông đề nghị “hạn chế ruộng đất tư của dân để cấp cho những người không đủ;ngăn chặn đường chiếm đoạt”
Sự phát triển của chế độ tư hữu ruộng đất ảnh hưởng đến sức mạnh của chế
độ phong kiến tập quyền Do đó, để củng cố chế độ phong kiến tập quyền phảihạn chế việc gia tăng ruộng đất của quan lại, địa chủ Chu Nguyên Chương (tứcMinh Thái Tổ) đã quy định số lượng ruộng đất được ban cấp Cụ thể, công thần,công hào, thừa tướng được ban cấp nhiều nhất là 100 khoảnh; thân vương 1000khoảnh Nhìn chung càng về sau này, ruộng đất chủ yếu ở trong tay địa chủ vàquan lại Cuối triều Minh, cứ 10 người thì 9 người không có ruộng
1.2.2 Tư tưởng kinh tế phong kiến ở Nhật Bản
Quan điểm về ruộng đất
Sau năm 642, toàn bộ ruộng đất thuộc sở hữu của nhà nước Nhưng phápluật cũng thừa nhận ruộng đất chùa chiền, đồng thời cho phép ruộng thưởngcông được truyền cho con cháu
Do nhân khẩu tăng, đến thế kỷ VIII không đủ ruộng đất để ban cấp theotiêu chuẩn đã quy định, nên Nhà nước ban hành chính sách khuyến khích khaikhẩn đất hoang Năm 723, Nhà nước ra quy định: Nếu ai khai khẩn đất hoang chưa
có kênh ngòi thì được truyền 3 đời; còn ai khai khẩn ruộng hoá đã có kênh ngòi sẵnthì được sử dụng suốt đời, sau khi chết phải trả lại cho Nhà nước Nhưng chính
Trang 6sách này hạn chế đối với việc khẩn hoang, nên năm 743, Nhà nước lại tuyên bốruộng đất khai hoang thuộc quyền sở hữu vĩnh viễn của người khai khẩn
Do chính sách ban thưởng và khai khẩn đó nên ruộng đất tư ngày càng pháttriển; ruộng đất Nhà nước ngày càng bị thu hẹp Chế độ ban điền dần dần tan rã,chế độ trang viên phong kiến ra đời và phát triển
Sự phát triển của chế độ trang viên mâu thuẫn với lợi ích của Nhà nướcTrung ương Do vậy, Nhà nước nhiều lần ban hành những chính sách nhằm hạnchế sự phát triển của trang viên Năm 1064, Nhà nước lập sở “Đăng ký khế ước”mục đích thẩm tra ruộng đất trang viên, nếu ruộng đất không hợp pháp thì quốchữu hoá Cùng năm đó nhà nước ra lệnh thủ tiêu đặc quyền miễn thuế và khôngcho quan lại Nhà nước vào trang viên (gọi là quyền bất thâu, bất nhập) Nhưng dochế độ trang viên đã vững nên những pháp lệnh ấy không có hiệu quả Đến thế kỷXII, chế độ trang viên phát triển khắp cả nước Từ đó về sau, tuy có thay đổi chủnhân của sở hữu ruộng đất, nhưng ruộng đất tư hữu vẫn giữ vai trò quyết định
1.2.3 Tư tưởng kinh tế ở Ấn Độ
Quan điểm về chế độ ruộng đất
Cũng như thời cổ đại, trong suốt thời kỳ trung đại, quyền sở hữu ruộng đất
ở Ấn Độ chủ yếu vẫn thuộc về nhà nước
Trên cơ sở ấy, thời Gúp-ta, nhà vua thường đem ruộng đất phong cho cácquan lại làm bổng lộc Từ thời Hác-sa về sau, các nhà vua cũng thường đemruộng đất ban thưởng cho các đền chùa, các thầy tu và bề tôi, trong đó có thểkèm theo những điều kiện nhất định, nhưng cũng có thể không có bất cứ điềukiện nào
Loại ruộng đất ban không có điều kiện gọi là Grax Kẻ được cấp thường làđền chùa hoặc các thầy tu Được ban cấp loại ruộng Grax, chủ ruộng đất cóquyền giữ vĩnh viễn, được toàn quyền thống trị và thu tô thuế trong lãnh địa củamình và không phải chịu một nghĩa vụ nào Trong một tờ chiếu ban cấp ruộngđất của Hác- sa có đoạn viết: "Trẫm ban làng này cho Ba-La-Môn, miễn cho tất
cả mọi nghĩa vụ và cho phép được truyền cho con cháu Khi mặt trăng, mặt trời
và quả đất còn tồn tại thì kẻ được trẫm phong đất cứ việc thống trị vùng đó.Thần dân trong vùng này phải thừa nhận họ và đến kỳ phải nộp thuế, các loạisản phẩm và tiền bạc cho họ"
Loại ruộng đất phân phong có điều kiện gọi là Pát -Ta dùng để ban cấp chocác tướng lĩnh Người được ban đất Pát-Ta chỉ được sử dụng ruộng đất khi đanggiữ chức vụ, không được truyền cho con cháu và phải có nghĩa vụ quân sự SáchĐường Đại Tây việc ký của Huyền Trang có nói: "Tể mục, phụ thần, thứ quan,liêu tá đều có đất phong, sống bằng thái ấp của mình" Đến thời Xun-Tan Đê-li,
Trang 7chế độ ruộng đất ở Ấn Độ phát triển theo chiều hướng hơi khác Theo quan điểmtruyền thống của đạo Hồi, nhà nước Xun-Tan Đê-li tuyên bố ruộng đất thuộcquyền sở hữu của nhà nước, quyền sở hữu ruộng đất của các chúa phong kiếnbản xứ nói chung bị thủ tiêu Trên cơ sở đó Xun-Tan đem ruộng đất ban cấp chotướng lĩnh, nhà thờ Hồi giáo với những điều kiện khác nhau, đồng thời nhữngchúa phong kiến bản xứ chịu thần phục thì ruộng đất của họ vẫn được chấpnhận, vì vậy trong thời kỳ này, có nhiều loại ruộng đất khác nhau Quan trọngnhất trong số đó là ruộng đất I-Kta mà kẻ chiếm hữu gọi là I-Kta-Đa và ruộngđất Za-Min mà kẻ chiếm hữu gọi là Za-Min-Đa, loại ruộng đất I-Kta là nhữngthái ấp ban cho các quý tộc quân sự Hồi giáo người Tuyếc, người Áp-ga-ni-xtan
