Trong bối cảnh nêu trên, nhằm khẳng định chủ quyền của Nhà nước Việt Nam, đề cao vinh dự và ý thức trách nhiệm của công dân trong việc hưởng quyền và thực hiện các nghĩa vụ công dân, tăn
Trang 1Về luật quốc tịch
Việt Nam 1998
PTS Vũ Hồng Anh * uốc tịch thể hiện mối quan hệ giữa cá
nhân với một nhà nước nhất định
đồng thời là cơ sở pháp lí làm phát
sinh các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm
giữa công dân và nhà nước
Vấn đề quốc tịch gắn liền với vấn đề
độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia Bởi
vậy, ngay sau khi giành được độc lập dân
tộc, Hồ Chủ Tịch đ6 thay mặt Nhà nước
Việt Nam kí các sắc lệnh quy định về
quốc tịch Việt Nam Đó là Sắc lệnh số
53/SL ngày 20/10/1945, Sắc lệnh số
73/SL ngày 7/12/1945, Sắc lệnh số
215/SL ngày 20/8/1948, Sắc lệnh số
51/SL ngày 14/12/1959 Ngày 8/2/1971,
ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành
Nghị quyết số 1043/TVQH quy định bổ
sung về quốc tịch Việt Nam Sau khi đất
nước thống nhất, trên cơ sở Hiến pháp
1980, ngày 28/6/1988, Quốc hội nước
Cộng hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam đ6
thông qua Luật quốc tịch Việt Nam đầu
tiên Luật quốc tịch Việt Nam 1988 đ6
tạo cơ sở pháp lí đồng bộ cho việc giải
quyết các vấn đề liên quan đến quốc tịch
Việt Nam Từ năm 1986 đến nay, thực
hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà
nước, ngày càng có nhiều người Việt
Nam ra nước ngoài sống, làm việc, học
tập Ngược lại, số lượng người nước ngoài
đến Việt Nam làm việc, học tập và người
gốc Việt Nam trở về nước làm ăn, sinh
sống cũng ngày một tăng
Trong bối cảnh nêu trên, nhằm khẳng
định chủ quyền của Nhà nước Việt Nam,
đề cao vinh dự và ý thức trách nhiệm của
công dân trong việc hưởng quyền và thực hiện các nghĩa vụ công dân, tăng cường
sự gắn bó giữa Nhà nước Cộng hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam với mọi người Việt Nam, dù cư trú trong nước hay ngoài nước, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, x6 hội công bằng, văn minh, ngày 20/5/1998, Quốc hội nước Cộng hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam đ6 thông qua Luật quốc tịch Việt Nam 1998, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999
Luật quốc tịch Việt Nam gồm 6 chương với 42 điều Luật bổ sung thêm nhiều quy định mới mà Luật quốc tịch Việt Nam 1988 chưa đề cập ở Chương I
- Những quy định chung, một số thuật ngữ cơ bản được giải thích tại Điều 2 Luật quốc tịch Việt Nam 1998 phân biệt thuật ngữ "người Việt Nam ở nước ngoài" với thuật ngữ "người Việt Nam định cư ở nước ngoài" (khoản 3, 4 Điều 2) Cả hai thuật ngữ này đều bao hàm công dân Việt Nam và người gốc Việt ở nước ngoài Sự khác nhau giữa hai thuật ngữ là thời gian
ở nước ngoài của họ Nếu những cá nhân nói trên chỉ thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài thì được gọi là "người Việt Nam ở nước ngoài"; nếu họ cư trú, làm
ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài thì
được gọi là "người Việt Nam định cư ở nước ngoài" Tương tự như vậy, sự khác nhau giữa thuật ngữ "người nước ngoài cư trú ở Việt Nam" và “người nước ngoài thường trú tại Việt Nam" (khoản 5, 6
Q
Q
* Giảng viên Khoa hành chính - nhà nước Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2Điều 2) cũng được căn cứ trên cơ sở thời
gian cư trú ở Việt Nam của công dân
nước ngoài và người không quốc tịch
"Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam" là
