LỜI CẢM ƠN: Để hoàn thành được luận văn tốt nghiệp về công tác Bảo Hộ Lao Động tại nhà máy chế biến mủ Bến Súc thuộc công ty cao su Dầu Tiếng tỉnh Bình Dương em xin chân thành cảm ơn: B
Công ty cao su Viễn Đông
Công ty cao su CECO, tên thường gọi CECO, được thành lập năm 1910 và đặt trụ sở tại Paris CECO chủ yếu tham gia vào công tác khẩn hoang và canh tác đất ở Viễn Đông, với trọng tâm ở khu vực phía Đông.
Dự án trồng cao su do Dương điều hành ban đầu có vốn điều lệ 1.500.000 Phơ-răng, gồm 15.000 cổ phần, mỗi cổ phần 100 Phơ-răng Theo các ghi nhận tài chính, vốn điều lệ sau đó tăng lên theo các mốc thời gian: 4.500.000 Phơ-răng vào năm 1912, 6.000.000 Phơ-răng vào năm 1917, và 8.000.000 Phơ-răng vào năm 1928; đến tháng 08/1930 vốn được ghi nhận ở mức 3.000.000 Phơ-răng.
Công ty cao su Xuân Lộc
Thành lập năm 1911, trụ sở đóng tại Sài Gòn, chủ công ty là một người
Công ty De Babet của Pháp hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực trồng cây cao su và các loại cây công nghiệp khác Vốn điều lệ ban đầu là 360.000 USD, được phân thành 7.200 cổ phần, mỗi cổ phần có giá 50 USD Vào năm 1918, công ty phát hành bổ sung thêm 800 cổ phần, nâng tổng số cổ phần lên 8.000 và vốn điều lệ lên 400.000 USD.
Công ty cao su Tây Ninh
Được thành lập vào năm 1913, công ty có trụ sở tại Sài Gòn và hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh đồn điền cao su ở Tây Ninh Vốn ban đầu của công ty là 3.800.000 phơ-răng, được phát hành thành 38.000 cổ phần với mệnh giá 100 phơ-răng mỗi cổ phần Đến năm 1931, vốn điều lệ của công ty được tăng lên.
6.000.000 Phơ-răng, năm 1937 số vốn là 8.750.000 Phơ-răng.
Công ty cao su Đông Dương
Gọi tắt là công ty SIPH, thành lập năm 1906
1.1.7 Công ty cao su Mit xơ lanh ( Michelin )
Được thành lập năm 1917, công ty có trụ sở tại Dầu Tiếng và chuyên kinh doanh đồn điền cao su Hoạt động nằm trên vùng đất miền Đông Nam Bộ, sát rìa vùng đồng bằng.
Các công ty trên tuy vốn ngày càng tăng nhưng hoạt động trước Thế chiến I chỉ ở mức trồng thử chứ chưa đi vào khai thác với quy mô lớn Sau giải phóng, các công ty này được nhà nước tiếp quản và tiếp tục phát triển Dần dần, phần lớn trong số họ chuyển sang hình thức công ty cổ phần và kinh doanh rất hiệu quả, điển hình là Công ty cao su.
Dầu Tiếng (Michelin), Bình Long, Đồng Nai…
Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, cây cao su được đưa vào trồng ở Việt Nam, chủ yếu ở Nam Kỳ, nhưng quy mô trồng vẫn còn nhỏ và mức thu hoạch chưa cao Sau chiến tranh, công tác khai thác cao su ở Việt Nam do thực dân Pháp kiểm soát đã có bước ngoặt lớn: từ tình trạng cầm chừng chuyển sang đầu tư ồ ạt, bởi sau chiến tranh ngành công nghiệp Pháp cần nguồn cao su để phục vụ sản xuất.
Pháp vẫn nhập khẩu khoảng 100.000 tấn cao su mỗi năm và chưa tự chủ nguồn cung, phải lệ thuộc đế quốc Anh Nhận thấy nhu cầu cao của thị trường Pháp đối với cao su và nhận diện đây là một mặt hàng béo bở mang lại lợi nhuận lớn, giới tư bản thực dân đã đua nhau đầu tư vào ngành khai thác cao su Sự cạnh tranh và đầu tư mạnh mẽ này cho thấy cao su trở thành nguồn lực chiến lược trong hệ thống thuộc địa, thúc đẩy hoạt động khai thác và mở rộng thị trường của các đế chế.
