1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận môn đàn tranh câu 1 trình bài 3 nhạc cụ truyền thống

37 11 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận môn đàn tranh câu 1 trình bài 3 nhạc cụ truyền thống
Tác giả Nguyễn Hoàng Nhã
Người hướng dẫn Thầy Nguyễn Duy Phương
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Âm nhạc truyền thống
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kỹ thuật: – Ngón Á: là một lối gảy rất phổ biến của Ðàn Tranh, đây là cách gảy lướt trên hàng dây xen kẽ các câu nhạc, thường ngón Á hay ở vào phách yếu để chuẩn bị vào một phách mạnh đầ

Trang 2

TIỂU LUẬN MÔN ĐÀN TRANH

Họ Tên: Nguyễn Hoàng Nhã

MSSV: CE170092

Mã môn: ĐTR102

GVHD: Thầy Nguyễn Duy Phương

Trang 3

Trong kho tàng âm nhạc dân gian Việt Nam, mỗi loại nhạc cụ đều sở hữu riêng cho mình những thanh âm khác nhau và đem đến cho người nghe những cung bậc cảm xúc cũng rất khác nhau và đàn tranh cũng không ngoại lệ.

Đàn tranh không có nguồn gốc từ Việt Nam Theo các nhà nghiên cứu thì đàn tranh Việt Nam giống với loại đàn sắt (Se) và đàn cổ tranh (Guzheng) của Trung Quốc Khoảng từ đời Trần, những dòng đàn sắt và đàn cổ tranh được du nhập từ Trung Quốc sang nước Việt Các dòng đàn được sử dụng dưới nhiều dạng như 9 dây, 15 dây, 16 dây và thường xuyên được cải tiến biến đổi số dây cũng như chất liệu dây đàn từ dây tơ đến dây cước, dây đồng hay dây thép

Qua một thời gian dài từ đó đến nay, đàn tranh được người Việt Nam sử dụng và biến đổi nó khiến nó mang một phong cách đặc sắc, mang âm hưởng dân tộc Việt Đàn tranh Việt Nam mang nét đặc thù từ trong thủ pháp đánh đàn, ngón đàn, cách nhấn nhá, thế cung, âm thanh, nhạc

điệu, Đàn tranh dần trở thành biểu trưng của âm nhạc dân gian Việt Nam, nhắc tới nhạc cụ dân gian thì một trong những loại nhạc cụ người ta nghĩ ngay đến chính là đàn tranh Đàn tranh mang âm hưởng văn hóa dân tộc, thể hiện gu thẩm mỹ của người Việt Nam cùng ngôn ngữ âm nhạc bản địa Các loại đàn tranh tương tự ở Châu Á

Trung Quốc(guzheng)

Trang 4

Việt Nam ( Đàn tranh)

Trang 5

 Khung đàn hình thành, dài 110 – 120cm Đầu lớn rộng từ 25 –30cm, có lỗ và con chắn để mắc dây đàn Đầu nhỏ rộng từ 15 –20cm, được gắn từ 16 – 25 khóa lên dây chéo qua mặt đàn.

 Mặt đàn uống hình vòm, được làm bằng gỗ ngô đồng dài 0,05cm

 Ngựa đàn hay con nhạn nằm ở khoảng giữa dùng để gác dây Connhạn có thể di chuyển để điều chỉnh âm thanh

 Dây đàn trước khi sử dụng dây tơ, ngày nay được làm bằng kim loại,kích cỡ dây khác nhau

 Khi biểu diễn, nghệ nhân đeo 3 móng gẩy vào 3 ngón cái, trỏ, giữacủa tay phải để gẩy Móng gẩy làm bằng chất liệu như kim loại, đồimồi hoặc sừng

(Nguồn ảnh:bloghocpiano)

Cách sử dụng

Vị trí ngồi

Trang 6

Vị trí ngồi là điều quan trọng đầu tiên mà chúng tôi muốn đề cập đến, vì đây chính là một kỹ thuật thường cho là khá đơn giản nhưng lại phải có những quy tắc nhất định Do đó:

