Đặt vấn đề nghiên cứu: Sơn alkyd là loại sơn được sử dụng rộng rãi, đặc biệt để trang trí, bảo vệ dụng, trộn hợp tốt với nhiều loại nhựa tổng hợp và thiên nhiên… Tuy sử dụng nhiều như
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO SƠN ALKYD – POLYURETHANE HỆ DUNG MÔI HAI THÀNH PHẦN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành : Công nghệ hóa học
Chuyên Ngành : Tổng Hợp Hữu Cơ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn TS Huỳnh Thị Cúc, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian làm luận văn Đồng cảm ơn đến quý thầy cô trong phòng thí nghiệm hóa hữu cơ, hóa vô cương, hóa đại cương, các thầy cô trong khoa Khoa Học Ứng Dụng Trường Đại Học Tôn Đức Thắng đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập cũng như suốt quá trình làm luận văn
Em xin gửi lời cảm ơn đến quý công ty sơn Á Đông, đơn vị đã hỗ trợ và đóng góp ý kiến cũng như kinh nghiệm quí báu để giúp em hoàn thành tốt đề tài luận văn này
Xin cảm ơn gia đình đã động viên, giúp đỡ và là điểm tựa vững chắc cho tôi trong suốt quá trình học tập
Xin chân thành cảm ơn các bạn lớp Công Nghệ Hóa Học 08HH3N đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập cũng như trong thời gian thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Lê Thị Quỳnh Thảo
Trang 4
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 4
MỞ ĐẦU 1
I Vị trí và tác dụng của ngành sơn: 1
II Đặt vấn đề nghiên cứu: 2
CHƯƠNG I:TỔNG QUAN VỀ SƠN 3
I.1 Giới thiệu sơ lược về sơn: 3
I.1.1 Sơn là gì? 3
I.1.2 Phân loại sơn: 3
I.2 Thành phần cấu tạo của màng sơn: 4
I.2.1 Chất tạo màng: 4
I.2.1.1 Vai trò: 4
I.2.1.2 Yêu cầu của chất tạo màng: 4
I.2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đền tính chất của hợp chất cao phân tử để dùng làm chất tạo màng: 5
I.2.2 Dung môi: 5
I.2.2.1 Định nghĩa: 5
I.2.2.2 Yêu cầu của dung môi: 5
I.2.2.3 Vai trò của dung môi: 6
I.2.2.4 Các đặc tính của dung môi: 6
I.2.3 Bột màu 8
I.2.3.1 Tính chất của bột màu sử dụng trong sơn: 8
I.2.3.2 Những đặc trưng của bột màu: 8
I.2.3.3 Một số bột màu thông dụng: 8
I.2.4 Bột độn: 10
I.2.4.1 Vai trò: 10
I.2.4.2 Các loại bột độn: 10
I.2.4.3 Một vài loại bột độn thông dụng: 10
Bảng 1.3: Đặc tính kỹ thuật của một số loại bột độn thông dụng .10
I.2.5 Phụ gia: 11
I.2.5.1 Chất làm khô: 11
I.2.5.3 Chất chống lắng đọng bột màu: 12
I.2.5.4 Chất phân tán bột màu: 12
I.3 Cơ chế tạo màng: 13
CHƯƠNG II: NHỰA ALKYD 15
II.1 NGUYÊN LIỆU: 15
II.1.1 Polyol: 15
II.1.2 Polyacid: 16
II.1.3 Dầu thực vật: 18
II.1.3.1 Khái niệm: 18
II.1.3.2 Phân loại dầu: 19
II.2 NHỰA ALKYD 22
II.2.1 Nhựa alkyd không biến tính: 22
Trang 5II.2.2 Nhựa alkyd biến tính dầu thực vật: 23
II.2.3.1 Phương pháp acid béo: 24
II.2.3.2 Phương pháp monoglycerid hay phương pháp rượu hóa: 25
II.2.3.3Phương pháp acid hóa: 27
II.2.4 Ứng dụng của nhựa alkyd: 27
CHƯƠNG III:NHỰA TRÊN CƠ SỞ POLYURETHANE 29
II.1 NGUYÊN LIỆU 29
II.1.1 Polyisocyanate: 29
II.1.1.1 Các loại isocyanate dùng để chế tạo sơn: 29
II.1.1.1 Các phản ứng của isocyanate: 32
II.1.2 Polyol: 34
II.1.1.1 Polyester polyol: 34
II.1.1.2 Polyeter polyol: 34
II.1.1.3 Sự lựa chọn các cấu tử: 34
II.2 Cơ chế tạo màng nhựa polyurethane 35
II.2 Tổng hợp Alkyd - Polyurethane: 35
II.3 Vận chuyển, lưu trữ và bảo quản isocyanate: 37
CHƯƠNG IV: THỰC NGHIỆM 39
IV.1 Phân tích nguyên liệu dầu hạt cao su: 39
IV.2Tổng hợp nhựa Alkyd 41
IV.2.1 Dụng cụ: 41
IV.2.2 Hóa chất: 42
IV.2.3 Tiến hành tổng hợp nhựa Alkyd 42
IV.3 Khảo sát khả năng tạo màng sơn Alkyd – Polyurethane với các tỷ lệ - NCO khác nhau 45
IV.3.1 Tính toán thành lập công thức sơn alkyd – polyurethane 45
IV.3.2 Tạo màng sơn alkyd – polyurethane: 45
IV.4 Đo một số tính chất cơ lý của màng sơn: 46
CHƯƠNG V: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 48
KẾT LUẬN 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
I Vị trí và tác dụng của ngành sơn:
Vào thời kỳ trước công nguyên, người Ai Cập đã biết trang trí tường, hang hốc
của mình ở và các vật dụng trên cơ sở chất kết dính là lòng trắng trứng, sáp ong,
nhựa cây trộn với bột màu thiên nhiên
sơn phủ và keo Trước đây sơn được sản xuất từ các loại dầu thảo mộc như dầu
lanh, dầu trẩu, dầu gai, dầu dừa, dầu hướng dương, dầu ngô, dầu cao su…Các loại
nhựa thiên nhiên như cánh kiến, nhựa thông, bitum thiên nhiên…Các loại bột thiên
nhiên như oxide sắt, cao lanh
Đến thế kỷ 20, cùng với sự phát triển chung của các ngành công nghiệp hóa
chất, công nghiệp sơn tổng hợp ra đời và phát triển mạnh, đặc biệt là các nước có
công nghiệp hóa chất phát triển Toàn thề giới năm 1965 sản xuất khoản 10 triệu tấn
sơn, năm 1975 tăng lên 16 triệu tấn
tạo màng, 700 loại dầu, 2000 loại bột màu, 1000 loại dung môi và khoảng 600 chất
phụ gia
Sơn là ngành kỹ thuật đang trên đà phát triển theo nhịp độ chung của nền
kinh tế quốc dân Trong công cuộc phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá Hầu
hết các lĩnh vực của nghành công nghiệp đều liên quan đến sơn với mục đích bảo
vệ, chống sự ăn mòn và trang trí các bề mặt Ngoài những loại sơn thông thường
cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Ngày càng xuất hiện nhiều loại sơn với
tính năng đặc biệt như: sơn chịu nhiệt, sơn bền trong môi trường hoá chất, sơn cách
điện, sơn chống hầu hà có tuổi thọ cao và không gây độc hại với môi trường sống
