Vị trí đó nói lên quan hệ giữa môn Ngữ văn và các môn học khác, và các môn học khác cũng có thể góp phần giúp học tốt môn Ngữ văn, môn Ngữ văn lại có quan hệ khá mật thiết với các môn th
Trang 1SKKN Môn Ngữ Văn
Kinh nghiệm giảng dạy các biện pháp tu từ trong môn Ngữ Văn ở trường THCS
I Lời giới thiệu
M Gorki, đại văn hào Nga từng nhận định: “Văn học là nhân học” Môn
Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội Điều đó nói lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh Môn Ngữ văn còn là một môn học thuộc nhóm công cụ Vị trí đó nói lên quan hệ giữa môn Ngữ văn và các môn học khác, và các môn học khác cũng có thể góp phần giúp học tốt môn Ngữ văn, môn Ngữ văn lại có quan hệ khá mật thiết với các môn thuộc nhóm nghệ thuật…
Xuất phát từ những căn cứ đó, môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của THCS, góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn PTCS, chuẩn bị cho họ hoặc ra đời, hoặc tiếp tục học ở bậc học cao hơn Đó là những con người có ý thức tu dưỡng, biết yêu thương quý trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác Đó là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước dầu có năng lực cảm thụ các giá trị Chân – Thiện – Mỹ trong nghệ thuật, trước hết là trong văn học, có năng lực thực hành và năng lực sử dụng tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp Đó cũng là những con người có ham muốn đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
* Về kiến thức: Chương trình yêu cầu làm cho học sinh nắm được những đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của các loại đơn vị từ vựng, từ loại chính, kiểu câu thường dùng, nắm được những tri thức về ngữ cảnh, về ý định, về mục đích, về hiệu quả giao tiếp, nắm được các quy tắc chi phối việc sử dụng tiếng Việt để giao tiếp trong nhà trường cũng như ngoài xã hội
* Về kĩ năng: Chương trình nhấn mạnh trọng tâm của việc rèn luyện kĩ năng Ngữ văn cho học sinh là làm cho học sinh có kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt khá thành thạo theo các kiểu văn bản và có kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, bước đầu có năng lực cảm nhận và bình giảng văn học
* Về thái độ, tình cảm: Chương trình yêu cầu một cách toàn diện, nâng cao ý thức giữ gìn sự giàu đẹp của tiếng Việt và tinh thần yêu quý các thành tựu của văn học dân tộc và văn học thế giới, xây dựng hứng thú và thái độ nghiêm túc, khoa học trong việc học tập tiếng Việt và văn học; có ý thức và biết cách ứng xử, giao tiếp
Trang 2trong gia đình, trong trường học và ngoài xã hội một cách có văn hóa, yêu quý những giá trị Chân – Thiện – Mỹ và khinh ghét những cái xấu, cái ác được phản ánh trong văn bản đã học
Từ việc nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, tôi mong muốn đem chút kinh nghiệm nhỏ bé của mình cùng các đồng nghiệp tham bàn để dạy phân môn Tiếng Việt nói chung và dạy các biện pháp tu từ nói riêng đạt hiệu quả cao nhất
Đó chính là lí do tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Kinh nghiệm giảng dạy các biện
pháp tu từ trong môn Ngữ Văn ở trường THCS”
II Nội dung
1 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
* Thuận lợi:
- Trường THCS Vĩnh Thịnh là một trường có bề dày truyền thống và thành tích Mũi nhọn giáo viên giỏi, học sinh giỏi được duy trì đều đặn Giáo viên say mê nghề nghiệp, đầu tư thời gian cho hoạt động chuyên môn, học tập và trau dồi kiến thức của mình
- Đa số các em học sinh chăm chỉ và có đạo đức tốt Phụ huynh học sinh quan tâm tới việc học tập và rèn luyện của các em nên đầu tư tốt về vật chất phục vụ cho việc học tập và động viên về mặt tinh thần
* Khó khăn:
- Đối với học sinh:
Các em chưa xác định được khái niệm của mỗi phép tu từ, còn lẫn lộn giữa các phép tu từ, chưa phân biệt được sự giống nhau và khác nhau giữa các phép tu từ
đó, nên dẫn đến việc hiểu sai hoặc hiểu chưa rõ về giá trị nghệ thuật cũng như nội dung của mỗi phép tu từ Trong mỗi bài kiểm tra tiếng việt các em còn rất lúng túng khi xác định các phép tu từ và phân tích ý nghĩa trong mỗi đoạn thơ, đoạn văn
* Đối với giáo viên:
- Một số giáo viên khi dạy các phép tu từ còn gặp nhiều khó khăn, nhiều tiết dạy chưa đạt hiệu quả cao như: Dạy chưa hết bài, hướng dẫn học sinh một cách chung chung, chưa tỉ mỉ, cách nhận biết, cách tìm hiểu giá trị nghệ thuật, cách vận dụng
tu từ vào bài viết chưa cao, dẫn chứng trong bài dạy còn nghèo, chưa biết dùng đoạn văn mẫu để các em học tập, chưa phát huy hết khả năng của học sinh