Các bạn nên ngồi trên ghế cao vừa phải (hai chân phải chạm đất), hai cánh tay mở ra vừa phải (từ vai xuống khuỷu tay đến bàn tay), không nên giang rộng như “đại bàng vỗ cánh” vì như vậy là sai tư thế sẽ dễ bị mỏi dẫn tới việc không thể đàn được.Với đàn tranh, bàn tay phải được coi là nơi “đẻ”

ra âm thanh, bàn tay trái là nơi “nuôi dưỡng” âm thanh Do đó, việc nắm vững kỹ thuật bàn tay phải và bàn tay trái là điều quan trọng với người chơiđàn tranh

Kỹ thuật:

– Ngón Á: là một lối gảy rất phổ biến của Ðàn Tranh, đây là cách gảy lướt trên hàng dây xen kẽ các câu nhạc, thường ngón Á hay ở vào phách yếu để chuẩn bị vào một phách mạnh đầu hay cuối câu nhạc

– Á xuống: theo lối cổ truyền, Á xuống là gảy liền các âm liền bậc, từ một

âm cao xuống các âm thấp, tức là sử dụng ngón cái của tay phải lướt nhanh

và đều qua các hàng dây, từ cao xuống thấp

– Á lên: là kỹ thuật lướt qua hàng dây, nhưng vuốt bằng ngón 2 hoặc ngón

3 từ một âm thấp lên các âm cao

– Á vòng: kết hợp Á lên và Á xuống, Á vòng thường chuẩn bị cho mở đầu hoặc kết thúc một câu nhạc, có trường hợp nó được sử dụng để tả cảnh sóng nước, gió thổi, mưa rơi và có thể sử dụng ngón Á vòng liên tiếp với nhiều âm hơn

– Song thanh: 2 nốt cùng phát ra một lúc, song thanh truyền thống chỉ dùngquãng 8, các nhạc sĩ hiện đại còn kết hợp dùng các quãng khác

( nguồn ảnh: sentayho.com.vn )

Ngón vê: là sử dụng ngón tay phải ngón 2 hoặc kết hợp ngón 1-2; 1-3;

1-2-3, gảy trên dây liên tục và các ngón khác phải khum tròn, cổ tay kết hợp

Trang 8

Kỹ thuật bàn tay phải

Trước đây thường dùng 2 ngón gẩy, ngày nay phổ biến là 3 ngón, cá biệt sửdụng 4 hoặc 5 ngón Đàn được gẩy bằng móng đồi mồi ở miền Bắc và móng inox ở miền Nam

Tuy nhiên cách gẩy 3 ngón là cách gẩy thông dụng nhất là ngón cái (số 1), ngón trỏ (số 2) và ngón giữa (số 3) Với những cách gẩy cơ bản: liền bậc, cách bậc, gẩy đi lên và đi xuống liền bậc hay cách bậc

Tư thế: Bàn tay phải nâng lên, ngón tay khum lại, thả lỏng, ngón áp út tì nhẹ lên cầu đàn Khi đánh những dây đàn thấp, cổ tay tròn lại, hạ dần về phía trước đàn Khi đánh những dây cao, cố hạ dần theo chiều cong của cầuđàn, cánh tay cũng hạ khép dần lại (tránh không đưa cánh tay ra phía

ngoài) Ba ngón tay gảy mềm mại, từng ngón thả lỏng này nhẹ nhàng nâng lên hay hạ xuống gảy vào dây theo chiều cong tự nhiên của bàn tay, tránh gãy ngón, móc dây

Kỹ thuật bàn tay trái

Tư thế: Ðầu ba ngón tay giữa đặt trên dây nhẹ nhàng, bàn tay mở tự nhiên, ngón tay hơi khum, hai hoặc ba ngón (trỏ, giữa, áp út) chụm lại, ngón cái

và ngón út tách rời, dáng bàn tay vươn về phía trước Khi rung, nhấn, bàn tay được nâng lên mềm mại, ba ngón chụm lại cùng một lúc chuyển từ dây

nọ sang dây kia

Trang 9

( nguồn ảnh: sentayho.com.vn )