Lĩnh vực sử dụng của sơn rất đa dạng Từ xây dựng, đồ hộp, điện tử đến sơn giao
thông như: sơn tàu, ô tô, xe đạp, sơn vạch đường, sơn cầu cống, sơn chịu điều kiện
ở biển…
Hàng năm lượng sơn tiêu thụ trên thế giới ước tính 22 triệu tấn/năm như vậy
khoảng 4 kg/người/năm Ở nước ta lượng sơn tiêu thụ chỉ vào cỡ 0,5 kg/người/năm
đây là một con số quá nhỏ Sơn được phân loại tùy theo mục đích sử dụng, theo gốc
Trang 7nhựa, theo phương pháp sản xuất, mục đích sản xuất Ngay trong lĩnh vực sơn tổng
hợp người ta cũng chia ra nhiều loại khác nhau: Sơn sử dụng dung môi hữu cơ
(alkyd, vinyl, epoxy, polyuretan, acrylic, polyester không no…) sơn nước, sơn bột
Trước đây, sơn dầu chiếm ưu thế trong công nghiệp chế tạo sơn Nhưng
trong vòng 10 năm trở lại đây sơn tổng hợp đã tiến lên chiếm ưu thế hàng đầu trong
các loại sơn
II Đặt vấn đề nghiên cứu:
Sơn alkyd là loại sơn được sử dụng rộng rãi, đặc biệt để trang trí, bảo vệ
dụng, trộn hợp tốt với nhiều loại nhựa tổng hợp và thiên nhiên…
Tuy sử dụng nhiều như vậy nhưng nó vẫn là loại sơn mang nhiều khiếm khuyết
như kháng thời tiết kém, không chịu được nước, dung môi và các loại hoá
chất…Nhựa có cấu trúc không gian tương đối chặt chẽ, rắn chắc nên khó hoà tan,
dù có hoà tan được thì nhựa cũng rắn, giòn, dễ nứt, chịu nước kém không bền với
tác dụng của hoá chất, chỉ số axit và hydroxyl cao Sơn polyurethane là loại sơn
tổng hợp với chất tạo màng trên cơ sở nhựa polyurethane Màng có những đặc điểm
như: độ bóng cao, đanh, mau khô bám dính tốt, tính đàn hồi dẻo dai kết hợp với độ
cứng cao Đặc biệt có khả năng kháng hoá chất,dung môi và nước Chính vì vậy tôi
đã chọn nghiên cứu alkyd được biến tính dựa trên nền chất tạo màng polyurethane
hay còn gọi là Alkyd – Polyurethane với hy vọng phần nào khắc phục được những
khiếm khuyết này Dưới tác dụng biến tính của nhóm polyurethane, màng sơn trên
nền nhựa alkyd sẽ có một tính chất cơ lý tốt hơn như: đóng rắn và khô bề mặt
nhanh, kháng nước và duy trì độ bóng tốt hơn, dễ phân tán và điều chỉnh độ nhớt
hơn, cơ tính màng tốt hơn …
Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm các nhiệm vụ sau:
- Phân tích nguyên liệu dầu hạt cao su
- Tổng hợp nhựa alkid từ dầu hạt cao su
- Khảo sát khả năng tạo màng của nhựa alkyd – PU với các tỉ lệ - NCO khác
nhau
- Đo 1 số tính chất cơ lý của màng sơn
Trang 8CHƯƠNG I:TỔNG QUAN VỀ SƠN
I.1 Giới thiệu sơ lược về sơn:[3], [4], [5], [7]
I.1.1 Sơn là gì
Trước đây một số nhà nghiên cứu đã đưa ra một số khái niệm như sau:
với dung môi tương ứng ( Liên Xô)
thành màng phủ không trong suốt (Mỹ)
Hai định nghĩa này đã bao gồm các loại sơn màu đục, men ( Pigment paint)
Dạng vật liệu sơn không chứa bột màu gọi là vec ni – là dung dịch chất tạo
màng trong dung môi thích hợp
Định nghĩa tổng quát: Sơn là hệ phân tán gồm nhiều thành phần (chất tạo màng,
bột màu… trong môi trường phân tán) Sau khi sơn phủ lên bề mặt vật liệu nền nó
tạo thành lớp đều đặn, bám chắc, bảo vệ và trang trí bề mặt vật liệu cần sơn
Như vậy: chức năng của màng sơn là trang trí và bảo vệ vật liệu nền
I.1.2 Phân loại sơn:
+ Sơn dầu thuần túy
+ Sơn dầu nhựa
+ Sơn tổng hợp
+ Sơn dung môi: môi trường phân tán là dung môi hữu cơ
+ Sơn nước: môi trương phân tán là nước
+ Sơn bột: không có môi trường phân tán
Trang 9+ Sơn chịu nhiệt
I.2 Thành phần cấu tạo của màng sơn:
Cấu tạo của màng sơn gồm có 2 phần: chất bay hơi và chất không bay hơi
Chất không bay hơi tạo nên màng sơn gồm:
Chất tạo màng là thành phần chủ yếu quyết định các tính chất của màng sơn
Nhiệm vụ của chất tạo màng là kết hợp với bột màu, bột độn để tạo nên màng che
phủ liên tục trên bề mặt vật liệu, thực hiện chức năng bảo vệ, ngăn cách vật liệu với
môi trường ngoài
I.2.1.2 Yêu cầu của chất tạo màng:
Trang 10Việc thỏa mãn các yêu cầu trên hay không tùy thuộc vào bản chất các chất tạo
màng
I.2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đền tính chất của hợp chất cao phân tử để dùng
làm chất tạo màng:
Trọng lượng phân tử:
Khi trọng lượng phân tử tăng cao thì các tính chất như bền cơ học, tính đàn hồi,
độ cứng, tính chịu nhiệt tăng theo, nhưng đến một giới hạn nhất định thì làm giảm
khả năng hòa tan của nhựa vào dung môi
Mức độ đồng đều về trọng lượng phân tử:
Nếu trọng lượng nhựa kém đồng đều thì khả năng hòa tan của nhựa trong dung
môi tăng lên nhưng sẽ làm giảm tính chất cơ lý của màng sơn
Cấu tạo của hợp chất cao phân tử:
Hợp chất cao phân tử nào có nhiều nhánh phụ thì sẽ dễ hòa tan nhưng lại kém
bền cơ học và ngược lại
Thành phần hóa học và độ phân cực:
Các nhóm có cực làm tăng độ cứng và nhiệt độ chảy mềm của các polymer
nhưng lại có nhược điểm là làm màng sơn dễ hút nước
Các nhóm định chức cũng có ảnh hưởng lớn đến khả năng hòa tan và khả năng
bám dính của polymer Các nhóm có cực mạnh như – OH làm tăng khả năng hòa
tan vào các hydrocarbon
Nhựa nào càng chứa nhiều nhóm có cực càng bám dính tốt
I.2.2 Dung môi:[7]
I.2.2.1 Định nghĩa:
Dung môi là chất lỏng dễ bay hơi dùng để hòa tan chất tạo màng và sẽ bay đi
trong quá trình hình thành màng sơn
I.2.2.2 Yêu cầu của dung môi:
thích hợp cho việc sử dụng và bảo quản
có mùi chấp nhận được
Trang 11- Rẻ tiền, dễ kiếm
I.2.2.3 Vai trò của dung môi:
Với các loại sơn khô bằng phương pháp hóa học, dung môi có vai trò chính tạo
nên một dung dịch sơn để có thể sơn theo phương pháp thích hợp nhất
