1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Cuộc thi “tìm hiểu lịch sử và truyền thống cách mạng của nhân dân thanh hóa” năm 2022 bài số 2

20 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 4,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay sau khi thành lập Chi bộ Hàm Hạ, đồng chí Lê Thế Long cùng với những đồng chí của mình giương cao ngọn cờ cách mạng, phát triển phong trào đấu tranh trong Nhân dân.. Đến thời kỳ có

Trang 1

BÀI LÀM Cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử và truyền thống cách mạng

của nhân dân Thanh Hóa” năm 2022

Câu 1 (20 điểm): Hội nghị thành lập Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa cử Ban Chấp hành

Đảng bộ tỉnh gồm 03 đồng chí là những ai? Em hãy nêu những hiểu biết của mình về đồng chí Bí thư đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá.

Ngày 29-7-1930, đồng chí Nguyễn Doãn Chấp đã triệu tập 11 đại biểu của các Chi bộ Hàm Hạ, Thiệu Hóa, Thọ Xuân tiến hành hội nghị tại nhà đồng chí Lê Văn

Sỹ, làng Yên Trường (xã Thọ Lập, huyện Thọ Xuân) quyết định thành lập Đảng bộ

Thanh Hóa Hội nghị cử Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 3 đồng chí: Lê Thế Long, Vương Xuân Cát, Lê Văn Sỹ và cử đồng chí Lê Thế Long làm bí thư Hội

nghị đã thảo luận và quyết định nhiều chủ trương đối với phong trào cách mạng trong tỉnh

Đồng chí Lê Thế Long (1893 – 1936), sinh ra trong một gia đình nhà nho với nhiều

đời làm nghề dạy học, tại làng Hàm Hạ, tổng Kim Khê (nay là thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn) Đây là một làng có phong trào cách mạng rất sớm ở Thanh Hóa

Trang 2

Từ nhỏ, Lê Thế Long tỏ ra rất sáng dạ nên được ông và cha dạy dỗ học hành tấn tới Năm 1918, ông dự kỳ thi hương cuối cùng của khoa cử phong kiến, sau đó theo học trường Pháp - Việt và đậu tiểu học

Những năm đi học, Lê Thế Long có điều kiện tìm hiểu sách báo bí mật và những thông tin về các nhà yêu nước Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, đặc biệt là luồng gió mới Cách mạng Tháng Mười Nga Sau đó ông về quê tìm sách báo tài liệu tự học để nâng cao trình độ, đi dạy chữ nho và âm thầm tìm kiếm con đường cứu nước đúng đắn

Ngày 3-2-1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Tháng 4-1930, đồng chí Nguyễn Doãn Chấp, một đảng viên cộng sản quê xã Hoằng Giang, huyện Hoằng Hóa, được Xứ ủy Bắc kỳ cử về Thanh Hóa, chuẩn bị cho việc thành lập tổ chức đảng

Trang 3

Ngày 18-6-1930, đồng chí Nguyễn Doãn Chấp về làng Hàm Hạ bắt liên lạc, tuyên truyền, giác ngộ và kết nạp được 3 đồng chí vào Đảng Cộng sản Việt Nam là Lê Bá Tùng, Lê Oanh Kiều, Lê Thế Long Ngày 25-6-1930, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Doãn Chấp, hội nghị thành lập Chi bộ Hàm Hạ, chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của Thanh Hóa, đã được tiến hành tại nhà đồng chí Lê Oanh Kiều Hội nghị thống nhất bầu đồng chí Lê Thế Long làm Bí thư chi bộ Ngay sau khi thành lập Chi

bộ Hàm Hạ, đồng chí Lê Thế Long cùng với những đồng chí của mình giương cao ngọn cờ cách mạng, phát triển phong trào đấu tranh trong Nhân dân

Sự ra đời của Chi bộ Hàm Hạ (Đông Sơn) đã góp phần quan trọng thúc đẩy sự ra đời của Chi bộ Thiệu Hóa ngày 10-7-1930, đồng chí Vương Xuân Cát làm Bí thư; Chi bộ Thọ Xuân thành lập ngày 22-7-1930, đồng chí Lê Văn Sỹ được cử làm Bí thư Ba chi

bộ cộng sản đầu tiên ra đời đã tạo tiền đề để thành lập Đảng bộ Thanh Hóa Ngày 29-7-1930, tại nhà đồng chí Lê Văn Sỹ (làng Yên Trường, xã Thọ Lập, huyện Thọ Xuân), hội nghị thành lập Đảng bộ Thanh Hóa được tổ chức, bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 3 đồng chí, do đồng chí Lê Thế Long làm Bí thư Đảng bộ Thanh Hóa ra đời là sự kiện trọng đại, phong trào yêu nước cách mạng trong tỉnh từ đây bước sang thời kỳ Đảng Cộng sản lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối

Giữa lúc các tổ chức đảng, các tổ chức quần chúng và phong trào đấu tranh của Nhân dân toàn tỉnh đang trên đà phát triển thì Xứ ủy Bắc kỳ bị địch khủng bố Ngày 21 và 22-12-1930, binh lính kéo về lùng sục, truy bắt đảng viên trong tỉnh Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và đồng chí Lê Thế Long đã bị sa vào tay địch Cuối năm 1935, đồng chí Lê Thế Long cùng các đồng chí Lê Chủ, Trịnh Huy Quang, Bùi Đạt được trả tự

do và tiếp tục hoạt động Tháng 3-1936, nhận nhiệm vụ phân công của Đảng bộ, đồng chí Lê Thế Long đã tổ chức dạy chữ Quốc ngữ để tuyên truyền tinh thần yêu nước, giác ngộ cách mạng cho Nhân dân địa phương

Đang say sưa với nhiệm vụ cách mạng thì đồng chí Lê Thế Long ngã bệnh hiểm nghèo, do ảnh hưởng của những năm tháng hoạt động gian khó, bị địch bắt tù đày, tra khảo khiến sức lực suy kiệt Ngày 17 tháng 11 năm Bính Tý (tức 30-12-1936), đồng chí Lê Thế Long đã vĩnh viễn ra đi ở tuổi 43, độ tuổi chín muồi về lý tưởng cuộc đời Đảng bộ và Nhân dân Thanh Hóa mãi mãi ghi ơn người cộng sản kiên trung, Bí thư chi bộ đầu tiên ở Thanh Hóa và cũng là Bí thư Đảng bộ tỉnh đầu tiên, một trong những bậc tiền bối đã có công gây dựng nền móng của Đảng Cộng sản trên quê

hương Thanh Hóa

Câu 2 (20 điểm): Những địa danh sau: Hang Treo, Chiến khu Ngọc Trạo (thuộc

huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá) có liên quan đến sự kiện lịch sử quan trọng nào trong phong trào phản đế cứu quốc của tỉnh Thanh Hoá? Nêu tóm tắt nội dung

và ý nghĩa của sự kiện đó?

Cách đây 81 năm, ngày 19-9-1941, tại Hang Treo, đội du kích của chiến khu gồm 21 chiến sĩ, do đồng chí Đặng Châu Tuệ chỉ huy, được thành lập Đây là đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa Sự ra đời và hoạt động của Đội du kích Chiến khu Ngọc Trạo là đỉnh cao của phong trào khởi nghĩa vũ trang ở Bắc Trung bộ, là tiền thân của lực lượng vũ trang Thanh Hoá sau này Những chiến tích hào hùng và sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ du kích Ngọc Trạo là dấu son đậm

Trang 4

nét, tô thắm truyền thống bất khuất, kiên cường của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Thạch Thành nói riêng, tỉnh Thanh Hóa nói chung

Ngọc Trạo là một bản nhỏ của dân tộc Mường (vào thời kỳ 1940 - 1941) chỉ có 43 hộ với số dân là 215 người) ở về phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hoá Là vùng rừng núi, cách

xa tỉnh lị, nhưng lại tiếp giáp với nhiều huyện như Vĩnh Lộc, Hà Trung, Ninh Bình v.v Cho nên, từ đây có thể nhanh chóng liên lạc được với các vùng khác trong, ngoài tỉnh Hơn nữa, đây lại là nơi có truyền thống yêu nước và cách mạng kiên cường Từ năm 1886, đây là một vùng căn cứ của nghĩa quân Tống Duy Tân Nhân Ngọc Trạo đã tỏ rõ chí khí Cần Vương cứu nước Đến thời kỳ có Đảng lãnh đạo, Ngọc Trạo cũng là nơi sớm được truyền bá và giác ngộ lòng yêu nước và tư tưởng của chủ nghĩa Mác Lê Nin, giai đoạn 1936 - 1939, nhân dân Ngọc Trạo đã hăng hái tham gia các tổ chức quần chúng Cách mạng như “Hội tương tế ái hữu”; “Hội truyền

bá quốc ngữ”; “Hội đọc sách báo” v.v Cuốn sách “Vấn đề dân cày” của Qua Ninh

và Vân Đình (tức đồng chí Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp) đã được phổ biến sâu rộng ở đây Có thể nói, là vùng miền núi, nhưng phong trào đấu tranh dân chủ của Ngọc Trạo rất tiêu biểu Cuối năm 1939, khi phong trào dân chủ ở nhiều cơ sở cách mạng và nhiều vùng trong tỉnh bị khủng bố thì một số cán bộ cách mạng đã rút về đây để củng cố và duy trì phong trào

Giữa năm 1940, khi Đảng bộ Thanh Hoá bắt được liên lạc với xứ uỷ Bắc Kỳ, Trung Kỳ và được tiếp thu tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ 6

(Tháng11/1939), Tỉnh uỷ Thanh Hoá đã kịp thời chỉ đạo việc xây dựng các đoàn thể phản đế cứu quốc ở Ngọc Trạo Đầu năm 1941, các đoàn thể phản đế cứu quốc được củng cố và phát triển đều khắp, trên cơ sở ấy mà lực lượng tự vệ cứu quốc được thành lập Đến tháng 7/1941, Ngọc Trạo đã có 38 hội viên cứu quốc và có 18 tuần phu đã trở thành hội viên tự vệ cứu quốc Từ cơ sở Ngọc Trạo, phong trào phản đế cứu quốc ở huyện Thạch Thành đã phát triển lên một bước mới Tháng 3 năm 1941,

Trang 5

mặt trận phản đế cứu quốc huyện Thạch Thành được thành lập và tổ chức được nhiều cuộc đấu tranh có hiệu quả

Chiến khu du kích Ngọc Trạo

Giữa năm 1941, trong lúc phong trào ở các huyện Thiệu Hoá, Thọ Xuân đang bị kẻ thù uy hiếp thì vùng Thạch Thành, Vĩnh Lộc vẫn còn là nơi an toàn để tiếp tục phát triển phong trào Đặc biệt, cơ sở cách mạng ở Thạch Thành còn phát triển rộng ra đến vùng Phố Cát, Sơn Để giáp Ninh Bình

Phong trào cách mạng ở Ngọc Trạo và toàn huyện Thạch Thành lên mạnh Điều kiện thành lập một chiến khu đã chín mùi Do đó, đến đầu tháng 6 năm 1941, Tỉnh uỷ Thanh Hoá đã quyết định xây dựng chiến khu du kích đầu tiên tại vùng Ngọc Trạo Sau hội nghị đại biểu Đảng bộ Tỉnh tại làng Phong Cốc (xã Xuân Minh, Thiệu Hoá cũ), đầu tháng 6/1941 Tỉnh uỷ Thanh Hoá đã chọn Ngọc Trạo của huyện Thạch Thành làm điểm xây dựng chiến khu cách mạng của tỉnh nối liền các khu căn cứ Vĩnh Lộc, Hà Trung, Yên Định với xứ uỷ Bắc Kỳ Từ đây, công tác xây dựng chiến khu đã trở thành trọng tâm chỉ đạo của Tỉnh uỷ

Ngày 10/7/1941, mười một đội viên du kích ở các nơi trong tỉnh đã được chọn

về Ngọc Trạo để làm công tác chuẩn bị cho ban lãnh đạo chiến khu và cơ quan ấn loát về làm việc Lực lượng đầu tiên này đã nhanh chóng thâm nhập vào quần chúng

và thông qua công tác quần chúng để nắm bắt tình hình thật cụ thể, đồng thời tích cực tuyên truyền, giác ngộ tư tưởng cách mạng cho quần chúng để củng cố, phát triển các đoàn thể cứu quốc, nhất là đội tự vệ cứu quốc

Do việc thực hiện tốt phương châm cùng ăn, cùng ở, cùng làm, các chiến sĩ cách mạng này đã hoà nhập và gắn bó được với quần chúng Vì vậy mà tuyệt đại bộ phận quần chúng Ngọc Trạo đã hăng hái, tích cực tham gia xây dựng chiến khu Cuối tháng 7/1941, ban lãnh đạo chiến khu chính thức được thành lập (gồm các đồng chí Đặng Châu Tuệ - thường trực tỉnh uỷ phụ trách chung, đồng chí Trần Tiến Quân và Đặng Văn Hỉ - tỉnh uỷ viên phụ trách an toàn khu) Cơ quan Ấn loát của Tỉnh uỷ cũng được đưa về đây

Trang 6

Chiến khu đã hình thành, mọi hoạt đồng đều đặt dưới sự chỉ huy chặt chẽ và thống nhất của ban lãnh đạo chiến khu Nhân dân Ngọc Trạo phấn khởi, đặt tất cả niềm tin vào Đảng và cách mạng

Phong trào Ngọc Trạo phát triển đều khắp Toàn bộ hương chức của chính quyền thực dân phong kiến ở Ngọc Trạo nói riêng và cả tổng Trạc Nhật nói chung được cảm hoá đã ngả hẳn về lực lượng cách mạng Nhờ vậy mà địa bàn chiến khu nhanh chóng được mở rộng

Ban lãnh đạo chiến khu đã chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng lực lượng chính trị kết hợp với việc xây dựng lượng vũ trang cách mạng ra các vùng xung quanh Ngọc Trạo Chỉ trong một thời gian ngắn các làng Phan Long, Ban Long, Thạch Cừ, Dĩ Chế v.v đều

có các đội tự vệ cứu quốc hoạt động Toàn chiến khu đã khẩn trương bước vào học tập chính trị và luyện tập quân sự một cách sôi nổi và nền nếp Đội tự vệ Ngọc Trạo

đã lập 3 canh ở Mộ Cuôi (đầu làng), Ba Chạc (cuối làng) và xóm Đình (giữa làng)

Ba điểm này vừa là nơi canh gác, vừa là nơi liên lạc của cán bộ, chiến sĩ ra, vào chiến khu Đội tự vệ nam đảm nhận việc canh gác cẩn mật, còn đội tự vệ nữ thì chăm lo việc hậu cần Nói chung, toàn thể nhân dân Ngọc Trạo đã nhiệt tình che chở, động viên giúp đỡ cán bộ và chiến sĩ du kích như tình cá nước

Đầu tháng 9/1941, Ban lãnh đạo quyết định cử một số cán bộ về các cơ sở cách mạng trong tỉnh tuyển chọn thêm lực lượng du kích và vận động quần chúng quyên góp ủng

hộ chiến khu lương thực, thực phẩm và thuốc men Trong thời gian ngắn, chiến khu cũng đã nhận được sự chi viện tích cực của các địa phương trong tỉnh Lực lượng tự

vệ của các huyện Thọ Xuân, Thiệu Hoá, Yên Định, Vĩnh Lộc v.v cũng được tổ chức thành đơn vị để chờ lệnh lên đường tới chiến khu Mặt khác, Ban lãnh đạo còn

cử cán bộ đi liên lạc với xứ uỷ Bắc Kỳ xin vũ khí và cán bộ về Ngọc Trạo tham gia huấn luyện du kích

Do ảnh hưởng và hoạt động của chiến khu ngày càng mở rộng, cho nên kẻ thù cũng bắt đầu đánh hơi đến Tên tri huyện Thạch Thành Sầm Văn Kim đã lần mò về Ngọc Trạo để dò la tin tức Tên đồn trưởng Bỉm Sơn Đuy-mô-ra đã phái lính đến tuần tra Nhưng do sự đùm bọc và che chở của nhân dân, chiến khu Ngọc Trạo vẫn được bảo

vệ an toàn

Tuy vậy, để đánh lạc hướng do thám của kẻ địch, bảo đảm an toàn cho chiến khu, Ban lãnh đạo quyết định tạm dời lực lượng đến Hang Treo, cách Ngọc Trạo 12km về phía Tây bắc

Ngày 18/9/1941, lực lượng chiến khu đã đến Hang Treo một cách an toàn Công tác

tổ chức chiến khu được tiến hành một cách khẩn trương Và đến đêm ngày 19/9/1941 tại Hang Treo, trước ánh lửa hồng của ngọn đuốc cách mạng, đội du kích Ngọc Trạo đứng chỉnh tề dưới cờ Đảng quang vinh đã chính thức tuyên bố thành lập với tổng số

24 đội viên, phiên chế thành 3 tiểu đội, do đồng chí Đặng Châu Tuệ làm chỉ huy trưởng Tất cả mọi chiến sĩ đều tuyên thệ sẵn sàng hy sinh phấn đấu đến cùng cho sự

nghiệp giải phóng dân tộc Bài hát “Đời ta bấy lâu khổ rồi” được chọn làm bài “Đội ca”.

Sự ra đời của đội du kích Ngọc Trạo đánh dấu bước trưởng thành to lớn của tỉnh Thanh Hoá nói chung và ở huyện Thạch Thành nói riêng Từ nay, Đảng bộ và nhân dân đã có một lực lượng vũ trang thoát ly đầu tiên, làm nòng cốt cho phong trào đấu

Trang 7

tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang sau này Đây là một lực lượng có tổ chức chặt chẽ Tất cả đều mặc quần áo nông dân, có thêm túi dết, xà cạp xanh Mỗi chiến sĩ đều được trang bị một con dao nhọn, cán bộ được thêm một khẩu súng kíp Việc học tập chính trị, văn hoá và huấn luyện quân sự đều được tiến hành khẩn

trương và rất kỉ luật

Cơ quan Ấn loát của Tỉnh uỷ sau khi đưa về Hang Treo vẫn tiếp tục hoạt động Báo

“Tự Do” - cơ quan ngôn luận của tỉnh Đảng bộ vẫn được in để gửi về các cơ sở cách

mạng

Mặc dù gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng đội du kích Ngọc Trạo vẫn lớn lên nhanh chóng Các cơ sở cách mạng trong tỉnh và các tỉnh khác như Hà Nam Ninh, Nghệ Tĩnh, Thái Bình đã tập hợp các thanh niên giác ngộ cách mạng để gửi tới tăng cường cho chiến khu Chỉ trong vòng một tuần lễ, đội du kích đã có tới 40 đội viên Ngày 25/9/1941, nhận thấy Hang Treo nằm sâu trong rừng vắng giữa hai huyện Thạch Thành và Hà Trung không được thuận tiện cho việc giao thông, liên lạc, tiếp

tế, mở rộng địa bàn hoạt động của đội du kích đã trưởng thành hơn, đồng thời xét thấy kẻ thù đã lạc hướng do thám, ban lãnh đạo đã quyết định chuyển toàn bộ lực lượng về đóng tại đồi Ma Mầu - cách làng Ngọc Trạo 7,800m về phía Tây bắc

Khu vực đồi Ma Mầu có rừng cây rậm rạp, ở độ cao khoảng 500m, các đồi yên ngựa liền nhau tạo thành thể liên hoàn Từ đây có thể quan sát được đối phương từ Hà Trung lên và từ Thạch Thành tới Tại đây, các chiến sĩ du kích đã dựng lán trại và phát san bãi tập

Ở Ma Mầu đội du kích đã lập 3 bốt gác chốt ở 3 đỉnh đồi (Trạc Lòi, Ba Cao và đội Riềng) theo hình tam giác Tại đây, số lượng đội viên đã lên khoảng 80 người, được biên chế thành các trung đội, tiểu đội theo nguyên tắc tam tam chế Chương trình huấn luyện quân sự và mọi sinh hoạt chính trị, văn hoá, văn nghệ được tiến hành theo

kế hoạch chặt chẽ

Đội du kích đã lớn lên Nhưng toàn bộ việc ăn uống của du kích đều do nhân dân Ngọc Trạo đảm nhận Hàng ngày, đội tự vệ nữ lo việc cơm nước từ nhà mang lên đồi

Ma Mầu Còn các cụ già thì lo việc luyện cám rang để làm lương khô dự trữ cho du kích Các tự vệ nam ở Ngọc Trạo ngày đêm tuần tra canh gác trong làng, dẫn đường chuyển tài liệu, thuốc men và vũ khí cho cán bộ chiến sĩ lên chiến khu Còn ở gia đình, người thì làm tên nỏ, mở lò rèn làm vũ khí cho du kích, người thì đi chợ Kim Tân mua muối thuốc men, vải, đá in li lô mang lên cho du kích

Nói chung, chiến khu du kích Ngọc Trạo đến thời điểm này đòi hỏi có sự ủng hộ và chi viện tích cực của các cơ sở cách mạng trong toàn tỉnh thì mới có thể tồn tại và phát triển Vì vậy, Tỉnh uỷ đã kịp thời chỉ thị cho các cơ sở, cách mạng ở trong tỉnh tiếp tục chi viện tích cực cho chiến khu Quần chúng và cán bộ ở các vùng Hà Trung, Vĩnh Lộc, Thọ Xuân, Thiệu Hoá, Yên Định và Thị xã v.v đã vượt qua mọi sự kiểm tra gắt gao của kẻ thù để mang đến cho chiến khu những thứ cần thiết như gạo, muối, lạc, vừng, quần áo, thuốc men, vũ khí, địa bàn, đèn pin v.v

Với ý định hoàn chỉnh việc xây dựng chiến khu để chuẩn bị cho cuộc đấu tranh vũ trang rộng lớn sắp tới, Ban lãnh đạo chiến khu lúc này còn chủ trương phát triển đội

du kích lên tới 500 đội viên để có đủ lực lượng hoạt động suốt từ Tây Bắc đến Đông Nam thuộc ven rừng núi Thanh Hoá và chủ trương này được xúc tiến khẩn trương

Trang 8

Đa Ngọc (Yên Định) và làng Cẩm Bào (Vĩnh Lộc) đã trở thành địa điểm tập kết và chung chuyển các lực lượng tự vệ và hậu cần từ các địa phương đến chiến khu Ngọc Trạo

Phong trào phản đế cứu quốc trong tỉnh lên cao Ảnh hưởng về một chiến khu cách mạng chuẩn bị cuộc khởi nghĩa vũ trang đã loang rộng

Sau một thời gian đánh hơi và lùng sục, kẻ thù đã phát hiện sự hoạt động của đội du kích ở chiến khu Ngọc Trạo Bọn thống trị đã huy động binh lính và mật thám của nhiều tỉnh tập trung về Thanh Hoá để chuẩn bị một cuộc vây ráp, khủng bố lớn chưa từng thấy

Từ đầu tháng 9/1941, địch đã tập trung lực lượng o ép nhiều vùng trong các huyện Thiệu Hoá, Thọ Xuân, Yên Định Các cuộc đánh tháo giải vây nổ ra liên tục Giữa tháng 9/1941, đoàn cán bộ do đồng chí Trần Hoạt - Bí thư tỉnh uỷ phụ trách xây dựng căn cứ vùng Nông Cống, Như Xuân bị sa vào lưới địch.Ngày 7/10/1941 địch lại thiết quân luật ở vùng Tây Bắc Thanh Hoá và đang đêm đột nhập vào Đa Ngọc (nơi tập kết của tự vệ Thọ Xuân, Thiệu Hoá, Yên Định lên đường đi chiến khu) Và tại đây đã

nổ ra cuộc chiến đấu ác liệt đầu tiên giữa tự vệ Đa Ngọc với kẻ thù Ngày10/10/1941, cuộc truy nã tự vệ càng ác liệt hơn

Đến ngày 16/10/1941, chiến khu Ngọc Trạo bị phong toả Vào thời điểm này, vùng Ngọc Trạo bị mưa lụt liên tiếp Lán trại ở đồi Ma Mầu bị dột ướt Đội du kích phải tản vào đóng tại bốn nhà sàn ở xóm đình Ngọc Trạo Một khó khăn lớn lúc này

là sự thiếu thốn lương thực, thuốc men Trong khi đó, các đường tiếp tế lại bị ngăn chặn Còn nhân dân Ngọc Trạo - nguồn tiếp tế chủ yếu lại trong tình trạng giáp hạt và thiếu thốn nghiêm trọng Vì thế mà đội du kích có ngày phải ăn rau quả để thay cơm Nhưng cũng chính lúc này, tình thương yêu, đùm bọc của nhân dân Ngọc Trạo đối với du kích lại được thể hiện một cách đẹp đẽ và cao cả hơn bao giờ hết

Giữa lúc Ban lãnh đạo chiến khu đang có kế hoạch chuẩn bị chuyển hướng địa bàn hoạt động thì bị kẻ thù tấn công

Sáng sớm ngày 19/10/1941, bọn thống trị Pháp đã huy động một bộ phận binh lính khá lớn dưới sự chỉ huy của tên Phờ-lơ-tô, chánh mật thám Bắc Kỳ (và các tên Pe-rốt-sơ, chánh mật thám Trung Kỳ, Om-Be chánh mật thám Thanh - Nghệ - Tĩnh, Đu-gơ-ba-Phec-băng, thanh tra mật thám Đông Dương và các thanh tra mật thám Trung

Kỳ v.v ) chia làm 3 mũi tấn công Ngọc Trạo: một mũi từ Cầu Cừ (Hà Trung) tiến vào xóm Ba Chạc (cuối làng), một mũi từ Kim Tân (huyện lỵ Thạch Thành) kéo vào xóm Mộ Cuội (cuối làng), một mũi từ Bỉm Sơn do Đuy-Mô-Ra dẫn đầu đi tắt qua đồi Riềng để chọc thẳng vào xóm Đình (giữa làng)

Mặc dù, tương quan lực lượng chênh lệch (kể cả người và vũ khí), nhưng với tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường, đội du kích đã đánh lui nhiều đợt tiến công của địch Các chiến sĩ đã đánh giáp lá cà, dùng dao, kiếm, mác quần nhau với địch, vừa xung phong, vừa dùng loa kêu gọi binh lính quay súng trở về với nhân dân Sau khi một tên lính bị chém trọng thương, địch hoảng sợ bắn xối xả vào trận địa mai phục của đội du kích rồi rút lui khỏi Ngọc Trạo vào lúc 8 giờ sáng Lực lượng du kích

cơ bản được bảo toàn Ba chiến sĩ du kích Phạm Văn Hinh, Hoàng Văn Môn, Đỗ Văn Tước và một số chiến sĩ khác đã chiến đấu dũng cảm và hy sinh oanh liệt vì sự

Trang 9

nghiệp giải phóng dân tộc đã trở thành những tấm gương ngời sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, rất xứng đáng được nêu gương cho đời sau học tập và noi theo Tối ngày 19/10/1941, sau khi làm lễ truy điệu chiến sỹ đã hy sinh, cất dấu tài liệu và chỉ đạo kế hoạch chống khủng bố cho nhân dân Ngọc Trạo, Ban lãnh đạo quyết định rút đội du kích về làng Cẩm Bào (thuộc xã Vĩnh Long, Vĩnh Lộc bây giờ) rồi phân tán nhỏ lực lượng về các vùng trong tỉnh, xây dựng, củng cố phát triển phong trào phù hợp với tình hình mới

Chưa tiêu diệt được đội du kích, Thực dân Pháp và tay sai lồng lộng điên cuồng mở các cuộc khủng bố dã man ở vùng Ngọc Trạo, Cẩm Bào và hàng loạt các cơ sở cách mạng khác như Thiệu Hoá, Thọ Xuân, Yên Định, Vĩnh Lộc Mặc dù hầu hết cán bộ, chiến sĩ bị tù đầy, tra tấn và nhiều xóm làng bị triệt hạ Song hình ảnh các chiến sĩ du kích và chiến khu Ngọc Trạo vẫn mãi mãi ngời sáng trong tình cảm niềm tin vào sự tất thắng của cách mạng của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Thanh Hoá

Mặc dù đội du kích và chiến khu Ngọc Trạo ra đời và hoạt động không lâu, nhưng đó

là tiếng súng báo hiệu một thời kỳ đấu tranh cách mạng mới Thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền với sự hoàn thiện về sự đấu tranh giành chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang Sự ra đời ấy còn là sự tiếp nối của tiếng súng Bắc Sơn

và Nam Kỳ Đây còn là bước tập dượt cho việc xây dựng lực lượng và chiến khu cách mạng

Đỉnh cao của phong trào phản đế, cứu quốc ở Thanh Hoá (1940 - 1941), đội du kích

và chiến khu Ngọc Trạo vẫn mãi mãi là hình ảnh đẹp đẽ và hào hùng, rất xứng đáng được ghi vào trang sử vàng đấu trang giải phóng của dân tộc

Câu 3 (15 điểm): Người anh hùng huyền thoại quên thân mình cứu pháo trong

chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 là ai? Trình bày sơ lược vài nét về người anh hùng đó?

Để góp phần vào sự thành công của chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954) đã có biết bao tấm gương anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn xuân xanh Họ, những người chiến

Trang 10

sĩ mang trên mình một tình yêu Tổ Quốc, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc

Trong đó, anh hùng Tô Vĩnh Diện đã dũng cảm lấy thân mình chèn pháo Anh hùng Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924, ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa Anh sinh ra trong một gia đình nghèo, lên 8 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ, suốt 12 năm đi ở đợ anh luôn phải chịu bao cảnh áp bức, bất công Năm

1946 anh tham gia dân quân ở địa phương, đến năm 1949 anh xung phong đi bộ đội Trong đó, anh hùng Tô Vĩnh Diện đã dũng cảm lấy thân mình chèn pháo Anh hùng

Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924, ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa Anh sinh ra trong một gia đình nghèo, lên 8 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ, suốt

12 năm đi ở đợ anh luôn phải chịu bao cảnh áp bức, bất công Năm 1946 anh tham gia dân quân ở địa phương, đến năm 1949 anh xung phong đi bộ đội

Tháng 5/1953, quân đội ta thành lập các đơn vị pháo cao xạ để chuẩn bị đánh lớn Tô Vĩnh Diện được điều về làm tiểu đội trưởng một đơn vị pháo cao xạ Trong quá trình hành quân cơ động trên chặng đường hơn 1.000km tới vị trí tập kết để tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, anh luôn nhận những nhiệm vụ khó khăn, nặng nhọc, động viên giúp đỡ đồng đội kéo pháo đến nơi an toàn

Trong lúc kéo pháo qua những chặng đường nguy hiểm, cũng như nghỉ dọc đường, anh luôn nhắc nhở đồng đội chuẩn bị chu đáo và tự mình đi kiểm tra tỉ mỉ dây kéo pháo, xem xét từng đoạn đường, từng con dốc rồi phổ biến cho anh em để tránh những bất ngờ xảy ra

Qua 5 đêm kéo pháo ra đến dốc Chuối, đường hẹp cong và rất nguy hiểm, anh cùng đồng chí pháo thủ Lê Văn Chi xung phong lái pháo Đến nửa chừng, dây tời bị đứt, pháo lao nhanh xuống dốc, anh vẫn bình tĩnh giữ càng lái cho pháo thẳng đường Nhưng một trong bốn dây kéo pháo lại bị đứt, pháo càng lao nhanh, đồng chí Chi bị hất văng ra Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn đó, Tô Vĩnh Diện hô anh em “Thà hy sinh quyết bảo vệ pháo”, và anh buông tay lái xông lên phía trước, lấy thân mình chèn vào bánh pháo, nhờ đó các anh em đồng đội kịp ghìm giữ pháo lại Tấm gương

hy sinh vô cùng anh dũng của anh đã cổ vũ mạnh mẽ toàn đơn vị vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ, chuẩn bị chiến đấu và chiến đấu thắng lợi Khi hy sinh anh là Tiểu đội trưởng pháo cao xạ 37 ly, thuộc Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367

Ngày đăng: 28/10/2022, 02:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w