công dân nước ngoài và người không
quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt
Nam Nếu những người này cư trú, làm
ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam thì họ là
"người nước ngoài thường trú ở Việt
Nam" Khoản 7 Điều 2 đề cập thuật ngữ
mới trong pháp luật Việt Nam - thuật ngữ
"dẫn độ" "Dẫn độ" là việc một nước
chuyển giao cho nước khác người có
hành vi phạm tội hoặc người bị kết án
hình sự mà bản án đ6 có hiệu lực pháp
luật đang có mặt trên l6nh thổ nước mình
để nước được chuyển giao truy cứu trách
nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt
đối với người đó Nhà nước Cộng hòa x6
hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ dẫn độ người
nước ngoài, người không quốc tịch cho
nước khác theo quy định của pháp luật
quốc tế hoặc hiệp định tương trợ tư pháp
song phương Đối với công dân Việt
Nam, Nhà nước Cộng hòa x6 hội chủ
nghĩa Việt Nam không dẫn độ cho nước
khác (đoạn 2 khoản 2 Điều 4)
Đặc biệt, Luật quốc tịch Việt Nam
1998 quy định mỗi cá nhân ở nước Cộng
hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam đều có
quyền có quốc tịch (khoản 1 Điều 1)
đồng thời khẳng định mọi thành viên của
các dân tộc sinh sống trên l6nh thổ Việt
Nam đều bình đẳng về quyền có quốc
tịch Việt Nam (khoản 2 Điều 1) Quyền
có quốc tịch của cá nhân ở nước Cộng
hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam được bảo
đảm bởi chính sách của Nhà nước Cộng
hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam tạo điều
kiện cho trẻ em sinh ra trên l6nh thổ Việt
Nam đều có quốc tịch và những người
không quốc tịch thường trú ở Việt Nam
được nhập quốc tịch Việt Nam (Điều 8)
Ngoài ra, Luật quốc tịch Việt Nam 1998 còn quy định cho công dân Việt Nam quyền không bị tước quốc tịch trừ trường hợp do luật này quy định (đoạn 2 khoản 1
Điều 1) Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài, người đ6 nhập quốc tịch Việt Nam dù cư trú ở trong hay ngoài l6nh thổ Việt Nam có thể bị tước quốc tịch Việt Nam nếu có hành động gây phương hại nghiêm trọng đến nền độc lập, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam hoặc đến uy tín của nước Cộng hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 25) Những quy định nêu trên phù hợp với
Điều 15 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 đồng thời là một trong những bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng quyền con người được ghi nhận trong Điều 50 Hiến pháp 1992 Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người gốc Việt Nam ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước, tạo điều kiện cho công dân Việt Nam ở nước ngoài có điều kiện hưởng quyền công dân và thực hiện nghĩa vụ công dân của mình phù hợp với hoàn cảnh sống xa đất nước, Điều 6, 7 Luật quốc tịch 1998 quy định chính sách của Nhà nước Cộng hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam đối với người gốc Việt Nam, công dân Việt Nam ở nước ngoài Ngoài
ra, Nhà nước còn có chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người đ6 mất quốc tịch Việt Nam được trở lại quốc tịch Việt Nam
Luật quốc tịch Việt Nam thừa nhận ưu thế của luật pháp quốc tế với pháp luật trong nước Theo quy định tại Điều 13, trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của Luật quốc tịch Việt Nam thì
Trang 3áp dụng quy định của điều ước quốc tế
đó Quy định này phản ánh xu thế phát
triển chung của pháp luật nội địa của các