– Ngón nhấn luyến: là ngón sử dụng các ngón nhấn để luyến hai hay ba âm

có độ cao khác nhau, âm thanh nghe mềm mại, uyển chuyển gần với thanh điệu tiếng nói Có hai loại nhấn luyến:

a Nhấn luyến lên: nghệ nhân gảy vào một dây để vang lên, tay trái nhấn dần lên dây đó làm âm thanh cao lên hoặc tiếp tục nhấn cho cao lên nữa

b Nhấn luyến xuống: muốn có âm luyến xuống, trước hết phải mượn nốt

Ví dụ muốn có âm Fa luyến xuống âm Rê phải mượn dây Rê nhấn mạnh trước rồi mới gảy sau; khi âm Fa ngân lên ngón tay trái nới dần để âm Rê của dây đó vang theo luyến tiếng với âm Fa Ðánh âm nhấn luyến lên hay nhấn luyến xuống chỉ cần gảy một lần Ðộ ngân của các âm nhấn luyến được ghi như các nốt nhạc bình thường Bạn cần phân phối thời gian để các

âm có thể đều hoặc không đều nhau, độ cao của âm nhấn luyến lên hay nhấn luyến xuống có thể trong vòng quãng 4 nếu là khoảng âm thấp hoặc quãng 2, quãng 3 thứ ở những âm cao, không nên sử dụng liên tiếp nhiều

âm nhấn luyến

– Ngón nhún: là cách nhấn liên tục trên một dây nào đó làm cho âm thanh cao lên không quá một cung liền bậc Ngón tay nhún tạo thành những làn sóng có giao động lớn hơn ở ngón rung, làm cho âm thanh thêm mềm mại, tình cảm sâu lắng

– Ngón vỗ: là một kiểu ngón nhấn như đúng như tên gọi, đây là cách dùng hai hay ba đầu ngón tay (ngón trỏ, giữa, áp út) vỗ lên một dây nào đó phía bên trái nhạn đàn vừa được gảy, và nhấc ngay các ngón tay lên làm âm thanh cao lên đột ngột từ nửa cung đến một cung Có hai loại vỗ:a Vỗ đồng thời: tức là cùng lúc tay phải gảy dây, tay trái vỗ sẽ nghe thấy hai âm: một âm phụ cao hơn nửa cung hoặc 1 cung luyến nhanh ngay xuống âm chính (âm phụ do ngón tay trái vỗ tạo nên)

( nguồn ảnh: sentayho.com.vn )

Trang 10

b Vỗ sau: tay phải gảy dây xong, tay trái mới vỗ lên dây, như vậy sẽ nghe thấy 3 âm luyến : âm thứ nhất do tay phải gảy lên dây, âm thứ hai do ngón

vỗ tạo nên, âm nầy cao hơn âm thứ nhất khoảng nửa cung hoặc 1 cung tiếp

đó là âm thứ ba do ngón tay vỗ xong nhấc lên ngay, dây đàn được trở lại trạng thái cũ, âm thanh còn lại vang lên theo độ căng của dây đó lúc đầu

( nguồn ảnh: sentayho.com.vn )

– Ngón vuốt: tay phải gảy đàn tiếp theo dùng hai, ba ngón tay trái vuốt lên dây đàn đó từ nhạn đàn ra trục dây hay ngược lại làm tăng sức căng của dây một cách đều đều, liên tục Âm thanh được nâng cao dần lên trong phạm vi 1/2 cung đến 1 cung

– Ngón gảy tay trái: để thay đổi màu sắc, đồng thời phát huy khả năng âm thanh của dây đàn, ngón tay trái cũng có thể gảy dây trong phạm vi phía bên tay phải hàng nhạn đàn Tay trái không đeo móng gảy nên khi gảy âm thanh nghe êm hơn nhưng không vang bằng âm thanh tay phải gảy Có thể gảy bằng hai tay để tạo chồng âm nhưng thường là tay trái gảy những âm rãi trong khi tay phải sử dụng ngón vê hoặc đang nghỉ

– Ngón bịt: là ngón vừa sử dụng ngón tay phải gảy dây, vừa dùng đầu ngóntay trái đặt nhẹ trên dây đàn hoặc chặn tay trái lên đầu nhạn đàn nếu là gảy một nốt nhạc Nếu định gảy hẳn một đoạn nhạc với toàn âm bịt, nghệ nhân

sử dụng cạnh bàn tay phải chặn nhẹ lên cầu đàn, dùng tay trái gảy thay tay phải Hiệu quả âm thanh ngón bịt không vang mà mờ đục, gây được ấn tượng tương phản rõ rệt với một đoạn nhạc đánh bình thường

( nguồn ảnh: sentayho.com.vn )

