1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Pháp luật quốc tịch Việt Nam - những vấn đề pháp lý cơ bản " docx

10 421 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật quốc tịch Việt Nam - những vấn đề pháp lý cơ bản
Tác giả TS. Vũ Đức Long
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại bài báo
Năm xuất bản 1998
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 133,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống pháp luật quốc tịch Việt Nam hiện hành bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật sau: - Hiến pháp 1992 tại Điều 49 quy định: "Công dân nước Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam là ngư

Trang 1

Pháp luật quốc tịch Việt Nam

những vấn đề pháp lí cơ bản

TS Vũ Đức Long * uốc tịch là phạm trù chính trị - pháp

lí thể hiện mối quan hệ gắn bó, bền

vững về chính trị và pháp lí giữa nhà

nước và cá nhân, là căn cứ pháp lí duy

nhất để xác định công dân của một nhà

nước và trên cơ sở đó làm phát sinh

quyền và nghĩa vụ qua lại giữa nhà nước

và công dân Nói cách khác, về phương

diện quốc gia, quốc tịch gắn liền với cá

nhân mỗi con người từ khi sinh ra đến khi

chết, là tiền đề để họ hưởng quyền công

dân và gánh vác nghĩa vụ công dân trong

quan hệ với nhà nước mà mình mang

quốc tịch Về phương diện quốc tế, quốc

tịch vừa là dấu hiệu để phân biệt công

dân nước này với công dân nước khác với

các quy chế pháp lí khác nhau vừa là

quyền (dân sự) của con người được khẳng

định trong các văn kiện pháp lí quốc tế

quan trọng

Ngày nay, hầu hết các quốc gia đều

có văn bản pháp luật quy định về quốc

tịch của quốc gia mình Xuất phát từ mục

đích, lợi ích, tính chất giai cấp mà pháp

luật của các nước quy định về vấn đề

quốc tịch khác nhau, nhất là trên những

nguyên tắc cơ bản nhằm xác định có

quốc tịch, cho nhập, cho trở lại, cho thôi

quốc tịch và điều tiết các vấn đề khác về

quốc tịch

Việc Nhà nước ban hành pháp luật về

quốc tịch là biểu hiện cụ thể của chủ

quyền quốc gia, mang ý nghĩa chính trị -

xJ hội to lớn về mặt đối nội và đối ngoại

Trong khuôn khổ bài này, chúng tôi

xin đề cập hai vấn đề chủ yếu: Hệ thống

văn bản pháp luật về quốc tịch và nội dung cơ bản của Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998

I Hệ thống văn bản pháp luật quốc tịch Việt Nam

ở nước ta, ngay từ khi mới giành được

độc lập, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đJ ban hành các văn bản pháp luật (dưới hình thức sắc lệnh) quy định về quốc tịch Việt Nam Đó là Sắc lệnh số 53/SL ngày 20/10/1945 quy định quốc tịch Việt Nam, Sắc lệnh số 73/SL ngày 7/12/1945 quy định việc nhập quốc tịch Việt Nam, Sắc lệnh số 25/SL ngày 25/2/1946 sửa đổi Sắc lệnh số 53/SL quy định quốc tịch Việt Nam, Sắc lệnh số 215/SL ngày 20/8/1948

ấn định những quyền lợi đặc biệt cho những người nước ngoài giúp vào cuộc kháng chiến Việt Nam và Sắc lệnh số 51/SL ngày 14/12/1959 bJi bỏ Điều 5, 6 của Sắc lệnh

số 53/SL và Sắc lệnh số 25/SL quy định

về quốc tịch Việt Nam Như vậy, trước khi ban hành đạo luật đầu tiên về quốc tịch Việt Nam (28/6/1988), các sắc lệnh này đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc khai sinh ra chế định quốc tịch Việt Nam và kèm theo đó là chế định công dân Việt Nam đồng thời là cơ sở chính (sau các quy định của hiến pháp) xác

định địa vị pháp lí của công dân một nước

độc lập Quá trình thực hiện pháp luật về quốc tịch Việt Nam còn cho thấy các sắc

Q

* Vụ pháp luật quốc tế & hợp tác quốc tế

Bộ tư pháp

Trang 2

lệnh này đJ góp phần tích cực động viên

tinh thần và sức lực của cả cộng đồng dân

tộc Việt Nam tham gia vào hai cuộc

kháng chiến để bảo vệ Tổ quốc, giải

phóng đất nước

Luật quốc tịch Việt Nam được Quốc

hội thông qua ngày 28/6/1988 là đạo luật

đầu tiên của Nhà nước ta quy định khá

đầy đủ, thống nhất các vấn đề về quốc

tịch Việt Nam Tuy nhiên, vì được ban

hành vào thời kì đầu của công cuộc đổi

mới đất nước nên khi bước vào thời kì

đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,

hội nhập khu vực và quốc tế, các quy

định của Luật đJ có những hạn chế, bất

cập, không đáp ứng được các yêu cầu do

thực tiễn phát sinh ngày càng nhiều vấn

đề mới mẻ, phức tạp liên quan đến quốc

tịch Vì vậy, ngày 20/5/1998, Quốc hội

khóa X, kì họp thứ ba thông qua Luật

quốc tịch Việt Nam (Luật số

07/1998/QH10)