Với các loại khô vật lý, dung môi đóng vai trò phức tạp hơn vì nó không những
ảnh hưởng đến việc chọn phương pháp sơn mà nó còn có vai trò quyết định đến thời
gian khô và tính chất của màng sơn Trong những trường hợp này cần dùng hỗn hợp
hệ dung môi để màng sơn thu được đạt chất lượng cao
I.2.2.4 Các đặc tính của dung môi:
• Khả năng hòa tan
Trong thực tế, nhựa chỉ hòa tan trong một số loại dung môi nhất định và sự lựa
chọn dung môi dựa trên nguyên tắc thực nghiệm “ các chất giống nhau thì hòa tan
tốt trong nhau ”
• Nhiệt độ sôi
Nhiệt độ sôi của dung môi là nhiệt độ sôi mà tại đó áp suất hơi của dung môi
bằng áp suất khí quyển Khi điểm sôi của hỗn hợp hệ dung môi cao hơn hay thấp
hơn từng thành phần của hỗn hợp thì được gọi là hỗn hợp đẳng phí Khi điểm sôi
của hỗn hợp thấp hơn của từng thành phần của hỗn hợp thì khi đó áp suất hơi của hệ
sẽ lớn hơn, do đó tốc độ bay hơi của hệ sẽ lớn hơn
• Tốc độ bay hơi
Tốc độ bay hơi của dung môi thường chọn một cách tương đối bằng cách so
sánh với tốc độ bay hơi của dung môi chuẩn
Trang 12Bảng 1.1: Tốc độ bay hơi của 1 số loại dung môi.[3]
118
110
135
135 156.2
112
Điểm cháy:
Dung môi là những chất dễ cháy Có 3 loại nhiệt độ cháy của dung môi là:
cháy
gặp lửa thì bốc cháy
không khí không gặp phải lửa cũng tự bốc cháy
Tính gây nổ của dung môi:
Dung môi là những chất dễ cháy, hơi dung môi và không khí ở một nhiệt độ nào
đó có thể gây nổ Nếu ở dưới giới hạn thấp và trên giới hạn cao thì sự nổ không xảy
ra Mỗi dung môi có một giới hạn nhất định ( % thể tích)
Bảng 1.2: Giới hạn của dung môi.[5]
Ether etylic Acetone Benzen Toluen
1.0 2.0 1.4 1.3
40
13 9.5
7
Trang 13I.2.3 Bột màu:
Bột màu là những phần tử rắn nhỏ dùng để pha chế sơn, và thực chất không tan
trong chất mang (chất mang là phần tử chất lỏng của sơn mà bao gồm cả chất kết
dính bột màu, dung môi dễ bay hơi và bất kỳ những chất hòa tan trong phần lỏng)
Trong định nghĩa bột màu cần chú ý đến câu “thực chất không hòa tan trong
chất mang” Vì vậy có những vật liệu tan được dùng để giúp cho một vài loại màng
phủ có màu sắc nhưng chúng không được phân loại như bột màu
Bột màu có thể chia làm hai loại: tự nhiên và tổng hợp tùy thuộc vào nguồn gốc
của chúng, và mỗi nhóm thì có 2 loại là vô cơ và hữu cơ
I.2.3.1 Tính chất của bột màu sử dụng trong sơn:
Bao gồm các tính chất sau: màu sắc, độ đục, tốc độ thấm ướt, tốc độ khô, độ
đặc, sự lão hóa, sự ổn định màu, sự ổn định hóa chất, tỷ trọng, tốc độ tủa
I.2.3.2 Những đặc trưng của bột màu:
Bột màu có những đặc trưng về:
- Khả năng che phủ của bột màu
- Kích thước tối đa của bột màu
- Sự hấp phụ dầu của bột màu
I.2.3.3 Một số bột màu thông dụng như:
Bột màu vô cơ
Màu trắng
không độc, độ che phủ và cường độ màu lớn nhất Trong đó dạng rutin
Trang 14có chỉ số khúc xạ lớn hơn, độ min cao hơn nên lực phủ cao hơn nên nó
dược sử dụng nhiều hơn
dụng của ánh sáng nhiệt độ, không khí…
công nghiệp
sản xuất, bảo quản thực phẩm và sơn đồ chơi trẻ em
Màu vàng
- Có màu từ vàng nhạt, da cam sẫm đến đỏ tươi, độc Màu này được sử
dung nhiều trong sơn công nghiệp như sơn trang trí
- Ưu điểm là độ bền ánh sáng tốt, sức phủ và độ đục cao
Không sử dụng để sơn bê tông và vữa ximăng do kém bền trong môi
trường kiềm
Bột màu hữu cơ
Màu đỏ
Đỏ Toluidin:
- Là thuộc nhuộm apolymero, không tan trong nước, có màu đỏ nhạt,
tươi, sức che phủ tốt có độ ổn định cao với ánh sáng
trong thởi gian ngắn Do đó có thể dùng loại sơn đóng rắn nóng, nếu
kéo dài thời gian sử dụng ở nhiệt độ cao thì sẽ bị biến màu
- Tan trong dung môi thơm, tán ít trong rượu Bền axit và kiềm tốt nên
được dùng làm sơn chịu hoá chất, không độc và có thể thay thế crom
chì
Trang 15Đỏ Arylamit:
trong dung môi, chịu axit, kiềm và không độc
- Dùng cho mang đóng rắn nóng, có thể phối trộn với bột màu trắng ở
bất cứ tỉ lệ nào để làm sơn trang trí bên ngoài
I.2.4 Bột độn:[7]
I.2.4.1 Vai trò:
có tác dụng len lõi vào các khe hở giữa các hạt bột màu để làm tăng tính đồng nhất
cho bột màu
I.2.4.2 Các loại bột độn:
Bột độn được lấy từ hai nguồn:
- Bằng cách nghiền thành bột một vài loại đá hay quặng trầm tích
- Bằng cách kết tủa hóa học
I.2.4.3 Một vài loại bột độn thông dụng:
Bảng 1.3: Đặc tính kỹ thuật của một số loại bột độn thông dụng.[3]
Tên thường
Khối lượng riêng
Độ hấp phụ dầu (lb dầu/100lb bột màu) Màu trắng
Trang 16BaSO4:
- Chịu được tốt trong môi trường kiềm và axit Dùng cho sơn lót, sơn nền
với mục đích bảo vệ hay trang trí bề mặt khi yêu cầu tính chịu axit,
kiềm và tăng cường lực Nó cũng như các loại bột độn khác nếu dùng
một lượng quá lớn sẽ ảnh hưởng xấu đến độ bền
I.2.5 Phụ gia: [3],[4], [5], [7]
I.2.5.1 Chất làm khô:
Chất làm khô giúp tăng nhanh quá trình khô màng sơn Chất làm khô thường là
muối xà phòng của các kim loại đa hóa trị, phổ biến là các muối của chì Coban,
Mangan
Bản chất của quá trình làm khô:
Các chất làm khô giúp tăng nhanh quá trình oxy hóa của chất tạo màng, xúc tiến
phản ứng tạo màng lưới giữa các liên kết đôi tức là trong quá trình thay đổi hóa trị,
xà phòng kim loại lấy oxy từ không khí biến thành oxy nguyên tử hoạt động hơn
truyền cho chất tạo màng, thúc đẩy quá trình tạo màng
- Chất làm khô Coban: là chất làm khô rất mạnh, quá trình làm khô tiến hành
nhanh ở bề mặt màng sơn, nhưng chủ yếu sử dụng đơn độc, màng sơn bên trong