– Âm bồi: có thể đánh trên tất cả các dây nhưng chỉ nên đánh trong khoảng

âm giữa, âm dưới và nên đánh những âm bồi quãng tám Cách đánh là sử dụng ngón tay trái chặn vào đoạn dây thích hợp kể từ đầu đàn trong khi tay phải gảy dây đó Âm bồi Ðàn Tranh nghe đẹp hơn hẳn so với nhiều loại đàndây gảy khác

Trang 11

( nguồn ảnh: sentayho.com.vn )

Loại hình được sử dụng:

Đàn tranh Việt Nam thường được sử dụng để độc tấu, hoà tấu, đệm cho ngâm thơ, dòng nhạc hiện đại trong các dàn nhạc tài tử, Nhã nhạc và nhạc dân tộc tổng hợp

Trang 12

lược như sau: “Cây Đàn Bầu trong câu chuyện dân gian là món quà của một bà Tiên ban cho nàng dâu hiếu thảo Vì chiến tranh mà người con trai tên là Trương Viên phải ra trận, do loạn lạc họ đã cách xa nhau Để tận hiếu với mẹ già và trọn tình nghĩa phu thê mà nàng dâu đã chịu móc mắt mình để tế hung thần trên đường đưa mẹ về quê lánh nạn Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo sắt son, Tiên trên trời bèn hiện ra và tặng nàng cây đàn một dây Cây đàn ấy đã cứu sống hai mẹ con nàng qua những tháng ngày cực khổ và cuối cùng giúp gia đình họ được đoàn tụ”.

Bên cạnh đó, trong thư tịch và hiện vật khảo cổ học cũng như lịch sử chữviết, có một số sách sử quan trọng đã đề cập đến Đàn Bầu Theo An Namchí lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Chỉ Nam Ngọc âm giải nghĩa, Đại Nam

thực lục tiền biên thì “cây Đàn Bầu ra đời xuất phát điểm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ sau đó được người Kinh Việt Nam mang sang Quảng Tây Trung Quốc Đàn Bầu được lấy cảm hứng từ trò chơi dân gian “trống đất” của trẻ nhỏ là đào hố và căng dây qua lỗ đất, khi đập nghe tiếng bung bung mà các cụ ngày xưa đã có sự quan sát tinh tế và cảm thụ thanh âm nhanh nhạy nên những tiếng kêu “bung bung” từ dây căng kéo trên lỗ đất

ấy đã kết tạo ý tưởng hình thành cây đàn làm từ ống tre và quả bầu khô với một dây duy nhất”.

Từ truyền thuyết xa xưa của dân tộc đến những dấu tích lịch sử ghi lại đều

có cùng điểm chung, đó là minh chứng cho sự gắn bó máu huyết của ĐànBầu với xóm làng, người dân lao động Việt Nam bao đời nay Đàn Bầu làcây đàn truyền thống của người Việt Nam, đã đồng hành với dân tộc ta quabiết bao thăng trầm và biến động lịch sử, ngấm nhuyễn vào từng âm điệudân gian, vào từng lời ca “ru hời à ơi” của mẹ, bế bồng tâm hồn mỗi chúng

ta hòa vào dòng suối linh thiêng của nguồn cội

Trang 13

(Nguồn ảnh: vovworld.vn)

Cấu tạo

 Đàn bầu thường có cấu tạo một ống tròn được làm từ tre, bương, luồng Có một đầu to và một đầu vót hơi nhỏ Phần mặt đàn thường được thiết kế hơi cong một chút, đáy đàn thì phằng và có một lỗ nhỏ dùng để treo đàn Thành đàn cũng được thiết kế bằng gỗ cứng như cấm lai hoặc gỗ mun

 Trên mặt to của đàn thường có 1 miếng xương kim loại nhỏ gọi là ngựa gảy Dây đàn sẽ được luồn từ đây và cột vào trục lên dây xuyênqua phần thành đàn Với những cây đàn bầu hiện đại, người ta đã sử dụng khóa dây bằng kim loại để phần dây được chắc chắn và không

bị tuột

 Cuối cùng là que gảy đàn, chúng được vót bằng tre, giang, thân dừa hoặc gỗ mềm Que gảy thời xưa thường dài khoảng 10cm, nhưng ngày nay với những kỹ thuật diễn tấu nhanh nên que gảy chỉ dài khoảng 4 – 4,5cm