Hệ thống pháp luật quốc tịch Việt

Nam hiện hành bao gồm các văn bản quy

phạm pháp luật sau:

- Hiến pháp 1992 tại Điều 49 quy

định: "Công dân nước Cộng hòa x hội

chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch

Việt Nam"; Điều 50 quy định: "ở nước

Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam, các

quyền con người về chính trị, dân sự, kinh

tế văn hóa và x hội được tôn trọng, thể

hiện ở các quyền công dân và được quy

định trong hiến pháp và luật"; điểm 11

Điều 103 quy định Chủ tịch nước "quyết

định cho nhập quốc tịch Việt Nam, cho

thôi quốc tịch Việt Nam hoặc tước quốc

tịch Việt Nam"

- Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995

quy định tại Điều 41 quyền của mỗi cá

nhân đối với quốc tịch và ghi nhận: "Mỗi

cá nhân đều có quyền có quốc tịch Việc

công nhận, thay đổi, nhập quốc tịch Việt Nam được thực hiện theo điều kiện, trình

tự, thủ tục do pháp luật về quốc tịch"

- Luật quốc tịch Việt Nam ngày 20/5/1998, gồm lời nói đầu và 42 điều chia làm 6 chương: Chương I - Những quy định chung, Chương II - Có quốc tịch Việt Nam, Chương III - Mất quốc tịch Việt Nam, Chương IV - Thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên và của con nuôi, Chương V - Thẩm quyền và thủ tục giải quyết các vấn đề về quốc tịch và Chương VI - Điều khoản thi hành Đây là

đạo luật quy định tương đối toàn diện các vấn đề cơ bản về quốc tịch Việt Nam

- Nghị định số 104/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/12/1998 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật quốc tịch Việt Nam gồm 34 điều quy định chi tiết

và hướng dẫn một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam đồng thời quy định thủ tục, trình tự giải quyết việc xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, việc cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, xác nhận mất quốc tịch Việt Nam, tước quốc tịch Việt Nam

- Thông tư liên tịch số 09 ngày 31/12/1998 hướng dẫn mức thu, nộp, quản lí và sử dụng lệ phí giải quyết việc nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam và cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam

- Thông tư số 09/TT-Tp ngày 7/4/1999 hướng dẫn việc cấp giấy chứng nhận không có quốc tịch Việt Nam

- Quyết định số 06 QĐ/TT-QT ngày 7/4/1999 của Bộ trưởng Bộ tư pháp về việc ban hành mẫu giấy tờ về quốc tịch Việt Nam, trong đó quy định 19 loại mẫu giấy tờ