Do đó sau chiến tranh ngành khai thác cao su ở nước ta đã phát triển rất mạnh
Nếu như cuối năm 1921 toàn Nam kỳ chỉ có 29.000 ha trồng cao su chủ yếu là ở
Biên Hòa, Bà Rịa và Thủ Dầu Một, với vốn ước lượng khoảng 40.000.000 Phơ-răng, cho thấy sau chiến tranh cơn sốt cao su đã đẩy vốn đầu tư vào ngành này tăng lên rõ rệt Sự gia tăng vốn đầu tư vào cao su ở ba địa phương chiến lược này phản ánh nhu cầu thị trường và sự tập trung nguồn lực công nghiệp, biến Biên Hòa, Bà Rịa và Thủ Dầu Một thành những điểm nhấn trong chu trình phát triển ngành cao su thời hậu chiến.
Trong giai đoạn 1925–1929, tổng số vốn bằng Phơ-răng lên tới 700.000.000 Phơ-răng được đầu tư cho ngành cao su Diện tích trồng cao su cũng tăng đáng kể: từ 29.000 ha năm 1921 lên 84.000 ha năm 1929 và đạt 127.707 ha vào năm 1930 Sản lượng mủ cao su thu được cũng tăng nhanh, từ khoảng 150–200 tấn năm 1914 lên một mức cao hơn sau đó.
10.309ha năm 1929 Ngoài Nam kỳ ra Trung kỳ cũng có 1871ha trồng cao su
Hiện nay nhiều vườn cao su lần lượt bị thanh lý và được thay thế bằng những vườn cây xanh tốt, mang lại năng suất cao cho khu vực Các công ty cao su đang không ngừng nghiên cứu và cho ra các giống cao su chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu cao su của khu vực và thế giới.
Bảng 1: Số mủ xuất cảng trong những năm 1920 –1925:
SỐ MỦ XUẤT CẢNG NĂM TẤN NĂM TẤN
(Lịch sử phong trào công nhân Dầu Tiếng 1917–1997)
1.2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ BHLĐ TRONG NGÀNH CAO SU
Cao su là một ngành đa dạng và phức tạp với điều kiện làm việc khắc nghiệt và tồn tại nhiều yếu tố nguy hiểm, độc hại như bụi, hơi khí độc, tiếng ồn, hoá chất và nhiệt độ cao có thể ảnh hưởng tới người lao động ngay từ lúc làm việc và lâu dài Do đó, nghiên cứu các biện pháp cải thiện điều kiện làm việc và loại bỏ các yếu tố nguy hiểm là rất cần thiết Để bảo vệ sức khỏe cho người lao động trong ngành cao su, đã có một số đề tài tập trung nghiên cứu về Bảo hộ lao động trong khuôn khổ nhánh đề tài cấp nhà nước 58.01 và 58A từ năm 1981–1991, nhằm đánh giá các yếu tố nguy cơ và đề xuất biện pháp quản lý, trang bị bảo hộ và cải tiến quy trình sản xuất.
Đề tài nghiên cứu 58.01.05.01 phân tích thống kê tình hình tai nạn lao động, tình hình bệnh tật, các yếu tố độc hại và điều kiện lao động nặng nhọc của công nhân ngành cao su nhằm đánh giá mức độ rủi ro, xác định các yếu tố nguy cơ chính và đề xuất biện pháp cải thiện an toàn lao động Nghiên cứu thu thập dữ liệu từ hồ sơ tai nạn, bệnh nghề nghiệp, đo lường yếu tố môi trường và điều kiện làm việc, sau đó xử lý bằng các phương pháp thống kê để mô tả xu hướng và phân tích mối liên hệ giữa yếu tố nguy cơ với kết quả sức khỏe Kết quả mong đợi là một bức tranh tổng quan về an toàn lao động trong ngành cao su, nhận diện các yếu tố độc hại như hóa chất và bụi, tiếng ồn, nhiệt độ và điều kiện lao động nặng nhọc như làm việc liên tục và cường độ cao, từ đó đề xuất các khuyến nghị quản lý rủi ro, giảm thiểu tai nạn và bệnh nghề nghiệp và nâng cao sức khỏe cho công nhân.
1.2.2 Đề tài nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật để cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân ngành cao su ( đề tài 58.01.05.02 )
Đề tài nghiên cứu 58A.03.03 nhằm đưa giày bảo hộ lao động vào sản xuất cho công nhân làm việc trên dây chuyền đi lô và nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật an toàn để phòng ngừa tai nạn lao động, đồng thời giảm nhẹ điều kiện làm việc cho công nhân sơ chế cao su Mục tiêu là nâng cao an toàn lao động và hiệu quả bảo hộ chân, cải thiện điều kiện làm việc thông qua thiết kế giày bảo hộ phù hợp với quy trình đi lô và đặc thù công việc liên quan đến cao su.
1.2.4 Đề tài nghiên cứu thuốc xoa muỗi cho công nhân khai thác mủ
Các đề tài nghiên cứu về ứng dụng trong ngành cao su được các công ty triển khai rất hiệu quả, góp phần cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân Điển hình là công nhân khai thác cao su được trang bị loại thuốc xoa chống muỗi, giúp ngăn ngừa muỗi đốt và tăng hiệu quả công việc.
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu: Khảo sát thực trạng công tác Bảo hộ lao động tại nhà máy, đánh giá hệ thống tổ chức quản lý công tác Bảo hộ lao động và tình hình triển khai các biện pháp an toàn trong quá trình tổ chức sản xuất; từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý an toàn, giảm thiểu rủi ro cho người lao động.
Thu thập và tổng hợp các số liệu về điều kiện làm việc, tình hình lao động, sức khỏe người lao động và bệnh nghề nghiệp của nhà máy chế biến mủ trong thời gian qua nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan cho quản lý và các bên liên quan Quá trình thu thập dữ liệu tập trung đánh giá mức độ an toàn của điều kiện làm việc, hiệu quả của quy trình lao động, tình trạng sức khỏe của công nhân và sự xuất hiện của bệnh nghề nghiệp Kết quả từ dữ liệu này giúp cải thiện an toàn lao động, quản lý rủi ro và nâng cao phúc lợi cho người lao động tại nhà máy.
Trong những năm vừa qua, thực trạng công tác An toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) cho thấy vẫn tồn tại nhiều thách thức liên quan đến điều kiện làm việc và mức độ tuân thủ ở một số đơn vị Kế hoạch thực hiện công tác ATVSLĐ được xây dựng và triển khai nhằm tăng cường nhận thức, nâng cao hiệu quả quản lý ATVSLĐ và cải thiện môi trường làm việc cho người lao động Tình hình cấp phát và sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân (PTBVCN) có tiến bộ nhưng vẫn còn khoảng trống về số lượng, chất lượng, thời hạn sử dụng và sự tuân thủ đúng quy định Việc cấp phát PTBVCN được thực hiện có hệ thống nhưng công tác kiểm tra, bảo dưỡng và phân bổ đồng bộ còn chưa đồng đều giữa các ngành, khu vực và cấp quản lý Dựa trên thực trạng này, các giải pháp đề ra tập trung vào tăng cường đầu tư cho thiết bị bảo hộ phù hợp, tăng cường đào tạo, tổ chức kiểm tra định kỳ và thực hiện thanh tra ATVSLĐ nhằm nâng cao hiệu quả của công tác ATVSLĐ và đảm bảo an toàn cho người lao động.
Bài viết tiến hành khảo sát thực trạng việc tổ chức thực hiện công tác Phòng cháy chữa cháy (PCCC) trong nhà máy, nhằm đánh giá mức độ sẵn sàng, hệ thống cơ sở vật chất và quy trình triển khai để nâng cao hiệu quả ứng phó sự cố cháy và giảm thiểu thiệt hại Đồng thời, nội dung tập trung vào công tác huấn luyện công nhân sử dụng các thiết bị chữa cháy để bảo đảm người lao động nắm vững thao tác an toàn và xử lý nhanh nhạy trong tình huống khẩn cấp Bài viết cũng xem xét phương án chữa cháy tại chỗ và tính khả thi của kế hoạch PCCC, từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện nhằm tối ưu hóa công tác phòng ngừa và ứng phó cháy trong nhà máy.
Khảo sát các yếu tố vi khí hậu ảnh hưởng đến điều kiện làm việc trong nhà máy
Tiến hành xử lý số liệu đã thu thập được và so sánh với các tiêu chuẩn quy định của nhà nước
Hệ thống lại các tài liệu, Văn bản pháp luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư,
Tiêu chuẩn có liên quan đến nhà máy và nhà máy đã thực hiện được những tài liệu nào