2 Cơ sở lí luận.
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tiếng Việt là thứ của cải vô cùng lâu đời
và vô cùng quý báu”, bởi vậy mà rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt là vấn đề
Trang 3quan trọng trong giảng dạy Ngữ văn ở trường THCS Qua học phân môn Tiếng Việt các em sẽ được trau dồi kĩ năng sử dụng vốn tiếng Việt của mình, vận dụng vào khâu tìm hiểu, khám phá các tác phẩm văn học trong nhà trường Từ đó các em
sẽ dễ dàng khám phá được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn thơ, cảm nhận được các tầng bậc ý nghĩa của một đơn vị ngôn từ được dùng trong một câu thơ, câu văn hay một đoạn văn, đoạn thơ Mà muốn nhận thức được sự hàm súc, ý nghĩa sâu sắc của một đơn vị ngôn ngữ văn chương thì học sinh phải nắm thật chắc về các biện pháp tu từ được học trong nhà trường Có như thế các em mới giải được các dạng bài tập đề chỉ ra ý nghĩa, tác dụng biểu đạt của đơn vị ngôn ngữ, từ đó chỉ ra cái hay, cái đẹp của một tác phẩm văn chương
Khi nói và viết ngoài những cách sử dụng ngôn ngữ thông thường còn có thể sử dụng ngôn ngữ theo một cách đặc biệt gọi là biện pháp tu từ Biện pháp tu từ là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt ở một đơn vị ngôn ngữ nào đó (từ, câu, văn bản) trong một ngữ cảnh cụ thể nhằm mục đích tạo ra một hiệu quả nhất định với người đọc, người nghe như ấn tượng về một hình ảnh, một cảm xúc, một thái độ…
so với cách sử dụng ngôn ngữ thông thường, sử dụng biện pháp tu từ đúng sẽ tạo nên những giá trị đặc biệt trong biểu đạt và biểu cảm
Trong tiếng Việt, các biện pháp tu từ rất phong phú, đa dạng Do khả năng biểu đạt, biểu cảm đặc biệt, các biện pháp tu từ rất được chú trọng sử dụng trong những văn bản nghệ thuật Với một văn bản nghệ thuật, người ta có thể sử dụng một hoặc nhiều biện pháp tu từ khác nhau và thậm chí có thể khai thác tối đa sức mạnh nghệ thuật của một vài biện pháp tu từ nào đó Điều này góp phần tạo nên dấu ấn cá nhân độc đáo trong nghệ thuật sử dụng các biện pháp tu từ
Biện pháp so sánh, ẩn dụ và nhân hóa là những biện pháp tu từ ngữ nghĩa gần nhau Ẩn dụ là một biến thể của so sánh hay còn gọi là so sánh ngầm Nhân hóa là một biến thể của ẩn dụ nhằm làm cho đối tượng được nói đến (là vật) trở nên dễ hiểu, gần gũi với con người hơn Nếu như so sánh có tác dụng tạo ra những hình ảnh cụ thể, sinh động, gợi cảm thì ẩn dụ lại làm cho ý nghĩa của từ ngữ trở nên trừu tượng hơn, sâu xa hơn và dễ làm rung động lòng người Trong cách nói hằng ngày
người Việt Nam thường dùng so sánh ví von : Đẹp như tiên giáng trần, hôi như
cú, vui như tết, xấu như ma …Khiến lời nói vừa có hình ảnh vừa thấm thía Còn
trong văn bản nghệ thuật, so sánh được dùng như một biện pháp tu từ với thế mạnh đặc biệt khi gợi hình, gợi cảm Đôi khi có những so sánh rất bất ngờ, thú vị, góp phần cụ thể hóa được những gì hết sức trừu tượng, khó cân đo, đong đếm Một cảm
giác khó nói được cụ thể hóa : “Thấy em như thấy mặt trời Chói chang khó ngó
trao lời khó trao” Một cung bật hiện hữu về tình cảm sinh động : “Tình anh như nước dâng cao Tình em như dải lụa đào tẩm hương” Những cung bậc âm thanh
khác nhau trong tiếng đàn “Lầu bậc ngũ âm” của Thúy Kiều được Nguyễn
Du miêu tả rất cụ thể qua những so sánh mang tính phát hiện mới mẻ:
Trang 4Trong như tiếng hạc bay qua Đục như tiếng suối mới xa nữa vời.