Ngoài ra, bộ phận quan trọng khác của hệ thống pháp luật quốc tịch Việt

Trang 3

Nam là điều ước quốc tế mà Nhà nước ta

đJ hoặc sẽ kí kết, trực tiếp điều tiết các

vấn đề về quốc tịch hoặc có liên quan tới

vấn đề quốc tịch, như hiệp định biên giới,

hiệp định về vấn đề nuôi con nuôi, công

ước quốc tế về hợp tác trong lĩnh vực nuôi

con nuôi, công ước về ngăn ngừa và hạn

chế tình trạng không quốc tịch, hiệp định

tương trợ tư pháp

Trước đây, công tác xây dựng văn bản

quy phạm pháp luật về quốc tịch và quản

lí các vấn đề quốc tịch do Bộ ngoại giao

chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành hữu

quan Từ năm 1993 đến nay, theo quy

định của Nghị định số 38/CP ngày

4/6/1993 tại khoản 4 Điều 2, Bộ tư pháp

được Chính phủ giao quản lí các công

việc về quốc tịch, trong đó bao gồm cả

việc giải quyết các vấn đề về quốc tịch và

xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật

về quốc tịch Cũng trong năm 1993, Bộ

ngoại giao và Bộ tư pháp đJ kí biên bản

bàn giao các hồ sơ quốc tịch Từ đó đến

nay, các công việc về quốc tịch do Bộ tư

pháp, sở tư pháp và một số cơ quan tư

pháp khác thực hiện Tuy nhiên, trước khi

Luật quốc tịch 1988 có hiệu lực, hầu như

phần lớn các vụ việc về quốc tịch do Bộ

tư pháp giải quyết, vai trò của ủy ban

nhân dân cấp tỉnh và sở tư pháp còn chưa

được đề cao Theo Điều 35 Luật quốc tịch

1998, thẩm quyền của ủy ban nhân dân

cấp tỉnh được mở rộng hơn nhiều so với

Luật quốc tịch năm 1988, chẳng hạn: ủy

ban nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn

"nhận và xem xét hồ sơ xin nhập, xin trở

lại và xin thôi quốc tịch Việt Nam, đề

nghị về việc giải quyết các hồ sơ đó; kiến

nghị việc tước quốc tịch Việt Nam và hủy

bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt

Nam; xét và cấp giấy chứng nhận có

quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất

quốc tịch Việt Nam"

II Nội dung cơ bản của Luật quốc tịch Việt Nam 1998

1 Những nguyên tắc cơ bản

a Quyền có quốc tịch

Điều 1 Luật quốc tịch 1998 quy định:

"ở nước Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quốc tịch Công dân Việt Nam không ai bị tước quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp quy

định tại Điều 25 của Luật này mọi thành viên của các dân tộc đều bình đẳng

về quyền có quốc tịch Việt Nam" Đây là quyền dân sự quan trọng của con người

đJ được ghi nhận trong Bộ luật dân sự Việt Nam Nguyên tắc này được đảm bảo thi hành bằng quy định tại các điều từ

Điều 14 đến Điều 19, thông qua đó quốc tịch Việt Nam của một người được xác

định ngay từ khi sinh ra theo nguyên tắc huyết thống hoặc kết hợp yếu tố nơi sinh với nguyên tắc huyết thống hay trên cơ sở

được tìm thấy trên lJnh thổ Việt Nam (đối với trẻ sơ sinh bị bỏ rơi và trẻ em tìm thấy trên lJnh thổ Việt Nam) Như vậy, một người sinh ra có cha mẹ đều là công dân Việt Nam hoặc có cha, mẹ đều là người không quốc tịch nhưng thường trú tại Việt Nam hay mẹ là người không quốc tịch nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam còn cha không rõ là ai hoặc trẻ sơ sinh bị

bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lJnh thổ Việt Nam thì người đó mặc nhiên có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt dân tộc, giới tính, tôn giáo, tín ngưỡng và địa vị xJ hội

b Nguyên tắc một quốc tịch Việt Nam

Điều 3 Luật quốc tịch 1998 quy định:

"Nhà nước Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam

có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam" Quy định này một mặt vẫn tiếp tục khẳng

Trang 4

định nguyên tắc một quốc tịch đJ được

ghi nhận trong các văn bản pháp luật về

quốc tịch của Nhà nước ta từ trước đến

nay, mặt khác noa được thể hiện mềm

dẻo, linh hoạt hơn so với quy định tại

Điều 3 của Luật quốc tịch năm 1988 ở

chỗ bỏ đi chữ "chỉ" và nó thể hiện quan

điểm thực tế hơn, rõ ràng hơn đối với vấn

đề hai quốc tịch Tuy nhiên, điểm khác

căn bản của Luật mới so với Luật năm

1988 về vấn đề này là ở biện pháp đảm

bảo thi hành Đảm bảo thi hành nguyên

tắc một quốc tịch, khoản 3 Điều 20 Luật

quốc tịch 1998 quy định: " công dân

nước ngoài được nhập quốc tịch Việt

Nam thì không còn giữ quốc tịch nước

ngoài, trừ trường hợp đặc biệt do Chủ

tịch nước quyết định" Như vậy, về

nguyên tắc có thể nói, công dân nước

ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam thì

trước đó phải thôi quốc tịch nước ngoài

của họ Đây được coi là quy định "cứng",

là điều kiện bắt buộc đối với công dân

nước ngoài khi xin nhập quốc tịch Việt

Nam Chỉ trong trường hợp đặc biệt, hJn

hữu được Chủ tịch nước cho phép thì

công dân nước ngoài mới được giữ lại

quốc tịch nước ngoài khi nhập quốc tịch

Việt Nam

c Nghĩa vụ của Nhà nước trong việc

bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài

Đây là nguyên tắc hiến định được cụ

thể hóa rất rõ và nhấn mạnh trong Luật

quốc tịch mới Điều 5 Luật quốc tịch mới

quy định các cơ quan nhà nước trong

nước, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ

quan lJnh sự Việt Nam ở nước ngoài có

trách nhiệm thi hành mọi biện pháp cần

thiết, phù hợp với pháp luật của nước sở

tại, pháp luật và tập quán quốc tế để thực

hiện sự bảo hộ đó

Cần lưu ý thêm về các quy định tại

Điều 6 và Điều 7 của Luật quốc tịch mới

về chính sách của Nhà nước Việt Nam

đối với người gốc Việt Nam và công dân Việt Nam ở nước ngoài Một mặt, Nhà nước có chính sách khuyến khích và tạo