nước trên thế giới
Điều 11 Luật quốc tịch Việt Nam
1998 quy định: Để chứng minh người có
quốc tịch Việt Nam phải căn cứ vào các
giấy tờ sau: Giấy chứng nhận có quốc
tịch Việt Nam, quyết định cho nhập quốc
tịch Việt Nam, quyết định cho trở lại
quốc tịch Việt Nam, giấy chứng minh
nhân dân, hộ chiếu Việt Nam, giấy khai
sinh của đương sự kèm theo giấy tờ
chứng minh quốc tịch Việt Nam của cha
mẹ nếu không có những giấy tờ nêu trên;
các giấy tờ khác do Chính phủ quy định
Theo quy định tại Điều 15, những giấy tờ
nói trên được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cấp trên cơ sở những căn cứ sau: 1)
Do sinh ra; 2) Được nhập quốc tịch Việt
Nam; 3) Được trở lại quốc tịch Việt Nam;
4) Theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa x6
hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham
gia; 5) Các căn cứ khác theo quy định tại
Điều 19, 28 Luật quốc tịch Việt Nam
1998 Những căn cứ nêu trên đều đ6 được
Luật quốc tịch Việt Nam 1988 đề cập
Tuy nhiên, Luật quốc tịch Việt Nam 1998
có sửa đổi, bổ sung một số điểm trong
Luật quốc tịch Việt Nam 1988 Ví dụ:
Đối với căn cứ "do sinh ra", khoản 2 Điều
6 Luật quốc tịch Việt Nam 1988 cho phép
đứa trẻ có quốc tịch Việt Nam không kể
nó được sinh ra trong hay ngoài l6nh thổ
Việt Nam nếu đứa trẻ đó có cha hoặc mẹ
là công dân Việt Nam còn người kia là
người không quốc tịch hoặc không rõ là
ai Trong khí đó, Luật quốc tịch Việt
Nam 1998 tại khoản 1 Điều 17 chỉ cho
phép đứa trẻ nói trên có quốc tịch Việt
Nam nếu cha hoặc mẹ đứa trẻ là công dân
Việt Nam còn người kia là người không
quốc tịch hoặc mẹ là công dân Việt Nam
còn cha không rõ là ai; trường hợp cha hoặc mẹ đứa trẻ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì
đứa trẻ có quốc tịch Việt Nam nếu có thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ đứa trẻ vào thời điểm đăng kí khai sinh cho
đứa trẻ đó (khoản 2 Điều 17) Quy định này không ràng buộc bởi điều kiện nơi sinh của đứa trẻ, nơi thường trú của cha
mẹ đứa trẻ đồng thời cũng không mặc nhiên công nhận quốc tịch Việt Nam cho
đứa trẻ như quy định của khoản 3 Điều 6 Luật quốc tịch Việt Nam 1988 Trường hợp trẻ em sinh ra trên l6nh thổ Việt Nam
mà khi sinh có cha mẹ đều là người không quốc tịch nhưng có nơi thường trú
ở Việt Nam hoặc có mẹ là người không quốc tịch nhưng có nơi thường trú ở Việt Nam còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam (Điều 18 Luật quốc tịch Việt Nam 1998) Khoản 4 Điều 6 Luật quốc tịch Việt Nam 1988 chỉ đề cập trường hợp đầu, bỏ ngỏ trường hợp thứ hai; Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam
1998 đề cập vấn đề quốc tịch đứa trẻ
được tìm thấy trên l6nh thổ Việt Nam mà không rõ cha, mẹ là ai đồng thời có bổ sung quy định về quốc tịch của trẻ sơ sinh
bị bỏ rơi trên l6nh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thì những đứa trẻ
đó có quốc tịch Việt Nam Tuy nhiên, nếu đứa trẻ nói trên chưa đủ 15 tuổi mà tìm thấy cha mẹ đều có quốc tịch nước ngoài hay cha hoặc mẹ có quốc tịch nước ngoài hoặc người giám hộ có quốc tịch nước ngoài thì đứa trẻ đó không còn quốc tịch Việt Nam Đối với người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi thì phải được sự
đồng ý bằng văn bản của người đó (khoản
2 Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam 1998)
Điều 20 Luật quốc tịch Việt Nam
1998 quy định những điều kiện cao hơn,
Trang 4chặt chẽ hơn so với Luật quốc tịch 1988