Trang 14

(Nguồn ảnh: nhaccutienmanh.vn)

Cách sử dụng

Cách định âm chuẩn cho dây đàn

Mô tả xác định điểm chia nốt trên dây đàn bầuNgười ta thường định âm cho đàn bầu theo dây buông có âm tự nhiên, nhưng có khi chỉnh theo từng bài bản Nếu bài nhạc cung đô (do) là chủ âm thì định âm dây buông tự nhiên là đô Ngoài ra còn vài cách định âm khác Vì dây buông chỉ cho mộtnối nên phải chia dây từ cần đàn đến ngựa đàn để xác định các nốt khác:

1/2 dây có nốt do 1 cao hơn dây buông một quãng 8.1/3 dây sẽ là nốt sol 1.1/4 ta sẽ có nốt do 2.1/5 dây sẽ có mi 2.1/6 dây sẽ có nốt sol 2 1/7 dây sẽ

là nốt si giáng (nốt này ít được sử dụng).1/8 sẽ có nốt do 3

(Nguồn ảnh: tienkiem.com.vn)

Ngoài 6 điểm định âm thông dụng là do 1, sol 1, do 2, mi 2, sol 2 và do 3 còn có thể tạo âm thực bằng cách gảy dây buông và thường gảy gần ngựa

Trang 15

Cách sử dụng que gảy đàn

Cách gảy đàn đòi hỏi kỹ thuật đặc biệt Người diễn cầm que bằng tay phải, đặt que trong lòng bàn tay phải, đặt que trong lòng bàn tay làm sao để que hơi chếch so với chiều ngang dây đàn Que đàn được đặt trên 2 đốt ngón tay trỏ và giữa của bàn tay phải, còn đốt thứ nhất của ngón cái thì giữ que đàn, đầu nhỏ của que thường nhô ra khoảng 1,5 cm

(Nguồn ảnh: tienkiem.com.vn)

Hai ngón còn lại thì hơi cong theo ngón trỏ và giữa Khi gảy dây ta đặt cạnh bàn tay vào điểm phát ra bội âm, hất nhẹ que đàn cùng lúc nhấc bàn tay lên, ta sẽ có được âm bội Những điểm cạnh bàn tay chạm vào gọi là điểm nút, những điểm trên dây đàn được que gảy vào gọi là điểm gảy Do đàn bầu không có phím nên những điểm nút được coi là cung phím của đànbầu

Các tư thế diễn tấu

Thông thường nhất là đàn bầu đặt trên một cái bàn nhỏ (thường là hộp đàn

có lắp 4 chân rời, trên mặt giá có 2 chỗ chặn để khi kéo đẩy cần đàn, đàn không bị di chuyển theo Khi ngồi khoanh chân trên chiếu để đàn thì đầu gối chân mặt phải tì vào cạnh mặt đàn nhằm giữ cho cây đàn khỏi bị xê dịch Ngày nay, các nghệ sĩ thường dùng tư thế đứng hoặc ngồi trên ghế để diễn tấu Khi dó, đàn được đặt trên giá gỗ có các chốt định vị có độ cao tương ứng với vị trí ngồi của nghệ sĩ

Trang 16

Kỹ thuật cơ bản:

Trang 18

(Nguồn ảnh: tienkiem.com.vn)

Trang 19

âm đã được qui định.Ngón vỗ: Vỗ ngón cái, vỗ ngón trỏ tạo ra âm thanh hãm và thăng giáng liên tục, ngắt quãng do dao động âm tắt nhanh Theo nghệ sĩ ưu tú Thanh Tâm thì ngón vỗ thường diễn tả tình cảm đau khổ, uất

ức, nghẹn ngào.Ngón vuốt: miết ngón tay vào cần đàn để tạo độ trượt qua các thang âm và dừng lại ở thang âm qui định trong bản nhạc.Ngón luyến: kéo thẳng cần tăng hoặc giảm tới âm qui địnhNgón tạo tiếng chuông: Nhấn cườm tay vào dây đàn để hãm bớt âm chính và tạo ra âm bội trên âm chính

có sẵn v.v

Trang 20

3 Sáo Trúc

Nguồn gốc

Cây sáo trúc ngày nay bắt nguồn từ cây sáo lau có lịch sử hơn 7000 năm

trước, cây sáo ban đầu chỉ là 1 ống lau sậy rỗng ruột, khi có luồng hơi hoặcgió thổi qua thì tạo ra độ rung, phát ra âm thanh Và sau đó đã được cải tiếnrất nhiều lần tùy theo ý tưởng của người sáng tạo để chế biến từ một cây

lau sậy rỗng ruột đơn điệu thành một loại nhạc cụ âm nhạc có thể trình tấu (độc tấu, song tấu, hòa tấu) độc đáo như ngày hôm nay.

Trên lý thuyết có nhiều ý kiến cho rằng có nhiều cách để tạo ra độ rung âmtrong cây sáo bằng nhiều cách thổi qua lỗ sáo khác nhau Nhưng tóm gọnlại cũng đều là cách tạo ra một luồng hơi cắt trên góc cạnh của lỗ thổi từ đótạo ra độ rung âm thanh từ cây sáo

Một số sách sử trên thế giới ghi lại rằng cây sáo trúc ngày nay bắt nguồn

từ vùng đất Nam Mỹ, còn trong các sách sử của Trung Quốc lại cho

rằng sáo trúc bắt nguồn từ vùng đất Trung Nguyên Và trong sách “Khảo

cứu nhạc cụ Đông Á” của Nhật Bản lại cho rằng: Sáo có nguồn gốc từ Ấn

Trang 21

Hàn Quốc (Daegeum)

Việt Nam ( Sáo Trúc)

( Nguồn ảnh: tatham.vn)

Trang 23

1 Lỗ thổi (trong động tiêu và sáo ngang, huyên) – miệng thổi (trong sáo mèo, sáo bầu, sáo dọc, recorder và ocarina)

2 Hộp cộng hưởng: hộp cộng hưởng thường được cấu tạo là 1 ống trụ rỗng

có các lỗ thoát hơi, các lỗ được đục và sắp xếp ở vị trí khác nhau để tạo ra các cao độ nốt nhạc khác nhau

3 Phụ kiện, trang trí: Đó là khớp nối (ở tiêu sáo Tàu), 2 đầu bọc, dây quấn,

Dựa vào đặc điểm của lỗ thổi, miệng thổi, hộp cổng hưởng, âm sắc đặc trưng mà người ta có thể phân loại tiêu sáo thành các loại sau:

 Động tiêu (thổi dọc nhưng đặt miệng như sáo ngang): động tiêu có âm

khá giống với sáo ngang loại siêu trầm, chủ yếu được làm tone trầm hơn sáo ngang 1 quảng 8 với ống tiêu to nên động tiêu có màu âm ấm áp, sâu lắng

+ Shakuhachi: đây được xem là cây tiêu của người Nhật vì nó khá giống cây động tiêu, nhưng lỗ thổi được thiết kế đặc biệt hơn, cùng với cây tre Nhật cực dày và cứng, nó có một âm sắc rất đặc biệt, rất rền rí, não nề Hệ bấm và thang âm trên cây shakuhachi cũng có sự khác biệt rõ rệt

 Recorder-sáo dọc: thổi dọc nhưng chỉ cần ngậm vào là thổi kêu Loại sáo

này thường được làm tone cao và có âm sắc không được mềm mại và ngọt ngào như sáo ngang

 Sáo Bầu – Sáo Mèo: sáo bầu và sáo mèo đều có âm thanh đặc biệt khác với

sáo ngang, nó là âm kết hợp của tiếng rung của lam đồng (lưỡi gà) và hộp cộng hưởng hơi (thanh bấm lỗ)

 Sáo ngang là các loại sáo thổi ngang.

+ Sáo ngang Việt Nam: được làm từ trúc, nứa, gỗ, nhựa, kim loại, …

nhưng loại sáo phổ biến và đặc trưng là sáo trúc – sáo nứa

+ Sáo ngang có màng rung : là các loại sáo có thêm 1 lỗ để dán màng

rung ở giữa lỗ thổi và lỗ nốt si Mạng rung tạo ra âm rung, đây là điểm đặcbiệt của loại sáo này Sáo có màng rung chủ yếu là sáo ngang Trung Quốc, thường được gọi là dizi Nhưng hiện nay, sáo ngang Việt mình cũng được

22

Ngày đăng: 06/02/2023, 07:10

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w