1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

TIỂU LUẬN môn đàn TRANH

22 58 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 1,38 MB
File đính kèm TIỂU LUẬN MÔN ĐÀN TRANH.rar (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận nhạc cụ dân tộc môn đàn tranh đại học FPT.Nghiên cứu các loại nhạc cụ dân tộc, nêu cảm nghĩ sau khi học đàn tranh, nguyên nhân nhạc cụ dân tộc bị lãng quên và giải pháp lưu giữ nhạc cụ dân tộc.

Trang 1

TIỂU LUẬN MÔN:

ĐÀN TRANH

Họ và tên: Nguyễn Kiều Xuân

Mã số sinh viên: CS170967 ÐTR102.11.B1

Trang 2

III THỂ LOẠI ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG:

16-17

17-18

IV Theo em, nguyên nhân tại sao trong xã hội hiện nay, nhạc cụ dân tộc lại

không được nhiều người biết đến? Từ đó hãy trình bày giải pháp để đưa nhạc cụ

dân tộc đến gần hơn với công chúng, nhất là các bạn trẻ (Trang 18-19)

Trang 3

I NHẠC CỤ TRUYỀN THỐNG:

Nhạc cụ truyền thống là tài sản quý của cộng đồng các dân tộc Việt Nam,

là một bộ phận của di sản văn hóa Việt Nam, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Qua quá trình lịch sử, các thế hệ đã gìn giữ và chuyển giao cho con cháu bảo tồn, phát huy một kho tàng di sản văn hóa được kết tinh từ đời sống tinh thần phong phú, tiếp tục sáng tạo những giá trị văn hóa mới trong cuộc sống đương đại Dưới đây là một số loại nhạc cụ tiêu biểu và được sử dụng phổ biến của người dân Việt Nam

1 Sáo trúc:

a Nguồn gốc và cấu tạo:

Không có tài liệu nào ghi rõ về thời gian xuất hiện cụ thể của sáo trúc Tuy nhiên dựa vào các bức tranh được khắc trên đá, các truyền thuyết, và các câu chuyện tôn giáo (Ấn Độ, Trung Quốc, Việt nam) ta có thể suy đoán sáo trúc xuất hiện vào thời kì cổ đại Loại sáo trúc ban đầu được làm từ một ống lau sậy ruột rỗng, khi có gió hoặc luồng hơi đi vào sẽ tạo độ rung, phát ra âm thanh Nhờ vào

sự cải tiến sáng tạo của các nghệ nhân mà từ một ống lau sậy đơn giản đã biến

Trang 4

b Cách sử dụng (cách chơi) sáo trúc:

- Các tư thế chơi sáo trúc:

+Với tư thế đứng : Đứng thẳng, hai bàn chân cách nhau khoảng 15 – 20

cm, hai chân thẳng đều, mắt nhìn thẳng về phía trước

+Với tư thế ngồi : Lưng thẳng, hai chân không nên vắt chéo

- Nguyên tắc phát âm của sáo trúc:

+ Sáo gồm 7 nốt: Đồ – C, Rê – D, Mi – E, Pha – Fa, Sol – G, La – A, Si –

B Các nốt được bấm như hình sau, trong đó lỗ đen là bịt kín còn lỗ trắng là

mở ngón tay ra

c Các kỹ thuật căn bản được sử dụng khi diễn tấu (biểu diễn):

- Lấy hơi : Đây là kỹ thuật đầu tiên, rất quan trọng Biết cách lấy hơi thì hơi khoẻ, thổi được dài, thổi sáo không mệt Cách lấy hơi này được gọi là lấy hơi bụng

Trang 5

- Vuốt hơi : là thổi hơi làm cho âm thanh nào đó cao dần lên hay thấp dần xuống, đưa ngón tay lần lượt mở từ một nốt thấp lên cao hoặc từ cao xuống thấp

sẽ tạo cho người nghe một âm thanh mềm mại, lả lướt

- Láy : còn gọi là luyến hơi tức là thổi một hơi liền trong khi ngón tay bấm nhiều lỗ, có tác dụng làm cho nét nhạc mềm mại, nối liền nhau, không bị ngắt quãng

- Rung : có nghĩa là thổi hơi từ trong cuống họng đưa ra từ mạnh đến nhẹ và

từ nhẹ đến mạnh, liên tục để cho âm thanh nghe như gợn sóng và thoang thoảng

d Sáo trúc được sử dụng trong các loại hình âm nhạc nào?