điều kiện thuận lợi để người gốc Việt Nam ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình, quê hương, đất nước, góp phần xây dựng quê hương, đất nước; tạo điều kiện thuận lợi để những người bị mất quốc tịch Việt Nam được trở lại quốc tịch Việt Nam Mặt khác, đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài, lần đầu tiên pháp luật nước ta quy định rõ: Nhà nước có chính sách để họ có điều kiện hưởng các quyền công dân và làm các nghĩa vụ công dân của mình phù hợp với hoàn cảnh sống xa đất nước

2 Có quốc tịch Việt Nam Theo quy định tại Điều 14 Luật quốc tịch 1998, người có quốc tịch Việt Nam bao gồm người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày 1/1/1999 và người có quốc tịch Việt Nam từ ngày này theo quy

định của Luật ở trường hợp thứ nhất, người đang có quốc tịch Việt Nam cho

đến ngày 1/1/1999 bao gồm công dân Việt Nam ở trong nước và công dân Việt Nam ở nước ngoài, kể cả những người đJ nhập quốc tịch nước ngoài nhưng chưa thôi (mất) quốc tịch Việt Nam Trong trường hợp thứ hai, theo quy định tại Điều

15, một người được xác định là có quốc tịch Việt Nam nếu có một trong các căn

cứ là do sinh ra, do được nhập quốc tịch Việt Nam, do được trở lại quốc tịch Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Việt Nam

kí kết hoặc tham gia, do bị bỏ rơi hoặc

được tìm thấy trên lJnh thổ Việt Nam, do

được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi

Dưới đây, chúng tôi xin đề cập một số

Trang 5

căn cứ xác định một người có quốc tịch

Việt Nam

a Do sinh ra

Việc xác định quốc tịch Việt Nam của

một người do sinh ra được thực hiện trên

cơ sở nguyên tắc huyết thống và kết hợp

với nguyên tắc quyền nơi sinh - những

nguyên tắc cơ bản của luật quốc tịch được

đa số các nước áp dụng Luật mới quy

định các trường hợp có quốc tịch Việt

Nam do sinh ra như sau:

Thứ nhất, trẻ em khi sinh ra có cha mẹ

đều là công dân Việt Nam thì có quốc

tịch Việt Nam, không kể sinh ra ở trong

hay ngoài lJnh thổ Việt Nam (Điều 16)

Thứ hai, trẻ em khi sinh ra mà chỉ có

cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn

người kia là người không quốc tịch hoặc

trẻ em khi sinh ra chỉ có mẹ là công dân

Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì trẻ

em đó có quốc tịch Việt Nam, không kể

sinh ra ở trong hay ngoài lJnh thổ Việt

Nam (khoản 1 Điều 17)

Thứ ba, trẻ em khi sinh ra chỉ có cha

hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người

kia là công dân nước ngoài thì có quốc

tịch Việt Nam nếu cha mẹ thỏa thuận

bằng văn bản việc chọn quốc tịch Việt

Nam cho con (khoản 2 Điều 17)

Thứ tư, trẻ em sinh ra trên lJnh thổ

Việt Nam mà khi sinh có cha và mẹ đều

là người không quốc tịch nhưng có nơi

thường trú tại Việt Nam thì có quốc tịch

Việt Nam hoặc trẻ em sinh ra trên lJnh

thổ Việt Nam mà khi sinh có mẹ là người

không quốc tịch nhưng có nơi thường trú

tại Việt Nam còn cha không rõ là ai thì có

quốc tịch Việt Nam (khoản 1, 2 Điều 18)

Thứ năm, trẻ sơ sinh bị bỏ rơi và trẻ

em được tìm thấy trên lJnh thổ Việt Nam

mà không rõ cha mẹ là ai thì có quốc tịch

Việt Nam (khoản 1 Điều 19)

Quy định thứ tư và thứ năm dựa trên

nguyên tắc quyền nơi sinh đồng thời thể hiện tinh thần nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong việc đảm bảo quyền có quốc tịch của trẻ em để chúng không bị lâm vào tình trạng không quốc tịch (Điều 8)

b Nhập quốc tịch Việt Nam

Là hiện tượng một người vốn không phải là công dân Việt Nam, nay có quốc tịch Việt Nam do được cho phép nhập quốc tịch Việt Nam Tất nhiên, cũng như

