1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Về luật quốc tịch Việt Nam 1998" ppt

6 441 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Về luật quốc tịch Việt Nam 1998
Tác giả PTS. Vũ Hồng Anh
Người hướng dẫn Giảng viên Khoa Hành Chính - Nhà Nước
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 1998
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 87,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh nêu trên, nhằm khẳng định chủ quyền của Nhà nước Việt Nam, đề cao vinh dự và ý thức trách nhiệm của công dân trong việc hưởng quyền và thực hiện các nghĩa vụ công dân, tăn

Trang 1

Về luật quốc tịch

Việt Nam 1998

PTS Vũ Hồng Anh * uốc tịch thể hiện mối quan hệ giữa cá

nhân với một nhà nước nhất định

đồng thời là cơ sở pháp lí làm phát

sinh các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm

giữa công dân và nhà nước

Vấn đề quốc tịch gắn liền với vấn đề

độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia Bởi

vậy, ngay sau khi giành được độc lập dân

tộc, Hồ Chủ Tịch đ6 thay mặt Nhà nước

Việt Nam kí các sắc lệnh quy định về

quốc tịch Việt Nam Đó là Sắc lệnh số

53/SL ngày 20/10/1945, Sắc lệnh số

73/SL ngày 7/12/1945, Sắc lệnh số

215/SL ngày 20/8/1948, Sắc lệnh số

51/SL ngày 14/12/1959 Ngày 8/2/1971,

ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành

Nghị quyết số 1043/TVQH quy định bổ

sung về quốc tịch Việt Nam Sau khi đất

nước thống nhất, trên cơ sở Hiến pháp

1980, ngày 28/6/1988, Quốc hội nước

Cộng hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam đ6

thông qua Luật quốc tịch Việt Nam đầu

tiên Luật quốc tịch Việt Nam 1988 đ6

tạo cơ sở pháp lí đồng bộ cho việc giải

quyết các vấn đề liên quan đến quốc tịch

Việt Nam Từ năm 1986 đến nay, thực

hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà

nước, ngày càng có nhiều người Việt

Nam ra nước ngoài sống, làm việc, học

tập Ngược lại, số lượng người nước ngoài

đến Việt Nam làm việc, học tập và người

gốc Việt Nam trở về nước làm ăn, sinh

sống cũng ngày một tăng

Trong bối cảnh nêu trên, nhằm khẳng

định chủ quyền của Nhà nước Việt Nam,

đề cao vinh dự và ý thức trách nhiệm của

công dân trong việc hưởng quyền và thực hiện các nghĩa vụ công dân, tăng cường

sự gắn bó giữa Nhà nước Cộng hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam với mọi người Việt Nam, dù cư trú trong nước hay ngoài nước, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, x6 hội công bằng, văn minh, ngày 20/5/1998, Quốc hội nước Cộng hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam đ6 thông qua Luật quốc tịch Việt Nam 1998, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999

Luật quốc tịch Việt Nam gồm 6 chương với 42 điều Luật bổ sung thêm nhiều quy định mới mà Luật quốc tịch Việt Nam 1988 chưa đề cập ở Chương I

- Những quy định chung, một số thuật ngữ cơ bản được giải thích tại Điều 2 Luật quốc tịch Việt Nam 1998 phân biệt thuật ngữ "người Việt Nam ở nước ngoài" với thuật ngữ "người Việt Nam định cư ở nước ngoài" (khoản 3, 4 Điều 2) Cả hai thuật ngữ này đều bao hàm công dân Việt Nam và người gốc Việt ở nước ngoài Sự khác nhau giữa hai thuật ngữ là thời gian

ở nước ngoài của họ Nếu những cá nhân nói trên chỉ thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài thì được gọi là "người Việt Nam ở nước ngoài"; nếu họ cư trú, làm

ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài thì

được gọi là "người Việt Nam định cư ở nước ngoài" Tương tự như vậy, sự khác nhau giữa thuật ngữ "người nước ngoài cư trú ở Việt Nam" và “người nước ngoài thường trú tại Việt Nam" (khoản 5, 6

Q

Q

* Giảng viên Khoa hành chính - nhà nước Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

Điều 2) cũng được căn cứ trên cơ sở thời

gian cư trú ở Việt Nam của công dân

nước ngoài và người không quốc tịch

"Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam" là

công dân nước ngoài và người không

quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt

Nam Nếu những người này cư trú, làm

ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam thì họ là

"người nước ngoài thường trú ở Việt

Nam" Khoản 7 Điều 2 đề cập thuật ngữ

mới trong pháp luật Việt Nam - thuật ngữ

"dẫn độ" "Dẫn độ" là việc một nước

chuyển giao cho nước khác người có

hành vi phạm tội hoặc người bị kết án

hình sự mà bản án đ6 có hiệu lực pháp

luật đang có mặt trên l6nh thổ nước mình

để nước được chuyển giao truy cứu trách

nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt

đối với người đó Nhà nước Cộng hòa x6

hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ dẫn độ người

nước ngoài, người không quốc tịch cho

nước khác theo quy định của pháp luật

quốc tế hoặc hiệp định tương trợ tư pháp

song phương Đối với công dân Việt

Nam, Nhà nước Cộng hòa x6 hội chủ

nghĩa Việt Nam không dẫn độ cho nước

khác (đoạn 2 khoản 2 Điều 4)

Đặc biệt, Luật quốc tịch Việt Nam

1998 quy định mỗi cá nhân ở nước Cộng

hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam đều có

quyền có quốc tịch (khoản 1 Điều 1)

đồng thời khẳng định mọi thành viên của

các dân tộc sinh sống trên l6nh thổ Việt

Nam đều bình đẳng về quyền có quốc

tịch Việt Nam (khoản 2 Điều 1) Quyền

có quốc tịch của cá nhân ở nước Cộng

hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam được bảo

đảm bởi chính sách của Nhà nước Cộng

hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam tạo điều

kiện cho trẻ em sinh ra trên l6nh thổ Việt

Nam đều có quốc tịch và những người

không quốc tịch thường trú ở Việt Nam

được nhập quốc tịch Việt Nam (Điều 8)

Ngoài ra, Luật quốc tịch Việt Nam 1998 còn quy định cho công dân Việt Nam quyền không bị tước quốc tịch trừ trường hợp do luật này quy định (đoạn 2 khoản 1

Điều 1) Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài, người đ6 nhập quốc tịch Việt Nam dù cư trú ở trong hay ngoài l6nh thổ Việt Nam có thể bị tước quốc tịch Việt Nam nếu có hành động gây phương hại nghiêm trọng đến nền độc lập, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam hoặc đến uy tín của nước Cộng hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 25) Những quy định nêu trên phù hợp với

Điều 15 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 đồng thời là một trong những bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng quyền con người được ghi nhận trong Điều 50 Hiến pháp 1992 Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người gốc Việt Nam ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước, tạo điều kiện cho công dân Việt Nam ở nước ngoài có điều kiện hưởng quyền công dân và thực hiện nghĩa vụ công dân của mình phù hợp với hoàn cảnh sống xa đất nước, Điều 6, 7 Luật quốc tịch 1998 quy định chính sách của Nhà nước Cộng hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam đối với người gốc Việt Nam, công dân Việt Nam ở nước ngoài Ngoài

ra, Nhà nước còn có chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người đ6 mất quốc tịch Việt Nam được trở lại quốc tịch Việt Nam

Luật quốc tịch Việt Nam thừa nhận ưu thế của luật pháp quốc tế với pháp luật trong nước Theo quy định tại Điều 13, trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của Luật quốc tịch Việt Nam thì

Trang 3

áp dụng quy định của điều ước quốc tế

đó Quy định này phản ánh xu thế phát

triển chung của pháp luật nội địa của các

nước trên thế giới

Điều 11 Luật quốc tịch Việt Nam

1998 quy định: Để chứng minh người có

quốc tịch Việt Nam phải căn cứ vào các

giấy tờ sau: Giấy chứng nhận có quốc

tịch Việt Nam, quyết định cho nhập quốc

tịch Việt Nam, quyết định cho trở lại

quốc tịch Việt Nam, giấy chứng minh

nhân dân, hộ chiếu Việt Nam, giấy khai

sinh của đương sự kèm theo giấy tờ

chứng minh quốc tịch Việt Nam của cha

mẹ nếu không có những giấy tờ nêu trên;

các giấy tờ khác do Chính phủ quy định

Theo quy định tại Điều 15, những giấy tờ

nói trên được cơ quan nhà nước có thẩm

quyền cấp trên cơ sở những căn cứ sau: 1)

Do sinh ra; 2) Được nhập quốc tịch Việt

Nam; 3) Được trở lại quốc tịch Việt Nam;

4) Theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa x6

hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham

gia; 5) Các căn cứ khác theo quy định tại

Điều 19, 28 Luật quốc tịch Việt Nam

1998 Những căn cứ nêu trên đều đ6 được

Luật quốc tịch Việt Nam 1988 đề cập

Tuy nhiên, Luật quốc tịch Việt Nam 1998

có sửa đổi, bổ sung một số điểm trong

Luật quốc tịch Việt Nam 1988 Ví dụ:

Đối với căn cứ "do sinh ra", khoản 2 Điều

6 Luật quốc tịch Việt Nam 1988 cho phép

đứa trẻ có quốc tịch Việt Nam không kể

nó được sinh ra trong hay ngoài l6nh thổ

Việt Nam nếu đứa trẻ đó có cha hoặc mẹ

là công dân Việt Nam còn người kia là

người không quốc tịch hoặc không rõ là

ai Trong khí đó, Luật quốc tịch Việt

Nam 1998 tại khoản 1 Điều 17 chỉ cho

phép đứa trẻ nói trên có quốc tịch Việt

Nam nếu cha hoặc mẹ đứa trẻ là công dân

Việt Nam còn người kia là người không

quốc tịch hoặc mẹ là công dân Việt Nam

còn cha không rõ là ai; trường hợp cha hoặc mẹ đứa trẻ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì

đứa trẻ có quốc tịch Việt Nam nếu có thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ đứa trẻ vào thời điểm đăng kí khai sinh cho

đứa trẻ đó (khoản 2 Điều 17) Quy định này không ràng buộc bởi điều kiện nơi sinh của đứa trẻ, nơi thường trú của cha

mẹ đứa trẻ đồng thời cũng không mặc nhiên công nhận quốc tịch Việt Nam cho

đứa trẻ như quy định của khoản 3 Điều 6 Luật quốc tịch Việt Nam 1988 Trường hợp trẻ em sinh ra trên l6nh thổ Việt Nam

mà khi sinh có cha mẹ đều là người không quốc tịch nhưng có nơi thường trú

ở Việt Nam hoặc có mẹ là người không quốc tịch nhưng có nơi thường trú ở Việt Nam còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam (Điều 18 Luật quốc tịch Việt Nam 1998) Khoản 4 Điều 6 Luật quốc tịch Việt Nam 1988 chỉ đề cập trường hợp đầu, bỏ ngỏ trường hợp thứ hai; Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam

1998 đề cập vấn đề quốc tịch đứa trẻ

được tìm thấy trên l6nh thổ Việt Nam mà không rõ cha, mẹ là ai đồng thời có bổ sung quy định về quốc tịch của trẻ sơ sinh

bị bỏ rơi trên l6nh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thì những đứa trẻ

đó có quốc tịch Việt Nam Tuy nhiên, nếu đứa trẻ nói trên chưa đủ 15 tuổi mà tìm thấy cha mẹ đều có quốc tịch nước ngoài hay cha hoặc mẹ có quốc tịch nước ngoài hoặc người giám hộ có quốc tịch nước ngoài thì đứa trẻ đó không còn quốc tịch Việt Nam Đối với người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi thì phải được sự

đồng ý bằng văn bản của người đó (khoản

2 Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam 1998)

Điều 20 Luật quốc tịch Việt Nam

1998 quy định những điều kiện cao hơn,

Trang 4

chặt chẽ hơn so với Luật quốc tịch 1988

đối với công dân nước ngoài, người

không quốc tịch muốn nhập quốc tịch

Việt Nam Trước hết, đối tượng được xét

nhập quốc tịch Việt Nam phải là người

nước ngoài, người không quốc tịch đang

thường trú ở Việt Nam (Luật quốc tịch

1988 sử dụng thuật ngữ "đang cư trú")

Những đối tượng nói trên phải có năng

lực hành vi dân sự (Luật quốc tịch 1988

quy định từ 18 tuổi trở lên); không những

tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt

Nam mà còn phải tôn trọng truyền thống,

phong tục, tập quán của dân tộc Việt

Nam (Luật quốc tịch 1988 chỉ yêu cầu tự

nguyện tuân thủ Hiến pháp và pháp luật

Việt Nam); đ6 thường trú ở Việt Nam từ 5

năm trở lên, tức là cá nhân nói trên phải

có chỗ ở thường xuyên tại Việt Nam và

phải có mặt thường xuyên ở Việt Nam ít

nhất trong thời gian 5 năm (Luật quốc

tịch 1988 chỉ quy định đ6 cư trú ở Việt

Nam ít nhất 5 năm); không những biết

tiếng Việt mà phải biết đủ để hòa nhập

vào cộng đồng x6 hội Việt Nam; có khả

năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam,

tức là phải có việc làm hoặc có nguồn thu

nhập hoặc được người khác bảo l6nh

(Luật quốc tịch 1988 không quy định

điều kiện này)

Công dân nước ngoài và người không

quốc tịch có thể được nhập quốc tịch Việt

Nam mà không phải có đủ 3 điều kiện

cuối nếu thuộc một trong những trường

hợp sau: Là vợ, chồng, con, cha hoặc mẹ

của công dân Việt Nam; có công lao

đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ tổ quốc Việt Nam; có lợi cho Nhà

nước Cộng hòa x6 hội chủ nghĩa Việt

Nam (điểm a, b, c khoản 2 Điều 20)

Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam 1998

quy định: "Nhà nước Cộng hòa x hội

chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân

Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam" Vì vậy, về nguyên tắc, người nước ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam phải từ bỏ quốc tịch trước đó của mình Tuy nhiên, khoản 3 Điều 20 trao cho Chủ tịch nước quyền quyết định những trường hợp đặc biệt người nước ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam mà vẫn giữ nguyên quốc tịch trước đó của mình Như vậy, trong một số trường hợp, cá nhân có thể vừa là công dân Việt Nam vừa là công dân nước ngoài Điều này sẽ gây khó khăn cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân và làm phát sinh nhiều vấn đề khác Để giải quyết tình trạng này,

Điều 41 Luật quốc tịch 1998 quy định:

"Căn cứ vào những nguyên tắc quy định trong Luật này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền kí kết với nước ngoài điều

ước quốc tế nhằm hạn chế tình trạng hai hoặc nhiều quốc tịch và giải quyết các vấn đề phát sinh từ tình trạng đó"

Luật quốc tịch Việt Nam 1998 bổ sung một số quy định về quốc tịch của con nuôi chưa thành niên Theo khoản 1

Điều 30, trẻ em là công dân Việt Nam

được người nước ngoài nhận làm con nuôi vẫn giữ quốc tịch Việt Nam (Luật quốc tịch Việt Nam 1988 cho phép đứa trẻ

được thôi quốc tịch Việt Nam theo đơn xin của cha mẹ nuôi); theo khoản 2 Điều

30, trẻ em là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi thì có quốc tịch Việt Nam kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận việc nuôi con nuôi (Luật quốc tịch Việt Nam 1988 không mặc nhiên công nhận quốc tịch Việt Nam của

đứa trẻ kể từ ngày được công nhận việc nuôi con nuôi mà yêu cầu cha, mẹ đứa trẻ phải làm đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam)

Trang 5

Thẩm quyền và thủ tục giải quyết các

vấn đề quốc tịch được quy định cụ thể tại

Chương V của Luật quốc tịch Việt Nam

1998 Theo quy định của Luật quốc tịch

Việt Nam 1998, Quốc hội có thẩm quyền

ban hành văn bản quy phạm pháp luật về

quốc tịch Việt Nam; giám sát tối cao việc

tuân theo pháp luật về quốc tịch Việt

Nam; phê chuẩn hoặc b6i bỏ điều ước

quốc tế mà Cộng hòa x6 hội chủ nghĩa

Việt Nam kí kết hoặc tham gia về quốc

tịch theo đề nghị của Chủ tịch nước (Điều

31) Chủ tịch nước có thẩm quyền cho

nhập quốc tịch Việt Nam; cho trở lại

quốc tịch Việt Nam; hủy bỏ quyết định

cho nhập quốc tịch Việt Nam; kí kết điều

ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng

hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam; quyết

định phê chuẩn hoặc tham gia điều ước

quốc tế về quốc tịch hoặc liên quan đến

quốc tịch, trừ trường hợp cần trình Quốc

hội quyết định (Điều 32) Chính phủ có

thẩm quyền trình Quốc hội, ủy ban

thường vụ Quốc hội các dự án luật, pháp

lệnh, nghị quyết về quốc tịch Việt Nam;

ban hành văn bản hướng dẫn thi hành

pháp luật về quốc tịch Việt Nam; trình

Chủ tịch nước quyết định việc cho nhập,

cho trở lại, cho thôi quốc tịch Việt Nam,

tước quốc tịch Việt Nam và hủy bỏ quyết

định cho nhập quốc tịch Việt Nam; trình

Chủ tịch nước quyết định việc kí kết điều

ước quốc tế nhân danh Nhà nước, phê

chuẩn hoặc tham gia điều ước quốc tế về

quốc tịch hoặc liên quan đến quốc tịch;

quyết định việc kí kết hoặc tham gia điều

ước quốc tế nhân danh Chính phủ về quốc

tịch hoặc liên quan đến quốc tịch; chỉ đạo

và hướng dẫn việc cấp giấy chứng nhận

có quốc tịch Việt Nam và giấy xác định

mất quốc tịch; tổ chức, chỉ đạo công tác

phổ biến, giáo dục pháp luật về quốc tịch

Việt Nam; thống kê nhà nước về quốc

tịch Việt Nam; thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền việc thực hiện pháp luật về quốc tịch Việt Nam; thực hiện hợp tác quốc tế về quốc tịch (Điều 33) Bộ tư pháp trong phạm vi thẩm quyền của mình giúp Chính phủ thực hiện những nhiệm

vụ quyền hạn quy định tại Điều 33; các

bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi thẩm quyền của mình phối hợp với Bộ tư pháp thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn về quốc tịch theo quy định của Chính phủ (Điều 34) ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền nhận và xem xét hồ sơ xin nhập, xin trở lại và xin thôi quốc tịch Việt Nam; đề nghị về việc giải quyết các hồ sơ đó; kiến nghị việc tước quốc tịch Việt Nam và việc hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam; xét và cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam (Điều 35) Cơ quan

đại diện ngoại giao, cơ quan l6nh sự của Việt Nam ở nước ngoài có thẩm quyền nhận và xem xét hồ sơ xin trở lại và xin thôi quốc tịch Việt Nam; trong trường hợp cá biệt nhận hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam; đề nghị về việc giải quyết các

hồ sơ đó; kiến nghị việc tước quốc tịch Việt Nam và việc hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam; xét và cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam (Điều

36 )

Các vấn đề về quốc tịch được giải quyết theo thủ tục sau:

Người xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, xin cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam trong nước thì nộp đơn cho ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi cư trú; ở nước ngoài thì nộp đơn tại cơ quan

đại diện ngoại giao, cơ quan l6nh sự của

Trang 6

Việt Nam Đối với trường hợp xin nhập,

xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam,

các cơ quan Nhà nước nói trên xem xét

hoàn tất hồ sơ rồi đề nghị Chính phủ về

việc giải quyết các hồ sơ đó Chính phủ

sẽ hoàn tất thủ tục và trình Chủ tịch nước

quyết định Thời hạn giải quyết đơn xin

nhập quốc tịch Việt Nam không quá 12

tháng, với đơn xin thôi quốc tịch Việt

Nam, xin trở lại quốc tịch Việt Nam

không quá 6 tháng kể từ ngày cơ quan

nhà nước có thẩm quyền nhận đủ hồ sơ

hợp lệ Quyết định cho nhập, cho trở lại,

cho thôi, tước quốc tịch Việt Nam và hủy

bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt

Nam được đăng trên công báo nước Cộng

hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam Đối với

trường hợp xin cấp giấy chứng nhận có

quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất

quốc tịch Việt Nam, ủy ban nhân dân

tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ

quan đại diện ngoại giao, cơ quan l6nh sự

của Việt Nam ở nước ngoài sẽ xét và cấp

trên cơ sở chỉ đạo và hướng dẫn của

Chính phủ trong thời hạn không quá 90

ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ

(Điều 37, 38, 39)

Khiếu nại đối với quyết định hành

chính, hành vi hành chính của bộ, cơ

quan ngang bộ, ủy ban nhân dân tỉnh,

thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan

đại diện ngoại giao, cơ quan l6nh sự của

Việt Nam ở nước ngoài và tố cáo đối với

những hành vi trái pháp luật trong việc

giải quyết các vấn đề về quốc tịch Việt

Nam được giải quyết theo quy định của

pháp luật về khiếu nại, tố cáo (khoản 1,

Điều 40)

Trường hợp xảy ra tranh chấp giữa cá

nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam

sẽ do tòa án giải quyết theo thủ tục giải

quyết các vụ án dân sự (khoản 2 Điều

40)./

Vấn đề đình chỉ…

(tiếp theo trang 48) theo nguyên tắc biểu quyết đa số Tuy nhiên, điều luật này không xác định rõ căn cứ để hội đồng xét xử ra quyết định Theo chúng tôi, điều này cũng gây không ít khó khăn cho việc áp dụng, bởi

lẽ nếu không xác định một cách cụ thể căn cứ để ra quyết định đình chỉ vụ án tại phiên tòa thì việc quy định quyền hạn nói trên của hội đồng xét xử có thể chỉ mang tính hình thức mà thôi Quá trình

điều tra, truy tố và xét xử là quá trình nhận thức các tình tiết khách quan của

vụ án và nếu tại phiên tòa, hội đồng xét

xử bằng hoạt động điều tra công khai, chính thức của mình mà phát hiện ra căn

cứ có thể làm chấm dứt việc tiến hành tố tụng đối với vụ án hoặc đối với bị cáo nào đó thì hội đồng xét xử có quyền ra quyết định đình chỉ vụ án Chúng tôi thấy rằng cần quy định cụ thể căn cứ để hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ

vụ án, chẳng hạn bổ sung vào BLTTHS

điều luật riêng về vấn đề này:

“Điều 173a: Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ vụ án trong các trường hợp sau đây:

a) Xác định được một trong các căn

cứ quy định tại các điểm 3, 4, 5, 6, 7

Điều 89 của Bộ luật này;

b) Khi có căn cứ quy định tại khoản

1 Điều 48 BLHS.”

Trên đây là một số ý kiến trao đổi xung quanh vấn đề quyết định đình chỉ

điều tra và đình chỉ vụ án mà cơ quan

điều tra, viện kiểm sát, tòa án có thẩm quyền quyết định trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Chúng tôi mong muốn góp ý kiến của mình vào quá trình sửa đổi, bổ sung BLTTHS của Nhà nước

ta hiện nay sao cho Bộ luật này ngày càng hoàn thiện, dễ áp dụng và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn./

Ngày đăng: 21/02/2014, 04:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w