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.
Thế mạnh của biện pháp so sánh là góp phần gợi ra trong trí tưởng tượng của người đọc những hình ảnh cụ thể, những liên tưởng thú vị chính xác được nói đến Thế mạnh của ẩn dụ là làm cho lời thoại giàu tính biểu cảm Trong văn chương, ẩn
dụ là một phương tiện tu từ được sử dụng khá phổ biến
Ví dụ: Cùng thể hiện hình tượng Bác Hồ – Vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, văn học có nhiều cách nói ẩn dụ :
Người cha mái tóc bạc Đốt lửa cho anh nằm
(Minh Huệ)
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.
(Viễn Phương) Cách nói đầu từ những quan sát về hành động, thái độ của Bác trong một đêm
chiến dịch giữa rừng Việt Bắc, nhà thơ Minh Huệ đã thốt lên những lời nói cảm động “Người cha mái tóc bạc” cách nói này đã thể hiện lòng biết ơn, lòng kính
yêu của nhà thơ đối với Bác và hơn thế nữa đã góp phần gợi tả một cách sinh động, tình cảm, sự chăm sóc ân cần của Bác Hồ đối với các chiến sĩ bộ đội Bác không chỉ là vị lãnh tụ vĩ đại, linh hồn của cuộc kháng chiến mà còn là một người cha già
gần gũi, tận tụy lo lắng cho giấc ngủ đêm đông của những đứa con Từ “Người
cha” đã xóa đi khoảng cách giữa một vị lãnh tụ với quần chúng khiến hình ảnh Bác
càng trở nên gần gũi, thân thương hơn
Ở cách nói thứ hai tác giả dùng hình ảnh mặt trời hai lần Nếu như mặt trời ở câu thứ nhất được dùng với nghĩa gốc chỉ mặt trời thật đang ngày ngày tỏa sáng trên bầu trời thì mặt trời ở câu thứ hai là ẩn dụ, biểu thị sự cao đẹp, vĩnh hằng, sự tỏa sáng từ con người Bác Bác đang yên nghỉ trong lăng nhưng Bác vẫn mãi mãi là ánh sáng kỳ diệu luôn chói lọi và rực rỡ Sự so sánh lý thú và độc đáo của nhà thơ Viễn Phương xuất phát từ liên tưởng tương đồng về sự tỏa sáng của hai mặt trời :
Mặt trời tự nhiên và mặt trời “Là Bác Hồ”.
Do có chức năng nhận thức và biểu cảm đặc biệt nên ẩn dụ, nhân hóa được sử dụng rộng rãi trong các văn bản văn học Chẳng hạn các từ anh hùng, hi sinh vốn
chỉ dùng cho người lại được dùng để ngợi ca cây tre Việt Nam : “Tre hi sinh để
Trang 5bảo vệ con người Tre anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu" Nhờ ẩn dụ,
nhân hóa người ta có thể tâm tình giải bày tình cảm với loài vật vô tri vô giác như
là những người bạn thân thiết, gần gũi : “Trâu ơi ta bảo trâu này”, “Núi cao chi
lắm núi ơi” Đọc "Dế mèn phiêu lưu kí" các em rất thích bởi nghệ thuật nhân hóa
đã làm cho một con vật bé nhỏ, bình dị trở thành một : “chú bé người” Dế Mèn
sinh động, có những thói quen sinh hoạt, có nhiều trò dại dột, có những nếp nghĩ
và đặc biệt là những nét tính cách như là một cậu bé trai hiếu động, tinh nghịch Dùng trong một ngữ cảnh và tạo nên hiệu quả tu từ đặc biệt Câu ca dao sau là một
ví dụ :
Đôi ta là bạn thong dong, Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng.
Bởi chưng thầy mẹ nói ngang, Cho nên đũa ngọc mâng vàng xa nhau.