ở nhiều nước, việc nhập quốc tịch Việt Nam phải tuân theo những quy định hết sức chặt chẽ về điều kiện và trình tự, thủ tục giải quyết Cụ thể như sau:

- Về điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam

Theo quy định tại Điều 20 Luật quốc tịch 1998, công dân nước ngoài và người không quốc tịch xin nhập quốc tịch Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện sau: Thứ nhất, về nguyên tắc phải là người

đang thường trú tại Việt Nam vào thời

điểm xin nhập

Thứ hai, phải có năng lực hành vi dân

sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam (Điều 21 Bộ luật dân sự) Tất nhiên, quy định này chỉ áp dụng trong trường hợp đương sự là người trực tiếp làm đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam (không áp dụng đối với con chưa thành niên, nếu họ xin nhập quốc tịch Việt Nam cho cả những người này)

Thứ ba, phải tuân thủ hiến pháp, pháp luật, tôn trọng truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam Nói cách khác, họ phải là người không có tiền án, đặc biệt trong thời gian cư trú tại Việt Nam và nhất là về các tội xâm hại đến lợi ích an ninh quốc gia của Việt Nam, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam Thứ tư, phải đảm bảo điều kiện về

Trang 6

trình độ tiếng Việt, am hiểu văn hóa, lịch

sử và pháp luật của Việt Nam, đủ để hòa

nhập vào cộng đồng xJ hội Việt Nam

Thứ năm, phải đảm bảo điều kiện về

thời gian thường trú tại Việt Nam ít nhất

là 5 năm Để chứng tỏ điều này, trong hồ

sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam của

đương sự cần phải có giấy chứng nhận

thường trú tại Việt Nam hoặc giấy của ủy

ban nhân dân cấp xJ nơi người đó thường

trú, xác nhận về thời gian thường trú của

họ tại Việt Nam

Thứ sáu, phải có khả năng thực tế

đảm bảo cuộc sống tại Việt Nam Trong

hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam của

người nước ngoài phải có giấy của ủy ban

nhân dân cấp xJ nơi người đó thường trú

xác nhập về việc người đó có chỗ ở, việc

làm, thu nhập hợp pháp hoặc tình trạng

tài sản tại Việt Nam

Cuối cùng, trong hồ sơ xin nhập quốc

tịch Việt Nam của công dân nước ngoài

phải có văn bản cam kết về việc từ bỏ

quốc tịch nước ngoài khi được nhập quốc

tịch Việt Nam Như trên đJ trình bày, đây

được coi là điều kiện bắt buộc đối với

công dân nước ngoài xin nhập quốc tịch

Việt Nam Công dân nước ngoài được

nhập quốc tịch Việt Nam phải từ bỏ quốc

tịch nước ngoài, trừ trường hợp được Chủ

tịch nước cho phép giữ quốc tịch nước

ngoài Tuy nhiên, người đó phải cam kết

rằng việc giữ quốc tịch nước ngoài sẽ

không cản trở việc thực hiện quyền và

nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam

- Vấn đề miễn, giảm điều kiện nhập

quốc tịch Việt Nam

ở trên, chúng ta đJ đề cập 7 điều kiện

chung áp dụng cho người nước ngoài xin

nhập quốc tịch Việt Nam So với quy định

của Luật quốc tịch năm 1988 thì số lượng

các điều kiện có nhiều hơn, chặt chẽ hơn

nhưng rõ ràng là mang tính khả thi hơn,

dễ thực hiện và áp dụng

Mặt khác, theo quy định tại khoản 2

Điều 20 Luật quốc tịch mới, việc miễn, giảm điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam

được áp dụng cho 3 đối tượng:

Thứ nhất, người có cha, mẹ, vợ, chồng, con là công dân Việt Nam hoặc người có công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thì được giảm 2 năm thường trú tại Việt Nam và được miễn các điều kiện về trình độ tiếng Việt và khả năng đảm bảo cuộc sống tại Việt Nam (đối tượng 1 và 2);

Thứ hai, trong trường hợp cá biệt, việc nhập quốc tịch Việt Nam của người nước ngoài rõ ràng sẽ có lợi đặc biệt cho sự phát triển kinh tế - xJ hội, khoa học, an ninh quốc phòng của nước Cộng hòa xJ hội chủ nghĩa Việt Nam thì được miễn cả

3 điều kiện về thời gian thường trú tại Việt Nam, về trình độ tiếng Việt và khả năng đảm bảo cuộc sống tại Việt Nam (đối tượng 3)

Tuy nhiên, những người được miễn, giảm điều kiện trên đây phải nộp giấy tờ chứng minh họ thuộc diện được miễn, giảm đó