khó khô, dễ sinh ra bong
- Chất làm khô Mangan: kém hơn chất làm khô Coban, quá trình làm khô tiến
hành ở bề mặt, sau đó làm khô ở bên trong màng sơn, nhưng màng sơn cứng và
dòn, thể hiện màu rất mạnh, nên dễ bị sử dụng hạn chế
- Chất làm khô chì: có tốc độ chất làm khô chậm, quá trình làm khô đồng đều,
có thể làm khô bên trong màng sơn, được màng sơn dẻo, đàn hồi, chịu khí hậu tốt
không bị biến đổi màu, vì vậy chất làm khô chì là loại tương đối tốt
- Chất làm khô hỗn hợp: là hỗn hợp các chất làm khô, được màng sơn tốt, khi sử
dụng đơn độc một chất làm khô không thể có được, vì vậy được sử dụng rộng rãi
Chất làm khô có thể làm khô nhanh màng sơn, nhưng không phải dùng lượng
chất làm khô nhiều thì làm khô nhanh Thực tế chứng minh rằng, dù lượng chất làm
khô nhiều không thể làm khô nhanh, làm cho màng sơn dễ bị bong, đóng cục, lão
hóa…ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng màng sơn
Trang 17I.2.5.2 Chất hóa dẻo:
Chất hóa dẻo thông dụng thường là những chất có trọng lượng phân tử thấp,
lỏng, khó bay hơi và trộn lẫn với chất tạo màng, có tác dụng tăng và duy trì tính
mềm dẻo của màng sơn, nhất là các màng sơn dùng làm chất tạo màng dòn
Có 2 loại chất hóa dẻo cho sơn:
Chất hóa dẻo vật lý:có thể trộn cơ học với polymer trong quá trình tạo sơn
Chất hóa dẻo hóa học: xảy ra phản ứng đồng trùng hợp giữa chất hóa dẻo và
polymer
Yêu cầu đối với chất hóa dẻo:
- Không làm ảnh hưởng đến màu sắc của sơn
- Bản thân chất hóa dẻo không được thay đổi màu sắc đáng kể trong
quá trình sử dụng
- Không phải là chất độc
Các chất hóa dẻo chủ yếu:
- Ester của axit phtalic: dibutylphthalate (DBP), dioxylphthalate (DOP)
- Ester của axit photphoric: triphenylphotphat, tricrezilphotphat
- Ester của axit adipic: dùng nhiều cho da nhân tạo
I.2.5.3 Chất chống lắng đọng bột màu:
Đối với các loại bột màu nặng hay có độ hạt không đồng đều cao thì trong thời
gian bảo quản lâu dài, sơn dễ bị lắng đọng Phân tán những hạt bột màu đã lắng
đọng tốn rất nhiều thời gian và màng sơn sẽ có những “hạt sạn” nếu khuấy không
tốt trước khi sơn
Cơ chế: chất chống lắng sẽ hấp thụ vào bề mặt bột màu làm tăng thể tích của nó,
tức là tỷ trọng sẽ nhỏ đi và như thế khuynh hướng lắng đọng cũng sẽ giảm đi
I.2.5.4 Chất phân tán bột màu:
Trong quá trình chế tạo màng sơn cần chú ý để đạt sự phân tán đồng đều của các
hạt bột màu và bột độn trong môi trường sơn lỏng Bột màu phải đạt độ thấm ướt
với chất tạo màng
Do vậy, chất phân tán là chất hữu cơ có hoạt tính bề mặt vừa có nhóm có cực
vừa có nhóm không có cực Khi cho những chất này vào trong môi trường sơn thì
Trang 18những nhóm có cực hay những nhóm không cực sẽ hấp phụ trên bề mặt của bột
màu
I.2.5.5 Chất chống đóng váng:
Váng là chất tạo màng bị khô bởi không khí trong quá trình bảo quản ( chưa
quét đã khô) Có nhiều cách khắc phục:
sơn.Chất chống đóng váng thường dùng là MEK oxine
I.2.5.6 Chất chống nấm mốc, hà:
Các loại sơn có hàm lượng nước cao rất dễ bị các vi sinh vật như nấm, vi khuẩn
tác dụng Điều này làm cho sơn lỏng bị hỏng và áp suất trong hộp đựng sơn tăng do
quá trình tạo khí và thối rữa Hóa chất cho vào sơn để ngăn chặn sự xâm nhập của
vi khuẩn gọi là chất chống mốc Thường sử dụng hợp chất phenolformaldehyd với
hàm lượng 0.05 – 0.3 % so với trọng lượng sơn
Nấm từ không khí hay từ vật liệu sơn làm cho màng sơn bị suy yếu xấu đi vì
biến màu Chất chống nấm thường dùng là bari metaborat, hàm lượng từ 5 – 10 %
so với chất khô
Đối với các loại màng sơn làm việc trong nước biển thường bị các vi sinh vật
I.2.5.7 Chất chống cháy:
Trong nhiều trường hợp, khi cho các nguyên liệu chủ yếu của sơn phối hợp với
nhau thì độ nhớt, tính chảy có thể không phù hợp làm màng sơn thu được quá
mỏng Do đó cần thêm chất chống chảy vào hệ sơn nhằm hạn chế quá trình chảy
của sơn, thu được màng sơn có bề dày đạt yêu cầu
I.3 Cơ chế tạo màng:
Có 2 cơ chế tiêu biểu xảy ra khi sơn khô tạo thành màng mỏng rắn (gọi là màng
sơn)
¾ Cơ chế khô vật lý:
Còn gọi là khô bay hơi, khi dung môi bay hơi hết và màng sơn khô, như sơn cao
Trang 19su, sơn vec- ni…
¾ Cơ chế khô hóa học:
Là quá trình đóng rắn màng film thông qua phản ứng hóa học
không khí mới khô được
ứng với nhau tạo thành màng sơn khô (như sơn epoxy, poly urethane)
Trang 20CHƯƠNG II: NHỰA ALKYD
Khái niệm:
Trong tất cả các loại sơn sản xuất dựa trên cơ sở nhựa tổng hợp, người ta thường
sử dụng nhựa alkyd Nhựa alkyd là sản phẩm quá trình trùng ngưng giữa polyol và
có biến tính dầu thực vật như chẩu, lanh, thầu dầu, đậu nành, cao su…
II.1 NGUYÊN LIỆU:
CH OH
CH OH
CH CH
OH
CH2OH OH
Độ chức của rượu và cấu trúc không gian của nó ảnh hưởng rất lớn đến chất
lượng của nhựa alkyd, màng trên cơ sở của nhựa alkyd đó Thông thường người ta
hay sử dụng glycerin và penta ery thrytric bởi vì nó rẻ tiền, dễ kiếm và cho nhựa có
Trang 21Cái tên Glycerol được sử dụng trong hóa học thuần túy nhưng trong thương mại
nó thường được gọi là glycerin
Glycerol được phân bố trong tự nhiên dưới dạng ester của nó là glyceride
Glycerol là chất lỏng nhớt, hút ẩm, không màu, không mùi và có vị ngọt, trộn
với nước theo bất kì tỷ lệ nào và là dung môi tốt cho rượu, glycol, amin, acid và
nhiều muối hữu cơ và vô cơ khác, chỉ tan mức độ không đáng kể trong dung môi
thường như ether, etyl acetate và dioxane Glycerol có những tính chất hóa học