và những chúa phong kiến Ấn độ theo đạo Hồi với những điều kiện:
+ Người được ban cấp ruộng chỉ được hưởng một phần tô thuế làm bổng lộckhi đang giữ chức vụ, phần tô còn lại phải nộp vào kho Nhà nước Về nguyên tắcchủ đất I-Kta không có quyền sở hữu ruộng đất nên trong trường hợp cần thiết,Xun-Tan có thể thu hồi đất phong hoặc điều người được phong đất từ nơi nàysang nơi khác
+ Người được ban cấp đất I-Kta phải tuỳ theo diện tích ruộng đất lớn hay
bé mà nuôi một số lượng quân đội tương ứng để cung cấp cho Nhà nước
+ Loại ruộng đất Za-Min là ruộng đất của những chúa phong kiến Ấn Độgiáo quy thuận hoặc liên kết với Xun-Tan, do đó Xun-Tan cho giữ nguyênquyền sở hữu ruộng đất Trong lãnh địa của mình các Za-Min-Đa có tư phápriêng và tự quy định mức tô thuế, tuy nhiên họ phải có nghĩa vụ nộp cống và khi
có chiến tranh phải đem quân đội của mình đến giúp Xun-Tan Ngoài hai loạiruộng đất kể trên, các nhà thờ, trường học và giáo sỹ Hồi giáo cũng được bancấp ruộng đất Chủ của ruộng đất này có quyền thu tô thuế, tổ chức bộ máy hànhchính, toà án và không phải chịu nghĩa vụ gì đối với nhà nước
Đến thời Mô-Gôn, giai cấp thống trị theo Hồi giáo nên quan niệm về ruộngđất cũng giống như thời Xun-Tan Đê-li chỉ có tên gọi là chi tiết hơi khác màthôi Những kẻ được phong đất là các quý tộc quân sự gọi là Ja-Jia-Đa (còn đấtgọi là Ja-Jia) Tuy được phong đất nhưng các Ja- Jia-Đa chỉ có quyền thu tô thuếtheo mức quy định thống nhất của nhà nước, chứ không có quyền sở hữu Cònđất Za-Min cũng tồn tại với những điều kiện giống như thời Xun-Tan Đê-li.Ngoài các loại đất trên, các đền chùa tôn giáo và các loại thầy tu cũng córuộng đất Những kẻ được ban cấp ruộng đất này không phải chịu nghĩa vụ gìđối với nhà nước
Mức thuế ruộng đất mà nông dân phải nộp bằng 1/6 thu hoạch Ngoài ra, nôngdân phải chịu lao dịch như đắp thành, xây cung điện, làm các công trình thuỷ lợi
Trang 8và còn nộp các loại thuế khác nhau như thuế làm nhà, tiền cheo đám cưới
Đến cuối thời Trung đại, mức thuế ruộng đất tăng lên bằng 1/3 thu hoạch và
số loại tạp thuế cũng tăng lên bao gồm các khoản như thuế gia súc, thuế cây ănquả, thuế nhà, thuế đốn củi, thuế nuôi, thuế chợ, thuế xuống gặt Bởi vậy đờisống của nông dân Ấn Độ rất khốn khổ, lúc gặp thiên tai họ không tránh khỏi chếtđói hàng loạt
1.3 Học thuyết kinh tế trọng nông
Tư tưởng kinh tế của Turgot (1727 - 1781)
Lý luận về lợi nhuận
Để khám phá nguồn gốc của lợi nhuận, Turgot đã suy xét như sau: Nhà tưbản - chủ trang trại mà sử dụng lao động thuê mướn thì chí ít phải có lợi nhuậncho vốn tư bản của mình giống như đối với chủ nhà máy, cộng với một số dư dật
mà họ phải trả cho chủ đất dưới dạng địa tô Sản phẩm của công nhân nôngnghiệp bằng tổng của tiền lương và sản phẩm thuần túy Do đó, tiền lương củacông nhân là thu nhập do lao động, còn sản phẩm thuần túy là thu nhập của nhà
tư bản, gọi là lợi nhuận Lợi nhuận đó chính là thu nhập không lao động do côngnhân tạo ra
Mặc dù chưa phân tích được rõ ràng bản chất của giá trị thặng dư và cáchình thức biểu hiện của nó, nhưng Turgot đã tiến rất gần đến vấn đề này Ông đãthử giải thích như sau: Trước hết trong giá trị sản phẩm phải có khoản bù lạinhững chi phí tư bản, trong đó có cả tiền lương cho công nhân Phần còn lại(thực chất là giá trị thặng dư) được chia làm ba phần:
Phần thứ nhất, là lợi nhuận bằng với thu nhập mà nhà tư bản có thể nhận
mà “không có bất kỳ sự lao động nào” như một chủ sở hữu vốn tư bản bằng tiền
Đây là phần lợi nhuận tương ứng với lãi phần trăm vốn vay Phần thứ hai, là lợi
nhuận trả cho “lao động, rủi ro và nghệ thuật” của nhà tư bản - người đã quyếtđịnh bỏ tiền của mình đầu tư vào nhà máy hoặc trang trại Đó là thu nhập kinh
doanh Phần thứ ba, là phần địa tô trả cho chủ đất Nó chỉ tồn tại đối với tư bản
đặt vào việc canh nông Ở thời đại mà Turgot sống thì việc phân tích này là tưduy vô cùng mới mẻ
Khi xem xét các hình thức bỏ vốn tư bản khác nhau, Turgot đã đề cập đếnmột vấn đề quan trọng, đó là cạnh tranh tư bản sẽ dẫn đến sự cân bằng tự nhiênmức lợi nhuận nhờ khả năng chuyển vốn tư bản từ môi trường đầu tư này sangmôi trường đầu tư khác
Những “tư duy” ban đầu của Turgot, sau này đã được D.Ricacđo tiếp tụclàm rõ và cuối cùng, C.Mác giải quyết một cách triệt để và khoa học trongquyển 3 của bộ “Tư bản” bằng các luận thuyết về lợi nhuận bình quân và giá cả
Trang 9sản xuất, tư bản cho vay và lợi tức cho vay, địa tô.
Tóm lại, nhận thức về tư bản của chủ nghĩa Trọng nông đã có một bước tiến lớn
1.4 Học thuyết kinh tế tư sản cổ điển
1 4.1 Học thuyết kinh tế của Wiliam Petty (1623-1687)
Lý luận địa tô, lợi tức và giá cả ruộng đất
Lý luận địa tô của Wiliam Petty cũng được xây dựng trên cơ sở lý luận giá
trị lao động, nên cũng có nhiều đóng góp quan trọng Theo ông địa tô là khoảnchênh lệch giữa thu nhập và chi phí sản xuất, mà phần chi phí này gồm chi phí
về giống và tiền lương Như vậy, thực chất của địa tô là giá trị dôi ra ngoài chiphí, tức là phần lao động không công của công nhân Qua lý luận địa tô, Wiliam
Petty cũng vạch rõ mầm mống của sự bóc lột của giai cấp tư bản và địa chủ đối
với giai cấp công nhân nông nghiệp
Wiliam Petty không những nghiên cứu bản chất của địa tô, mà ông còn
nghiên cứu địa tô chênh lệch Ông cho rằng: Các mảnh đất xa gần khác nhau sẽmang lại thu nhập khác nhau
Về lợi tức, Wiliam Petty phân tích lợi tức gắn liền với địa tô, theo ông người có
tiền có thể sử dụng bằng hai cách để đem lại thu nhập:
- Thứ nhất, dùng tiền mua đất cho thuê để thu địa tô.
- Thứ hai, đem gửi ngân hàng để thu lợi tức Wiliam Petty coi lợi tức là tô của
tiền, nó phụ thuộc vào mức địa tô, cũng có nghĩa là mức lợi tức cao hay thấp phụthuộc vào điều kiện sản xuất nông nghiệp
Về giá cả ruộng đất, Wiliam Petty gắn lý luận địa tô với việc xác định giá
cả ruộng đất, ông cho rằng, bán ruộng đất là bán quyền nhận địa tô, vì vậy giá cảruộng đất là do địa tô quyết định
Ông đưa ra công thức tính giá cả ruộng đất rất độc đáo, công thức đó là:
Giá cả ruộng đất = R x 20
R là mức địa tô do một mảnh đất mang lại, còn số 20 là ông dựa vào kinhnghiệm thống kê để xác định Ông giả định rằng, trong một gia đình có 3 thế hệ:con 7 tuổi, cha 27 tuổi, ông 47 tuổi Họ cách nhau 20 tuổi và còn có thể chungsống với nhau 20 năm nữa, do đó ông đã lấy số 20 để tính giá cả ruộng đất Mặc
dù cách tính này là không có sơ sở lý luận chắc chắn và không đúng, song có hạtnhân hợp lý là đã dựa vào địa tô để xác định giá cả ruộng đất
1.4.2 Học thuyết kinh tế của A.Smith (1723 - 1790)
Lý luận về các hình thái thu nhập trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
Nhận xét chung về lý luận địa tô của A Xmít, nhiều nhà nghiên cứu chorằng ông chưa có những quan điểm rõ ràng và đầy đủ Tuy vậy, vẫn có thể thấy
là A Xmít có cố gắng rất nhiều trong việc tìm hiểu bản chất thật sự của địa tô tư
Trang 10bản chủ nghĩa bằng cách đặt nó trên cơ sở khoa học của lý luận giá trị - laođộng Ông có nhận xét đúng đắn rằng địa tô là một loại thu nhập không do laođộng, một sự khấu trừ giá trị hàng hoá có lợi cho người chủ đất, là phần dôi ratrên mức tiền công và lợi nhuận bình quân của tư bản Tuy nhiên, A Xmítkhông theo đuổi vấn đề này một cách triệt để nên ông thường tự mâu thuẫn vớichính mình trong việc xác định nguồn gốc cuối cùng của địa tô Ông gọi địa tô
là một loại “giá cả độc quyền” trả cho việc sử dụng đất đai Thậm chí, ông còn
bị coi là có bước thụt lùi so với những người trọng nông (những người dù saocũng khẳng định một cách dứt khoát rằng địa tô là do lao động của công nhântrong lĩnh vực nông nghiệp tạo ra) khi cho rằng địa tô là một tặng vật của đấtđai, là phần thưởng trả cho “công lao của đất” Ông diễn đạt một cách hình ảnhrằng địa tô - “đó là tác phẩm còn sót lại của tự nhiên sau khi mọi thứ đã trởthành sản phẩm của con người” và gắn cho nó một thuộc tính vĩnh viễn, phi lịch
sử Ngoài ra, các phân tích của A Xmít về địa tô chênh lệch cũng chưa thật sâusắc và đầy đủ Ông cũng chưa đề cập đến địa tô tuyệt đối là địa tô mà bất kỳngười thuê đất đai nào, chứ không chỉ những người thuê đất tốt hay trung bình-cũng phải trả Những hạn chế của A.Smith chung quy cũng vẫn bắt nguồn từviệc ông không có một quan điểm tổng quát về giá trị thặng dư, tức là cơ sởkhách quan để giải thích cho sự tồn tại của các loại địa tô dưới CNTB
1.4.3 Học thuyết kinh tế của David Ricardo (1772 - 1823)
Lý thuyết địa tô
David Ricardo phát triển quan điểm A.Smith về những thu nhập lần đầucủa ba giai cấp cơ bản trong xã hội Lý thuyết thu nhập của ông được xây dựngtrên cơ sở lý thuyết giá trị - lao động
* Về địa tô, sự phân tích địa tô là công lao của David Ricardo Điểm nổi bật
của lý thuyết địa tô là ông phân tích lý thuyết này trên cơ sở lý thuyết giá trị laođộng Ông lập luận rằng, do "đất đai canh tác hạn chế", độ màu mỡ đất đai giảmsút, "năng suất đầu tư bất tương xứng", trong khi đó, dân số tăng nhanh làm chonạn khan hiếm tư liệu sinh hoạt là phổ biến trong mọi xã hội Điều này buộc xãhội phải canh tác trên ruộng đất xấu Vì canh tác trên ruộng đất xấu, nên giá trịnông sản phẩm do hao phí lao động trên ruộng đất xấu nhất quyết định Vì vậy, ởnhững ruộng đất tốt, trung bình, cùng với mức đầu tư chi phí, sẽ thu được lượngsản phẩm lớn hơn so với ruộng đất xấu Khoản chênh lệch đó trả cho địa chủ gọi
là địa tô
Cũng như A.Smith, David Ricardo đã phân biệt được địa tô và tiền tô Địa
tô là việc trả công cho những khả năng thuần túy tự nhiên Ngoài địa tô, tiền tôcòn bao gồm cả lợi nhuận do tư bản đầu tư vào ruộng đất
Trang 11Các nhà kinh tế khác cho rằng, địa tô là dấu hiệu sự giàu có của xã hội ược lại, David Ricardo cho rằng, địa tô là biểu hiện sự bần cùng của xã hội Vìnếu đất đai phì nhiêu, màu mỡ, người ta không cần phải canh tác trên ruộng đấtxấu Do vậy, địa tô giảm, giá cả nông sản phẩm giảm, địa tô càng cao thì xã hộicàng thiếu nông sản phẩm Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, tăng màu
Ng-mỡ đất đai sẽ làm cho địa tô giảm đi
Hạn chế quan trọng nhất trong lý thuyết địa tô của David Ricardo là ôngkhông thừa nhận địa tô tuyệt đối Ông cũng cho rằng, thừa nhận địa tô tuyệt đối
là vi phạm quy luật giá trị
1.5 Học thuyết kinh tế tư sản cổ điển trong thời kỳ tan rã
Học thuyết kinh tế của T.R.Malthus (1766 - 1834)
Lý luận về địa tô
Malthus đã phát triển lý thuyết về địa tô chênh lệch của Ricardo Theo lýthuyết này thì địa tô tồn tại vì sự khác nhau về độ màu mỡ của đất và vì địa chủ
đã cải tiến đất đai của anh ta Tiến bộ về kinh tế làm cho cầu về hàng hóa nôngnghiệp sẽ tăng lên và đất đai màu mỡ sẽ ít đi Do vậy, sự chênh lệch về độ màu
mỡ giữa các mảnh đất sẽ tăng lên và bởi vậy địa tô cũng sẽ khác nhau TheoMalthus, địa tô cao là kết quả của sự thịnh vượng về kinh tế và là thước đo cho
sự thịnh vượng
1.6 Học thuyết kinh tế tiểu tư sản
Học thuyết kinh tế của Sismondi (1773-1842)
Trong lịch sử kinh tế chính trị, Sismondi chiếm một vị trí đặc biệt Mộtmặt, ông là người bảo vệ nhiệt thành nhất nền sản xuất nhỏ, chống lại một cáchquyết liệt nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa và với tư cách ấy, ông trở thành mộttrong các đại biểu nổi tiếng nhất của tư tưởng kinh tế tiểu tư sản Ông cũng đượcC.Mác coi là người sáng lập và đứng đầu trường phái này ở nước Pháp Mặtkhác, cũng theo đánh giá của Mác, Sismondi còn là người đại biểu cuối cùng
của kinh tế chính trị học cổ điển Pháp C.Mác cho rằng, nếu như với Ricardo,
kinh tế chính trị học đã đưa ra được tất cả những kết luận cuối cùng của mình và
do đó mà đã được hoàn thiện thì Sismondi lại bổ sung cho những kết luận nàybằng việc nghi ngờ nó Vị trí đặc biệt đó của Sismondi trong lịch sử kinh tế học
đã quyết định phương pháp luận nghiên cứu và những khuynh hướng phát triển
lý luận ở ông Ngoài ra, ông còn là một trong những đại biểu của chủ nghĩa xãhội tiểu tư sản, một trào lưu tư tưởng và lý luận độc đáo phát triển mạnh mẽ ởPháp những năm đầu thế kỷ XIX
Trang 12Lý luận địa tô
Trong vấn đề địa tô, sự giải thích của Sismondi cũng giống như củaA.Smith và D.Ricardo Song, ở đây ông có một cống hiến khoa học thật sự khikhẳng định rằng địa tô không chỉ tồn tại trên những mảnh đất tốt mà còn có cảnhững mảnh đất xấu nhất Đó chính là địa tô tuyệt đối mà C.Mác phân tích saunày Điều khẳng định của Sismondi về sự tồn tại của địa tô ở khắp nơi là một sựgiải thích đúng đắn hiện thực lúc đó, khi mà phương thức tư bản chủ nghĩa đãchiến thắng trong lĩnh vực nông nghiệp chẳng những ở Anh mà còn ở Pháp nữa
Trang 13CHƯƠNG II NỘI DUNG LÝ LUẬN ĐỊA TÔ TRONG HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA
MÁC – ĂNGGHEN
Nông nghiệp cũng là một lĩnh vực sản xuất của xã hội Nhà tư bản nông nghiệp tiến hành kinh doanh nông nghiệp cũng chiếm đoạt một số giá trị thặng dư do công nhân nông nghiệp mà họ thuê mướn tạo ra Tất nhiên họ không thể chiếm đoạt toàn bộ giá trị thặng dư đó mà phải cắt một phần để nộp tô cho địa chủ Là nhà tư bản kinh doanh trước hết họ phải đảm bảo thu được lợi nhuận bình quân cho tư bản của họ bỏ ra Và do đó để nộp tô cho địa chủ, họ còn phải bảo đảm thu được một số giá trị thặng dư vượt ra ngoài lợi nhuận bình quân đó, một lợi nhuận siêu ngạch, khoản lợi nhuận siêu ngạch này phải được bảo đảm thường xuyên và tương đối ổn định Và bộ phận siêu ngạch này là do công nhân nông ngiệp tạo ra, nộp cho địa chủ với tư cách là
kẻ sở hữu ruộng đất Có khi địa chủ không cho thuê ruộng đất mà tự mình thuê công nhân để khai thác ruộng đất của mình Trong trường hợp này địa chủ hưởng cả địa tô lẫn lợi nhuận.
Để làm rõ được bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa hơn, Mác đã sosánh giữa địa tô tư bản chủ nghĩa với địa tô phong kiến
2.1 So sánh địa tô tư bản chủ nghĩa với địa tô phong kiến
1.1.1.Sự giống nhau:
Trước hết là quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế đồng thời
cả hai loại địa tô này đều là kết quả của sự bóc lột đối với những người lao động
- Còn địa tô tư bản chủ nghĩa phản ánh mối quan hệ giữa 3 giai cấp:
Trang 14+Giai cấp địa chủ+Giai cấp tư bản kinh doanh ruộng đất+ Công nhân nông nghiệp làm thuêTrong đó địa chủ gián tiếp bóc lột công nhân thông qua tư bản hoạt động.Nhưng cuối cùng Mác cũng kết luận rằng: “Dù hình thái đặc thù của địa tô nhưthế nào thì tất cả những loại hình của nó đều có một điểm chung là sự chiếm hữuđịa tô là hình thái kinh tế dưới đó quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện”.
Với kết luận này Mác đã khẳng định địa tô chính là phương tiện, là công
cụ để bọn địa chủ bóc lột nông dân, ai có ruộng, ai có đất thì được quyền thu địa
tô tức là có quyền bóc lột sức lao động của người làm thuê
Nếu nhìn vào bề ngoài, ta không thể thấy được sự bóc lột của địa chủđối với nông dân, thực chất là giúp chúng gián tiếp bóc lột thông qua nhữngnhà tư bản kinh doanh ruộng đất, thuê đất của địa chủ để cho nông dân làm
Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao nhà tư bản lại có thể thu được phần giátrị thặng dư dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân để trả cho chủ ruộng đất.Việcnghiên cứu địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối sẽ giải thích điều đó
2.2 Các hình thức cơ bản của địa tô tư bản chủ
nghĩa
2.2.1.Địa tô chênh lệch
Trong nông nghiệp cũng như trong công nghiệp cũng đều phải có lợinhuận siêu ngạch Nhưng trong công nghiệp lợi nhuận siêu ngạch chỉ là mộthiện tượng tạm thời đối với nhà tư bản nào có được điều kiện sản xuất tốthơn Còn trong nông nghiệp thì ít nhiều có khác, lợi nhuận siêu ngạch hìnhthành và tồn tại một cách tương đối lâu dài Vì một mặt không thể tự tạothêm ruộng đất tốt hơn, gần nơi tiêu thụ nhưng có thể xây dựng được thêmnhiều nhà máy tối tân hơn trong công nghiệp, mặt khác diện tích ruộng đất cóhạn và toàn bộ đất đai trồng trọt được đã bị tư nhân chiếm đoạt hết, và cũng cónghĩa là đã có độc quyền kinh doanh những thửa ruộng màu mỡ, có vị tríthuận lợi thì thu được lợi nhuận siêu ngạch một cách lâu dài
Nhưng có phải chỉ có ruộng đất tốt hay ít nhất là ruộng đất trên mứctrung bình mới thu được lợi nhuận siêu ngạch không?
Về mặt này nông nghiệp cũng khác công nghiệp Trong công nghiệp giátrị hay giá cả sản xuất hàng hoá là do những điều kiện sản xuất trung bìnhquyết định Còn trong nông nhiệp, giá cả hay giá trị sản xuất của nông phẩmlại do những điều kiện sản xuất xấu nhất quyết định Đó là vì nếu chỉ canh tácnhững ruộng đất tốt và trung bình, thì không đủ nông phẩm để thoả mãn nhucầu của xã hội nên phải canh tác cả những ruộng đất xấu, và do đó cũng phải
Trang 15bảo đảm cho những nhà tư bản đấu tư trên những ruộng đất này có được lợinhuận bình quân
Như vậy giá cả sản xuất của nông phẩm trên những ruộng đất có điềukiện sản xuất xấu là giá cả sản xuất chung của xã hội nên nhà tư bản kinh doanhtrên những ruộng đất trung mình cũng thu được lợi nhuận siêu ngạch ngoàilợi nhuận bình quân Thưc chất thì địa tô chênh lệch cũng chính là lợi nhuậnsiêu ngạch, hay giá trị thặng dư siêu ngạch
Vậy địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận dôi ra ngoài lợi nhuận bìnhquân, thu được trên những điều kiện sản xuất thuận lợi hơn Nó là số chênh lệchgiữa giá cả chung của nông phẩm được quyết định bỏi điều kiện sản xuất trênruộng đất xấu nhất và giá cả sản xuất cá biệt trên ruộng đất trung bình và tốt Nósinh ra là do có độc quyền kinh doanh ruộng đất nhưng bên cạnh đó lại có độcquyền chiếm hữu ruộng đất, nên cuối cùng nó vẫn lọt vào tay chủ ruộng đất
Cũng cần chú ý rằng không phải địa tô chênh lệch là sản phẩm do độ màu
mỡ ruộng đất sinh ra Địa tô chênh lệch cũng như toàn bộ giá trị thặng dư trongnông nghiệp là do lao động thặng dư do công nhân nông nghiệp tạo ra Màu mỡruộng đất chỉ là điều kiện tự nhiên hay cơ sở tự nhiên làm cho lao động của nôngdân có năng suất cao hơn, và là điều kiện không thể thiếu được để cho lợi nhuậnsiêu ngạch hình thành ,cũng như địa tô nói chung, không phải là do ruộng đất mà
ra, nó là do lao động đã bỏ vào ruộng đất và do giá cả của sản phẩm lao độngcủa nông phẩm ,chứ không phải do bản thân ruộng đất
Mác nói: “Lực lượng tự nhiên ấy không phải là nguồn gốc sinh ra lợinhuận siêu ngạch, mà chỉ là cơ sở tự nhiên khiến có thể đặc biệt nâng caonăng suất lao động lên”
Sở dĩ Mác nói như vậy là vì nếu không có bàn tay con người, không cósức lao động thì với điều kiện tự nhiên tốt cũng không thể tạo ra được nhiều lợinhuận nhưng với sức lao động có hạn của con người, nếu điều kiện tự nhiên tốt
sẽ thúc đẩy sản xuất nâng cao lợi nhuận siêu ngạch
Chính lao động với năng suất cao đã làm cho nông phẩm thu được trênmột diện tích canh tác tăng lên, và giá cả sản xuất chung của một đơn vịnông phẩm hạ xuống so với giá cả sản xuất chung của nông phẩm, do đó mà
có lợi nhuận siêu ngạch Sự hình thành của lợi nhuận siêu ngạch mà từ đó củađịa tô chênh lệch, được minh hoạ bằng ví dụ sau đây:
Địa tô chênh lệch có hai loại địa tô
+ Địa tô chênh lệch I;
+ Địa tô chênh lệch II
Địa tô chênh lệch I
Trang 16Địa tô chênh lệch I là địa tô thu được trên cơ sở ruộng đất màu mỡ.Ngoài ra, ruộng đất có vị trí thuận lợi như ở gần nơi tiêu thụ hay đường giaothông thuận tiện cũng đem lại địa tô chênh lệch I, bởi vì ở gần nơi tiêu thụnhư thành phố, khu công nghiệp hay đường giao thông vận tải thuận tiện, sẽtiết kiệm được một phần lớn chi phí lưu thông khi bán cùng một giá; nhữngngười phải chi phí vận tải ít hơn đương nhiên được hưởng một khoản lợi nhuậnsiêu ngạch so với những người phải chi phí vận tải nhiều hơn, do đó mà có địa
Lợi nhuận bình quân (usd)
Chi phí vận chuyển (usd)
Tổng giá cả sản xuất
cá biệt (usd)
Giá
cả sản xuất cá biệt 1 tạ (usd)
Giá cả sản xuất chung
Địa tô chênh lệch I Của 1
tạ
Của TSL (usd)
Địa tô chênh lệch II
Là do thâm canh mà có Muốn vậy phải đầu tư thêm tư liệu sản xuất vàlao động trên cùng một khoảng ruộng đất, phải cải tiến kĩ thuật, nâng cao chấtlượng canh tác để tăng năng suất ruộng đất và năng suất lao động lên
Ví dụ
Lần đầu
tư
Tư bản đầu tư (usd)
Số lượng (tạ)
Giá cả sản xuất cá biệt (usd)
Giá cả sản xuất chung
địa tô chênh lệc II Của 1
tạ(usd)
Của TSL (usd)
Chừng nào thời hạn thuê đất vẫn còn thì nhà tư bản bỏ túi số lợi nhuậnsiêu ngạch trên Nhưng khi hết hạn hợp đồng thì chủ ruộng đất sẽ tìm cáchnâng mức địa tô lên để giành lấy lợi nhuận siêu ngạch đó, biến nó thành địa tôchênh lệch
Vì lẽ đó, chủ ruộng đất chỉ muốn cho thuê ruộng đất ngắn hạn còn nhà
tư bản lại muốn thuê dài hạn
Trang 17Cũng vì lẽ đó nhà tư bản kinh doanh trong nông nghiệp không muốn bỏ
ra số vốn lớn hơn để cải tiến kĩ thuật, cải tạo đất đai, vì làm như vậy phải mấtnhiều thời gian mới thu hồi được vốn về Và rốt cuộc chủ đất sẽ là kẻ hưởng hếtlợi ích của những cải tiến đó Và nhà tư bản thuê ruộng đất vì vậy chỉ nghĩlàm sao tận dụng hết màu mỡ của đất đai trong thời gian thuê ruộng đất Mụcđích thâm canh của họ là nhằm thu được thật nhiều lợi nhuận trong thời gian
kí kết hợp đồng,nên họ ra sức bòn rút hết màu mỡ đất đai Mác nói: “Mỗibước tiến của công nghiệp tư bản chủ nghĩa là một bước tiến không nhữngtrong nghệ thuật bóc lột người lao động, mà còn là bước tiến trong nghệ thuậtlàm cho đất đai ngày càng kiệt quệ; mỗi bước tiến trong nghệ thuật làm tăngmàu mỡ cho đất đai trong một thời gian là một bước tiến trong việc tàn phánhững nguồn màu mỡ lâu dài của đất đai” Một ví dụ điển hình là ở Mỹ trướcđây, chế độ canh tác bất hợp lí đã làm cho 16 triệu ha ruộng đất vốn màu mỡ
đã trở thành bạc màu hoàn toàn
2.2.2 Địa tô tuyệt đối
Ngoài địa tô chênh lêch địa chủ còn thu được địa tô tuyệt đối trong khicho thuê ruộng đất
Phần trên, khi nghiên cứu địa tô chênh lệch chúng ta đã giả định làngười thuê đất xấu chỉ thu về chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận bình quân,
và không tính đến việc phải nộp địa tô Thực ra không phải như vậy, ngườithuê ruộng đất dù là đất tốt hay xấu đều phải nộp địa tô cho chủ đất Địa tô
mà các nhà tư bản thuê ruộng đất nhất thiết phải nộp “tuyệt đối” phải nộp dùruộng đất tốt, xấu như thế nào, là địa tô tuyệt đối Vậy các nhà tư bản kinhdoanh trên ruộng đất lấy đâu mà nộp?
Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa , nông nghiệp lạc hậu hơn công nghiệp, cả
về kinh tế lẫn kĩ thuật Cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp vì vậythấp hơn trong công nghiệp Cho nên nếu tỉ suất giá trị thặng dư tức là trình
độ bóc lột ngang nhau từ một tư bản ngang nhau sẽ sinh ra trong công nghiệpnhiều giá trị thặng dư hơn trong nông nghiệp
Ví dụ: có hai tư bản nông nghiệp và tư bản công nghiệp ngang nhau,đều là 100 chẳng hạn; cấu tạo hữu cơ trong tư bản công nghiệp là 80c + 20v(4/1), của tư bản nông nghiệp là 60c + 40v (3/2) nếu tỉ suất giá trị thặng dư đều
là 100% thì sản phẩm và giá trị thặng dư sản xuất ra sẽ là
Trong công nghiệp : 80c + 20v + 20m = 120
Trong nông nghiệp : 60c + 40v + 40m = 140
Giá trị thặng dư dôi ra trong nông nghiệp so với công nghiệp là 20m
Nếu là trong công nghiệp thì số giá trị thặng dư này sẽ được đem chia
Trang 18chung cho các nhà công nghiệp trong quá trình bình quân hoá tỉ suất lợi nhuận
Nhưng trong nông nghiệp điều đó không thể diễn ra được, đó là chế độđộc quyền tư hữu ruộng đất không cho phép tư bản tự do di chuyển vàotrong nông nghiệp, do đó ngăn cản việc hình thành lợi nhuận bình quân chunggiữa nông nghiệp và công nghiệp Và như vậy, phần giá trị thặng dư dôi rangoài lợi nhuận bình quân ( Nhờ cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệpthấp, bóc lột được của công nhân nông nghiệp nhiều hơn) được giữ lại và dùng
để nộp địa tô tuyệt đối cho địa chủ
Vậy địa tô chênh lệch tuyệt đối cũng là một loại lợi nhuận siêu ngạchdôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, hình thành nên do cấu tạo hữu cơ của tư bảntrong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp mà bất cứ nhà tư bản thuê ruộngđất nào cũng phải nộp cho địa chủ Nó là số chênh lệch giữa giá trị nông phẩm
và giá cả thực tế hình thành nên do cạnh tranh trên thị trường
Địa tô tuyệt đối gắn liền với độc quyền tư hữu ruộng đất.Chính độcquyền tư hữu ruộng đất làm cho lợi nhuận siêu ngạch hình thành trong nôngnghiệp không bị đem chia đi và làm cho lợi nhuận siêu ngạch đó phải chuyểnhoá thành địa tô
Về địa tô tuyệt đối, Mác nói: “ bản chất của địa tô tuyệt đối là:Những tư bản ngang nhau của chúng sinh sản những khối lượng giá trị thặng
dư khác nhau” Do độc quyền về ruộng đất là nguyên nhân sinh ra địa tô tuyệtđối, do cho nên nếu không có chế độ tư hữu về ruộng đất, không có giai cấp địachủ, thì địa tô tuyệt đối sẽ bị xoá bỏ, giá cả nông phẩm sẽ giảm xuống có lợicho xã hội
Tóm lại, nếu điều kiện sản xuất có lợi (điều kiện tự nhiên hoặc điều kiệnkinh tế do thâm canh đưa lại ) là điều kiện hình thành địa tô chênh lệch vàđộc quyền kinh doanh ruộng đất là nguyên nhân trực tiếp để tạo ra địa tôchênh lệch ấy, thì điều kiện để hình thành địa tô tuyệt đối là cấu tạo hữu cơ của
tư bản trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp, và nguyên nhân trực tiếp
đẻ ra địa tô tuyệt đối là độc quyền tư hữu về ruộng đất
Song dù là địa tô chênh lệch hay địa tô tuyệt đối, nguồn gốc và bản chấtcủa địa tô cũng chỉ là một bộ phận của giá trị thặng dư, do lao động không côngcủa công nhân làm thuê trong nông nghiệp tạo ra Nói cách khác ,địa tô chỉ làmột hình thái đặc thù của giá trị thặng dư mà thôi
Địa tô cùng với lợi nhuận của nhà tư bản nông nghiệp chính là cái xácđịnh tính qui định về mặt xã hội của tư bản kinh doanh trong nông nghiệp,nói lên tư bản nông nghiệp là mối quan hệ bóc lột, gắn liền với một quan hệbóc lột khác của địa chủ do quyền tư hữu về ruộng đất sinh ra
Trang 192.2.3.Các loại địa tô khác
Ngoài những loại địa tô trên còn có các loại địa tô khác như địa tô về câyđặc sản, địa tô về hầm mỏ, địa tô về các bãi cá, địa tô về đất rừng, thiên nhiên …
Địa tô về cây đặc sản
Là địa tô thu được trên những đám đất trồng những cây quí mà sản phẩm
có thể bán với giá độc quyền , tức là giá cao hơn giá trị Người tiêu thụnhững sản phẩm trên phải trả địa tô này
Địa tô hầm mỏ
Đất hầm mỏ_đất có những khoáng sản được khai thác cũng đem lại địa tôchênh lệch và địa tô tuyệt đối cho người sở hữu đất đai ấy.Địa tô hầm mỏcũng hình thành và được quyết định như địa tô đất nông nghiệp
Địa tô đất xây dựng
Địa tô đất xây dựng về cơ bản được hình thành như địa tô đất nôngnghiệp Nhưng nó cũng có những đặc trưng riêng:
+ Thứ nhất, trong việc hình thành địa tô xây dựng,vị trí của đất đai là yếu tốquyết định, còn độ màu mỡ và trạng thái của đất đai không ảnh hưởng lớn
+ Thứ hai, địa tô đất xây dựng tăng lên nhanh chóng do sự phát triển củadân số, do nhu cầu về nhà ở tăng lên và do những tư bản cố định sát nhập vàoruộng đất ngày càng tăng lên
Địa tô độc quyền
Địa tô luôn luôn gắn liền với độc quyền sở hữu ruộng đất, độc chiếmcác đIều kiện tự nhiên thuận lợi, cản trở sự cạnh tranh của tư bản, tạo nên giá
cả độc quyền của nông sản Tuy nhiên, có những loại đất có thể trồng nhữngloại cây cho những sản phẩm quý hiếm, có giá trị cao (như những vườn nho cóthể cho những thứ rượu đặc biệt) hay có những khoáng sản đặc biệt có giá trị,thì địa tô của những đất đai đó sẽ rất cao, có thể xem đó là địa tô độc quyền.Nguồn gốc của địa tô độc quyền này cũng là lợi nhuận siêu ngạch do giá cả độcquyền cao của sản phẩm thu được trên đất đai ấy mà nhà tư bản phải nộp chođịa chủ_người sở hữu những đất đai đó
Các địa tô như địa tô về đất xây dựng, địa tô địa tô về hầm mỏ, địa tô
về các bãi cá, địa tô về đất rừng thiên nhiên tuy là địa tô thu được trênnhững đám đất phi nông nghiệp nhưng đều dựa trên cơ sở của địa tô nôngnghiệp theo đúng nghĩa của từ này Chúng bao gồm cả hai loại địa tô: địa tôtuyệt đối và địa tô chênh lệch Mác nói: “Bất kì ở đâu có những sức tự chonhà công nghiệp lợi dụng những sức tự nhiên ấy, chẳng kể đó là thác nước,
là hầm mỏ giàu khoáng sản, là những nơi nhiều cá hay là đất để xây dựng có
vị trí tốt, thì số lợi nhuận siêu ngạch đó của nhà tư bản hoạt động cũng đều bị
Trang 20kẻ có cái giấy chứng nhận về quyền sở hữu những của cải tự nhiên ấy chiếmđoạt dưới hình thái địa tô”.
CHƯƠNG III VẬN DỤNG LÝ LUẬN ĐỊA TÔ CỦA CÁC TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ
VÀO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM
Đất đai, chính sách đất đai là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử Cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng từ 1930 đến nay, Cách mạng tháng Tám
1945 đã khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ công hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á, đồng thời cũng đặt nền móng cho ngành Quản lý đất đai Việt Nam dưới chế độ mới.
Vấn đề ruộng đất thuộc loại vấn đề chính trị và tác động đến sự phát triển kinh tế – xã hội của các nước trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển “Chính sách đất đai có tầm quan trọng thiết yếu đối với tăng trưởng bền vững, quản trị quốc gia hiệu quả, phúc lợi và các cơ hội kinh tế mở
ra cho người dân nông thôn và thành thị, đặc biệt là cho người nghèo”.
3.1 Tổng quan chính sách đất đai ở Việt Nam trước đổi mới
Giai đoạn 1945 - 1954
Thực hiện chính sách giảm tô, tịch thu ruộng đất của thực dan Pháp, Việt
gian phản động chia cho nông dân nghèo, chia lại công điền công thổ
Cương lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930 đã đề ra
nhiệm vụ chiến lược của Cách mạng Việt Nam: “Đánh đổ đế quốc xâm lược giành độc lập dân tộc và xóa bỏ chế độ phong kiến giành ruộng đất cho nông dân ” Cách mạng tháng Tám 1945 thành công; nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa ra đời đánh đấu một kỷ nguyên mới độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúccho nhân đân; đã đặt nền móng cho chính sách ruộng đất của Nhà nước dân chủnhân dân Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ nước ViệtNam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành sắc lệnh bãi bỏ thuế thân, thuế môn bài,giảm tô, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp, Việt gian phản động chia chonông dân nghèo, chia lại công điền công thổ: ngày 20/10/1945 Chính phủ ra sắclệnh giảm tô 25%; ngày 26/10/1945 Chính phủ ra Nghị định giảm thuế 20% Tháng 1/1948 Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương Đảng đã đề racác chính sách ruộng đất trong thời kỳ kháng chiến; tháng 2/1949 Chính phủ rasắc lệnh tạm cấp ruộng đất của Việt gian và chia ruộng đất của của thực dânPháp cho dân cày nghèo; ngày 14/7/1949 Chính phủ ra sắc lệnh giảm tô 25% sovới mức tô trước Cách mạng tháng Tám; Tháng 3/1952 Chính phủ đã ban hànhđiều lệ tạm thời về sử dụng đất công điền, công thổ Đến thời điểm này số ruộngđất công ở 3.035 xã miền Bắc đã chia cho nông dân là 184.871 ha, chiếm 77%dện tích đất công điền, công thổ ở các địa phương này
Trang 21Hội nghị lần thứ Năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II (tháng11/1953) đã thông qua cương lĩnh ruộng đất Luật Cải cách ruộng đất đã đượcQuốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thông qua ngày 4/10/1953 Theoquy định củaLuật Cải cách ruộng đất, ruộng đất được chia cho nông dân theo
nguyên tắc:“thiếu nhiều chia nhiều, thiếu ít chia ít, không thiếu không chia; chia trên cơ sở nguyên canh, rút nhiều bù ít, rút tốt bù xấu, rút gần bù xa; chia theo nhân khẩu chứ không chia theo lao động; lấy số diện tích bình quân và sản lượng bình quân ở địa phương làm tiêu chuẩn để chia; chia theo đơn vị xã, xong nếu xã ít người, nhiều ruộng thì thì có thể san sẻ một phần cho xã khác ít ruộng, nhiều người, sau khi chia đủ cho nông dân trong xã”.
Giai đoạn 1955 - 1975
Tháng 9/1954 Bộ Chính trị ra quyết định thực hiện hoàn thành cải cáchruộng đất và Kế hoạch 3 năm khôi phục kinh tế (1955 - 1957); Tháng 5/1955Quốc Hội ban hành 8 chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp nhằm khôiphục kinh tế sau chiến tranh (khi chiến tranh kết thúc, 140.000 ha ruộng đất bị
bỏ hoang hóa; 200.000 ha không có nước tưới); Tháng 8/1955 Hội nghị lần thứTám Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II đã thông qua chủ trương xâydựng thí điểm hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (HTXSXNN)
Năm 1955 có 6 HTXSXNN được thành lập ở các tỉnh Phú Thọ, TháiNguyên, Thanh Hóa; Năm 1956 có 26 HTXSXNN được thành lập; đến 10/1957
có 42 HTXSXNN được thành lập
Tháng 11/1958 Hội nghị lần thứ 14 Ban chấp hành Trung ương Đảngkhóa II đã đề ra kế hoạch 3 năm cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế miền Bắc
(1958 - 1960): “Đẩy mạnh cuộc cách mạng XHCN đối với thành phần kinh tế
cá thể của nông dân, thợ thủ công và cải tạo XHCN đối với thành phần kinh tế
tư bản tư doanh, đồng thời phải ra sức phát triển kinh tế quốc doanh”; “Hợp tác hóa nông nghiệp là cái khâu chính trong toàn bộ dây chuyền cải tạo XHCN
ở miền Bắc nước ta Mục tiêu là đến năm 1960 phải căn bản hoàn thành HTX bậc thấp, tức là phải thu hút được tuyệt đại bộ phận nông dân cá thể vào HTX”.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (tháng 9/1960) đã đề ra đường lối xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc: “đối với nông nghiệp, phương hướng là tiếp tục thu hút nông dân cá thể vào HTX bậc thấp, từng bước chuyển lên bậc cao;
mở rộng quy mô HTX, kết hợp hoàn thiện quan hệ sản xuất với phát triển lực lượng sản xuất Quá trình hợp tác hóa nông nghiệp đã diễn ra nhanh chóng, với
sự tập trung cao độ ruộng đất, lao động và các tư liệu sản xuất; từ hợp tác xã bậcthấp chuyển lên hợp tác xã bậc cao, ruộng đất đã được tập thể hóa triệt để, chế
độ sở hữu tập thể về ruộng đất đã được thiết lập”