Sau khi được Chủ tịch nước kí quyết

định cho nhập quốc tịch Việt Nam, kể từ thời điểm quyết định đó có hiệu lực pháp luật, người đó trở thành công dân Việt Nam và được hưởng đầy đủ các quyền, lợi ích hợp pháp cũng như gánh vác các nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định của Hiến pháp và pháp luật trên cơ sở bình

đẳng như mọi công dân Việt Nam khác

c Trở lại quốc tịch Việt Nam

Là hiện tượng một người vốn trước

đây đJ từng có quốc tịch Việt Nam song vì lí do nào đó bị mất quốc tịch Việt Nam, nay muốn xin trở lại quốc tịch Việt Nam, tiếp tục làm công dân Việt Nam

Trang 7

Pháp luật của một số nước còn gọi đó là

trường hợp phục hồi quốc tịch Xét về bản

chất, việc trở lại quốc tịch hay việc phục

hồi quốc tịch đều là một, chỉ khác nhau

về cách gọi Trở lại quốc tịch Việt Nam là

hiện tượng bình thường Như chúng ta đJ

biết, hiện nay có nhiều người vì lí do sinh

sống mà phải nhập quốc tịch nước ngoài

nhưng theo pháp luật nước đó, công dân

Việt Nam bắt buộc phải thôi (từ bỏ) quốc

tịch Việt Nam mới được nhập quốc tịch

của họ (ví dụ như Lào, Nhật Bản, CHLB

Đức) Sau này, những người này muốn

hồi hương về Việt Nam và xin trở lại

quốc tịch Việt Nam thì theo quy định của

Luật quốc tịch mới, Nhà nước ta sẽ tạo

điều kiện thuận lợi cho họ được trở lại

quốc tịch Việt Nam

Căn cứ quy định tại Điều 21 Luật

quốc tịch mới, những người thuộc một

trong các trường hợp sau đây có thể được

trở lại quốc tịch Việt Nam:

- Người có đơn xin hồi hương về Việt

Nam Luật quốc tịch mới không quy định

bắt buộc người đó phải hồi hương rồi mới

được trở lại quốc tịch Việt Nam mà chỉ

cần nộp đơn cho cơ quan đại diện ngoại

giao, cơ quan lJnh sự Việt Nam ở nước

ngoài hoặc ủy ban về người Việt Nam ở

nước ngoài (thuộc Bộ ngoại giao Việt

Nam) thể hiện nguyện vọng hồi hương là

đủ

- Người có vợ, chồng, con, cha, mẹ là

công dân Việt Nam Luật quốc tịch mới

không quy định những người này là cha

mẹ đẻ hay cha mẹ nuôi, con đẻ hay con

nuôi cũng như không quy định họ thường

trú ở đâu (ở trong nước hay ở nước ngoài)

vào thời điểm đương sự xin trở lại quốc

tịch Việt Nam Do đó, về nguyên tắc, có

thể hiểu những người ấy bao gồm cả cha

mẹ đẻ và cha mẹ nuôi, con đẻ và con

nuôi, không phụ thuộc vào nơi cư trú ở trong nước hay nước ngoài

- Người có công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

- Việc trở lại quốc tịch Việt Nam của người đó là có lợi cho Nhà nước Việt Nam

Trường hợp thứ ba và thứ tư trên đây

được hiểu tương tự như các quy định trong mục nhập quốc tịch Việt Nam Sau khi một người được Chủ tịch nước

kí quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam thì người đó trở thành công dân Việt Nam, được hưởng đầy đủ các quyền, lợi ích hợp pháp cũng như gánh vác nghĩa

vụ, trách nhiệm theo quy định của hiến pháp và pháp luật trên cơ sở bình đẳng như mọi công dân Việt Nam khác

3 Mất quốc tịch Việt Nam

Là hiện tượng một người (vốn có quốc tịch Việt Nam) không còn quốc tịch Việt Nam nữa do xin thôi quốc tịch Việt Nam,

bị tước quốc tịch Việt Nam, bị hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam hoặc bị mất quốc tịch Việt Nam theo điều

ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia Sau đây chúng tôi xin đề cập việc mất quốc tịch Việt Nam do xin thôi quốc tịch Việt Nam

Thôi quốc tịch Việt Nam là hiện tượng công dân Việt Nam bằng ý chí chủ quan của mình tự nguyện xin thôi (từ bỏ) quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài Có thể coi việc nhập quốc tịch nước ngoài (hoặc có quốc tịch nước ngoài) là lí do - động cơ duy nhất của việc cho thôi quốc tịch Việt Nam

Qua nghiên cứu luật quốc tịch của nhiều nước cho thấy, ở những nước chỉ thừa nhận 1 quốc tịch duy nhất thì thường