tương tự tính chất của rượu đơn chức, và có khả năng tạo thành ester, aldehyt và
eter Glycerol sử dụng loại Trung Quốc, độ tinh khiết 98%
Glycerol được phân bố trong tự nhiên dưới dạng ester của nó là glyceride
Glycerol là rượu đa chức được sử dụng đầu tiên trong tổng hợp nhựa alkyd Khi
nước để tạo thành acrolein
Nó không chỉ gây khó chịu và làm chảy nước mắt, nó còn làm giảm lượng
glycerine có giá trị cho quá trình chuyển este hóa
II.1.2 Polyacid:
Có thể dùng các polyacid no loại mạch thẳng, vòng thơm và bổ sung thêm các
loại polyacid không no
Thông thường người ta hay sử dụng Anhydric Phtalic (AP) bởi vì có cấu trúc
vòng thơm tạo cho nhựa có độ bền cơ lý hóa cao và có khả năng phản ứng cao
AP được sản xuất từ naphtalen hoặc o – xylen AP được sử dụng rộng rãi để
tổng hợp nhựa alkyd thay cho acid o – phtalic, bởi vì nó cho phép tiến hành quá
Trang 22trình ester hóa ở nhiệt độ thấp hơn và giảm lượng nước thoát ra Tuy nhiên AP dễ
thăng hoa nên cần phải chú ý tránh thất thoát và gây ô nhiễm môi trường
CO
CO O
Anhydric phtalic là tinh thể trắng đục, cánh mỏng, là anhydride của acid
phthalic Nó hòa tan trong cồn và một vài dung môi hữu cơ khác
Anhydride phthalic thu được bởi quá trình oxy hóa có xúc tác của ortho-xylene
Nó bị thủy phân trong nước nóng, tạo thành ortho-phthalic acid Đây là 1 quá trình
Độ tan trong nước 0.62g/100g
Trang 23- Acid adipic cho nhựa khả năng đàn hồi cao do mạch hydrocacbon của acid dài
HOOC (CH2)4 COOH
- Anhydric maleic (MA) có khả năng phản ứng lớn, vì vậy khi thay đổi một
phần AP bởi AM thì thời giann của quá trình tổng hợp được rút ngắn, độ nhớt của
nhựa tăng lên, màu đẹp hơn Thường AP được thay thế một phần bằng AM khoảng
từ 10 – 15% mol để tăng độ nhớt và trọng lượng phân tử của nhựa biến tính bằng
dầu bán khô, tăng quá trình khô của nhựa, màu tốt hơn và nâng cao chất lượng của
màng Tuy nhiên khi tăng thêm lượng AM thì khuynh hướng gel hóa của các chất
phản ứng tăng lên và tạo nên màng dòn
C
O C
II.1.3 Dầu thực vật:
II.1.3.1 Khái niệm:
Dầu thực vật là loại hỗn hợp các triglycerid của các acid béo mà phân tử có chứa
16 – 18 nguyên tử cacbon, được phân biệt với nhau bởi độ không no và vị trí của
CH2OCO
2 3
1
R: dây hidrocacbon của các acid béo
1, 2,3: 3 hướng trong không gian 3 chiều OX, OY, OZ, tượng trưng cho các gốc
acid béo
Thành phần của dầu biến đổi tùy theo phương pháp sản xuất, điều kiện và thời
gian bảo quản dầu trứơc khi sử dụng
Các acid béo chủ yếu có trong dầu là những acid mạch cacbon có cấu tạo mạch
thẳng no hoặc không no
Trang 24+ Các acid béo no:
trong dầu trẩu >80%)
Như vậy các acid không no thừơng có 18 nguyên tử cacbon trong mạch
Tính chất của dầu được quyết định phần lớn bởi thành phần acid béo có trong
dầu Mạch acid béo càng dài, càng no thì nhiệt độ nóng chảy càng cao, áp suất hơi
càng thấp Khả năng này tăng theo lên cùng với sự tăng của lượng dư của các acid
có 2, 3 nối đôi Khi đó những liên kết đôi liên hợp làm cho dầu khô nhanh hơn các
liên kết đôi không liên hợp Đồng thời khi tăng các acid không no sẽ làm tăng xu
hướng hóa vàng của màng có chứa dầu
II.1.3.2 Phân loại dầu:
Quá trình khô của màng chủ yếu dựa vào quá trình trùng hợp dầu dưới tác dụng
của oxy không khí Khả năng khô là do tính chất không no của axit béo trong dầu
Trang 25quyết định vì thế ta có thể phân loại dầu thực vật theo bản chất và hỗn hợp các acid
béo tạo thành triglyceride hoặc dựa trên chỉ số iod
(*) Dầu khô: Là những loại dầu thảo mộc có khả năng tạo một màng liên tục
khi quét một lớp mỏng Tính chất này liên quan đến tính không no của axít béo, với
khả năng trùng hợp ô xi hoá trong không khí
- Chỉ số Iốt của nhóm dầu này là: 150 - 200
- Đặc trưng của nhóm này là dầu lanh và dầu trẩu
(*) Dầu bán khô: Là dầu thảo mộc có khả năng trùng hợp ô xi hoá nhưng
chậm hơn và không khô hoàn toàn, do đó nó không được dùng riêng để làm chất tạo
màng mà chỉ dùng phối hợp với dầu khô
- Chỉ số Iốt của nhóm dầu này là: 120 - 150
- Đặc trưng của nhóm này là dầu hạt cao su, dầu đậu tương, dầu hạt hướng
dương, dầu lai, dầu rái, dầu vừng…
(*) Dầu không khô: Là dầu thảo mộc không có khả năng tham gia phản ứng
trùng hợp ô xi hoá
- Chỉ số Iốt của nhóm dầu này là: 70 - 120
- Đặc trưng của nhóm này là: Dầu dừa, dầu lạc, dầu cám, dầu ôliu…
Dầu hạt cao su dùng để pha sơn, chế loại sơn trắng và sơn có màu sáng, chế
tạo xà phòng, chất hóa dẻo; hoặc có thể dùng làm dầu thực phẩm (sau khi tinh chế,
II.1.3.3 Tinh chế dầu thảo mộc:
Dầu thảo mộc ngoài Triglyxerid còn chứa các hợp chất khác như nước, sáp,
nhựa, các chất màu, photpholipit, aminolipit Đa số các chất này ảnh hưởng xấu đến
tính chất của màng sơn, do vậy phải tách trước khi sử dụng dầu Quá trình tinh chế
Trang 26gồm tách các chất nhầy, trung hoà, tẩy màu, tách sáp
Việc tách các chất nhầy là giai đoạn quan trọng nhất, nếu tiến hành tốt, các chất
tạo màng sẽ có tính chất rất tốt và không hình thành các chất lởn vởn thường gọi là
hạt nho, chúng sẽ dính vào thành thiết bị, dễ bị cháy và làm sản phẩm có màu vàng
vết nước, các chất nhầy sẽ keo tụ và không tan vào dầu nữa Giai đoạn trung hoà
được thực hiện với dung dịch axít Tuy nhiên, một số nhà sản xuất lại ưa dùng
amoniac hơn vì trong trường hợp này ít có khả năng đưa vào dầu những tạp chất vô
cơ làm ảnh hưởng đến phản ứng sau này Ngoài ra nếu dùng xút phải rửa dầu nhiều