đối với công dân nước ngoài, người
không quốc tịch muốn nhập quốc tịch
Việt Nam Trước hết, đối tượng được xét
nhập quốc tịch Việt Nam phải là người
nước ngoài, người không quốc tịch đang
thường trú ở Việt Nam (Luật quốc tịch
1988 sử dụng thuật ngữ "đang cư trú")
Những đối tượng nói trên phải có năng
lực hành vi dân sự (Luật quốc tịch 1988
quy định từ 18 tuổi trở lên); không những
tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt
Nam mà còn phải tôn trọng truyền thống,
phong tục, tập quán của dân tộc Việt
Nam (Luật quốc tịch 1988 chỉ yêu cầu tự
nguyện tuân thủ Hiến pháp và pháp luật
Việt Nam); đ6 thường trú ở Việt Nam từ 5
năm trở lên, tức là cá nhân nói trên phải
có chỗ ở thường xuyên tại Việt Nam và
phải có mặt thường xuyên ở Việt Nam ít
nhất trong thời gian 5 năm (Luật quốc
tịch 1988 chỉ quy định đ6 cư trú ở Việt
Nam ít nhất 5 năm); không những biết
tiếng Việt mà phải biết đủ để hòa nhập
vào cộng đồng x6 hội Việt Nam; có khả
năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam,
tức là phải có việc làm hoặc có nguồn thu
nhập hoặc được người khác bảo l6nh
(Luật quốc tịch 1988 không quy định
điều kiện này)
Công dân nước ngoài và người không
quốc tịch có thể được nhập quốc tịch Việt
Nam mà không phải có đủ 3 điều kiện
cuối nếu thuộc một trong những trường
hợp sau: Là vợ, chồng, con, cha hoặc mẹ
của công dân Việt Nam; có công lao
đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ tổ quốc Việt Nam; có lợi cho Nhà
nước Cộng hòa x6 hội chủ nghĩa Việt
Nam (điểm a, b, c khoản 2 Điều 20)
Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam 1998
quy định: "Nhà nước Cộng hòa x hội
chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân
Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam" Vì vậy, về nguyên tắc, người nước ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam phải từ bỏ quốc tịch trước đó của mình Tuy nhiên, khoản 3 Điều 20 trao cho Chủ tịch nước quyền quyết định những trường hợp đặc biệt người nước ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam mà vẫn giữ nguyên quốc tịch trước đó của mình Như vậy, trong một số trường hợp, cá nhân có thể vừa là công dân Việt Nam vừa là công dân nước ngoài Điều này sẽ gây khó khăn cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân và làm phát sinh nhiều vấn đề khác Để giải quyết tình trạng này,
Điều 41 Luật quốc tịch 1998 quy định:
"Căn cứ vào những nguyên tắc quy định trong Luật này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền kí kết với nước ngoài điều
ước quốc tế nhằm hạn chế tình trạng hai hoặc nhiều quốc tịch và giải quyết các vấn đề phát sinh từ tình trạng đó"
Luật quốc tịch Việt Nam 1998 bổ sung một số quy định về quốc tịch của con nuôi chưa thành niên Theo khoản 1
Điều 30, trẻ em là công dân Việt Nam
được người nước ngoài nhận làm con nuôi vẫn giữ quốc tịch Việt Nam (Luật quốc tịch Việt Nam 1988 cho phép đứa trẻ
được thôi quốc tịch Việt Nam theo đơn xin của cha mẹ nuôi); theo khoản 2 Điều
30, trẻ em là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi thì có quốc tịch Việt Nam kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận việc nuôi con nuôi (Luật quốc tịch Việt Nam 1988 không mặc nhiên công nhận quốc tịch Việt Nam của
đứa trẻ kể từ ngày được công nhận việc nuôi con nuôi mà yêu cầu cha, mẹ đứa trẻ phải làm đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam)