đặt ra những điều kiện hết sức khắt khe, chặt chẽ đối với việc xin nhập cũng như

Trang 8

xin thôi quốc tịch Một trong những điều

kiện đó là người xin nhập quốc tịch nước

ngoài phải từ bỏ quốc tịch gốc của mình

trước đó (hoặc đương nhiên mất quốc tịch

cũ nếu nhập quốc tịch mới) Đây được

xem là điều kiện bắt buộc cần và đủ để

được nhập quốc tịch Luật quốc tịch Việt

Nam giống luật quốc tịch các nước khác

ở chỗ coi việc được nhập quốc tịch nước

ngoài là lí do duy nhất để được thôi quốc

tịch Việt Nam (mục đích là tránh để họ

rơi vào tình trạng không quốc tịch)

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 24

Luật quốc tịch mới, công dân Việt Nam

chỉ được xem xét cho thôi quốc tịch Việt

Nam để nhập quốc tịch nước ngoài nếu

người đó không thuộc một trong các

trường hợp sau:

- Là người đang nợ thuế đối với Nhà

nước hoặc có nghĩa vụ tài sản đối với cơ

quan, tổ chức hoặc công dân Việt Nam;

- Là người đang bị truy cứu trách

nhiệm hình sự;

- Là người chưa chấp hành xong bản

án, quyết định của tòa án Việt Nam

Ngoài ra, cần nhấn mạnh thêm rằng,

trong mọi trường hợp, nếu việc thôi quốc

tịch Việt Nam của một người dẫn đến hậu

quả làm phương hại đến lợi ích quốc gia

của Việt Nam thì người đó không được

thôi quốc tịch Việt Nam Đồng thời, Luật

quốc tịch mới còn quy định cán bộ, công

chức và người đang phục vụ trong các lực

lượng vũ trang nhân dân (bao gồm bội đội

tại ngũ và công an) thì không được thôi

quốc tịch Việt Nam Trong mọi trường

hợp, những người này không thể từ bỏ

quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch

nước ngoài ở nhiều nước, pháp luật cũng

quy định tương tự, tức là cán bộ, công

chức và những người làm việc trong các

cơ quan nhà nước, hưởng lương ngân sách

nhà nước thì không được thôi quốc tịch

Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài

4 Các giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam

Đây là quy định mới so với Luật quốc tịch năm 1988 Điều 11 Luật quốc tịch

1988 quy định các giấy tờ được dùng làm căn cứ chứng minh quốc tịch Việt Nam bao gồm: Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, quyết định của Chủ tịch nước cho trở lại quốc tịch Việt Nam, giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu Việt Nam; giấy khai sinh của đương sự kèm theo giấy tờ chứng minh quốc tịch của cha mẹ, các giấy tờ khác do Chính phủ quy định

Trong các loại giấy tờ trên đây, chúng tôi đặc biệt lưu ý về giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam Theo quy định tại

Điều 22 của Luật quốc tịch 1998, công dân Việt Nam có quyền yêu cầu ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú ở trong nước hoặc cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lJnh sự Việt Nam tại nơi cư trú ở nước ngoài cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam Ngoài ra, còn một số giấy

tờ sau đây cũng được coi là căn cứ chứng minh quốc tịch Việt Nam:

- Quyết định công nhận nuôi con nuôi

đối với trẻ em là người nước ngoài Loại giấy này hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 30 của Luật quốc tịch

1998 (trẻ em là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi thì mặc nhiên có quốc tịch Việt Nam kể từ ngày được ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định công nhận việc nuôi con nuôi

đó);

- Giấy xác nhận đăng kí công dân do cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lJnh

sự Việt Nam cấp cho công dân Việt Nam

ở nước ngoài;

- Giấy tờ, tài liệu để chứng minh

đương sự là người có quốc tịch Việt Nam

Trang 9

Tạp chí luật học - 41

theo điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết

hoặc tham gia (phù hợp với quy định tại

khoản 4 Điều 15 của Luật quốc tịch

1998);

- Nếu đương sự yêu cầu cấp giấy

chứng nhận có quốc tịch Việt Nam mà

không có các giấy tờ nêu trên thì phải nộp

bản sao giấy khai sinh kèm theo bản sao

có chứng thực, sổ hộ khẩu gia đình hoặc

thẻ cử tri mới nhất Trong trường hợp

không có cả những loại giấy tờ đó thì có

thể nộp bản khai danh dự về ngày, tháng,

năm sinh, nơi sinh, quê quán, nơi cư trú

của bản thân; họ và tên, tuổi, quốc tịch,

nơi cư trú của cha mẹ và nguồn gốc gia

đình Bản khai danh dự này phải được ít

nhất 2 người biết rõ sự việc làm chứng và

được ủy ban nhân dân cấp xJ nơi đương

sự sinh ra xác nhận

Như vậy, các quy định trên đây hoàn

toàn phù hợp với nhu cầu do thực tiễn

phát sinh ngày càng nhiều yêu cầu của

người xin cấp giấy chứng nhận có quốc

tịch Việt Nam (để thực hiện những mục

đích chính đáng khác nhau như bổ sung

hồ sơ xin kết hôn, xin xuất cảnh )

Ngoài ra, Điều 27 của Luật quốc tịch

1998 còn quy định về việc đương sự có

thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm

quyền cấp giấy xác nhận mất quốc tịch

Việt Nam Đây là loại giấy tờ được cấp

cho những người có đơn yêu cầu và

chứng minh được rằng họ đJ từng có

quốc tịch Việt Nam nhưng bị mất (xin

thôi, bị tước quốc tịch ) Trình tự, thủ

tục cấp loại giấy tờ này được thực hiện

tương tự như việc cấp giấy chứng nhận có

quốc tịch Việt Nam

5 Quản lí nhà nước về quốc tịch

Việt Nam

Đây là vấn đề hoàn toàn mới so với

Luật quốc tịch năm 1988 Nội dung quản

lí nhà nước về quốc tịch được quy định tại

Điều 12 Luật quốc tịch mới và được cụ thể hóa tại Chương V (từ Điều 31 đến

Điều 40) về thẩm quyền và thủ tục giải quyết các vấn đề quốc tịch Có thể nói,

đây là lần đầu tiên luật quy định một cách

rõ ràng, thống nhất về hệ thống cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến các vấn đề về quốc tịch Việt Nam (bao gồm Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, các bộ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan

đại diện ngoại giao, lJnh sự Việt Nam ở nước ngoài) Về vấn đề này, chúng tôi xin lưu ý 2 điểm như sau:

Thứ nhất, theo quy định tại Điều 35 Luật quốc tịch mới, ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lí nhà nước về quốc tịch tại địa phương mình, có thẩm quyền tiếp nhận đơn và hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, xem xét, kiến nghị việc giải quyết các hồ sơ đó

Riêng đối với việc xin cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam, ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền trực tiếp cấp các loại giấy tờ này theo đơn yêu cầu của đương sự

Thứ hai, sở tư pháp là cơ quan giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lí nhà nước về quốc tịch tại địa phương cũng như trong việc tiếp nhận hồ sơ, nghiên cứu, đề xuất ý kiến của ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết các hồ sơ

xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam; giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc giải quyết đơn xin cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận quốc tịch Việt Nam

Nhằm thực hiện cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết

đơn xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, xin cấp giấy chứng nhận

có quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam, tại Điều 38 Luật

Một số vấn đề cơ bản…

nằm trong việc bình luận và hệ thống hóa các quy phạm pháp luật hình sự để giải thích chúng và từ đó đưa ra các khái niệm pháp lí hình sự cơ bản;

+ Trong lĩnh vực tư pháp hình sự, việc giải thích "giáo điều" là bộ phận cấu thành không thể tách rời của hoạt động lập pháp hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự

c Phương pháp luật học phương pháp nghiên cứu các khái niệm

và các phạm trù cũng như các chế định

và các quy phạm của luật hình sự trong

Trang 10

quốc tịch mới đJ quy định cụ thể về thời hạn giải quyết các công việc này Thời hạn giải quyết đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam không quá 12 tháng, đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam, xin trở lại quốc tịch Việt Nam không quá 6 tháng, đơn xin cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam không quá 90 ngày kể từ ngày

ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lJnh sự nhận đủ

hồ sơ hợp lệ Quy định như vậy vừa rút ngắn thời gian giải quyết, đáp ứng nhanh chóng yêu cầu của đương sự vừa đảm bảo

có được thời gian dự phòng hợp lí cho việc thẩm tra lại hồ sơ nếu thấy cần thiết

Tóm lại, quốc tịch Việt Nam là vấn đề luôn có tính thời sự, nhạy cảm, dễ gây xúc động trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Cùng với sự phát triển của giao lưu quốc tế, trong tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực, ngày càng có nhiều người Việt Nam định cư ở nước ngoài trở về nước với nhiều mục đích khác nhau, trong đó có việc tham gia vào các hoạt động, dự án đầu tư tại Việt Nam thì nhu cầu giải quyết các vấn đề quốc tịch Việt Nam ngày càng phức tạp Chính vì vậy, việc ban hành Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 và các văn bản hướng dẫn thi hành đJ tạo ra cơ sở pháp lí thống nhất

để giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến quốc tịch Việt Nam./

Ngày đăng: 17/03/2014, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w