“Đũa ngọc mâm vàng” ở câu trên là so sánh, ở câu sau là ẩn dụ Cùng là một từ
ngữ nhưng Đũa ngọc mâm vàng ở câu sau gợi liên tưởng sâu sắc hơn, gợi cảm hơn
về một sự ngang trái, trớ trêu lẽ ra không nên có
Bên cạnh những biện pháp trên, trong các văn bản nghệ thuật, biện pháp hoán dụ được sử dụng nhiều với tác dụng khắc sâu, nhấn mạnh một đặc điểm tiêu biểu nào
đó của đối tượng được nói tới trong văn bản Ví dụ, khi tái hiện lại cảnh chia tay lưu luyến giữa nhân dân Việt Bắc với người cán bộ kháng chiến nhà thơ Tố Hữu viết:
Áo chàm đưa buổi phân li, Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.
Từ "áo chàm" đã được dùng theo lối hoán dụ lấy tên một loại áo thông dụng của người Việt Bắc Từ "áo chàm" đã mở ra trong liên tưởng người đọc, người nghe
hình ảnh con người Việt Bắc chân phương, mộc mạc nhưng rất gần gũi, rất thân thương
Một biện pháp tu từ cú pháp khác cũng được sử dụng nhiều trong văn học là biện pháp đảo ngữ Mỗi trật tự câu bình thường những có thể đảo vị trí trước sau của chủ ngữ có tác dụng làm thay đổi tiết tấu câu văn, gây ấn tượng, gợi màu sắc biểu cảm nhờ vào việc đưa nội dung cần nhấn mạnh lên đầu câu Bà Huyện Thanh
Quan là một trong những nhà thơ cổ điển Việt Nam đã khai thác rất thành công thế
mạnh của biện pháp tu từ này trong thi phẩm của mình, đây cũng là một đặc điểm làm cho thơ của bà được coi là mẫu mực của thể thơ Đường luật nhưng những gì nói đến vẫn hiện ra cụ thể sinh động, vẫn rất gợi hình, gợi cảm chứ không thuần túy cổ kính, mơ hồ :
Trang 6Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia
Hay :
Gác mái ngư ông về viễn phố
Gõ sừng mục tử lại cô thôn
Trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học và lớp 6, 7, 8 Trung học cơ sở, các em
đã được làm quen với các biện pháp tư từ thông dụng như : So sánh, ẩn dụ, hoán
dụ, nhân hóa, nói giảm, nói tránh, điệp ngữ, liệt kê… Chương trình đã có hướng tích hợp Tiếng Việt với Văn và Tập làm văn được thể hiện rõ nhất ở cách sắp xếp nội dung và khai thác nội dung trong các bài học Tiết 1 thường là tiết tìm hiểu văn bản, tiết 2 là tiết Tiếng Việt, tiết 3 là tiết Tập làm văn Đó là điều kiện để phần Tiếng Việt có thể phục vụ việc học Văn và Tập làm văn Việc dạy Tiếng Việt gắn với văn bản vừa làm học sinh hiểu văn bản một cách sâu sắc, vừa làm cho bản thân việc dạy Tiếng Việt bớt khô khan, nặng nề, đồng thời giúp cho học sinh có thể hình thành kĩ năng tạo lập các loại văn bản
3 Kinh nghiệm giảng dạy các biện pháp tu từ trong môn Ngữ Văn ở trường THCS
3.1 Hướng dẫn học sinh cách nhận biết về các phép tu từ:
Dựa vào đặc điểm của mỗi phép tu từ thông qua các dấu hiệu về hình thức và nội dung, giáo viên giúp học sinh nắm vững kiến thức về khái niệm, cấu tạo, các dạng kiểu của phép tu từ Từ đó học sinh có cách nhận biết về các phép tu từ
* Phép tu từ so sánh
- Khái niệm: So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác
có nét tương đồng để tạo nên một hình ảnh cụ thể, hàm súc cho sự diễn đạt Nghĩa
là đem cái chưa biết, chưa rõ đối chiếu với cái đã biết để qua cái đã biết mà nhận thức, hình dung được cái chưa biết
- Cấu tạo: Giáo viên hướng dẫn học sinh phát hiện phép so sánh thông qua cấu trúc của nó
Cấu trúc của phép so sánh bao giờ cũng có hai vế
- Vế A (Nêu tên sự vật, sự việc được so sánh)
- Vế B (Nêu tên sự vật, sự việc dùng để so sánh với sự vật, sự việc nói ở vế A) Giữa hai vế thường có:
- Từ ngữ chỉ phương diện so sánh
Trang 7- Từ ngữ so sánh
Hoặc có thể vắng từ ngữ chỉ phương diện so sánh, hoặc vắng từ ngữ so sánh, hoặc
cả hai
Sau khi tìm hiểu, giáo viên cho học sinh rút ra bài học mô hình của phép so sánh rất đa dạng để học sinh, đặc biệt là học sinh yếu, trung bình dễ nhận biết Mỗi dạng giáo viên lấy nhanh hoặc cho học sinh lấy nhanh một ví dụ để minh họa
- Dạng đầy đủ:
Vế A + Phương diện so sánh(PDSS) + Từ ngữ so sánh(TNSS) +Vế B
Ví dụ: Rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận
Vế A PDSS TNSS Vế B
- Dạng biến đổi ít nhiều
Vế A + TNSS + Vế B Ví dụ: Trẻ em như búp trên cành
Vế A TSS Vế B
Vế A + Vế B Ví dụ: Tấc đất tấc vàng
Vế A Vế B
TNSS + Vế B + Vế A
Ví dụ: Như tre mọc thẳng, con người không chịu khuất phục
TSS Vế B Vế A
Vế B + Vế A Ví dụ: Trường Sơn: Chí lớn công cha
Vế B Vế A
- Các kiểu so sánh: Dựa vào mục đích và các từ so sánh, người ta chia phép so sánh thành 2 kiểu:
+ So sánh ngang bằng: thường được biểu hiện bởi các từ so sánh: là, như, y
như, tựa như, hoặc cặp đại từ bao nhiêu bấy nhiêu.
+ So sánh hơn kém: từ so sánh được sử dụng là các từ: hơn, hơn là,kém, kém
gì.
Ví dụ: Áo rách khéo vá hơn lành vụng may
(Tục ngữ)
* Phép tu từ ẩn dụ.
- Khái niệm: Ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng
Trang 8- Khi dạy bài này, giáo viên cần phân tích làm rõ mối quan hệ gữa ẩn dụ và so sánh
đã học ở tiết trước để học sinh dễ hình dung Ẩn dụ là một loại so sánh ngầm, trong
đó ẩn đi sự vật, sự việc được so sánh (Vế A), phương diện so sánh, từ so sánh chỉ còn sự vật, sự việc được dùng so sánh (Vế B) Vậy muốn tìm được phép ẩn dụ thì phải xuất phát từ từ ngữ ẩn dụ (Vế B) để tìm đến vế A (sự vật, sự việc được so sánh)
- Các phép ẩn dụ:
+ Ẩn dụ cách thức: Loại ẩn dụ này được hình thành trên cơ sở nét tương đồng về cách thức hành động giữa các đối tượng
Ví dụ: Câu thơ:
Về thăm quê Bác làng Sen
Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng
(Nguyễn Đức Mậu)
Từ thắp là phép ẩn dụ cách thức Tác giả đã ví hình ảnh bông hoa nở giống như
những ngọn đèn được thắp sáng lên Ví được như vậy vì chúng có cách thức tương đồng
+ Ẩn dụ hình thức
Ẩn dụ hình thức được hình thành trên cơ sở nét tương đồng về hình thức giữa các đối tượng Con đường hình thành ẩn dụ hình thức có thể xuất phát từ nét tương đồng giữa hình thức của sự vật, hiện tượng và con người
Ví dụ: Cũng trong câu thơ:
Về thăm quê Bác làng Sen
Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng
( Nguyễn Đức Mậu )
Hình ảnh lửa hồng ở đây chỉ màu đỏ của hoa râm bụt Tác giả đã ví những bông
hoa râm bụt nở đỏ như những ngọn đèn - lửa hồng Ví được như vậy vì chúng có hình thức tương đồng
+ Ẩn dụ phẩm chất: Ẩn dụ phẩm chất được hình thành trên cơ sở nét tương đồng
về phẩm chất giữa các đối tượng
Ví dụ : Khi phân tích ví dụ 1 sách giáo khoa
Anh đội viên nhìn Bác
Càng nhìn lại càng thương
Người cha mái tóc bạc
Trang 9Đốt lửa cho anh nằm
(Minh Huệ - "Đêm nay Bác không ngủ")
H: Ở đây Người cha dùng để chỉ ai?
→ Chỉ Bác Hồ
H: Vì sao em biết được điều đó?
→ Nhờ ngữ cảnh của khổ thơ, bài thơ
H: Tại sao tác giả lại dùng Người cha thay thế cho Bác Hồ?
→ Giữa người cha và Bác Hồ có những phẩm chất giống nhau: về tuổi tác, tình yêu thương, sự chăm sóc chu đáo đối với con - Người chiến sĩ
Ví dụ 2: (1) Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
(2) Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
(Viễn Phương - Viếng Lăng Bác )
Đặt trong khung cảnh bài thơ, câu thơ ta thấy:
- Mặt trời(1): Là hình ảnh có thật trong tự nhiên, soi sáng, sưởi ấm cho vạn vật
- Mặt trời(2): Là hình ảnh ẩn dụ
H: Tác giả dùng để chỉ ai?
->Tác giả dùng mặt trời để chỉ Bác Hồ, vị lãnh tụ của dân tộc: Người soi sáng, dẫn đường chỉ lối cho dân tộc ta thoát khỏi cuộc sống nô lệ tối tăm để đi tới tương lai độc lập, tự do
Từ hai ví dụ trên ta thấy, cũng nói đến Bác Hồ nhưng ở phương diện khác nhau nên mỗi tác giả đã sử dụng một hình ảnh ẩn dụ khác nhau để diễn đạt tư tưởng, tình cảm của mình Từ đó các em thấy được khi tìm hiểu các văn bản nghệ thuật cần chú ý phân tích các hình ảnh ẩn dụ (nếu có) để hiểu sâu hơn ý nghĩa của văn bản + Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Là sự kết hợp của hai hay nhiều từ chỉ những cảm giác sinh ra từ trung khu cảm giác khác nhau làm cho cảm giác phong phú, đa chiều, đa vị, đa nghĩa Ẩn dụ cảm giác được chia ra một số loại như sau:
+ Thị giác + nhiệt: Cái màu xanh này mát quá
+ Thính giác + vị giác: Câu chuyện nhạt phèo
+ Thị giác + khứu giác: Thấy thơm rồi đó
+ Khứu giác + vị giác: Một mùi đăng đắng
+ Thính giác + xúc giác: Một tiếng sắc nhọn
Trang 10Ví dụ:
Đoạn văn:
…Chao ôi, trông con sông, vui sướng thấy nắng giòn tan Sau kì mưa dầm, vui
như nối lại chiêm bao đứt quãng…
H: Trong cuộc sống, từ giòn tan, thường dùng chỉ đặc điểm cụ thể của những vật
nào?
- Dùng chỉ đặc điểm của những vật cứng cụ thể khi bị gãy, vỡ như bánh, gỗ,
kính… Chứ không dùng để chỉ hiện tượng tự nhiên như nắng
H: Theo em, cụm từ: nắng giòn tan có gì đặc biệt so với cách nói thông thường?
- Đây là một ẩn dụ chuyển đổi cảm giác của nhà văn Nguyễn Tuân (từ vị giác, thính giác sang thị giác)
Lưu ý: Phân biệt tu từ ẩn dụ với tu từ so sánh
Giáo viên cần giúp học sinh chỉ ra điểm giống nhau và khác nhau giữa hai biện pháp tu từ trong sự đối chiếu , so sánh để tránh nhầm lẫn
So sánh tu từ là cách đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có cùng một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới về đối tượng về bản chất, ẩn dụ là
sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được
so sánh với nhau Tuy nhiên cần phân biệt ẩn dụ tu từ với so sánh tu từ
- Giống nhau:
Sự giống nhau giữa ẩn dụ tu từ và so sánh tu từ chính là cách liên tưởng để rút ra được nét tương đồng giữa hai đối tượng khác loại Nét tương đồng này là cơ sở để hình thành nên ẩn dụ tu từ cũng như so sánh tu từ
Ví dụ:
Thiếp như hoa đã lìa cành Chàng như con bướm lượn vành mà chơi
(Nguyễn Du- "Truyện Kiều")
Hai đối tượng được so sánh ở đây (hoa và người con gái, con bướm và chàng trai)
có sự tương đồng là sự tinh túy, xinh đẹp; sự kiếm tìm cái đẹp và tình yêu Hoa gắn liền với hương thơm, màu sắc Hoa đẹp nhưng chóng tàn, giống như người con gái đẹp nhưng tuổi xuân mau phai nhạt Mối quan hệ của bướm với hoa (bướm say hoa, bướm gần hoa, bướm lượn vành bén hoa…) là mối quan hệ để duy trì nòi giống nếu xét trên quan điểm sinh học Thiếu sự cộng sinh ấy thì cả cây và bướm