BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN NGUYỄN NGỌC HÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG ĐỊA PHƯƠNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH CÁ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
NGUYỄN NGỌC HÀ
QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG ĐỊA PHƯƠNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Bình Định – Năm 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
NGUYỄN NGỌC HÀ
QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG ĐỊA PHƯƠNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Đệ Các nội dung nghiên
cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi
rõ trong phần tài liệu tham khảo
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Hà
Trang 4Em xin cảm ơn cơ quan và gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
em hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ và viết luận văn thạc sĩ ngành Quản lý giáo dục
Bình Định, tháng 07 năm 2020
Học viên
Nguyễn Ngọc Hà
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG ĐỒ
DANH MỤC CÁC BIỂU
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Cấu trúc luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG ĐỊA PHƯƠNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 8
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
1.3 Công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh ở trường trung học phổ thông 20
1.4 Lý luận về quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh trường trung học phổ thông 33
Trang 61.5 Các yếu tố tác động đến công tác quản lý hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh trường trung học phổ thông 38
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG ĐỊA PHƯƠNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 42
2.1 Khái quát về quá trình khảo sát thực trạng 42 2.2 Khái quát vài nét về sự phát triển kinh tế - xã hội – giáo dục của huyện Tây Sơn 44 2.3 Thực trạng công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định 49 2.4 Thực trạng quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định 59 2.5 Đánh giá chung về thực trạng 81
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG ĐỊA PHƯƠNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 85
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 85 3.2 Các biện pháp quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định 88
Trang 73.2.1 Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp 88
3.2.2 Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho giáo viên và người làm công tác Đoàn 92
3.2.3 Kết hợp đa dạng các hình thức, nội dung giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh trong nhà truờng 95
3.2.4 Huy động các nguồn lực để thực hiện hiệu quả nội dung, chương trình GDTTCMĐP thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 98
3.2.5 Tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội trong công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 101
3.2.6 Tăng cường kiểm tra – đánh giá công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 104
3.2.7 Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 107
3.4 Mối liên hệ giữa các biện pháp 112
3.5 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 110
3.5.1 Tổ chức khảo nghiệm 113
3.5.2.Kết quả thăm dò 114
3.5.3 Tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 117
Tiểu kết chương 3 122
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 124 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ Viết tắt
Giáo dục truyền thống cách mạng địa phương GDTTCMĐP
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô phát triển GD THPT huyện Tây Sơn giai đoạn 2016 – 2019
47
Bảng 2.2 Kết quả xếp loại giai đoạn 2016 - 2019 của HS các trường THPT huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định 49
Bảng 2.3 Nhận thức của HS và GV về GDTTCMĐP 52
Bảng 2.4 Nhận thức của HS các khối về GDTTCMĐP 53
Bảng 2.5 Nội dung GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL 54
Bảng 2.6 Mức độ hiệu quả của các nội dung GDTTCMDP 56
Bảng 2.7 Hình thức GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL 57
Bảng 2.8 Yếu tố ảnh hưởng đến GDTTCMĐP cho HS THPT 59
Bảng 2.9 Hồi quy về các yếu tố ảnh hưởng đến GDTTCMĐP cho HS THPT 61
Bảng 2.10 Thực trạng nhận thức của CBQL và GV về tầm quan trọng của QL công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL 62
Bảng 2.11 Thực trạng mức độ thực hiện QL công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL cho HS 63
Bảng 2.12 Thực trạng mức độ quan trọng của các chức năng quản lý liên quan đến hoạt động QL công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL 64
Bảng 2.13 Thực trạng lực lượng tham gia lập kế hoạch công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL 65
Bảng 2.14 Thực trạng mức độ thực hiện các nội dung trong việc lập kế hoạch công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL cho HS 67
Bảng 2.15 Thực trạng mức độ thực hiện các nội dung trong việc tổ chức - thực hiện công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL cho HS 69
Bảng 2.16 Thực trạng lực lượng chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức – thực hiện công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL 70
Trang 11Bảng 2.17 Thực trạng hình thức ra quyết định công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL 71 Bảng 2.18 Mức độ thực hiện các nội dung trong việc chỉ đạo/lãnhđạo công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL cho học sinh 73 Bảng 2.19 Thực trạng các lực lượng thực hiện kiểm tra - đánh giá công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL 74 Bảng 2.20 Mức độ thực hiện các nội dung trong việc kiểm tra – đánh giá công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL cho HS 76 Bảng 2.21 Thực trạng mức độ thường xuyên phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng có liên quan đến QL công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL 77 Bảng 2.22 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến nhà trường trong công tác QL GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL cho HS 79 Bảng 2.23 Các yếu tố ảnh hưởng liên quan đến HS trong QL công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL 81 Bảng 2.24 Sự ảnh hưởng của một số yếu tố khác đến QL đến công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL 83 Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm mức độ cấp thiết của các biện pháp QL công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL 115 Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm mức độ khả thi của các biện pháp QL công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL 117 Bảng 3.3 Mối quan hệ giữa các mức độ cấp thiết và khả thi của các biện pháp 120 Bảng 3.4 Hiệu số thứ bậc giữa tính cấp thiết và tính khả thi 122
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Thực trạng lực lượng tham gia lập kế hoạch công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL 66 Biểu đồ 2.2 Thực trạng lực lượng tham gia tổ chức - thực hiện công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL 70 Biểu đồ 2.3 Thực trạng các hình thức ra quyết định công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL 72 Biểu đồ 2.4 Thực hiện các lực lượng thực hiện kiểm tra - đánh giá công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL 75 Biểu đồ 2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng liên quan đến nhà trường trong QL công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL cho HS 80 Biểu đồ 2.6 Các yếu tố ảnh hưởng liên quan đến HS trong QL công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL Biểu đồ 2.7 Thực trạng một số yếu tố ảnh hưởng khác đến công tác GDTTCMĐP Biểu đồ 3.1 Kết quả khảo sát tính cấp thiết của các biện pháp đề xuất 81 Biểu đồ 3.2 Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp đề xuất 83 Biểu đồ 3.3 Mức độ tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp QL công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL 116
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập thế giới hiện nay, việc giữ gìn bản sắc văn hóa, giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc cho thế hệ trẻ luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và chú trọng Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, khi bàn về công tác giáo dục đã chỉ rõ, phải: “…Lựa chọn những nội dung có tính cơ bản, hiện đại Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức và nhân văn, lịch sử dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc; ý chí vươn lên vì tương lai của bản thân và tiền đồ đất nước…”
Giáo dục truyền thống cách mạng, nâng cao tinh thần yêu nước, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng của thế hệ trẻ, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đây là một nội dung rất quan trọng trong giáo dục truyền thống cách mạng cho nhân dân nói chung và thanh niên, học sinh trung học phổ thông nói riêng, vì nó giúp cho các em những hiểu biết cơ bản của quê hương mình, từ tình cảm gắn bó với quê hương
sẽ khơi dậy trong các em tình cảm, tình dân tộc máu thịt và các em thấy có trách nhiệm trong việc nỗ lực học tập, nâng cao trình độ mọi mặt để góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển ngày càng nhanh Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Đảng và Nhà nước ta đã xác định, phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng động lực thúc đẩy phát triển kinh tế
- xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, sau gần 35 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu to lớn, giáo dục và đào tạo của Việt Nam vẫn đang tồn tại nhiều vấn đề rất đang quan tâm Trong đó, đáng chú ý là chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa mở rộng quy
mô với yêu cầu nâng cao chất lượng; giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống,
tư duy sáng tạo,… còn nhiều bất cập Do mặt trái của cơ chế thị trường tác
Trang 14động, nên một bộ phận không nhỏ thanh niên, có xu hướng chạy theo lối sống thực dụng, ham hưởng thụ vật chất, lười lao động, không có chí tiến thủ, dễ bị
sa ngã trước những cám dỗ vật chất tầm thường, không có lý tưởng cách mạng, sa vào các tệ nạn xã hội, thờ ơ với những giá trị truyền thống của dân tộc, ít quan tâm đến vận mệnh của đất nước, đến tương lai của thế hệ trẻ Trước những vấn đề được đặt ra trên thực tế hay nói cách khác là trước những thay đổi, yêu cầu của xã hội, việc giáo dục truyền thống cách mạng, nâng cao tinh thần yêu nước, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng của thế
hệ trẻ, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là vấn đề cần thiết và cấp bách Vấn đề giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh được quy định tại Điều 5, Luật Giáo dục Việt Nam và Thông tư số 42/2012/TT-BGDĐT ngày 23/11/2012 về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên, trong đó tiêu chuẩn 4, tiêu chí 3 cũng đề cập đến Như vậy, về mặt lý luận, các nhà quản lý giáo dục, giáo viên đều đã được quán triệt đầy đủ về những quy định cũng như ý nghĩa của việc giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh
Tại tỉnh Bình Định, công tác giáo dục truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng địa phương luôn được đặc biệt quan tâm Ngày 28/2/2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 15-CT/TW, về “Tăng cường và nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam” Trên
cơ sở đó, ngày 08/5/2003, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định ra Thông tri TT/TU về “Tiếp tục nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ, truyền thống cách mạng xã, phường, thị trấn” Thực hiện chủ trương của Trung ương và Tỉnh ủy, đến nay việc tuyên truyền, giáo dục lịch sử, truyền thống cách mạng cho cán
05-bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đã phát huy tác dụng Đặc biệt, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh đã chủ động biên soạn tác phẩm “Bình Định những chặng đường lịch sử” và đưa vào chương trình giảng dạy trong trường phổ thông trên
Trang 15địa bàn tỉnh từ năm học 1998 - 1999 Từ đó đến nay, công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh trên địa bàn tỉnh trong nhiều năm qua dần đi vào nền nếp và đạt hiệu quả thiết thực
Tỉnh Bình Định nói chung, huyện Tây Sơn nói riêng là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, ở giai đoạn cách mạng nào cũng có những danh nhân, anh hùng tài năng và đức độ Trong tổng số 30 di tích văn hóa - lịch sử cấp quốc gia của Bình Định, vùng đất Tây Sơn chiếm 1/3; nơi sinh ra anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ và nhiều danh tướng như Võ Văn Dũng, Bùi Thị Xuân,… Đặc biệt đây cũng là nơi Bác Hồ (lúc bấy giờ là Nguyễn Tất Thành)
đã dừng chân trước khi ra nước ngoài tìm đường cứu nước trong lần đến thăm cha tại Bình Khê (tức huyện Tây Sơn ngày nay) Đó là niềm vinh dự lớn lao, niềm tự hào của nhân dân huyện Tây Sơn nói riêng và tỉnh Bình Định nói chung Song hiện nay việc giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Tây Sơn chưa được các cấp quản lý quan tâm đầy đủ, cũng như chưa có một công trình nghiên cứu qui mô về công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương ngoài giờ lên lớp cho thế hệ trẻ huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
Cùng với đó, qua thực tiễn nắm bắt, theo dõi việc giảng dạy và quản lý các trường, chúng tôi nhận thấy, hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên các cấp quản lý giáo dục chưa quan tâm đúng mức đối với công tác này, cũng như các chế độ, chính sách cho các hoạt động tổ chức giáo dục truyền thống cách mạng địa phương, nhất là đối với các hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Mặc dù có một số trường đã tiến hành giáo dục nhưng nội dung thường tích hợp trong bài giảng các bộ môn văn hóa trên lớp có liên quan, hoặc thông qua các bài diễn thuyết, chưa có nội dung chương trình cụ thể; học sinh lại ít hứng thú với môn học lịch sử, đặc biệt là lịch sử địa phương Thực tế cho thấy, công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh các trường trung học phổ thông, nếu chỉ có thuyết giảng thì trở nên cứng nhắc, không lôi cuốn học sinh,
Trang 16dẫn đến việc nhàm chán vì vậy cách tốt hơn là thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp để giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho các em học sinh một cách tự nhiên, hấp dẫn, lôi cuốn, thu hút
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi quyết định lựa chọn
nghiên cứu đề tài “Quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định” để thực hiện
đề tài luận văn Quản lý giáo dục
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục toàn diện cho học sinh trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
3.2 Khách thể nghiên cứu
Công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh trường trung học phổ thông
4 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định chưa tốt Nếu xây dựng được khung lý thuyết về quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Trang 17cho học sinh trung học phổ thông và đánh giá đúng thực trạng công tác này tại các trường trung học phổ thông huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định thì sẽ đề xuất được các biện pháp quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định một cách hợp lý, khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, góp phần nâng cao chất lượng quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xây dựng hệ thống lý luận về hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương và quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh trung học phổ thông
5.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định Thời gian khảo sát từ năm 2016 đến năm 2019
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Trang 18Sử dụng các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa,…để nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, các tài liệu và các công trình nghiên cứu về công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương, quản lý giáo dục để xây dựng cơ sở
lý luận về quản lý công tác giáo dục
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng phương pháp này để khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng và xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất biện pháp quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định trong giai đoạn hiện nay, gồm:
7.2.1 Phỏng vấn, trao đổi, xin ý kiến chuyên gia
Gặp gỡ, phỏng vấn, trao đổi, xin ý kiến các đối tượng học sinh, cán bộ quản lý, một số lãnh đạo, người am hiểu sâu về công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương ngoài giờ lên lớp cho học sinh và quan sát thực tế các hoạt động được tổ chức nhằm có cơ sở nghiên cứu thực trạng về giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh và hoạt động quản lý giáo dục truyền thống cách mạng địa phương ở huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng hỏi Anket
Sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Anket, tác giả khảo sát
200 HS và 110 cán bộ quản lý, giáo viên ở 03 trường trung học phổ thông
ở địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định (THPT Tây Sơn; THPT Võ Lai; THPT Nguyễn Huệ)
7.2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Nghiên cứu, tổng kết thực tiễn công tác quản lý hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Tây Sơn,
Trang 19tỉnh Bình Định Qua đó, rút ra bài học kinh nghiệm cho việc quản lý công tác này
7.3 Nhóm các phương pháp hỗ trợ
Nghiên cứu sản phẩm, lấy ý kiến chuyên gia, thống kê toán học,
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh trường trung học phổ thông
Chương 2 Thực trạng quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
Chương 3 Biện pháp quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
Trang 20Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG ĐỊA PHƯƠNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến đạo đức, giáo dục đạo đức và giáo dục truyền thống cách mạng dân tộc được tiếp cận dưới nhiều góc độ lý luận và thực tiễn khác nhau Dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu được nhiều nghiên cứu đề cập đến
Nói về tầm quan trọng của GDĐĐ tác giả Mohammad Chowdhury (2018) nhấn mạnh rằng: “Dân chủ tự do chỉ có thể phát triển nếu công dân của họ nắm giữ những giá trị đạo đức và công dân nhất định, và biểu lộ những đức tính nhất định (Althof & Berkowitz, 2006) Trong thời kỳ hiện đại, công nghệ đang ảnh hưởng đến xã hội, những tiến bộ nhanh chóng trong khoa học và công nghệ và sự phức tạp xã hội cũng tăng lên đòi hỏi củng cố tầm quan trọng của đạo đức, giá trị và đạo đức và lợi ích của chúng đối với xã hội” [43] Kang & Glassman (2010) lập luận rằng: Đạo đức và đạo đức là một phần của lối sống và không thể tách rời khỏi tất cả các khía cạnh khác của cuộc sống kinh nghiệm [49] Tác giả Han (2014) giải thích: GDĐĐ nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển đạo đức của học sinh và hình thành nhân sinh quan Khung
lý thuyết của giáo dục đạo đức được hỗ trợ bởi triết lý đạo đức, đạo đức tâm
lý và thực hành giáo dục đạo đức [46] Tương tự, một số tác giả khác cũng nhấn mạnh vượt ra ngoài phạm vi thúc đẩy xã hội hợp lý kỹ năng hay đức tính, GDĐĐ giá trị thực của con người nên trau dồi ý nghĩa và cá nhân kiến thức hình thành vượt trội hoặc tránh sự hiểu biết khoa học tự nhiên và hoặc xã hội và giải thích (Carr, 2014) [42], (Halstead, 2007) [45]
Plato, người sáng lập ra Chủ nghĩa duy tâm, tuyên bố rằng mục đích của giáo dục là phát triển khả năng của mỗi cá nhân để phục vụ cho xã hội tốt
Trang 21hơn Theo như ông, giáo dục là một yếu tố quan trọng cho một xã hội [44] Theo Nur Yeliz (2015) cho rằng: ở Hy Lạp cổ đại, giáo dục được coi là một chức năng của nhà nước và mục đích của nó là phục vụ cho sự kết thúc của nhà nước Ngày nay, giáo dục cũng phục vụ cả nhu cầu của nhà nước hoặc xã hội và công dân Do đó, giáo dục rất quan trọng, nó xây dựng tính cách, cung cấp kiến thức và giúp tiến bộ của nhà nước Giáo dục làm cho một người đàn ông hoàn thành và nó cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển
xã hội và nhà nước [44]
Nhà triết học Socrate (470-399 TCN) đã hướng triết học vào mục đích giáo dục con người sống có đạo đức Socrate cho rằng, đạo đức hay cái thiện cũng là một loại tri thức, mà ta có thể tự trau dồi Một kẻ ác đơn giản chỉ là một kẻ dốt nát, chứ bản chất anh ta không ác Đó là quan điểm tiến bộ vào thời bấy giờ Tiến bộ vì theo ông, con người có thể tự hoàn thiện bản thân qua giáo dục và việc "tự suy xét" Bởi thế, triết học của ông quan tâm nhiều đến con người, dạy đạo đức cho con người [23]
Rabơle (1494-1553) là một trong những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp và tư tưởng giáo dục thời kì Phục hưng Ông đòi hỏi việc giáo dục phải bao hàm các nội dung: “trí dục, đạo đức, thể chất và thẩm mĩ và đã
có sáng kiến tổ chức các hình thức giáo dục như ngoài việc học ở lớp và ở nhà, còn có các buổi tham quan các xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghị sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày” [8]
A.S.Makarenco, nhà sư phạm nổi tiếng của nước Nga Xô-viết vào thập niên 20, 30 Ông đã vận dụng sáng tạo lý luận Mác-xít vào thực tế để rút ra những kinh nghiệm làm phong phú cho lý luận giáo dục XHCN nói riêng và giáo dục nhân loại nói chung Theo Makarenco, một trong những logic của quá trình sư phạm là: “quá trình tổ chức hợp lý hoạt động của học sinh tham gia vào cách mạng xã hội, lao động sản xuất, các hoạt động tập thể như vui chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, văn hoá nghệ thuật” [9] Ở Cộng
Trang 22hòa Séc, GDĐĐ là môn học một phần không thể thiếu trong các chương trình giảng dạy trong tất cả các trường cơ bản, trung học và đại học Mục đích của
là tạo ra một con người phát triển toàn diện, sự khoan dung, phát triển sự đồng cảm, quyết đoán và dẫn đến lối sống lành mạnh [48]
Ở Hàn Quốc, mỗi học sinh phải học các lớp GDĐĐ hai giờ một tuần trong suốt 12 năm ở lại, từ tiểu học đến cao cấp THPT Lớp GDĐĐ là bắt buộc đối với tất cả học sinh bởi chương trình giảng dạy tập trung của GDĐĐ GDĐĐ ở Hàn Quốc được hướng dẫn bởi các văn bản pháp lý của chương trình giảng dạy quốc gia ban hành bởi chính phủ trung ương (Bộ Giáo dục) Trong chương trình giảng dạy, mọi khía cạnh của GDĐĐ được quy định cụ thể: mục đích, mục tiêu, giảng dạy phương pháp, nội dung, đánh giá và phân bổ thời gian cho mọi cấp lớp và trường học [52]
1.1.2 Một số nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến GDĐĐ Năm 1979
Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra nghị quyết về cải cách giáo dục Ủy ban Cải cách Giáo dục Trung ương đã ra quyết định số 01 về cuộc vận động tăng cường GDĐĐ cách mạng trong trường học Quyết định ghi rõ “Nội dung đạo đức cần được giáo dục cho học sinh từ mẫu giáo đến đại học nội dung chủ yếu dựa vào 5 điều Bác Hồ dạy” [37] Nghị quyết Trung ương 2 còn nhấn mạnh “Phải coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản quan trọng nhất cho sự toàn diện của đất nước, coi trọng nhân cách lý tưởng và đạo đức, trí lực và thể lực, gắn học với hành, lý thuyết với thực hành” [4]
Trong nghiên cứu của mình, tác giả Phạm Tất Dong (1990) với đề tài
“Cải tiến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống cho học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân” tác giả đã đi sâu vào
nghiên cứu cơ sở tâm lý học của hoạt động giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp, gắn kết các hoạt động này với hoạt động GDĐĐ nhằm đạt được mục tiêu GDĐĐ nghề nghiệp và lý tưởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ; đã mang lại
Trang 23nhiều nội dung mới về GDĐĐ, chính trị tư tưởng trong các trường từ tiểu học đến đại học những năm đầu 90 [27]
Về những nghiên cứu liên quan đến GDNGLL cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu:
Giai đoạn từ năm 1979 trở về trước: Điểm nổi bật ở giai đoạn này là khái niệm “Hoạt động GDNGLL” chưa được định hình và chưa có tên gọi như ngày nay Tuy nhiên, nội hàm cơ bản của khái niệm đã được Hồ Chủ Tịch đề cập trong “Thư gửi cho học sinh” nhân ngày khai trường tháng 9/1945, Người viết “…nhưng các cháu, ngoài giờ học ở trường, cũng nên tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc giữ gìn đất nước” [8]
Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1956) đã nêu rõ mục tiêu của cuộc cải cách giáo dục là “Đào tạo, bồi dưỡng thế hệ thanh niên và thiếu nhi trở thành những người phát triển về mọi mặt, những công dân tốt, trung thành với Tổ quốc, những người lao động tốt, cán bộ tốt của nước nhà, có tài có đức để phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta…” Phương châm của giáo dục là lý luận liên hệ với thực tiễn, gắn chặt nhà trường với đời sống xã hội Cuộc vận động xây dựng nhà trường XHCN năm
1958 có yếu tố đặc trưng là lao động sản xuất phải trở thành yếu tố cơ bản trong mục đích, phương châm, phương pháp giáo dục của nhà trường Trong dịp hè, các trường tổ chức cho HS tham gia lao động sản xuất, HS sôi nổi tỏa
về các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã, đi về các bản làng, thôn xóm, tham gia lao động trong các công trường, các công trình thủy lợi, cầu đường…[7] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoàng Trâm (2003) về “Các biện pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng các trường THPT các tỉnh phía Nam”, luận văn thạc sỹ năm 2003, đã tập trung làm rõ: lịch sử vấn đề nghiên cứu về đề tài này ở các nước trên thế giới
và Việt Nam Tác giả đã có nhiều công phu khi phân tích cơ sở lý luận của hoạt động NGLL như: Khái niệm, xác định nội dung hoạt động GDNGLL,
Trang 24thành lập ban chỉ đạo hoạt động GDNGLL và đề ra các biện pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động GDNGLL [36] Trong luận văn thạc sỹ năm
2005 “Thực trạng việc quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học cơ sở bán công thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả Trần Thị Minh Thi
đã đi sâu phân tích thực trạng thể hiện qua các mặt nhận thức, kế hoạch, phân công, sử dụng thời gian, tổ chức các loại hình hoạt động, tổ chức tiết sinh hoạt NGLL, kiểm tra đánh giá,… Qua nghiên cứu thực trạng, tác giả cũng đã đề xuất một số giải pháp để quản lý hoạt động GDNGLL của các trường THCS.BC thành phố Hồ Chí Minh [35]
Bên cạnh những nghiên cứu trên đã có những bài viết, tạp chí và công trình nghiên cứu nói về tầm quan trọng của GDTTCMĐP cho HS:
Nói về tầm quan trọng của GDTT dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy:
"Dân ta phải biết sử ta" Lớp học sinh ngồi trên ghế nhà trường không thuộc
sử, sau này khi ra trường bị cuốn hút vào công việc hằng ngày làm sao còn có điều kiện học sử nữa Ngoài việc học tại trường lớp còn có nhiều hoạt động khác để hiểu biết về lịch sử đất nước [12] Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: "Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên Thanh niên muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần
và lực lượng của mình, phải làm việc chuẩn bị cho cái tương lai đó" [22] Trong nghiên cứu về “Hoạt động giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên hiện nay” của tác giả Lê Cao Thắng (2013) nhận định rằng: “Những năm qua, công tác giáo dục giá trị văn hóa truyền thống dân tộc cho sinh viên trong cả nước đã được sự định hướng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm kịp thời, thường xuyên của Đảng uỷ, Ban Giám hiệu các nhà trường, các
bộ phận chức năng trực tiếp làm nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục truyền thống cho sinh viên đã thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Tuy vậy, công tác giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên vẫn còn không ít tồn tại, vướng mắc, bất cập Một bộ phận sinh viên thiếu ý thức rèn luyện, do
Trang 25đó nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực và hành vi trái pháp luật, trái với đạo lý dân tộc Những kết quả và hạn chế của công tác giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên hiện nay có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan trong đó chủ yếu là nguyên nhân chủ quan” [34]
Trong nghiên cứu về “Tầm quan trọng của việc giáo dục truyền thống cách mạng cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay” tác giả Nguyễn Thị Minh Hiền (2017) cho rằng: “Thế hệ thanh niên là thế hệ kế tục sự nghiệp cách mạng, là lực lượng chủ yếu xây dựng XHCN Việc giáo dục, bồi dưỡng và rèn luyện, hình thành truyền thống cách mạng trong họ có liên quan đến vấn
đề sống còn của dân tộc, đến sự thành bại của cách mạng, đến sự giữ vững định hướng XHCN Sinh viên lại là một bộ phận thanh niên có học vấn cao,
sẽ là lực lượng lao động trí tuệ của đất nước, là những trí thức tương lai, thì việc giáo dục đó lại càng cấp thiết để mỗi hoạt động của họ hiện nay và sau này đều hướng tới sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp” [10]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tú Quyên (2017) với đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng ĐP cho học sinh Trung học phổ thông thành phố Cà Mau, Tỉnh Cà Mau” cho kết quả đó là: Phần lớn nhận thức được
sự cần thiết và rất cần thiết của công tác GDTTCMĐP cho HS nói chung và
HS bậc THPT nói riêng Các em cho rằng khi tham gia vào các hoạt động nhằm GDTTCMĐP thì các em được tham quan, gặp gỡ trực tiếp những nhân chứng lịch sử hay di tích lịch sử của địa phương, các em mở mang thêm được kiến thức, hiểu biết thêm về đất nước, con người và văn hóa địa phương, tạo cho các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp và thể hiện được năng lực cá nhân trong các hoạt động Nhưng thông qua khảo sát thì chúng ta cũng thấy một điều đáng lo ngại là số lượng không ít các em cho là ít cần thiết; không cần thiết, các em không thích tham gia các hoạt động, với lý do là không
có thời gian, các em cho rằng dành thời gian nhiều để học tốt là được rồi [31, tr 57]
Trang 26Tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về đạo đức, GDĐĐ, giáo dục truyền thống thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho HS THPT được tiếp cận dưới nhiều góc
độ lý luận và thực tiễn khác nhau Trong đó, đa số các nghiên cứu đều đồng nhất quan điểm giáo dục đạo đức và GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL là rất quan trọng cho HS trong bối cảnh đất nước hiện nay Tuy nhiên, vẫn rất ít công trình có nghiên cứu cụ thể về quản lý công tác GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL cho HS THPT trên địa bàn tỉnh Bình Định Vì vậy, nghiên cứu của luận văn được xem là cách tiếp cận mới về nội dung cũng như thực tiễn, đây được coi là tài liệu quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước và cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh Bình Định có những giải pháp trong việc nâng cao giáo dục TTCMĐP cho HS trong thời gian tới
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một khái niệm rộng lớn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội, gắn liền với quá trình phát triển, đặc biệt trong xã hội phát triển như hiện nay thì quản lý
có vai trò rất lớn Khi đưa ra khái niệm về quản lý, các tác giả thường đứng trên nhiều cách tiếp cận khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận, có những cách định
Trang 27điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [51 tr, 480]
Theo tác giả Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuât, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [47 tr, 33] Nhà triết học V.G Afnatsev cho rằng, quản lý xã hội một cách khoa học là nhận thức, phát hiện các quy luật, các khuynh hướng vận động của xã hội và hướng sự vận động của xã hội cho phù hợp với các khuynh hướng đó; là phát hiện và giải quyết kịp thời các mâu thuẫn của sự phát triển; là duy trì sự thống nhất giữa chức năng và cơ cấu của hệ thống; là tiến hành một đường lối đúng đắn dựa trên cơ sở tính toán nghiêm túc những khả năng khách quan, mối tương quan giữa các lực lượng xã hội [21 tr, 18]
Theo quan điểm hành vi (thuyết quan hệ con người) của Mary Parker Follett, quản lý là một quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau; trong đó sự “phối hợp (coordination)” là điều kiện sống còn của sự quản lý hiệu quả qua hoạt động của người quản lý Nhà quản lý cần phải xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với người thuộc cấp (tiếp xúc trực tiếp, thẳng thắn, chân tình) để lôi cuốn họ tham gia quá trình ra quyết định nhất là khi họ sẽ chịu ảnh hưởng của chính những quyết định đó [3 tr, 31]
Từ quan niệm của các học giả nêu trên, tác giả quan niệm Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất
1.2.2 Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Hoạt động GDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học của các môn học ở trên lớp Hoạt động GDNGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy -
Trang 28học trên lớp, là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động của học sinh [33, tr 99] Theo tác giả Đỗ Công Vương (2014) định nghĩa: Hoạt động GDNGLL trường PTDTNT Đó là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ các môn học ở trên lớp, là sự nối tiếp, bổ sung, hỗ trợ hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết
với thực tiễn Hay nói cách khác, hoạt động GDNGLL là hoạt động giáo dục
được tổ chức ngoài thời gian học tập trên lớp Đây là một trong hai hoạt động giáo dục cơ bản, được thực hiện một cách có tổ chức, có mục đích theo kế hoạch của nhà trường; là hoạt động tiếp nối và thống nhất hữu cơ với hoạt động học tập trên lớp, nhằm góp phần hình thành và phát triển nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo, đáp ứng những yêu cầu đa dạng của xã hội đối với
thế hệ trẻ
Khái niệm quản lý hoạt động GDNGLL được một số tác giả đề cập dưới những góc độ khác nhau Theo tác giả Phạm Thị Lê Nhân (2014) định nghĩa: Quản lý hoạt động GDNGLL là quá trình tác động của chủ thể quản lý (hiệu trưởng và bộ máy giúp việc của hiệu trưởng) đến tập thể GV và HS được tiến hành các hoạt động GDNGLL theo chương trình kế hoạch nhằm đạt mục tiêu giáo dục HS một các toàn diện Quản lý hoạt động GDNGLL của cán bộ QLGD trong nhà trường thực chất là quản lý về mục tiêu giáo dục, quá trình giáo dục, là quản lý về kế hoạch, đội ngũ, các điều kiện, công tác kiểm tra, đánh giá, công tác phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường thực hiện hoạt động GDNGLL [26] Quản lý hoạt động GDNGLL là quá trình người CBQL hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra hoạt động GDNGLL của nhà trường nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Trong toàn bộ quá trình quản lý nhà trường thì quản lý hoạt động GDNGLL của Hiệu trưởng là hoạt động không thể thiếu và rất quan trọng [41]
Như vậy, có thể hiểu quản lý hoạt động GDNGLL: là một quá trình tác động của chủ thể quản lý đến tập thể GV và HS được tiến hành ngoài giờ lên lớp theo chương trình kế hoạch đã đề ra nhằm đạt mục tiêu giáo dục học sinh
Trang 29một cách toàn diện Quản lý hoạt động GDNGLL thực chất là quản lý về mục tiêu giáo dục, quá trình quản lý giáo dục, quản lý về kế hoạch, đội ngũ, công tác kiểm tra, đánh giá, công tác phối hợp các lực lượng giáo dục thực hiện hoạt động GDNGLL
Quản lý hoạt động GDNGLL là một hoạt động không thể thiếu và rất quan trọng trong toàn bộ quá trình quản lý ở nhà trường THPT; do đó, các nhà QLGD cần chỉ đạo thực hiện chương trình hoạt động GDNGLL theo quy định của Bộ GD&ĐT, có kết hợp lồng ghép tuyên truyền giáo dục cũng như tích hợp giảng dạy kỹ năng sống và các luật vào một số môn học (Ngữ văn, Địa lý, Sinh học, Giáo dục công dân, ) Phương thức tổ chức phải rất linh hoạt, sáng tạo để đạt được mục tiêu đề ra, giúp HS thực sự phát huy vai trò là chủ thể trong các hoạt động; từ đó làm phong phú hấp dẫn các hoạt động GDNGLL và chuẩn bị cho các hoạt động tiếp theo ở các khối lớp học khác nhau
1.2.3 Khái niệm truyền thống, truyền thống cách mạng, truyền thống cách mạng địa phương
Theo từ điển Tiếng Việt (2003) định nghĩa: Truyền thống là thói quen hình thành đã lâu đời trong đời sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác Như truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam [13, tr 1053]
Theo Hồ Sĩ Quý (2005) định nghĩa: “Truyền thống là những hiện tượng văn hóa - xã hội được bảo tồn qua năm tháng trong đời sống vật chất và tinh thần của các cộng đồng xã hội khác nhau và có thể được chuyển giao từ thế
hệ này sang thế hệ khác” [30 tr, 107]
Tác giả Lê Cao Thắng (2013) định nghĩa: Truyền thống là những yếu tố của di tồn văn hoá, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, phong tục, tập quán, thói quen, lối sống, cách ứng xử của một cộng đồng người được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài [34 tr, 8]
Trang 30Từ những quan điểm trên, tác giả cho rằng: Truyền thống là những tập tục, thói quen và nói chung là những kinh nghiệm xã hội được hình thành từ lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ của con người, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác Truyền thống có nhiều cấp độ khác nhau như: truyền thống gia đình, truyền thống của từng địa phương, đơn vị, truyền thống cách mạng, truyền thống dân tộc
1.2.4 Khái niệm giáo dục truyền thống cách mạng địa phương
Khái niệm giáo dục được tiếp cận dưới nhiều quan điểm khác nhau Theo
Hà Thị Mai (2013) cho rằng: Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của giáo dục là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá nhân loại và dân tộc được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó
mà xã hội loài người không ngừng tiến lên [20]
Các tác giả Nguyễn Thị Bích Hồng và Võ Văn Nam (2004) tiếp cận khái niệm giáo dục theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp, cụ thể: Theo nghĩa rộng, giáo dục là quá trình hình thành toàn vẹn nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có hệ thống thông qua hai hoạt động dạy học và giáo dục (nghĩa hẹp) để làm phát triển các sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, giúp họ tham gia có hiệu quả vào đời sống xã hội Còn theo nghĩa hẹp giáo dục là hoạt động chuyên biệt nhằm hình thành những phẩm chất, quan điểm, niềm tin cho con người về các phương diện đạo đức, thể chất, thẩm mỹ, lao động [24, tr 27]
Dù có những cách định nghĩa khác nhau, song nói đến “giáo dục” đều
đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào Giáo dục để tái sản xuất những nhân cách, những nhu cầu, năng lực của con người, tái sản xuất những sức mạnh của bản chất con người Giáo dục chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống, bảo đảm mối liên hệ kế tục giữa các thế hệ Giáo dục giúp cho thế hệ trẻ thu nhận những kinh nghiệm do thế hệ trước đã tích lũy, nhờ vậy họ không rơi vào những sai lầm hay thất bại của người đi trước và có thể tiếp cận trình độ văn minh của
Trang 31xã hội để tham gia vào đời sống hiệu quả hơn Giáo dục còn thúc đẩy xã hội tiến lên không ngừng thông qua việc bồi dưỡng cho thế hệ trẻ những phẩm chất cần thiết để họ giải quyết những nhiệm vụ mới nảy sinh do sự phát triển của xã hội mà kinh nghiệm cha anh chưa từng trải [24]
Trong giáo dục thường hướng đến nhiều phương diện khác nhau như đạo đức, thể chất, thẩm mỹ, lao động, … trong đó GDĐĐ rất quan trọng, “đó là một quá trình tác động có mục đích của chủ thể giáo dục đến đối tượng giáo dục để hình thành trong họ yếu tố tình cảm, niềm tin, lý tưởng và tất cả được thể hiện ở hành vi đạo đức” [29] Mục tiêu của GDĐĐ là nhằm làm hình thành và phát triển ý thức đạo đức và năng lực thực hiện hành vi đạo đức của con người Ý thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm về cái thiện, ác, tốt, xấu, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với
cá nhân trong xã hội Ý thức đạo đức cá nhân là sự phản ánh hoạt động đạo đức của cá nhân và là điều kiện của hoạt động đó [17]
Tác giả cho rằng GDTTCMĐP nằm trong nội dung của GDĐĐ Đó là một quá trình tác động có mục đích của chủ thể giáo dục đến đối tượng giáo dục
để hình thành trong họ yếu tố tình cảm, niềm tin, lý tưởng, niềm tự hào và trân trọng về truyền thống cách mạng của nhân dân qua các thời kỳ lịch sử Qua đó góp phần khơi dậy tinh thần trách nhiệm, ý thức nỗ lực phấn đấu trong học tập, rèn luyện của thế hệ trẻ.
1.2.5 Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương
Theo M.I Kônđacốp: "Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến Trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ em [50 tr, 10]
Trang 32Trong QLGD có quản lý hoạt động GDĐĐ, đó “là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa công tác giáo dục đạo đức đạt kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất Về bản chất quản lý hoạt động GDĐĐ là hoạt động điều hành việc giáo dục đạo đức để đạo đức vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu của ngành giáo dục” [21]
Từ khái niệm quản lý giáo dục và quản lý hoạt động GDĐĐ, tác giả cho rằng quản lý hoạt động GDTTCMĐP là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa công tác GDTTCMĐP đạt kết quả mong muốn bằng những cách thức thực hiện khác nhau và với những nội dung khác nhau
1.3 Công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh ở trường trung học phổ thông
1.3.1 Công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh ở trường trung học phổ thông
1.3.1.1 Vai trò của công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh ở trường trung học phổ thông
Truyền thống cách mạng dân tộc nói chung và các địa phương nói riêng là yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh của toàn thể dân tộc, là sợi dây vững chắc tạo nên sức mạnh vĩ đại để dân tộc Việt Nam đánh thắng các kẻ thù xâm lược nước nhà, tiến đến giải phóng dân tộc, đưa non sông Việt Nam đến ngày hòa bình và thịnh vượng như ngày hôm nay
Để duy trì, phát huy các giá trị truyền thống cách mạng của dân tộc nói chung và từng địa phương trong giai đoạn mới, trong Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Xây dựng
và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã xác định mục tiêu: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảng
Trang 33tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh [38] Nghị quyết số 29 - NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định: Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả Ngày 24/3/2015, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 42-CT/TW
về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 - 2030”, trong
đó cũng xác định: Giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, quan trọng, đòi hỏi phải có sự quan tâm, đầu tư thích đáng [40]
Đất nước đang tiến hành đổi mới và hội nhập sâu rộng trong bối cảnh toàn cầu hóa Hơn bao giờ hết, lòng yêu nước, tinh thần yêu nước của mỗi người gắn liền với trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" Càng khó khăn, thử thách, truyền thống yêu nước, tinh thần yêu nước của mỗi người dân Việt Nam được hun đúc từ bao đời, trở thành sức mạnh Việt Nam, biểu tượng Việt Nam càng được tiếp tục khơi dậy mạnh mẽ, tỏa sáng trên tinh thần: “Yêu nước thì việc gì có lợi cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức làm cho kỳ được Điều gì có hại cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức trừ cho kỳ hết” [15], để luôn chủ động, quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN…
Thanh niên, HS là cội nguồn sức sống của dân tộc; là lực lượng xung kích
và sáng tạo của cách mạng, là lực lượng dự bị chiến đấu của Đảng, nên cần được chuẩn bị tốt về mọi mặt Trong bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng
Trang 34và rất cần thiết” [18] Chính vì vậy, GDTTCMĐP cho HS, sinh viên trước hết giúp cho thế hệ trẻ nhận thức đầy đủ sâu sắc về lịch sử địa phương thấy được những giá trị truyền thống, ý thức cội nguồn dân tộc, hiểu được những đức tính, phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam Những hiểu biết sâu sắc về TTCMĐP đó sẽ giúp HS, sinh viên biết kế thừa và phát huy những truyền thống quý giá của dân tộc, đồng thời biết phê phán, đấu tranh với những quan niệm, biểu hiện đi ngược với những giá trị truyền thống
1.3.1.2 Mục tiêu của chương trình giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh ở trường trung học phổ thông
Trong Chỉ thị của Ban Bí thư “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế
hệ trẻ giai đoạn 2015-2030” nhận định: “giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ còn nhiều hạn chế, yếu kém Nhiều tổ chức, cá nhân chưa nhận thức đúng và đầy đủ tầm quan trọng của nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ, nhất là trong bối cảnh đất nước có nhiều thay đổi Việc cụ thể hoá các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác giáo dục thế hệ trẻ chưa kịp thời và hiệu quả; nhiều mục tiêu, chỉ tiêu chưa đạt yêu cầu Vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong chăm lo, giáo dục thế hệ trẻ chưa được như mong muốn, chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay Một bộ phận giới trẻ giảm sút niềm tin, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, thiếu
lý tưởng, xa rời truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc Một số ít thanh niên
bị các thế lực thù địch lôi kéo, kích động chống sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta” [39] Vì vậy, Chỉ thị xác định mục tiêu: “Giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, quan trọng, đòi hỏi phải có sự quan tâm, đầu tư thích đáng Đầu
tư cho giáo dục, trong đó có giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ là đầu tư cho tương lai của đất nước Đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, của các cấp, các ngành, đoàn thể, gia đình và toàn xã hội; tạo
Trang 35điều kiện tối đa cho thế hệ trẻ học tập, lao động, cống hiến, là lực lượng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của Đảng,
của dân tộc” [39]
Bên cạnh đó, trong Đề án số: 1501/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đưa
ra mục tiêu của “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2015 - 2020” là: Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam nhằm tạo chuyển biến căn bản về đạo đức, lối sống phát triển toàn diện; yêu gia đình, có đạo đức trong sáng, lối sống văn hóa; yêu nước, tự hào dân tộc, kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có ý thức tuân thủ pháp luật; có năng lực và bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khỏe, tri thức và
kỹ năng lao động, trở thành những công dân có ích, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [28]
Trong Luật Giáo dục tại Điều 27 Luật Giáo dục 2005 quy định về mục tiêu của giáo dục phổ thông là: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng
cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [4] Vì vậy, chúng tôi cho rằng GDTTCMĐP cho HS THPT là nội dung quan trọng không thể thiếu trong chương trình GD hiện nay, đó là điều kiện thiết yếu để hướng đến hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN trong bối cảnh đổi mới và phát triển hiện nay Hay nói cách khác, mục đích của GDTTCMĐP cho HS THPT
đó là:
Một là, trang bị cho HS những hiểu biết cơ bản về văn hóa, lịch sử, địa lý,
kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp, giáo dục quốc phòng an ninh trên địa bàn tỉnh Bình Định
Trang 36Hai là, bồi dưỡng cho HS tình yêu quê hương, đất nước, tìm hiểu và vận
dụng những điều đã học để góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa của địa phương, góp phần xây dựng văn hóa, kinh tế - xã hội ngày càng phát triển
Ba là, xây dựng thái độ lao động mới, ý thức tự lực tự cường, có trách
nhiệm với xã hội, với tương lai của dân tộc, tiếp tục sự nghiệp của các thế hệ cha anh đi trước, xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN Giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ còn nhằm bảo đảm sự kế tục và thống nhất giữa các thế hệ cách mạng Việt Nam
1.3.1.3 Nội dung, chương trình giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh ở trường trung học phổ thông
Trong Công văn số 1106/BGDDT-GDTrH Biên soạn và tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương trong chương trình giáo dục phổ thông mới đã định hướng các nội dung cụ thể về giáo dục địa phương cho HS cụ thể là: (1) Các vấn đề về văn hóa, lịch sử truyền thống của địa phương: Về văn hóa: Lễ hội truyền thống; các loại hình nghệ thuật truyền thống; truyền thống quê hương; phong tục, tập quán địa phương; xây dựng nếp sống văn minh, tôn trọng kỷ cương, pháp luật Về lịch sử, truyền thống: Danh nhân văn hóa; di tích lịch sử; bảo tàng, lịch sử hình thành và phát triển của địa phương
(2) Các vấn đề về địa lý, kinh tế, hướng nghiệp của địa phương: Về địa lý địa phương: Địa lý tự nhiên; địa lý dân cư; địa lý kinh tế xã hội; địa lý du lịch
và định hướng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Về kinh tế, hướng nghiệp: Thị trường lao động; các ngành nghề, làng nghề truyền thống; các ngành kinh
tế mũi nhọn của địa phương; tiềm năng phát triển kinh tế địa phương
(3) Các vấn đề về chính trị - xã hội, môi trường của địa phương: Về chính trị - xã hội: Chính sách an sinh xã hội; các vấn đề giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống Về môi trường: Bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học; ứng phó với biến đổi khí hậu
Dựa trên hướng dẫn của Công văn số 1106/BGDDT, Ủy Ban Nhân dân tỉnh Bình Định đã ban hành Kế hoạch “tổ chức biên soạn và triển khai nội
Trang 37dung giáo dục địa phương trong chương trình giáo dục phổ thông mới trên địa bàn tỉnh Bình Định (Số: 92/KH-UBND, Bình Định, ngày 27 tháng 11 năm 2019) [6] với những nội dung cụ thể sau:
Một là, các vấn đề văn hóa, lịch sử truyền thống của tỉnh: Về văn hóa
truyền thống bao gồm: Lễ hội truyền thống, các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian, trí thức dân gian, tập quán xã hội, phong tục tập quán địa phương, xây dựng nếp sống văn minh trong giai đoạn hiện nay, tôn trọng kỷ cương, pháp luật Về lịch sử, truyền thống: Danh nhân văn hóa lịch sử; di tích văn hóa
- lịch sử; bảo tàng lịch sử, bảo tàng cách mạng, lịch sử hình thành và phát triển của địa phương; lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định Về thể thao truyền thống: Giảng dạy, phát triển bộ môn Võ cổ truyền Bình Định trong trường học
Hai là, các vấn đề về địa lí, kinh tế, hướng nghiệp của tỉnh: Về địa lí: Địa
lí tự nhiên; địa lí kinh tế - xã hội Về kinh tế, hướng nghiệp: Tiềm năng kinh
tế - tài nguyên; thị trường lao động; các ngành nghề, làng nghề truyền thống; các ngành kinh tế mũi nhọn của Bình Định
Ba là, các vấn đề chính trị - xã hội, môi trường: Về chính trị - xã hội:
Chính sách an sinh xã hội; các vấn đề giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, kĩ năng sống Về môi trường: Bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học; ứng phó biến đổi khí hậu
Bốn là, các vấn đề về gia đình: GDĐĐ lối sống trong gia đình, xây dựng
môi trường sống lành mạnh trong gia đình nhằm giảm tình trạng bạo lực học đường
Tóm lại, tùy theo đặc thù của mỗi địa phương để có những nội dung giáo dục phù hợp với lứa tuổi HS THPT, tuy nhiên khi xây dựng GDTTCMĐP cho
HS THPT phải đảm bảo các nội dung như: Các vấn đề về lịch sử, truyền thống, văn hóa của địa phương: Lịch sử hình thành và phát triển; danh nhân văn hóa; di tích lịch sử; bảo tàng; lễ hội truyền thống; các loại hình nghệ thuật truyền thống, văn hóa nghệ thuật dân gian; truyền thống quê hương; phong tục, tập quán địa phương; xây dựng nếp sống văn minh, tôn trọng kỷ cương,
Trang 38pháp luật Bên cạnh đó còn có các vấn đề về địa lý và kinh tế, hướng nghiệp như: thị trường lao động; các ngành nghề, làng nghề truyền thống; các ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương; tiềm năng phát triển kinh tế địa phương; các vấn đề về chính trị - xã hội, môi trường… Để khái quát hơn trong việc thu thập thông tin của luận văn, trong nghiên cứu này tác giả tập trung vào 7 nội dung cơ bản thường được áp dụng để GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL cho HS THPT như sau:
Truyền thống đấu tranh chống giặc ngoài xâm, ý thức tự cường dân tộc, lí tưởng cách mạng, tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường;
Tinh thần yêu nước, ý thức trách nhiệm của thanh niên trong xây dựng và bảo vệ quê hương, tổ quốc;
Các di sản văn hóa, di tích lịch sử, các anh hùng liệt sĩ, các tấm gương yêu nước;
Những tấm gương người tốt việc tốt trên các lĩnh vực đời sống, sống, làm việc, học tập theo tấm gương Bác Hồ cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, lòng nhân ái bao dung;
Ý thức giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, xây dựng các nét văn hóa mới tốt đẹp;
Kế thừa tinh thần cần cù, chịu khó, khắc phục khó khăn trong học tập, lao động;
Giá trị của hòa bình, độc lập dân tộc, lòng yêu hòa bình, tình hữu nghị giữa các dân tộc, ý thức hợp tác
1.3.1.4 Các hình thức giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh ở trường trung học phổ thông
Hình thức GDTTCMĐP cho HS THPT rất phong phú và đa dạng, không chỉ đóng khung trong các trường học với các giờ giảng trên lớp mà còn đưa các nội dung, chủ đề giáo dục vào mọi hoạt động thực tiễn của cá nhân và tập thể HS tại trường lớp, ngoài xã hội qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp như:
Trang 39sinh hoạt dã ngoại, lao động công ích, thể thao, văn nghệ, tham quan.v.v Dưới đây là một số hình thức chủ đạo:
Thứ nhất, GDTTCMĐP cho HS thông qua các môn học dạy các môn khoa học cơ bản: Trong nhà trường tất cả các môn học đều có tác dụng to lớn,
trong việc hình thành và phát triển năng lực, trí tuệ, tình cảm, niềm tin của
HS Thông qua các môn học cơ bản, đặc biệt các môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội như lịch sử, văn học, địa lý, giáo dục công dân cung cấp cho
HS những kiến thức khoa học khách quan, có niềm tin, tình cảm đạo đức những hiểu biết yêu cuộc sống, có sự đồng cảm với mọi người xung quanh, về quy luật vận động của các chế độ xã hội trong quá khứ, các trào lưu tư tưởng chính trị trong lịch sử, qua đó HS nhận thức được TTCM của dân tộc và địa
phương trong quá trình dựng nước và giữ nước của cha ông ta
Thứ hai, GDTTCMĐP cho HS thông qua hoạt động sinh hoạt tập thể và ngoài giờ học: Các hoạt động ngoài giờ lên lớp rất phong phú về nội dung và
hình thức tổ chức như các hoạt động tập thể, vui chơi sinh hoạt chủ điểm, văn nghệ, thể dục thể thao Các hoạt động NGLL giúp HS trải nghiệm về các giá trị GDTTCMĐP, từ đó hình thành cảm xúc về tình yêu quê hương đất nước, rèn luyện các hành vi đạo đức phù hợp để phát huy các giá trị cách mạng vốn
có của các thế hệ cha ông để lại
Thứ ba, giáo dục TTCMĐP cho HS thông qua các hoạt động ngoại khóa:
“Trăm hay không bằng tay quen", để GDTTCMĐP cho HS cần kết hợp với
các hoạt động ngoại khóa để học sinh có cơ hội được chứng kiến và trải nghiệm thực tế Chẳng hạn:
Tổ chức cho HS tham quan các di tích văn hóa, di tích lịch sử ở địa phương: dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm đấu tranh để giải phóng dân tộc, vì vậy các di tích văn hóa, lịch sử là những chiến công vẻ vang, vì vậy đối với HS THPT việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa giúp các em có cái nhìn thực tế về những công lao mà các thế hệ cha ông để lại Từ đó, giúp
HS tự hào hơn về lịch sử cách mạng địa phương, từ đó hình thành thái độ
Trang 40đúng đắn, niềm tự hào về dân tộc, để học sinh nỗ lực phấn đấu trong học tập,
có ý chí vươn lên để xây dựng địa phương ngày càng phát triển
Giao lưu gặp gỡ các nhân chứng lịch sử ở địa phương: Đây là hình thức quan trọng vì HS không những nghe mà còn trực tiếp được gặp gỡ các chứng nhân lịch sử - những người đã trực tiếp tham gia đấu tranh để giải phóng dân tộc Điều đó càng kích thích niềm đam mê, thái độ kính trọng, tình yêu lịch sử quê hương dân tộc, nơi mà HS được sống và học tập như ngày hôm nay
1.3.2 Công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh ở trường trung học phổ thông
1.3.2.1 Đặc điểm giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh ở trường trung học phổ thông
Song song với dạy học chính khoá, hiện nay theo quy định trong chương trình dạy học của Bộ GD&ĐT các trường học còn có hoạt động NGLL, đây là một hình thức học tập rất linh hoạt về cả thời gian lẫn nội dung, địa điểm cũng như hình thức tổ chức và có sự tham gia của cả các giáo viên thuộc các
bộ môn khác, các tổ chức đoàn thể như Đoàn, Đội, Công đoàn, Phụ nữ và lãnh đạo nhà trường
Một số đặc trưng cơ bản của hoạt động GDTTCMĐP thông qua hoạt động GDNGLL cho HS ở trường THPT như:
Không bị khống chế về thời gian như trong các bài học chính khoá;
Không bị khống chế về không gian, có thể tổ chức hoạt động GDTTCMĐP NGLL tại lớp học, hội trường, phòng truyền thống, tại sân trường, vườn trường, tại các khu vực khác nhau của địa phương, tại các khu di sản thiên nhiên, các khu công nghiệp ;
Không bị khống chế về nội dung, có thể gắn liền với nội dung kiến thức của một môn học chính khóa; có thể có nội dung nhằm hưởng ứng cuộc vận động của các bộ ngành khác trong xã hội, có thể có nội dung nhân dịp một các