Trang 5Thẩm quyền và thủ tục giải quyết các
vấn đề quốc tịch được quy định cụ thể tại
Chương V của Luật quốc tịch Việt Nam
1998 Theo quy định của Luật quốc tịch
Việt Nam 1998, Quốc hội có thẩm quyền
ban hành văn bản quy phạm pháp luật về
quốc tịch Việt Nam; giám sát tối cao việc
tuân theo pháp luật về quốc tịch Việt
Nam; phê chuẩn hoặc b6i bỏ điều ước
quốc tế mà Cộng hòa x6 hội chủ nghĩa
Việt Nam kí kết hoặc tham gia về quốc
tịch theo đề nghị của Chủ tịch nước (Điều
31) Chủ tịch nước có thẩm quyền cho
nhập quốc tịch Việt Nam; cho trở lại
quốc tịch Việt Nam; hủy bỏ quyết định
cho nhập quốc tịch Việt Nam; kí kết điều
ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng
hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam; quyết
định phê chuẩn hoặc tham gia điều ước
quốc tế về quốc tịch hoặc liên quan đến
quốc tịch, trừ trường hợp cần trình Quốc
hội quyết định (Điều 32) Chính phủ có
thẩm quyền trình Quốc hội, ủy ban
thường vụ Quốc hội các dự án luật, pháp
lệnh, nghị quyết về quốc tịch Việt Nam;
ban hành văn bản hướng dẫn thi hành
pháp luật về quốc tịch Việt Nam; trình
Chủ tịch nước quyết định việc cho nhập,
cho trở lại, cho thôi quốc tịch Việt Nam,
tước quốc tịch Việt Nam và hủy bỏ quyết
định cho nhập quốc tịch Việt Nam; trình
Chủ tịch nước quyết định việc kí kết điều
ước quốc tế nhân danh Nhà nước, phê
chuẩn hoặc tham gia điều ước quốc tế về
quốc tịch hoặc liên quan đến quốc tịch;
quyết định việc kí kết hoặc tham gia điều
ước quốc tế nhân danh Chính phủ về quốc
tịch hoặc liên quan đến quốc tịch; chỉ đạo
và hướng dẫn việc cấp giấy chứng nhận
có quốc tịch Việt Nam và giấy xác định
mất quốc tịch; tổ chức, chỉ đạo công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật về quốc tịch
Việt Nam; thống kê nhà nước về quốc
tịch Việt Nam; thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền việc thực hiện pháp luật về quốc tịch Việt Nam; thực hiện hợp tác quốc tế về quốc tịch (Điều 33) Bộ tư pháp trong phạm vi thẩm quyền của mình giúp Chính phủ thực hiện những nhiệm
vụ quyền hạn quy định tại Điều 33; các
bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi thẩm quyền của mình phối hợp với Bộ tư pháp thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn về quốc tịch theo quy định của Chính phủ (Điều 34) ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền nhận và xem xét hồ sơ xin nhập, xin trở lại và xin thôi quốc tịch Việt Nam; đề nghị về việc giải quyết các hồ sơ đó; kiến nghị việc tước quốc tịch Việt Nam và việc hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam; xét và cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam (Điều 35) Cơ quan
đại diện ngoại giao, cơ quan l6nh sự của Việt Nam ở nước ngoài có thẩm quyền nhận và xem xét hồ sơ xin trở lại và xin thôi quốc tịch Việt Nam; trong trường hợp cá biệt nhận hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam; đề nghị về việc giải quyết các
hồ sơ đó; kiến nghị việc tước quốc tịch Việt Nam và việc hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam; xét và cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam (Điều
36 )
Các vấn đề về quốc tịch được giải quyết theo thủ tục sau:
Người xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, xin cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam trong nước thì nộp đơn cho ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi cư trú; ở nước ngoài thì nộp đơn tại cơ quan