lần hơn để tách các vết xà phòng
Việc tẩy màu thường thực hiện với các loại đất sét hoạt tính
Sáp được tách bằng cách làm lạnh để chuyển chúng sang trạng thái rắn Cần lưu ý
rằng sáp thường cũng là những hợp chất có màu và các chất màu nói chung cản trở
quá trình khô của dầu Do đó loại dầu có màu chắc chắn rằng là loại chưa được khử
sáp
II.1.3.3 Cơ chế hình thành chất tạo màng:
Có rất nhiều giả thiết về sự hình thành màng sơn từ dầu khô Quá trình này cũng
CH +
Như vậy hai mạch ester phản ứng với nhau và phản ứng này lặp lại cho đến khi
tạo thành màng
Trang 27hai nhóm này có thể phản ứng với nhau tạo thành vòng đioxan:
O
O CH CH
CH CH
Dầu thảo mộc thường được chế biến theo hai cách Cách thứ nhất nấu dầu ở
II.2 NHỰA ALKYD
II.2.1 Nhựa alkyd không biến tính:[3]
Các alkyd đi từ anhydric phtalic và glycerin được gọi là nhựa Glyphtal
Cơ chế phản ứng giữa anhydric phtalic và glycerin tương đối phức tạp, cho đến
nay chưa được nghiên cứu đầy đủ Nhưng rất có thể xảy ra như sau: thoạt tiên tạo ra
mono và diester acid do ester hóa nhóm OH của glycerin
Sau đó, do phản ứng ngưng tụ tiếp tục, có tách nước tạo ra nhựa có cấu tạo và
trọng lượng phân tử khác nhau
Giai đoạn đầu tạo nhựa Glyphtal mạch thẳng có cấu tạo như sau:
Trang 28O O
O
C O
C O O
O
O
Các phản ứng trong giai đoạn này diễn ra rất nhanh, do đó chỉ số acid cũng giảm
nhanh Nhựa có cấu tạo mạch thẳng tan trong aceton, rượu và một số ester,
cyclohexanol, hỗn hợp benzen với rượu nhưng không tan trong các hydrocacbon
mạch thẳng, hydrocacbon thơm và dầu thông
Giai đoạn sau, đa tụ sâu hơn, các nhóm OH gắn với cacbon bậc 2 tác dụng với
nhóm cacboxyl tăng thêm số liên kết làm cho polymer có cấu trúc không gian 3 chiều
Phản ứng ở giai đoạn này tiến hành khá chậm, do đó trị số acid cũng giảm chậm,
do kích thước phân tử khá lớn, độ nhớt tăng cao làm cho sự va chạm giảm bớt và
cũng do nhóm – OH ở cacbon bậc 2 hoạt động kém Nhựa có cấu trúc như thế
không nóng chảy, không hòa tan, có màu sắc và bền với ánh sáng
Nhựa Glyphtal không sử dụng làm sơn vì dòn, tan hạn chế, dễ tạo gel không trộn
với nhiều cấu tử của sơn,…
II.2.2 Nhựa alkyd biến tính dầu thực vật:
Nhựa Glyphtal biến tính tan tốt trong các dung môi hữu cơ, trộn tốt với chất các
Trang 29chất tạo màng khác nhau và có nhiều ưu điểm khác phụ thuộc vào lượng và loại cấu
tử dùng để biến tính
Chất dùng để biến tính nhựa Glyphtal sẽ tham gia vào phản ứng với một phần
nhóm – OH hoặc – COOH của các cấu tử trong hỗn hợp phản ứng, độ định chức
của một số nhóm giảm xuống nhỏ hơn 3, vì vậy làm mất đi một phần kiên kết ngang
của các phân tử có cấu tạo không gian và do đó làm cho các phân tử linh động và
hòa tan tốt hơn
Nhựa alkyd biến tính chia làm 3 loại: béo, trung bình và gầy dựa vào lượng dầu
được biến tính
II.2.3 Sản xuất nhựa alkyd biến tính với dầu:[4], [7]
Quá trình sản xuất xảy ra trên cơ sở phản ứng trùng ngưng Để có thể tiến hành
phản ứng trùng ngưng phải giải quyết vấn đề hòa tan giữa các nguyên liệu đầu, từ
đó có thể phân loại theo phương pháp sản xuất như sau:
Mỗi phương pháp lại tiến hành theo 2 cách: trong khối hoặc trong dung dịch hay
còn gọi là phương pháp đẳng phí
II.2.3.1 Phương pháp acid béo:
Đây là phương pháp nhanh nhất vì nó không cần qua giai đoạn trung gian trước
khi trùng ngưng Các nguyên liệu đầu (glycerin, AP và acid béo) trùng hợp với nhau
nước theo sơ đồ sau:
CH2 CH CH2
OH OH OH +
CO
CO O
phản ứng đa tụ với tỷ lệ như trên của các cấu tử thì tạo ra glyptal biến tính có cấu
tạo mạch thẳng và có thể biểu diễn như sau:
Trang 30Phản ứng tiến hành cho đến khi đạt các thông số yêu cầu Quá trình phản ứng có
thể kiểm tra bằng sự giảm trị số acid và tăng độ nhớt Thông thường chỉ số acid phải
nhỏ hơn 10 có thể dùng acid béo của dầu khô hoặc bán khô
Phụ thuộc vào hàm lượng acid dùng để biến tính mà có thể thu được các nhựa có
tính chất khác nhau Thời gian phản ứng phụ thuộc vào các loại acid béo, với các
loại acid béo không no thời gian phản ứng ngắn hơn khi dùng acid béo loại no, như
thường dễ xảy ra hiện tượng gel hóa
Ưu điểm của phương pháp này là nhận được nhựa có thành phần đồng nhất hơn
so với phương pháp rượu hóa Tuy nhiên cấu trúc phân tử của nhựa lại ít phân
nhánh hơn vì vậy độ nhớt thấp hơn so với sản phẩm nhận được theo phương pháp
rượu hóa
II.2.3.2 Phương pháp monoglycerid hay phương pháp rượu hóa:
Đây là phương pháp phổ biến nhất Quá trình tạo nhựa qua 2 giai đoạn:
a) Chuyển hóa monoglycerid:
Mục đích của giai đoạn này là tiến hành phản ứng chuyển hóa ester (trao đổi
ester) giữa dầu và glycerin để tạo monoglycerid (hợp chất có độ định chức bằng 2)
CH2 OCOROCOR
OCOR
xt
CH2CH
CH2 OCOROH
OH
3
Điều kiện tiến hành phản ứng
• Nhiệt độ:
Nhiệt độ cao thì cho tốc độ phản ứng lớn nhưng nếu cao quá sẽ xảy ra các phản
ứng phụ như trùng hợp, phân hủy, do đó người ta thường hay khống chế nhiệt độ
• Xúc tác:
Trong kỹ thuật người ta thường dùng xúc tác là PbO vì cho tốc độ phản ứng
Trang 31nhanh và hiệu suất phản ứng cao, nhưng nó sẽ cho nhựa có màu tối, do đó có thể
Tùy theo tỷ lệ glycerin/dầu mà ta thu được hỗn hợp sản phẩm là mono, di và
triglycerid với những tỷ lệ khác nhau Người ta thường thử điểm dừng của giai đoạn
này dựa vào khả năng hòa tan của monoglycerid trong dung môi metanol với tỷ lệ
1:3 hay trong dung môi etanol với tỷ lệ 1:4
b) Đa tụ:
Sau khi giai đoạn chuyển hóa monoglycerid hoàn tất thì anhydric phtalic được
đưa vào để tiến hành phản ứng đa tụ với các nhóm OH tự do cho đến khi nhựa đạt
đến chỉ số acid và độ nhớt cần thiết Giai đoạn này có thể chia ra làm 2 bước sau:
• Bước 1: tạo monoester
thăng hoa, trong bước này không tạo sản phẩm phụ
Quá trình phản ứng xảy ra như sau:
O
CH2CH
CH2 OCOROH
O
COOH
• Bước 2: đa tụ sâu
Đây là giai đoạn tăng trọng lượng phân tử do tác dụng của các monoester đã
hình thành Phản ứng kết thúc khi nhựa đạt chỉ số acid và độ nhớt cần thiết Phương
trình xảy ra như sau:
+ nH2O
n
n
Trang 32Giai đoạn này tạo ra sản phẩm phụ là H2O, do đó pha dung môi tạo đẳng phí với
ứng tạo nhựa có chỉ số acid và độ nhớt thích hợp, thời gian phản ứng vừa phải Nếu
tăng nhanh nhưng dễ xảy ra gel hóa và khó khống chế phản ứng Ngoài ra nhiệt độ
quá cao sẽ xảy ra các phản ứng phụ ( trùng hợp đóng rắn nội phân tử) làm giảm tính
chất cơ lý của sản phẩm
Sản phẩm nhựa alkyd biến tính dầu được xem là hoàn tất khi chỉ số acid đạt
khoảng < 20 và có độ nhớt thích hợp
II.2.3.3Phương pháp acid hóa:
Phương pháp này chủ yếu dùng cho acid izophtalic Vì cũng như trường hợp
trên các nguyên liệu đầu ( glycerin, izophtalic, dầu) cũng không có khả năng trộn
cho đến độ đồng đều hoàn toàn Tiếp đó phản ứng tiến hành như các phương pháp
trên
Trong thực tế chủ yếu dùng 2 phương pháp đầu
II.2.4 Ứng dụng của nhựa alkyd:[5]
Nhựa alkyd dùng chế tạo sơn khô trong không khí bao giờ cũng biến tính với
dầu khô hay acid béo Dầu thông dụng nhất là dầu lanh, dầu đậu nành, dầu hạt cao
su, dầu chẩu Trong thực tế thường chia làm 2 loại chính: sơn quét cho công trình
xây dựng, sơn phun trong công nghiệp
a) Sơn dùng trong xây dựng:
Sơn alkyd bóng cho xây dựng thường có khoảng 65% dầu lanh hoặc dầu chẩu,
dầu dậu nành Dầu lanh cho độ bóng cao nhất, nhưng alkyd dầu lanh có xu hướng bị
vàng khi sử dụng, vì vậy khi làm sơn trắng phải dùng dầu đậu nành Tuy nhiên
màng sơn trên cơ sở dầu đậu nành nhanh chóng mất độ bóng, nhất là trong không
khí ẩm
Sơn mờ: đa số sơn mờ được chế tạo từ alkyd trùng hợp sâu khoảng 50% dầu
Polymer này khi hòa tan với white spirit cho một màng sơn không bóng lắm và là
chất tạo màng tốt cho sơn mờ Thường dùng dầu đậu nành
Trang 33b) Sơn chống gỉ:
Nhựa alkyd với 65% dầu lanh có thể dùng làm chất tạo màng cho sơn chống gỉ,
alkyd phải có một số yêu cầu sau: có chỉ số iod tương đối thấp để tránh phản ứng
giữa chất tạo màng và bột màu làm độ nhớt tăng nhanh trong khi bảo quản, có chỉ
số hydroxyl tương đối thấp để không bị quá nhạy với nước, nhưng cũng đủ để bột
màu khuếch tán tốt, có độ nhớt thấp để đảm bảo thấm ướt bề mặt vật liệu sơn
c) Sơn tàu biển:
Alkyd với 65% dầu đậu nành dùng để sơn bên trong tàu vì khả năng chịu nước
tốt và không bị vàng Thường nó dùng phối hợp với nhựa poly vinyl acetat clorua
Trang 34CHƯƠNG III: NHỰA TRÊN CƠ SỞ
POLYURETHANE
Khái niệm: Polyurethane là sản phẩm do polycyanate tác dụng với polyol
Trong công nghiệp sơn polyurethane chia làm 3 loại chính:
- Hệ hai cấu tử đóng rắn ở nhiệt độ thường
- Hệ 1 cấu tử với nhóm isocyanate tự do, khô ở nhiệt độ thường qua phản
ứng với hơi nước trong không khí hoặc dưới tác dụng của xúc tác ( amin bậc 3)
- Hệ một cấu tử với nhóm isocyanate đã được che chắn, khô ở nhiệt độ cao
II.1 NGUYÊN LIỆU :
II.1.1 Polyisocyanate:[11]
II.1.1.1 Các loại isocyanate dùng để chế tạo sơn:
Nói chung, tất cả các diisocyanate có trên thị trường đều quan trọng trong lĩnh
vực màng polyurethane Tuy nhiên đối với công nghệ màng sơn các dẫn xuất
diisocyanate có trọng lượng phân tử lớn hơn thì được ưa chuộng hơn trong sản xuất
và trong việc sử dụng sản phẩm Vì theo quan điểm vệ sinh công nghiệp các sản
phẩm sơn này an toàn hơn loại đi từ monodiisocyanate
Trong tất cả các loại isocyante thì TDI, HDI, IPPI, MDI được sử dụng phần lớn
trong công nghiệp sơn
TDI: Toluen diisocyante
Thường dùng sản phẩm TDI 80 chứa 80% 2,4 isomer và 20% 2,6 isomer
Dạng lỏng ở nhiệt độ phòng, mùi hắc,độc, trộn lẫn với eter, acetone, benzene, bị
phân hủy trong nước
Trang 35- IPPI: isophorone disocyanate
OCNTrừ MDI, các monodiisocyanate trên đều đã được biến tính Để có được các dẫn
xuất có trọng lượng phân tử cao hơn, người ta sử dụng nhiều phương pháp gia công
như: phương pháp cộng ( với tỷ lượng của isocyanate dư so với polyol); hình thành
biuret từ các diisocyanate và trime hóa diisocyanate để tạo thành isocyanate
Trang 36(b) Cyclopolymerzation
N
C N C
N C O
O O
R R
N C O
N C O
Từ nhiều diisocyanate ta có thể tạo ra các polyisocyanate thuộc loại
polyisocyanurate Như trên thị trường ta có thể tìm thấy hỗn hợp polyisocyanurate
đi từ TDI và HDI Thông qua phản ứng với nước, từ HDI có thể tạo ra các
polyisocynate trọng lượng phân tử cao hơn có chứa các nhóm biuret, loại này rất
quan trọng trong công nghiệp sơn
Hiện nay ta cũng tổng hợp các dẫn xuất từ IPPI
Trang 37Mặc dù các polyisocyanate điển hình trong lĩnh vực sơn thường ở dạng lỏng
nhưng chúng lại có đặc tính nhựa đặc trưng riêng Chúng chiếm 50 – 80% trong
dung dịch và có chứa 8 – 22% NCO ( tính trên hàm lượng rắn)
Polyol cũng ảnh hưởng rất lớn trong hệ, nhưng tính chất của màng sơn PU được
quyết định bởi polyisocyanate Điểm quan trọng trong công nghiệp sơn PU là tính
chất khác nhau của sản phẩm đi từ polyisocyanate vòng thơm hay đi từ aliphatic
Màng đi từ polyisocyanate vòng thơm thường bị hóa vàng khi tiếp xúc liên tục với
ánh sáng mà độ bóng bề mặt mất tương đối nhanh khi chịu thời tiết Ngược lại
màng đi từ polyisocyanate béo thì khá ổn định nhiệt và kháng thời tiết tốt Khả năng
phản ứng của polyisocyanate cũng khá quan trọng bởi vì thời gian khô và đóng rắn
thì chủ yếu phụ thuộc vào loại isocyanate được sử dụng Nhìn chung, các loại màng
từ polyisocyanate thơm thường khô nhanh hơn loại đi từ aliphatic
II.1.1.1 Các phản ứng của isocyanate:[11], [12], [16]
Một nhóm isocyanate sẽ phản ứng ngay với các hợp chất chứa 1 hydro linh
động Giải thích điều này là cấu trúc cộng hưởng của isocyanate
Hydro linh động phản ứng với liên kết đôi C = H, hydro linh động gắn với nitơ,
phần còn lại gắn vào cacbon
Các chất đồng phản ứng thường được sử dụng nhiều nhất trong công nghiệp sơn
Các alcohol bậc nhất sẽ phản ứng ngay ở nhiệt độ phòng trong khi alcol bậc 2
thì nhanh gấp 0.3 lần và bậc 3 nhanh gấp 0.005 lần Hiệu ứng che chắn không gian
làm giảm khả năng phản ứng Ví dụ triphenylcarbinol được xem như là không phản
ứng với các isocyanate
Các rượu thơm như phenol phản ứng đối với isocyanate chậm hơn nhiều, bởi có
tính acid nên hydro trong nhóm rượu (OH) Sự hiện diện của các nhóm mang điện
âm trong vòng thơm làm cho phản ứng chậm lại Mức độ phản ứng ở nhiệt độ
phòng quá chậm đến mức không thể thích hợp cho công thức sơn
Trang 38Ngược lại phản ứng với amin của isocyanate thì rất nhanh Amin bậc càng thấp
thì phản ứng càng xảy ra nhanh Amin béo bậc 1 có thể phản ứng nhanh hơn rượu
gấp 100 – 1000 lần, trong khi amin béo bậc 2 hoặc amin có vòng thơm bậc 1 thì
phản ứng kém hơn nhiều và amin vòng bậc 2 thì càng chậm hơn nữa
RNCO R'NH2 RNHCONHR'
ure RNCO R2'NH RNHCONR'2
Sau đó amin sẽ tiếp tục phản ứng với các nhóm isocyanate tự do để hình thành
polyure như trên
Có rất nhiều phản ứng với các hợp chất chứa các hydro hoạt động được biết đến,
kết quả của những phản ứng này là các polymer hình thành do một sự kết hợp giữa
RNCO R'OOH R- NH- C -OOR'
Trang 39II.1.2 Polyol:
Có 2 loại polyol có chứa nhóm hydroxyl khác nhau thường được sử dụng để
phản ứng với polyisocyanate: polyester, polyeter
II.1.1.1 Polyester polyol:
Thu được bởi các phản ứng của các ancol bậc 2,3 nhóm chức trên các acid như:
acid adipic, acid terephtalic và các acid carboxylic đa nhóm chức
Ngoài các loại polyester mạch thẳng và mạch nhánh, người ta còn sử dụng các
polyol đi từ dầu thực vật là các polyester biến tính bằng dầu thực vật như
monoglycerid dầu lanh, dầu thầu dầu, dầu cao su, dầu trẩu…
Kết hợp với các acid béo không no để đóng rắn trong không khí như nhựa alkyd
còn có nhóm hydroxyl
II.1.1.2 Polyeter polyol:
Là loại polyol mạch thẳng và có ít nhánh, trọng lượng phân tử khoảng 1000 –
2000 thường được ưa chuộng So với polyester polyol thì polyeter kháng thủy phân
cao hơn, tuy nhiên kháng phân hủy do oxi hóa thì thâp hơn
Thu được từ sự alcol hóa các diol ban đầu như etylen glycol, propylen glycol
hoặc các polyol như: trimetylolpropan, glycerol, pentaerythrytol, sorbitol…Các
aminopolete thu được bằng sự ancol hóa các amin mạch thẳng cũng rất thông dụng
trong công nghiệp
Hàm lượng hydroxyl trong polyol thay đổi từ 1 – 12% ( tính theo hàm lượng
rắn)
II.1.1.3 Sự lựa chọn các cấu tử:
Tỷ lệ trộn polyol và polyisocyanate dựa vào hàm lượng của các nhóm phản ứng
trong nguyên liệu đầu Xây dựng công thức sơn dựa trên việc xác định tính toán các
trọng lượng tương đương Mỗi nhóm OH sẽ ứng với một nhóm NCO Lượng
polyisocyanate cần thiết để có những tính chất tối ưu trong một ứng dụng đặc biệt
nào đó được xác định chủ yếu dựa vào thực nghiệm Trong thực tế tỷ lượng chính
xác hiếm khi được sử dụng
Độ phân nhánh của các chất đồng phản ứng có hàm lượng nhóm phản ứng cũng
như trạng thái vật lý của nguyên liệu thô có nhiều ảnh hưởng mạnh đến quá trình
xây dựng công thức cũng như tính chất màng sơn Hai chất đồng phản ứng mềm
Trang 40dẻo thì cho màng sơn mềm dẻo hơn so với hai chất giòn và cứng
Nhìn chung, khi tăng hàm lượng nhóm hydroxyl trong polyol thì được màng sơn
cứng hơn và kháng hóa học tốt hơn Ngược lại, polyol có hàm lượng hydroxyl thấp
thì màng sơn sẽ mềm dẻo hơn
Đối với cùng một loại polyol, có thể thay đổi cơ tính màng sơn bằng cách thay
đổi lượng isocyanate Với tỷ lệ NCO/OH <1, màng mềm dẻo, nhưng tính kháng hóa
học và dung môi kém hơn Ngược lại, NCO/OH>1 màng cứng hơn và kháng hóa
học cao hơn
II.2 Cơ chế tạo màng nhựa polyurethane :[11]
Các chất chứa nhóm isocyanate có khả năng phản ứng cao với nước, rượu, amin,
acid carboxylic, phenol và các hợp chất khác có chứa nguyên tử H linh động Khi
tác dụng isocyanate với nước và amin thì tạo ra dẫn xuất ure, với rượu thì tạo ra
Phản ứng tiếp tục cho đến khi đạt trọng lượng phân tử yêu cầu
II.2 Tổng hợp Alkyd - Polyurethane:[11]
Alkyd – urethane có thành phần tương tự nhu các nhựa alkyd thông thường,
trong đó một phần anhydric phtalic được thay thế bởi một loại diisocyanate Hệ như
vậy cũng còn được gọi là nhựa alkyd biến tính bằng isocyanate
Dầu cho phản ứng với triol để tạo thành di hoặc monoglycerid Tiếp đó là quá
trình chuyển ester và cuối cùng diisocyanate được cho vào Diisocyanate sẽ phản
ứng với các nhóm hydroxyl tự do