Sáo trúc được sử dụng phổ biến trong các loại hình âm nhạc Ví dụ như: nhã nhạc cung đình Huế, chèo, dân ca, trữ tình, Hiện nay những nghệ sĩ sáo trúc

có thể sử dụng sáo trúc trong những bản nhạc trẻ sôi động, những bản nhạc có giai điệu hào hùng bi tráng

Trang 6

2 Đàn nhị:

a Nguồn gốc và cấu tạo:

Đàn nhị là nhạc cụ thuộc bộ dây, vì cấu tạo đặc trưng có 2 dây nên gọi là đàn nhị Có xuất xứ từ Ấn Độ và vùng Trung Á, được du nhập vào Trung Quốc từ thế kỷ I đến thế kỷ III sau công nguyên từ người Hồ, trong thời kỳ thịnh đạt của "Con đường tơ lụa" Đàn xuất hiện ở Việt Nam khoảng thế kỷ X Ngoài người Kinh, nhiều người dân tộc thiểu số trên thế giới cũng sử dụng rộng rãi nhạc

cụ này như Thái Lan, Campuchia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đàn nhị còn có những

người Kinh, người Mường gọi là Cò Ke và người miền Nam gọi bằng một cái tên

dân dã là Đàn Cò

Loại đàn nhị thông dụng hiện nay có những bộ phận chính như sau:

– Ống nhị (bát nhị): là một bầu cộng hưởng nhằm khuếch đại âm thanh của đàn Ống nhị có hình dạng giống như một bông hoa rau muống Một đàu được bịt

Trang 7

bằng da rắn hay da kỳ đà, còn đầu kia thì xòe ra như hoa rau muống đang nở và không bị bịt gì Ống nhị thường được làm bằng gỗ cứng, dài 13,8cm

– Cần nhị (cán nhị): cần nhị cắm xuyên qua ống nhị, dài khoảng 75,5cm Cần nhị có dáng thẳng, đến gần đầu cán thì uốn mềm mại như ngã về phía ngược hướng với ống nhị, trong bóng dáng uyển chuyển như một chú cò lã

– Trục dây: có 2 trục nhị, gắn xuyên qua cần nhị và nằm cùng hướng với ống nhị Vặn trục làm dây căng hay chùn mà cho âm thanh ra cao hay trầm

– Dây nhị: chính là 2 dây đàn, thường làm bằng tơ, nilong hoặc kim loại Dây bằng kim loại cho ra âm thanh rõ ràng Dây tơ và nilong cho ra âm thanh mềm mại, dịu dàng hơn Trong 2 dây, có 1 dây nhỏ nằm ở ngoài, và dây lớn nàm ở trong

– Cử nhị (cái suốt, khuyết nhị): là một vòng bằng đồng hoặc bằng tơ, đặt giữa cần đàn, có thể trượt lên xuống Hai dây đàn sẽ xuyên qua vòng này trước khi buộc vào ngựa đàn trên bát nhị Hai dây đàn không chạy song song, thẳng từ trục nhị tới ngựa đàn mà sẽ bị cử nhị này bóp lại gần sát nhau Cử nhị càng kéo lên phía

Trang 8

b Cách sử dụng (cách chơi) đàn nhị:

- Các tư thế chơi đàn nhị

+ Tư thế ngồi: hai ống chân dựng thẳng, úp hai bàn chân xuống, bầu cộng

hưởng để ngang, mặt bầu cộng hưởng lể lọt xuống giữa 2 đùi khoảng phần mười, phần còn lại nằm phía trên đùi, lỗ loa bầu cộng hưởng phải để hở: khi cần tiếng

+ Tư thế ngồi giường ván: ngồi xếp bàn tròn, bàn chân bên phải để ngửa,

ống chân bên trái đè lên giữa bầu cộng hưởng, cần đàn để thẳng, bầu cộng hưởng

để ngang, mặt bịt da của đan để lên bàn chân về phía ngón chân, ngón chân cái để sát dưới con ngựa để điều khiển tiếng to nhỏ bằng cách ấn nhẹ ngón chân vào con ngựa

+Tư thế đứng: bầu cộng hưởng đàn được đặt ngang thắt lưng

- Nguyên tắc phát âm của đàn nhị

+ Âm vực của đàn nhị trong khoảng 3 quãng 8 Nét độc đáo của đàn nhị ở chỗ tạo ra các sắc thái âm thanh bằng cách dùng đầu gối bịt một phần ở miệng bát

nhị (khi ngồi ghế cao) hoặc dùng ngón cái bàn chân tác động lên đầu bịt da rắn của bát nhị khi ngồi dưới chiếu), việc này sẽ giúp âm thanh đàn lúc vang xa, trong sáng hay nghe u tối, gãy gọn để diễn tả nhiều loại tâm trạng của con người

+ Ngoài ra cách lên dây đàn cũng tạo ra âm thanh đạc trưng cho đàn nhị Có thể lên dây ở quãng 3, quãng 4, quãng 5 và quãng 6, nhưng thông dụng nhất là quãng 5 Canh cử nhị nằm khoảng 1/3 cần đàn tính từ đầu đàn, sau đó dây nhỏ lên

E5, dây lớn lên C5

c Các kỹ thuật căn bản được sử dụng khi diễn tấu Đàn nhị:

– Kỹ thuật tay phải: đây là tay cầm cung vĩ, người chơi càng điêu luyện càng

điều khiển lực chạm và kéo tạo ra âm thanh mềm mại, bay bỏng, quyến luyến hay mạnh

mẽ, dứt khoát Một số kỹ thuật tay phải như:

+ Cung vĩ rời: người chơi cầm cung vĩ kéo các nốt nhạc, nốt này rời nút

kia Tức là không luyến

Trang 9

+ Cung vĩ liền: người chơi cầm cung vĩ kéo các nốt nhạc quyện từ nốt này

sang nốt kia như chúng ta luyến láy trong giọng hát

+ Cung vĩ ngắt: người chơi dùng cung vĩ kéo các nốt dứt khoát, gãy gọn

+ Cung vĩ rung: người chơi dùng cung vĩ kéo qua lại liên tục một nốt nhạc

Thường dùng để diễn tấu các tình huống cao trào, vui vẻ, khẩn cấp

– Kỹ thuật tay trái: là cách bấm ngón tay vào dây đàn để tạo ra các nốt nhạc

Một số kỹ thuật tay trái như:

+ Ngón rung: bấm nhẹ liên tục vào dây để tạo ra độ ngân rung mềm mại như giọng hát

+ Ngón vuốt: vuốt từ dưới lên trên hoặc ngược lại trên dây đàn để âm thanh thêm mềm mại

+ Ngón nhấn: làm âm thanh cao thêm, thường là 1 cung

+ Ngón láy (ngón vỗ): ngón cái bấm vào một nốt trên dây đàn, ngón trỏ sẽ

ấn thả liên tục nào nốt cao hơn cận kề nốt ngón cái Thường diễn tả sự ngậm ngùi,

quyến luyến không nỡ rời xa

+ Bật dây: dùng ngón tay khều khều vào dây đàn tạo ra âm thanh

d đàn nhị được sử dụng trong các loại hình âm nhạc nào?

Đàn nhị đóng vai trò quan trong trong nghệ thuật hát Xẩm Ngoài ra còn được sử dụng trong dàn nhã nhạc, phường bát âm, chầu văn, tài tử và dàn nhạc tổng hợp Ngày nay, đôi khi đàn nhị xuất hiện trong dàn nhạc rock, pop để tăng màu sắc cho âm thanh

Trang 10

2 Đàn tranh:

a Nguồn gốc và cấu tạo:

Đàn tranh còn được gọi là đàn thập lục hay đàn có trụ chắn, là nhạc cụ truyền thống của người phương Đông, có xuất xứ từ Trung Quốc Du nhập vào nước ta khoảng thế kỷ IX – XI Được đưa vào phục vụ nhạc lễ trong cung đình từ thời nhà Trần ( khoảng thế kỷ thứ XIII )

Cấu tạo của đàn tranh gồm có:

 Hộp đàn: Hình hộp dài, chiều dài khoảng 110cm, đầu đàn hẹp khoảng 13cm, cuối đàn rộng khoảng 20cm

 Mặt đàn: Mặt đàn Tranh vồng lên tượng trưng cho vòm trời làm bằng gỗ xốp, nhẹ

 Thành đàn: Làm bằng gỗ trắc, mun hoặc cẩm lai hoặc gỗ gụ

 Ðáy đàn: Dưới đáy đàn ở đầu rộng, phía tay phải người đánh đàn có một

lỗ thoát âm hình bán nguyệt để lắp dây, ở giữa đàn có 1 lỗ hình chữ nhật

để cầm đàn khi di chuyển và ở đầu hẹp có một lỗ tròn nhỏ để treo đàn

 Cầu đàn: Ở đầu rộng, một cầu đàn bằng gỗ, hơi nhô lên và uốn cong theo mặt đàn có các lỗ nhỏ xếp hàng ngang có nạm hoặc cẩn kim loại để xỏ dây

 Ngựa đàn: Trên mặt đàn có nhạn (ngựa đàn) tương ứng với số dây, các con nhạn để đỡ dây đàn và có thể di chuyển được để điều chỉnh độ cao thấp

Trang 11

của dây Đầu các con nhạn ở vị trí đỡ các dây đàn thường được gắn thêm xương hoặc đồng

 Trục đàn: Ở đầu hẹp đàn Tranh có các trục đàn để lên dây, trục đàn đặt trên mặt đàn còn để giữ một đầu dây xếp hàng chéo do độ ngắn dài của dây, tạo

âm thanh cao thấp, trục đàn tốt thường được làm bằng gỗ Trắc, gôc Cẩm Lai hoặc gỗ gụ

 Dây đàn: Dây đàn bằng thép hoặc inox với các cỡ dây khác nhau để phù hợp với tầm âm của cây đàn

 Móng gảy: Ðàn Tranh đàn bằng móng gảy thường được làm bằng đồi mồi, Inox

b Cách sử dụng (cách chơi) đàn tranh:

Các tư thế chơi đàn:

 Tư thế đứng đàn: phù hợp khi biểu diễn trên sân khấu

 Tư thế ngồi trên ghế: đây là tư thế chơi đàn thông dụng nhất, phù hợp khi tập đàn

ở nhà, khi biểu diễn trên sân khấu

Trang 12

Tầm cữ cao độ của đàn tranh chia làm 3 âm khu:

 Âm khu trầm: tiếng đàn trầm đục

 Âm khu trung: tiếng đàn trong trẻo

 Âm khu cao: tiếng đàn réo rắt

Để qui định trường độ của âm thanh, người ta dùng các hình nốt khác nhau Và mối tương quan độ dài giữa chúng là: nốt đứng trước có giá trị gấp đôi nốt đứng sau

Trang 13

Nếu nốt nhạc có đáu chấm vôi phía sau:

c Các kỹ thuật căn bản được sử dụng khi diễn tấu (biểu diễn):

 Ngón Á: là một lối gảy rất phổ biến của Ðàn Tranh, đây là cách gảy lướt trên hàng dây xen kẽ các câu nhạc, thường ngón Á hay ở vào phách yếu để chuẩn bị vào một phách mạnh đầu hay cuối câu

Trang 14

 Ngón vê: là sử dụng ngón tay phải ngón 2 hoặc kết hợp ngón 2; 3;

1-2-3, gảy trên dây liên tục và các ngón khác phải khum tròn, cổ tay kết hợp

với ngón tay đánh xuống, hất lên đều đặn Khi vê đầu móng gảy không

nên đặt quá sâu xuống dây sẽ tạo tiếng đàn không đều đặn, êm ái

c Đàn tranh được sử dụng trong các loại hình âm nhạc nào?

Đàn tranh được dùng để độc tấu, hòa tấu, đệm hát và tham gia ở những dàn nhạc tài tử Việt Nam, các dàn nhạc dân tộc tổng hợp quốc tế Có thể sử dụng đàn tranh để chơi nhiều loại hình âm nhạc Chẳng hạn như: nhã nhạc cung đình Huế, ca Huế, dân ca, nhạc trữ tình, nhạc Quốc tế, nhạc hiện đại,

Trang 15

II CÁC LOẠI ĐÀN CÓ CÙNG HỌ HÀNG VỚI ĐÀN TRANH VIỆT NAM:

Guzheng (Trung Quốc)

Guzheng - Đàn tranh TQ là một trong những thứ nghệ thuật tinh hoa nhân loại, mang đến cho chúng ta một cảm giác vô tận, không thể giải thích được, một vẻ đẹp của

âm nhạc cổ điển Trung Hoa

Đàn tranh guzheng (hay còn gọi là đàn cổ tranh) có xuất xứ từ trung hoa có lịch sử hơn 2500, Trong giai đoạn phát triển, đàn tranh có rất nhiều loại khác nhau, có loại 12,

13, 18 hoặc 23, 25 dây Ở mỗi một khu vực có số lượng dây đàn khác nhau

Đàn tranh Trung Quốc (đàn cổ tranh), đây là loại nhạc cụ truyền thống có xuất xứ lâu đời từ Trung Quốc Đàn Cổ Tranh còn được biết đến là một nhạc cụ dân tộc cổ đại,

có nguồn gốc từ nền văn hóa lâu đời Trung Hoa và có lịch sử từ hơn 2.500 năm Đàn tranh thuộc họ dây, chi gảy Ngoài khả năng hưởng thụ âm nhạc, người chơi đàn phải thành tạo và uyển chuyển ngón tay, những quãng vuốt trên các dây và gảy dây Bên cạnh đó, đàn tranh còn có thể dùng cho cả dạng vĩ kéo hay dùng que gõ Đàn tranh là loại nhạc khí dùng để độc tấu, hòa tấu, đệm hát nhạc dân ca, kết hợp với C-pop, nhạc Âu

Mỹ,…

Koto (Nhật Bản)

Trang 16

vào khoảng 180 cm Một cây đàn koto truyền thống có 13 dây, được căng ngang qua 13 thanh ngựa đàn có thể dịch chuyển được ở suốt dọc chiều dài đàn Người chơi điều chỉnh âm cơ bản của đàn bằng cách di chuyển 13 ngựa đàn này trước khi chơi

Các sử gia cho rằng Koto ra đời vào khoảng thế kỉ 15 – 13 TCN ở Trung Quốc Ban đầu đàn chỉ có 5 dây, sao đó tăng lên 12, và cuối cùng là 13 dây Đó là đàn koto 13 dây được du nhập vào Nhật trong thời Nara (710- 794) Thời gian đầu, loại đàn này chỉ được chơi trong cung đình, sau đó nó được chơi chủ yếu bởi những nhạc công mù (hầu hết những dòng nhạc Nhật tiền cận đại đều được những nhạc công mù, thầy tu và người trong hoàng cung chơi)

Gayageum là một truyền thống Hàn Quốc gảy với 12 dây Nó có lẽ là nhạc cụ truyền thống Hàn Quốc được biết đến nhiều nhất Nó có nguồn gốc từ Trung Quốc guzheng và liên quan đến công cụ châu Á khác, trong đó có Nhật Bản koto , Mông Cổ yatga , Việt đàn tranh

So với các nhạc cụ khác, đàn tranh 12 dây Gayageum vốn là nhạc cụ được người Hàn Quốc ưa thích từ xa xưa, nên âm nhạc cũng sớm được biến tấu đa dạng Dây đàn cũng được cải tiến từ chất liệu tơ lụa thành dây kim loại, nên loại đàn này được gọi là Cheolgayageum (đàn tranh dây sắt) Dần dần xuất hiện các loại đàn 13 dây, 15 dây, 17 dây,

21 dây, đến giờ có cả đàn tranh 25 dây sắt Đàn tranh Gayageum 25 dây có thể tạo ra nhiều âm thanh hơn so với đàn tranh Gayageum truyền thống, nên thuận tiện cho diễn tấu

các sáng tác mới

Trang 17

III THỂ LOẠI ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG:

1 Đờn ca tài tử nam bộ:

a Nguồn gốc ra đời Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ là loại hình nghệ thuật trình diễn phổ biến ở miền Nam Việt Nam, ra đời vào cuối thế kỷ XIX, Đờn ca tài tử là nghệ thuật của đờn (đàn) và ca, do những người bình dân Nam bộ sáng tác để hát chơi sau những giờ lao động vất

vả của người dân vùng miệt vườn, sông nước, với lối sống cần cù, phóng khoáng, cởi mở, bình dị mà nghĩa hiệp, can trường Chữ “tài tử” có nghĩa là người chơi nhạc có biệt tài, giỏi về cổ nhạc Lúc đầu chỉ có đờn, sau xuất hiện thêm hình thức ca nên gọi là đờn ca

b Môi trường diễn tấu

Người miền Nam coi Đờn ca tài tử là sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể thiếu trong các dịp lễ hội, tết, giỗ, cưới,sinh nhật, họp mặt Những người thực hành Đờn ca tài tử Nam Bộ luôn tôn trọng, quý mến, học hỏi nhau tài nghệ, văn hóa ứng xử, đạo đức, góp phần gắn kết cộng đồng, xã hội, cùng hướng tới giá trị “chân, thiện, mỹ”

Ngày đăng: 30/10/2022, 14:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w