đại diện ngoại giao, cơ quan l6nh sự của
Trang 6Việt Nam Đối với trường hợp xin nhập,
xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam,
các cơ quan Nhà nước nói trên xem xét
hoàn tất hồ sơ rồi đề nghị Chính phủ về
việc giải quyết các hồ sơ đó Chính phủ
sẽ hoàn tất thủ tục và trình Chủ tịch nước
quyết định Thời hạn giải quyết đơn xin
nhập quốc tịch Việt Nam không quá 12
tháng, với đơn xin thôi quốc tịch Việt
Nam, xin trở lại quốc tịch Việt Nam
không quá 6 tháng kể từ ngày cơ quan
nhà nước có thẩm quyền nhận đủ hồ sơ
hợp lệ Quyết định cho nhập, cho trở lại,
cho thôi, tước quốc tịch Việt Nam và hủy
bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt
Nam được đăng trên công báo nước Cộng
hòa x6 hội chủ nghĩa Việt Nam Đối với
trường hợp xin cấp giấy chứng nhận có
quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất
quốc tịch Việt Nam, ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ
quan đại diện ngoại giao, cơ quan l6nh sự
của Việt Nam ở nước ngoài sẽ xét và cấp
trên cơ sở chỉ đạo và hướng dẫn của
Chính phủ trong thời hạn không quá 90
ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ
(Điều 37, 38, 39)
Khiếu nại đối với quyết định hành
chính, hành vi hành chính của bộ, cơ
quan ngang bộ, ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan
đại diện ngoại giao, cơ quan l6nh sự của
Việt Nam ở nước ngoài và tố cáo đối với
những hành vi trái pháp luật trong việc
giải quyết các vấn đề về quốc tịch Việt
Nam được giải quyết theo quy định của
pháp luật về khiếu nại, tố cáo (khoản 1,
Điều 40)
Trường hợp xảy ra tranh chấp giữa cá
nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam
sẽ do tòa án giải quyết theo thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự (khoản 2 Điều
40)./
Vấn đề đình chỉ…
(tiếp theo trang 48) theo nguyên tắc biểu quyết đa số Tuy nhiên, điều luật này không xác định rõ căn cứ để hội đồng xét xử ra quyết định Theo chúng tôi, điều này cũng gây không ít khó khăn cho việc áp dụng, bởi
lẽ nếu không xác định một cách cụ thể căn cứ để ra quyết định đình chỉ vụ án tại phiên tòa thì việc quy định quyền hạn nói trên của hội đồng xét xử có thể chỉ mang tính hình thức mà thôi Quá trình
điều tra, truy tố và xét xử là quá trình nhận thức các tình tiết khách quan của
vụ án và nếu tại phiên tòa, hội đồng xét
xử bằng hoạt động điều tra công khai, chính thức của mình mà phát hiện ra căn
cứ có thể làm chấm dứt việc tiến hành tố tụng đối với vụ án hoặc đối với bị cáo nào đó thì hội đồng xét xử có quyền ra quyết định đình chỉ vụ án Chúng tôi thấy rằng cần quy định cụ thể căn cứ để hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ
vụ án, chẳng hạn bổ sung vào BLTTHS
điều luật riêng về vấn đề này:
“Điều 173a: Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ vụ án trong các trường hợp sau đây:
a) Xác định được một trong các căn
cứ quy định tại các điểm 3, 4, 5, 6, 7
Điều 89 của Bộ luật này;
b) Khi có căn cứ quy định tại khoản
1 Điều 48 BLHS.”
Trên đây là một số ý kiến trao đổi xung quanh vấn đề quyết định đình chỉ
điều tra và đình chỉ vụ án mà cơ quan
điều tra, viện kiểm sát, tòa án có thẩm quyền quyết định trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Chúng tôi mong muốn góp ý kiến của mình vào quá trình sửa đổi, bổ sung BLTTHS của Nhà nước
ta hiện nay sao cho Bộ luật này ngày càng hoàn thiện, dễ áp dụng và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn./