1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

HỌC GẦN, HỌC XA doc

164 181 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Học Gần, Học Xa
Tác giả Bựi Trọng Liễu
Trường học Đại Học Paris, Pháp
Chuyên ngành Giáo dục, Triết học, Văn hóa
Thể loại Tạp đàm
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ hơn một năm nay nghỉ hưu, tôi chẳng còn bổn phận phải chuyển giao hiểu biết cho ai nữa ; nhưng cái ý tiết kiệm thời giờ cho người khác vẫn còn đó ; vì thế nên tôi muốn ghi chép lại mộ

Trang 2

HỌC GẦN, HỌC XA

(Tạp đàm)

Bùi Trọng Liễu Nguyên Giáo sư Đại học (Paris, Pháp)

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2005

Mục lục

Chương 1: Tạp đàm với Y, nhưng Y là ai ? 6

Chương 2: Từ ngữ, chơi chữ, và « biết hay không biết » 15

Chương 3: Thương nhân và ảnh hưởng 25

Chương 4: Về một bài báo mang tên « Giảm khinh » 56

Nghiên cứu viên tại Direction des Etudes et Recherches de l'EDF (1959-1963)

Giáo sư đại học (Lille 1963-1969, Paris 1969-2003)

Trang 3

Nghỉ hưu 2003

Bùi Trọng Liễu là tác giả của 4 cuốn sách đã xuât bản ở Việt Nam:

- "Tự sự của người xa quê hương” (tên cũ là “Chuyện gia đình và ngoài đời”) , nxb

Đại học Quốc gia Hà Nội 2004

- "Chung quanh việc Học", nxb Thanh niên 2004

- “Học gần, Học xa” , nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2005

Hai cuốn sách sau do Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và Nxb Tổng hợp tp HCM tái bản dưới đầu đề “Học gần, Học xa” 2006

- "Học Một Sàng Khôn", nxb Tri thức Hà Nội 2007

Một cuốn sách thứ 5, chưa xuất bản, là một "tạp ký bỏ ngỏ: "Hướng về quê cũ lúc chiều

tà" gồm các bài báo gần đây của tác giả đã đăng trên báo

Trang 4

Lời nói đầu

Tôi vốn là một nhà giáo Thuở trẻ thì đi học ; lúc vào đời thì dạy học Nhưng dạy học thì cũng vẫn luôn luôn phải học, học để trau dồi nghề nghiệp, nhưng cũng học để hiểu biết thêm thế giới chung quanh mình, vì mọi sự hiểu biết đều có liên quan Trong bốn mươi năm hành nghề giáo sư đại học ở Pháp trong khuôn khổ chuyên môn của mình, tôi chăm chú chắt lọc, thu gọn những hiểu biết tích lũy của thiên hạ và những tìm tòi suy ngẫm của chính mình, tìm những cái mà mình cho là tinh túy để ghi thành những bài giảng, để chuyển giao cho những sinh viên của mình Tôi vẫn nghĩ rằng đó là cách tiết kiệm thời giờ nhất, có hiệu quả nhất, để chuyển giao kiến thức cho những người theo học, dù ở bất cứ cấp bậc nào, dù là ở năm đầu đại học hay ở cấp nghiên cứu sinh ; thu gọn thì giờ cho họ, để họ có thời gian suy ngẫm tự tìm hiểu thêm những điều cần biết và muốn biết Đó là trong khung cảnh nghề nghiệp của tôi

Như đã nói trên, ngoài đời, tôi cũng có nhiều điều phải học hỏi, về lịch sử, về văn hóa, về học thuật, về cách ứng xử, vv Học hỏi đây, không chỉ qua việc đọc sách, đọc báo, đọc tin, tìm tài liệu, mà còn qua những trao đổi với những người khác, điều gì biết được thì nhớ lấy, điều chưa

tỏ thì hỏi những người đã biết Những sự tích lũy đó, mà tôi đã « học gần, học xa », tôi không muốn bỏ phí Từ hơn một năm nay nghỉ hưu, tôi chẳng còn bổn phận phải chuyển giao hiểu biết cho ai nữa ; nhưng cái ý tiết kiệm thời giờ cho người khác vẫn còn đó ; vì thế nên tôi muốn ghi chép lại một số điều đã tích lũy, để « tặng » những ai muốn đọc, muốn biết, hoặc muốn giải trí trong lúc thư nhàn

Sự hiểu biết là vô tận, ai mà biết hết được những điều muốn biết ! Mục tiêu cuốn sách này rất là khiêm tốn : ghi chép lại một số điều đã thu thập được về những chuyện đông, tây, kim, cổ, dưới dạng trao đổi không « hàn lâm », với cách viết bình dị nhất

Tự tôi không thể biết xếp cuốn sách này vào thể loại nào, tạp sử trá hình ? tạp luận ? tùy bút ?… Hình như từ « tạp » trong tiếng Việt Nam ta là một từ không biểu hiện sự « sang trọng », thuần túy, « phải đạo » Nhưng lấy gì để chỉ một tập hợp của nhiều đề tài, nhiều vấn đề khác nhau, tuy

có một dây liên lạc, dù mỏng manh, nối chúng với nhau ? Từ chuyện thương nhân buôn vua như

Lã Bất Vi, tới Tần Thủy hoàng, dứt nền phong kiến phương đông, qua Lữ hậu giết Hàn Tín, sang đến truyền thuyết hậu duệ là họ Vi, tàn dư phong kiến ở nước ta và đức độ của cụ Hồ, cũng có chút mối liên quan Thương nhân phương Tây với dòng họ Medici, và dây mơ rễ má tới các giáo hoàng của giáo hội La-mã, tới vua chúa, tới mấy nhà văn Pháp, cũng thế Chơi chữ, đọc sách và điểm sách, ông Hồ Tông Thốc và giấc mơ ở đền Hạng vương, cô đào Nicole Kidman và cuốn phim ma tưởng mình là người, Trang Sinh mơ mình là bướm hay bướm mơ mình là Trang Sinh,

mê lộ, vv.và vv., việc học hành, lẽ ra thế này sao lại thế kia, đáng lẽ phải vậy mà hóa ra không phải vậy Linh tinh như thế, không dùng chữ « tạp » thì dùng chữ gì ? Hay nó cũng như thương nhân, hạng chót của bậc thang xã hội ta thuở xưa, sao lại thịnh như vậy trong xã hội khác ? Nhưng tôi là người « bất cơ », nếu dùng theo nghĩa của Tư Mã Thiên , nghĩa là không biết buộc mình theo tập tục, mà vượt ra ngoài lề thói

Trang 5

Viết sách, tôi mới nhận thấy những khó khăn khi ghi tên người, hoặc địa danh nước ngoài, nhất

là tiếng ta hình như chưa định chuẩn thống nhất Ghi bằng tự dạng nước gốc, thì tất nhiên không phải lúc nào cũng có thể làm được (như chữ Hán, chữ A-rập, …) , phiên âm từ cách phát âm bản

xứ cũng thế ; rồi viết có gạch nối hay không, vv Có lẽ tên ta hoặc tên Tàu, vì do ngôn ngữ đơn tiết, tôi sẽ viết không gạch nối Còn tên thuộc ngôn ngữ khác, khi phiên âm, tôi đành để gạch nối, với chữ hoa khởi đầu, chứ không dùng chữ hoa sau gạch nối Nhưng tên người Mông Cổ, lúc chưa Hán hóa thì viết thế nào, lúc đã Hán hóa và vào Trung quốc rồi thì viết thế nào ? Lại còn khó khăn khác Xin đơn cử vài thí dụ : tên gọi các giáo hoàng, ghi theo âm quốc tịch gốc của các

vị, hay theo tên ghi bằng tiếng La-tinh ? Lại như cái tên của nhà thám hiểm Kha-luân-bố (sinh năm 1450 hay 1451 không rõ, mất năm 1506) Ông ta vốn sinh ra ở Genova (nay thuộc Ý), tên lúc sinh ra là Cristoforo Colombo, rồi tiếng Bồ-đào-nha (nơi mà ông ta sinh sống nhiều năm và

cố thuyết phục nhưng không thành công vua nước này giúp cho ông ta thực hiện đề án thám hiểm) gọi ông ta là Cristóvão Colombo ; tiếng Tây-ban-nha (nơi mà ông ta thuyết phục được vua Fernando II và hoàng hậu Isabel la Catolica đỡ đầu và trao sứ mạng thám hiểm cho ông ta) thì gọi ông ta là Cristóval Colón (xứ Castillan) hay là Cristofor Colom (xứ Catalan) ; người Pháp gọi là Christophe Colomb ; tiếng La-tinh viết là Christophorus Colombus ; tiếng Anh là Christopher Columbus ; tiếng Đức là Christoph Kolumbus ; tiếng Hà-lan là Christoffel Columbus, tiếng Thụy-điển là Kristoffer Kolumbus ; những người thủy thủ xứ Breton (Pháp) thì gọi ông ta là Kristol Goulm, vv Còn ta thuở xưa, theo tự dạng chữ Hán của người Tàu phiên âm theo cách đọc của họ, rồi đọc theo kiểu đọc chữ Nho của ta thành Kha-luân-bố Biết viết thế nào cho hợp ? Rốt cục, tôi đánh cố gắng tùy trường hợp, ghi bằng cách nào mà tự mình cho là phù hợp hơn cả, mặc dù tôi sống ở Pháp, quen với cách phát âm của người Pháp, nên có phần thiên vị ngả về tiếng Pháp hơn Mong người đọc thông cảm và khoan dung

Tôi có lời cám ơn các anh chị ĐT, NT, KV, QV, ĐVN nói riêng và DĐF nói chung, đã trực tiếp hay gián tiếp cho tôi một số thông tin về những sự việc, điển tích hay cách dùng từ ngữ

Viết sách mà có được người đọc, là một sự may mắn ; còn khen hay chê là điều mà tác giả, như tôi, phải biết sẵn sàng đón nhận

Paris, tháng 3, 2005

Bùi Trọng Liễu

Trang 6

mơ thấy mình thoát xác, hồn bay lên cao nhìn thấy xác y còn đang nằm đó, cũng như chính y đang nhìn người khác Tỉnh dậy, y nghĩ : nếu vậy, có lẽ mình nhìn mình cũng không khác gì lắm khi mình nhìn người khác

Y lại nhớ chuyện Trang Sinh thuở xưa mơ mình hóa bướm ; khi tỉnh dậy thì tự hỏi rằng đúng vậy hay là mình đang là bướm mơ mình là Trang Sinh (Sách Nam Hoa kinh, thiên Tề vật luận)

Y lại liên tưởng đến cuốn phim « Những kẻ khác » của Alejandro Amenabar, với nữ diễn viên Nicole Kidman trong vai một người phụ nữ trẻ sinh đẹp, góa chồng, cố sống và nuôi dạy hai đứa con nhỏ của mình trong một tòa nhà hẻo lánh Nhà có ma ? Cháu gái bé kể cho em trai nghe thỉnh thoảng về đêm thấy một bé trai xuất hiện … Rốt cuộc, chính ba mẹ con này không ngờ mình đã là ma, và chính những kẻ mà họ tưởng là ma lại là những người đang sống, đến ở thử tòa nhà này mà họ đang dạm mua Mờ mờ ảo ảo Cũng như y tự hỏi y là Y, hay y là người khác ?

Rồi lại có câu chuyện « Mê lộ», xưa và nay, thật và giả Nhắc lại sự tích mê lộ mà nhiều người

đã biết Ngày xửa ngày xưa, ở phương Tây, theo huyền thoại Hy-lạp, con trai vua Egée (Ê-giê) là chàng dũng sĩ hào hiệp Thésée (Tê-dê), tình nguyện đi giết con quái Minotaure (Mi-nô-to) ưa ăn thịt người, để tránh họa cho các thanh thiếu niên bị dâng làm vật hy sinh, mà vua Egée phải cung đốn hằng năm, để trả một món nợ cho vua Minos, chúa đảo có con quái đó Con quái này sống trong một hang sâu, mà đường vào là một công trình kiến trúc kỳ dị mang tên là « Mê lộ » (Labyrinthe), do một kiến trúc sư tên là Dédale (Đê-đa-lơ) xây cất Ai theo con đường này vào, thì lạc không biết lối ra (Do đó, ngày nay trong tiếng Pháp, tên labyrinthe và dédale đã trở thành danh từ chung mang nghĩa mê lộ, đường đi quanh co rắc rối) Ariane (A-ri-an), con gái chúa đảo, phải lòng mê Thésée, bày kế cho chàng hiệp sĩ này, khi lọt vào Mê lộ rồi, có thể tìm được cách ra : đó là kéo theo một sợi dây mà nàng ta cầm một đầu và đứng đợi ở cửa hang, trong khi chàng đi đến đâu thì cứ thả chùng dây đến đó, để rồi khi trở ra thì cứ lần theo dây đó mà ra (Sợi dây đó sau này được gọi là « sợi dây Ariane » trong điển tích văn học) Nhờ có sợi dây đó mà, sau khi giết được con quái, Thésée tìm được đường ra khỏi Mê lộ (1) Ở phương Tây, Mê lộ không

Trang 7

những đã khởi hứng cho nhiều nhà văn nhà thơ, mà cho cả những nhà kiến trúc nữa Đặc biệt, xin kể đến các Mê lộ của 3 nhà thờ Amiens, Reims và Chartres, là ba nhà thờ có tiếng của Pháp (2) Mê lộ của nhà thờ Amiens (thế kỉ 13) là một hình bát giác lát bằng đá trên nền nhà thờ, «vẽ» theo một nét như một sợi dây liên tục dài 234m; hình bát giác này gần như cân đối, nét vẽ quanh

co làm hiện lên, ở trung tâm, một cái thánh giá mà bốn đầu chỉ bốn phương Mê lộ của nhà thờ Chartres (cũng thế kỉ thứ 13) là một hình tròn lát bằng đá trên nền nhà thờ, «vẽ» theo một nét như một sợi dây liên tục dài 261m50 Mê lộ của nhà thờ Reims là một hình vuông mỗi chiều là 10m36 lát bằng đá trên nền nhà thờ, mỗi góc «cắm vào » một hình bát giác, bốn bát giác đóng khung hình của bốn ông kiến trúc sư xây dựng nhà thờ này Vấn đề ở đây là : cả ba Mê lộ này đều được «vẽ » theo một nét liên tục như sợi dây Ariane; như vậy thì tuy quanh co nhưng không thể «lạc », trong khi theo truyền thuyết thì Mê lộ quanh co mắc míu khó ra, chủ ý làm cho người

ta bị lạc Vậy thì đó là Mê lộ « giả » hay Mê lộ «thật »?

Câu hỏi này, y đặt cho tôi khi y ngắm hai bức tranh gỗ tôi vẽ : một bức vẽ tặng vợ tôi, thể hiện câu Kiều lẩy « Mấy mươi năm ấy biết bao nhiêu tình » và bức tranh thưởng cho cháu tôi khi cháu mới biết đọc, thể hiện câu Kiều lẩy « Đầu lòng một ả tố nga » Cả hai bức đều là những chữ Nôm tôi viết theo thể chữ triện, cho nên các cháu nhỏ gọi đùa là Mê lộ, nhưng tất nhiên những nét vẽ ở đây không liên tục một chặng như sợi dây Ariane, và cũng không chủ ý làm lạc lối ai Vậy thì Mê lộ đây tất là Mê lộ « giả » rồi Vậy là có « giả » mà cũng có « thật »

Rồi ngày nay, ở Pháp, Mê lộ cũng là thời thượng của mấy nhà nông chế biến ra : vào mùa hè, một số nhà nông trồng những bụi cây, sắp xếp chúng theo những hàng rào Mê lộ trên những thửa vườn rộng rãi, để du khách dạo chơi Cũng là một thú vui giải trí lành mạnh, thanh tao

Đời Đường bên Tàu cũng có chuyện « Giấc mộng kê vàng »: Lư Sinh đi thi không đỗ, chán nản trở về quê Trên đường, ghé vào quán trọ, thấy ông già chủ quán (một đạo sĩ) đang nấu một nồi

kê Chàng mệt mỏi ngủ thiếp đi, mơ thấy mình thi đỗ, lấy vợ đẹp, làm quan to, hiển vinh, nhưng rồi bị họa Chợt vùng tỉnh dậy, thấy nồi kê của chủ quán còn chưa chín Một cách diễn tả cảnh phù du của cõi đời

Rồi lại có chuyện ông Hồ Tông Thốc Theo cuốn Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (xem bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện, nxb Văn học 1971), ông là sứ thần nước ta cuối đời Trần, đi

sứ sang Trung quốc Ông là người thích mỉa mai châm biếm Trên đường, qua đền thờ Hạng vương (3) , ông ghé thăm, làm một bài thơ tỏ vẻ chế giễu hành động của vương khi còn sống Rồi trở về nhà trọ, uống rượu say nằm ngủ Chợt thấy có người đến, nói có đức vua mời ông lại chơi nói chuyện Ông vội mặc áo, theo người đó đến một nơi cung điện, đã thấy Hạng vương ngồi chờ, mời ông cùng ngồi Hạng vương hỏi sao lúc ban ngày ông làm bài thơ mỉa mai dữ vậy, rồi phân tích từng điều để giải thích Ông Hồ Tông Thốc đáp lại từng điều, đưa những lý do của mình Đến một lúc Hạng vương « tắc họng », không đáp được, mặt tái như tro nguội, thì có vị lão thần là Phạm Tăng tiến lên đỡ lời, phân trần phải trái một hồi, làm cho ông Hồ Tông Thốc rốt cục cũng phải gật đầu coi là có lý Trà cạn, canh tàn, ông từ giã xin về, Hạng vương tiễn ra đến cửa, trời đã rạng sáng, ông chợt vùng thức dậy, té ra chỉ là một giấc mơ Ông bèn mua rượu bày một lễ cúng trước khi rời khỏi nơi đó Ông Hồ Tông Thốc vốn là người có thật (4) , nhưng câu chuyện ông mơ ở đền Hạng vương thì ai mà biết thực hư thế nào! Có lẽ cũng là một cách ông nói

mà không muốn nhận là chính ông nói, vậy thôi Thêm vào đó, câu chuyện do ông Nguyễn Dữ

Trang 8

(5) kể, ông có viện cớ câu chuyện ông Hồ Tông Thốc để gửi gắm tâm sự của mình vào đó không, cho nên lại càng mơ mơ ảo ảo

Khi đề cập đến mấy chuyện trên, y muốn nói là thật giả khó lường Mê mê tỉnh tỉnh Rồi có lúc trong cơn mê, có khi y lại ngỡ y có thể là ai ai đó Nhưng điều này chắc gì đã đúng Y là « một » hay y là « nhiều »? Thôi, xét cho cùng, cái đó cũng không quan trọng

Cái đáng chú ý là y lại có nhiều điều muốn kể, muốn luận bàn Rồi y rủ tôi cùng trao đổi; rồi y muốn tôi viết ra Cũng được Nhưng tôi mất công ghi chép, thì tôi cũng muốn được nhận phần « hơn » : những gì ôn tồn, nghiêm chỉnh, thanh tú, thì tôi nhận phần tôi ; những gì thô bạo, ngang ngược, chướng tai thì y phải nhận Và y đồng ý

Nào, mời bạn đọc nghe y và tôi tạp luận

Nhưng nguồn gốc câu chuyện thần thoại Hy-lạp này còn ly kỳ phức tạp quái gở hơn nữa Khởi thủy là Poseidon (Pô-dê-i-đông), thần Biển, tặng cho vua Minos một con bò đực để vua này làm

lễ tế mình (thần Poseidon), nhưng vua này thấy con bò này đẹp quá, nên giữ lại không giết để làm lễ tế Poseidon giận, muốn trả thù, mới làm phù phép để cho hoàng hậu Pasiphaé (Pa-xi-pha-ê) vợ vua Minos trở thành mê con bò đực này Để bà này có thể giao hoan được với con bò đực, kiến trúc sư Dédale mới làm một cái hình con bò cái rỗng để bà Pasiphaé có thể nằm trong đó

Trang 9

Con bị đực thấy bị cái, tưởng lầm nên mới giao hoan được với bà hồng Bà này thụ tinh con

bị, mới đẻ ra con quái Minotaure nửa bị nửa người, thích ăn thịt người như đã kể trên Để giấu con quái Minotaure này, vua Minos mới sai Dédale xây cái Mê lộ để giấu kín con quái trong đĩ Như vậy là nàng Ariane là chị em cùng mẹ khác cha với con quái, và nhờ sự chỉ dẫn của Dédale, mới biết bí quyết để giúp cho Thésée ra khỏi được Mê lộ Sau khi Thésée trốn thốt rồi, vua Minos giận việc Dédale tiết lộ bí mật, mới giam ơng này và con trai ơng ta là Icare (I-ca) Để trốn thốt ra, Dédale mới chế ra cách dùng lơng chim và sáp dính lại thành bộ cánh chim gắn vào hai cánh tay Icare, để chàng này cõng bố bay lên khơng trốn ra khỏi nơi giam Dédale dặn con đừng bay thấp quá vì sợ hơi nuớc biển bốc lên làm ướt cánh, nhưng cũng đừng bay cao quá , sợ sức nĩng của mặt trời làm chảy sáp gắn lơng cánh Nhưng tới một lúc Icare bay cao quá, sáp chảy ra, hai bố con lăn tịm xuống biển, Icare chết đuối Bố vớt thây con đem chơn ở một cái đảo, nay là cái đảo Icara ở Hy-lạp, mang dấu tích tên Icare Nhưng ở đây cũng khơng chỉ vì chuyện thần thoại Hy-lạp quái gở mà tơi kể ra, mà cịn liên quan một chút đến ngày nay Trên kênh France 5-Arte của đài truyền hình Pháp tối 26-2-2005, cĩ chiếu một cuốn phim thời sự mang tên « Những ngày cuối cùng của thành phố Zeugma », kể lại câu chuyện xây cái đập Birecik ở Thổ-nhĩ-kì Nhân đào bới xây đập, người ta phát hiện ra duới lịng đất một ngơi thành

cổ xây bằng đá đã cĩ từ khoảng hai nghìn năm trước đây, với nhà cửa phố xá, hệ thống cống rãnh rất tinh vi, vv., và nhất là trong một dinh thự, nền nhà được lát bằng những bức tranh ghép mảnh (mosạques), tất cả khoảng 15 bức, tổng cộng đến hàng trăm mét vuơng, cịn nguyên vẹn, màu sắc và hình thể thật là đẹp, diễn lại tích Pasiphắ, Ariane, Dédale, vv kể trên… Trong năm năm làm việc khẩn cấp các nhà khảo cổ Thổ-nhĩ-kì và Pháp đã cố cứu những gì cĩ thể cứu được, trước khi nước của đập làm ngập hết những di tích nằm trong lịng đất đã hai nghìn năm nay Người xem như tơi tất cảm thấy một niềm khâm phục đối với kiến trúc và nghệ thuật của người thời đĩ

( 3) Hạng vương đây là Hạng Vũ, thời cổ Trung quốc, tương truyền cĩ sức khỏe tuyệt luân Nhắc cái bài thơ « Nĩi khốc » :

Ta con ơng trạng cháu ơng nghè,

Nĩi khốc trên trời dưới đất nghe

Trang 10

Sức khỏe Hạng vương cho một đấm

Cờ cao Đế thích chấp đôi xe

Nhẩy ùm xuống biển lôi tàu lại

Chạy tót lên non bắt cọp về

Thuở nọ vào chơi trong Thủy phủ,

Ba nghìn công chúa phải lòng mê

Cái câu thứ ba chính là chỉ ông Hạng vương này Còn Đế Thích là ông tiên cao cờ

Sau khi Tần Thủy hoàng chết, người con thứ là Hồ Hợi theo mưu kế của hoạn quan Triệu Cao, bức tử người anh là thái tử Phù Tô, rồi lên ngôi tức là Tần Nhị Thế Vì chính sách nhà Tần quá khắc nghiệt, dân chúng oán hận Khoảng năm 209 trước Công nguyên, Hạng Vũ (Sở) và Lưu Bang (người đất Bái, sau là Hán vương) khởi binh, diệt được nhà Tần Tiếp đó, Hán Sở tranh hùng, Hạng Vũ thua tự tử chết, Lưu Bang thống nhất nước Tàu, lên ngôi tức là vua Cao Tổ nhà Hán Trong truyện, bài thơ của Hồ Tông Thốc viết bằng chữ Hán, phiên âm như sau :

Bách nhị sơn hà khởi chiến phong,

Huề tương tử đệ nhập Quan Trung,

Yên tiêu Hàm Cốc châu cung lãnh,

Tuyết tán Hồng môn ngọc đẩu không

Nhất bại hữu thiên vong Trạch tả,

Trùng lai vô địa đáo Giang Đông

Kinh doanh ngũ tải thành hà sự ?

Tiêu đắc khu khu táng Lỗ Công

Trúc Khê trong bản dịch sách đã dẫn trên, có dịch bài đó thơ như sau :

Non nước trăm hai nổi bụi hồng,

Đem đoàn đệ tử đến Quan Trung

Khói tan Hàm Cốc cung châu lạnh,

Tuyết rã Hồng Môn đấu ngọc không

Trang 11

Thua chạy giời xui đường Trạch tả,

Quay về đất lấp nẻo Giang Đông

Năm năm lăn lộn hoài công cốc,

Còn được vùi trong mả Lỗ Công

Và ông có chú thích rõ ràng các điển tích dùng trong bài thơ để người đọc có thể hiểu nội dung : Nhà Tần đóng đô ở Quan Trung là nới hiểm cố, chỉ hai người ở trong có thể chống được với trăm người ở ngoài, vì thế nên mới gọi là « non nước trăm hai » Câu thơ thứ ba chỉ việc Hạng

Vũ đốt cung A Phòng nhà Tần Câu thứ tư chỉ bữa tiệc ở Hồng Môn, Phặm Tăng khuyên Hạng

Vũ giết Lưu Bang, Hạng Vũ không nghe, Phạm Tăng giận chém vỡ cái đấu ngọc của Trương Lương, mưu sĩ của Lưu Bang biếu Câu thứ năm chỉ việc Hạng Vũ thua chạy đến một nơi không biết đường, hỏi thăm một ông già làm ruộng ; ông này đánh lừa bảo đi theo phía bên tả, rồi mắc kẹt vào một cái đầm (trạch) không chạy thoát được Câu thứ sáu chỉ việc Hạng Vũ chạy đến sông

Ô, người lái thuyền khuyên nên qua sông trở về Giang Đông rồi sau này sẽ tính chuyện phục thù, nhưng Hạng Vũ không nghe, tự tử Câu thứ tám kể việc khi Hạng Vũ chết rồi, Lưu Bang lấy lễ chôn Hạng Vũ theo tước công nước Lỗ, tiếng là tử tế, nhưng thực ra cũng là mỉa mai vì lúc sống Hạng Vũ đã từng xưng là Sở Bá vương đứng trên các chư hầu kể cả Lưu Bang (Một số chi tiết

sẽ nói dưới đây) Nói tóm, bài thơ nêu những điều lầm lẫn của Hạng Vũ ; rồi khi đối đáp với Hạng Vương trong giấc mơ, ông Hồ Tông Thốc còn nêu một số điều nữa, nhắc đến những tàn bạo của Hạng vương và ngụ ý cho rằng do đó mà thua Hán Hạng vương và Phạm Tăng trong giấc mơ thì cãi lại cho rằng thắng thua là số phận tại trời, và nêu những cái xấu của Hán, để dẫn chứng Những điều trách Hạng Vũ đại loại như sau : (a) Thuở còn giao tranh, trong bữa tiệc Hồng Môn, Phạm Tăng xui Hạng Vũ giết Lưu Bang, nhưng Vũ không nghe, để Bang thoát về (b) Tần Nhị Thế chết rồi, Tử Anh nối ngôi là Tần Tam Thế, không phải là người ác, đã đầu hàng

mà Hạng Vũ còn giết (c) Hạng Vũ đốt cung A Phòng tráng lệ của nhà Tần là phí phạm vô ích (d) Hàn Sinh khuyên Hạng Vũ đóng đô ở Quan Trung là lời khuyên đúng, Vũ không nghe, Hàn Sinh nói lén, Hạng Vũ đem nấu cho chết trong vạc dầu, vv

Những điều chê Lưu Bang thì đại loại như sau : (e) Thuở còn giao tranh, Hạng Vũ bắt được cha Lưu Bang mang ra trước trận để làm áp lực với Lưu Bang, thì Lưu Bang giả say bảo « Cha ta cũng như cha mày, nếu mày nấu cha ta thì chia cho ta một bát nước suýt » (Sau Hạng Vũ thả cha Lưu Bang cho về) (g) Khi Lưu Bang lên ngôi (Hán Cao Tổ) rồi, yêu vợ lẽ là Thích Cơ, muốn cho con nhỏ là Như Ý nối ngôi, mà không thực hiện được, để đến nỗi khi Lưu Bang chết rồi, vợ

cả là Lữ hậu đổ thuốc độc giết Như Ý mặc dù có sự che chở của vua Hiếu Huệ đế (con của Lữ hậu) Rồi Lữ hậu báo thù Thích Cơ bằng cách chặt cụt chân tay, móc mù hai mắt, đốt tai cho điếc, đổ thuốc cho câm, vứt vào nhà xí gọi là « con lợn người », vv (Những việc này có kể trong

Sử ký của Tư Mã Thiên)

Nhân đây, kể kỹ hơn một chút, chuyện của Lưu Bang và những việc làm của Lữ hậu vì có liên quan đến việc kể ở những phần sau :

Trang 12

Lưu Bang vốn gốc gác là thường dân ở đất Bái , sau làm đình trưởng (cai quản một « đình », tức

là một đơn vị gồm mười làng), lấy vợ họ Lữ (sau này là Lữ hậu) có một con trai và một con gái với bà này (sau này là vua Hiếu Huệ và công chúa Lỗ Nguyên) Đời nhà Tần, vì chức vụ đình trưởng, Lưu Bang có nhiệm vụ đưa những người bị tội đi đày đến Lịch Sơn ; giữa đường nhiều người bỏ trốn Theo pháp lệnh nhà Tần, nếu để người trốn, thì người trách nhiệm bị tội chết Lưu Bang mới họp những người chưa trốn, thả họ và khuyên họ trốn đi, còn mình cũng phải trốn luôn

; có một số người tình nguyện theo Năm thứ nhất đời Tần Nhị Thế (209 trước Tây lịch), hào kiệt nhiều nơi nổi lên chống nhà Tần, Lưu Bang khởi nghĩa ở đất Bái, nên gọi là Bái công Lúc đó các thế lực khởi nghĩa tạm tôn một người làm vua, tức là Hoài vương Quân Tần lúc đó còn mạnh, đánh nhau lúc được lúc thua Hoài vương mới giao ước rằng ai đánh chiếm được đất Quan Trung trước, thì làm vua nơi đó Các tướng không ai xem việc đánh Quan Trung là có lợi cho mình, nên không mặn mà, chỉ có Hạng Vũ và Lưu Bang là chịu đi, nhưng Hạng Vũ vốn bị tiếng

là tàn ác hay giết, nên bị gạt ra Sau nhiều gian nan, Lưu Bang mang quân chiếm được Quan Trung Đó là vào năm 207 trước Công nguyên Lúc đó Tần Nhị Thế đã chết, Tần Tử Anh làm vua mới được bốn mươi sáu ngày thì đầu hàng Lưu Bang Lưu Bang tỏ ra rộng lượng không giết, vào kinh đô Hàm Dương niêm phong kho tàng, bỏ pháp luật khắc nghiệt nhà Tần, vỗ về dân chúng, không vào ở trong cung A Phòng (là cung tráng lệ nhà Tần) để hưởng lạc, nên rất được lòng dân Có người khuyên Lưu Bang rằng đất Tần là đất giàu có, nếu để quân các chư hầu kéo vào thì đất này sẽ không thuộc phần mình nữa, vậy nên sai quân sĩ giữ cửa ải Hàm Cốc không cho họ vào Tháng sau, Hạng Vũ thống lĩnh quân chư hầu đến nơi, bị chặn ở cửa Hàm Cốc, không vào được

Hạng Vũ nổi giận muốn đánh ; quân Hạng Vũ bốn mươi vạn, quân Lưu Bang mười vạn, liệu chống không nổi, mới nghe theo kế, xin đến gặp Hạng Vũ ở Hồng Môn, dùng lời lẽ khéo léo ngụy biện để xin hòa Phạm Tăng là quân sư của Hạng Vũ khuyên Hạng Vũ nhân bữa tiệc, bắt Lưu Bang giết đi để trừ hậu hoạn, nhưng Hạng Vũ không nghe, để Lưu Bang trốn thoát về Đấy

là cái tích Hồng Môn nói trên (a)

Hạng Vũ đem quân vào Hàm Dương, sai giết Tần Tử Anh là vua Tần đã hàng mà trước đây Lưu Bang đã tha Đó là cái tích (b)

Lại sai nổi lửa đốt cung A Phòng và các cung điện khác, cháy ba tháng không hết ; đó là tích (c) Lúc bấy giờ có Hàn Sinh khuyên Hạng Vũ nên đóng đô ở đất Quan Trung, là nơi « bốn phía có núi sông che chở, đất đai phì nhiêu, có thể đóng đô ở đấy để làm nên nghiệp bá » Hạng Vũ không nghe, muốn đem quân trở về phía quê cũ đất Sở và đóng đô nơi khác Hàn Sinh nói lén : « Người nước Sở giống như những con khỉ đội mũ người », ý nói con khỉ dù có đội mũ người thì chỉ chốc lát sẽ vứt mũ đi và bản tính của khỉ sẽ lộ ra Hạng Vũ nghe thấy, nổi giận sai bắt bỏ vào vạc dầu mà nấu Đó là tích (d)

Thắng Tần rồi, Hạng Vũ xin mệnh lệnh của Hoài vương, ý muốn xúi ông ta bội ước không cho Lưu Bang làm vua đất Quan Trung, nhưng Hoài vương giữ lời ước cũ Vì có binh quyền trong tay, Hạng Vũ giả tôn Hoài vương làm Nghĩa đế, nhưng không theo lệnh ông ta nữa, mà phong cho các tướng của mình làm vua các nước chư hầu, phong cho Lưu Bang đất Ba Thục ở tận cùng phía Tây Lại sai người lén giết Nghĩa đế Sau Hạng vương (Hạng Vũ) và Hán vương (Lưu Bang) đánh nhau giành đất, đó là thời Hán Sở tranh hùng Hán vương có ba người giúp sức là

Trang 13

Trương Lương làm quân sư, Tiêu Hà lo việc hậu cần, và Hàn Tín làm tướng cầm quân, có biệt tài, công lao rất lớn

Lúc đầu Hán vương thua, nhiều lần nguy khốn, có lúc cha và vợ đều bị Hạng vương bắt làm con tin để ép Hán vương hàng, nếu không sẽ nấu cha ; Hán vương không chịu, giả say nói câu « Cha

ta cũng như cha mày, nếu mày nấu cha ta thì chia cho ta một bát nước suýt » như đã kể trên ; đó

là cái tích (e) Năm 202 trước Công nguyên, Hán vương thắng Hạng vương (Hạng vương tự tử chết) Hán vương Lưu Bang lên ngôi Hoàng đế, tức là vua Hán Cao Tổ

Lữ hậu là vợ cả của Hán Cao Tổ , từ thuở còn hàn vi Sau Hán Cao Tổ yêu vợ thứ là Thích Cơ,

có lúc muốn cho con trai Thích Cơ là Như Ý làm thái tử, nhưng Lữ hậu theo mưu của Trương Lương và nhờ được quần thần can ngăn nên việc không thành Hán Cao Tổ chết, con trai của Lữ hậu nối ngôi tức là (Hiếu) Huệ đế, người hiền lành, nhân từ, yếu đuối Trước đó, Hán Cao Tổ đã cẩn thận phong cho Như Ý làm vương ở đất Triệu Nhưng khi Hán Cao Tổ chết rồi, Lữ hậu, nay

là Lữ thái hậu giam Thích Cơ và triệu Như Ý về kinh Huệ đế biết ý mẹ, nên thân hành đón Như

Ý, rồi luôn luôn kèm bên cạnh để che chở, Lữ Thái hậu muốn giết Như Ý mà không có dịp Năm

194 trước Công nguyên, một hôm Huệ đế đi săn buổi sớm, Như Ý còn nhỏ không dạy sớm đi theo Lữ thái hậu cho người mang thuốc độc đến bắt uống, khi Hiếu Huệ đế đi săn về, thì Như Ý

đã chết Tiếp đó, Lữ thái hậu thực hiện việc báo thù Thích Cơ bằng cách chặt cụt chân tay, móc

mù hai mắt, đốt tai cho điếc, đổ thuốc cho câm, vứt vào nhà xí gọi là « con lợn người », đến nỗi Hiếu Huệ đế khi biết được sự việc, đã khóc rống lên mà nói rằng « Việc đó không phải là việc của con người làm » Đó là cái tích (g) đã nói trên

Lữ thái hậu là người cứng rắn, quyết đoán, củng cố quyền lực của mình bằng cách cất nhắc người thân và dòng họ Lữ của mình Thí dụ như việc « vô hiệu hóa » công thần cũ của Hán Cao

Tổ và dòng dõi họ Lưu, bổ nhiệm người tình của mình là Thẩm Tự Cơ làm tả thừa tướng, nhất là bắt Hiếu Huệ đế lấy cháu gái Vốn Lữ thái hậu chỉ có hai người con : Lỗ Nguyên là chị và Hiếu Huệ là em trai Lỗ Nguyên lấy chồng là Trương Ngao, đẻ ra một người con gái Lữ thái hậu bắt Huệ Đế lấy người con gái này để củng cố uy thế của mình, nhưng bà này không có con ; Lữ thái hậu bắt bà ta phải giả bộ có mang, và chọn con người khác, giết mẹ đi, thay vào đó Năm 191 trước Công nguyên, Huệ đế chết, người con này được Lữ thái hậu đưa lên làm vua, nhưng người này biết được mới nói rằng « Giết mẹ ta, sao lại gọi ta là con ; nay ta còn bé, sau này ta trưởng thành sẽ thay đổi » Lữ thái hậu nghe được, sợ cho sau này, nên giam vua này ở trông cung, phao tin vua mắc bệnh nặng, mất trí, phế truất rồi giết đi, đưa người khác lên làm hoàng đế, sử gọi là Thiếu đế Lữ thái hậu thường dặn tông tộc nhà mình chớ thả binh quyền vào tay người khác Khi

bà ta chết rồi, mấy người họ Lữ nghe xúi dại, hám giàu sang chức tước cao xa, thả binh quyền ; các cận thần cũ của Hán Cao Tổ mới đảo chính, giết hết họ hàng nhà Lữ, kể cả vua do Lữ thái hậu lập nên, và đưa một người con khác của Lưu Bang lên làm vua tức là Hán Văn đế

Lữ thái hậu cầm quyền tám năm, ám sát, giết người ghê gớm, cũng có thể là để uy hiếp tinh thần những đối thủ, nhưng những việc này chủ yếu là việc giành quyền lực cho họ Lữ trong cung đình Còn ngoài dân gian thì thái bình, không bị khổ về chiến tranh, hình phạt ít dùng, dân yên lòng cày cấy, ăn no mặc đủ, cũng là chuyện lạ một thời

Nhắc lại chuyện Hàn Tín là người có kỳ tài, cầm quân rất giỏi , giúp Hán vương Lưu Bang lập được nhiều công lao, đã có lúc được phong vương đất Tề Khi Hạng vương đã chết, Lưu Bang

Trang 14

lên ngôi hoàng đế là Hán Cao Tổ, cũng có nhiều lần có chư hầu làm phản Hàn Tín vì có tài nên luôn luôn bị Hán Cao Tổ nghi sợ, sau Hán Cao Tổ giả vờ đi tuần thú, lập mưu dụ Hán Tín lại chầu, rồi sai bắt, chở về kinh đô Lạc Dương Nhưng không có chứng cớ nên được tha tội, cải phong làm Hoài Âm hầu Năm 116 trước Công nguyên, người quen của Hán Tín là Trần Hy dấy binh làm phản ở Cự Lộc, Hán Cao Tổ thân chinh, Hán Tín cáo ốm không đi theo Có người vu cáo (hay là được gợi ý vu cáo), Lữ thái hậu bàn với tướng quốc Tiêu Hà giả vờ có sứ giả từ chỗ vua sai về báo tin đã phá được Trần Hy Các quan đều vào chầu mừng ; tướng quốc lừa khuyên Hán Tín : « Tuy ngài ốm, cũng nên cố gắng vào mừng » Hán Tín vào, Lữ thái hậu sai võ sĩ bắt trói, đem chém và giết ba họ Khi Hán Cao Tổ thực sự phá được Trần Hy trở về kinh đô, nghe tin Hàn Tín đã bị giết, nhà vua vừa mừng vừa thương Mừng vì trừ được một người mình sợ, thương

vì có công lao lớn mà bị giết oan ? Bà Lữ thái hậu này quả là người ghê gớm Cũng còn một điều

lạ : Tiêu Hà thuở trước là người thân với Hàn Tín, chính Tiêu Hà đã tiến cử Hàn Tín với Lưu Bang thuở còn tranh giành với Hạng Vũ, nay sao lại lừa Hàn Tín cho Lữ thái hậu bắt giết ? Quan

hệ giữa Tiêu Hà và Hàn Tín sẽ được nhắc đến trong phần 3 sau đây khi nói về họ Vi

(4 ) Ông Hồ Tông Thốc là người thế kỉ 14, quê ở phủ Diễn Châu (nay thuộc Nghệ An) thi đỗ trạng nguyên vào khoảng những năm 1370-1372 gì đó, làm quan to cuối đời Trần, tác giả của Việt sử cương mục, Việt Nam thế chí, Thảo nhàn hiệu tần thi tập, Phú học chỉ nam, vv (Theo cuốn Từ điển Văn hóa Việt Nam, nxb Văn hóa 1993)

(5) Ông Nguyễn Dữ, người của thế kỷ 16, vốn là học trò của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ; ông có đi thi hội (?) và làm quan tri huyện ít lâu rồi cáo về (theo lời tựa của ông Bùi Kỷ, trong cuốn sách dịch đã dẫn trên) Ông sống dưới thời vua Mạc ; khi viết cuốn sách, ông có dụng ý gì

để ám chỉ nhà Mạc chăng (cuốn sách Truyền kỳ mạn lục của ông tập hợp một số truyện ngắn, đặc biệt là hai truyện « Đối đáp của người tiều phu núi Na » và « Bữa tiệc đêm ở Đà giang », trong đó ông mượn lời nhân vật khác để công kích triều nhà Hồ, vì nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần) Còn ông thì đang sống dưới thời nhà Mạc, mà nhà Mạc thì lại cướp ngôi nhà Lê

Trang 15

Chương 2

Từ ngữ, chơi chữ

và « biết hay không biết »

Y không phải là chuyên gia về từ ngữ, nhưng lại có ý kiến muốn phát biểu Thế cũng là một thứ

« múa rìu qua mắt thợ »

Y bảo :

Tiếng Việt xưng hô thật phức tạp.Thuở xưa đã vậy mà ngày nay cũng vậy Luôn luôn là thứ bậc Trong gia đình thân, cha mẹ anh chị em ruột thịt đã đành, vì đã quá biết nhau Chứ còn xa ra một chút là thấy khó Còn đối với người lạ, thì thật là khó quá Thí dụ xửa xưa : Với vua, chúa thì tâu

Bệ hạ, Chúa thượng, Thượng đức, xưng tiện thần – thí dụ như cách xưng hô của Nguyễn Thiếp đối với Nguyễn Huệ, xem trong « La Sơn Phu tử » của Hoàng Xuân Hãn, nxb Minh Tân, 1952 – với quan văn thì bẩm tướng công, quan võ thì bẩm tướng quân, xưng tiện dân Trong giới quan với nhau thì gọi người là các hạ, xưng mình là tại hạ ; quan trên với kẻ dưới thì xưng mình là bản chức… Phiền hà quá Ngày nay lại càng phiền hơn Thí dụ khi viết thì đại từ ngôi thứ ba, chữ Người viết hoa là tôn kính, chữ người không viết hoa thì là giễu cợt – thí dụ như trong cuốn « Chiều chiều », của ông Tô Hoài, nxb Hội Nhà văn, Hà Nội 1999, trang 164, cô bồ của ông Đ.Đ.H nói : « Người khó tính lắm ạ Đòi phải mua rau lấy người mới xơi được Nhưng người khôn lắm, không đòi luộc lấy » – dùng đại từ ngôi thứ hai thì gọi các người theo kiểu xưa thì là khinh khi Ngày nay lại còn sinh ra cái việc dùng chữ « Ngài » Thôi thì nghi lễ triều đình, nghi

lễ ngoại giao, vào dịp long trọng, còn có thể hiểu được Chứ lạm dùng nghe thật là kỳ : có vị đại

sứ khi gửi giấy mời chiêu đãi còn tự xưng mình là « Ngài » [« Ngài Đại sứ cạnh Cơ quan … xin

có lời mời »] Qua điện thoại, không biết người ở đầu dây là ai, giả thử như đoán được người

đó là nam giới (nữ giới), thì gọi người ta là anh (chị), là ông (bà), là bác hay là cụ ? Gọi không đúng thì làm mích lòng người ta, hoặc người ta làm mích lòng mình Lấy thí dụ tôi là kẻ trung niên gặp một vị lớn tuổi, tôi gọi bằng cụ, cụ gọi tôi bằng ông, thì có vẻ khách sáo ; tôi gọi cụ bằng bác, bác gọi tôi bằng anh thì bác sợ tôi cho là thiếu tôn trọng ; bác gọi tôi bằng chú thì tôi không ưa vì có vẻ thứ bực gia trưởng

Tôi :

Trang 16

Trong bài « Tâm tình về cụ Hồ », trên tạp chí Xưa và Nay, số' tháng 6/2003, tác giả Trần Văn Giàu có kể như sau: [Cuối năm 1945, được gọi ra Hà Nội, ] Nhớ đời, phút đầu tiên, gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh (hôm đi Bắc bộ phủ), tôi được Cụ « chỉnh » cho một trận Chủ tịch bắt tay tôi Tôi nhanh miệng nói « Chào anh, anh mạnh giỏi » thì Chủ tịch vừa siết chặt tay tôi, vừa đưa một ngón tay lên môi, mỉm cười nói : « Nên nói chào Cụ nghe, đừng nói chào anh, có biết tại sao không? » Tôi hiểu ngay; ỏ đây đông khách, xưng hô theo lối đồng chí trong nội bộ với nhau, là bất lịch sự

Y :

Thuở ấy, 1945, 1946, tôi nghe nói ai cũng gọi cụ Hồ là cụ, trừ các nhi đồng mới gọi cụ bằng Bác, như bài hát : « Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng, … » Hình như sau 1950, cách xưng hô bằng « Bác » mới phổ biến Cũng có thể là mấy năm kháng chiến gần gụi với những người cộng tác, cách xưng hô « gia đình » dần dần cũng trở thành thói quen chăng (?) Rồi chữ « Bác » trở thành « Bác » viết hoa Ông Cù Huy Cận trong bài trả lời phỏng vấn về cái vụ « ấn kiếm » hồi vua Bảo Đại thoái vị 1945 (nay tôi không nhớ xuất xứ) cũng kể rằng bắt đầu 1950 mới gọi Cụ bằng Bác Trong cái thư Cụ viết hỏi thăm sức khỏe ông Tạ Quang Bửu đang ốm, đề tháng 5/1950, lúc đó đang kháng chiến chống Pháp, Cụ viết: « Chú Bửu Hôm nọ gặp Hai (chú thích: Đại tướng Võ Nguyên Giáp), hỏi thăm chú Mới biết chú đang mệt Sao? Đủ cơm ăn thuốc uống chứ? Cần gì phải nói thật với Hai, hoặc hỏi B (chú thích : Bác)… » (bút tích chụp lại trong tập hồi ký « Tạ Quang Bửu, nhà trí thức yêu nước và cách mạng », Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Hà Nội 1996, và « GS Tạ Quang Bửu, con người và sự nghiệp » nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000) Nhưng cách xưng hô này với ông Bửu không phải là điển hình vì Cụ với ông Bửu là chỗ có quan hệ mật thiết (mẹ ông Bửu thuở xưa là chỗ thân với bà Thanh, chị Cụ Hồ)

Thành ra ta cứ duy trì mãi quan hệ lích kích trên-dưới, quan-dân, sang-hèn, gần-xa, … Nghe nói người Trung quốc ngày nay, về đại từ nhân xưng số ít, họ dùng chữ « ngã » cho ngôi thứ nhất (tương đương với « I » tiếng Anh hay « je » tiếng Pháp), « nhĩ » cho ngôi thứ hai (tương đương với « you » tiếng Anh hay « tu /hay vous » tiếng Pháp), chữ « tha » cho ngôi thứ ba (tương đương với « he, she » tiếng Anh hay « il, elle » tiếng Pháp), về đại từ nhân xưng số nhiều họ dùng « ngã môn » cho ngôi thứ nhất, « nhĩ môn » cho ngôi thứ hai và « tha môn » cho ngôi thứ

ba Xem chừng như vậy là phù hợp được với đời sống giao dịch hiện đại, chứ họ không câng câng khoe rằng cách xưng hô của họ đầy « tình người »…

Y lại bảo tôi :

Thôi, chúng ta qui ước gọi nhau bằng « vị » là hay hơn cả, chả còn ngôi thứ, không cao thấp, không giới, không sang hèn, không giàu nghèo, lễ độ chung chung, hoàn toàn « nặc danh » (anonyme) nhé

Trang 17

đi học được ông thày dạy cho một mẹo để phân biệt : gọi « x » là « xờ bướm » vì dấu chéo như hai cánh bướm, và gọi « s » là « sờ chim » vì ký tự viết tay chữ « s » giống như cái mỏ chim, do

đó mới có câu : « sờ chim thì sướng, « xờ » bướm xấu xa » Hay chưa ?

Tôi :

Đó thuộc về lĩnh vực « biết hay không biết » mà chuyện « biết hay không biết » thì linh tinh lắm Như chuyện này Trong bài «Bà huyện Thanh Quan, nhà thơ luật Đường Hà Thành nổi tiếng », đăng trong tạp chí Dạy và Học ngày nay của Hội Khuyến học, số tháng 6/2004, trang 41, tác giả viết: « [ ] Thời gian là « bóng xế tà », « bóng tịch dương », « bảng lảng bóng hoàng hôn

» … Bởi vì buổi chiều dễ gợi nhớ, gợi thương Rất nhiều buổi chiều trong thơ ca cũng đã được

sử dụng để diễn tả một tâm trạng như vậy Ta đã chả thấy, một buổi chiều xao xuyến đối với cô thôn nữ đó sao ? » Tôi đọc rồi thấy ngỡ ngàng, tự hỏi rằng tác giả muốn nói câu thơ của bà huyện Thanh Quan hay là tôi hiểu sai ý tác giả muốn dẫn một bài thơ nào khác của một tác giả nào khác ? Chứ nếu là bài « Chiều hôm nhớ nhà » của bà huyện Thanh Quan, thì tôi nhớ có hai câu:

Gác mái ngư ông về viễn phố,

Gõ sừng mục tử lại cô thôn

« Cô thôn » đây là nghĩa là xóm [« thôn »] hẻo lánh [« cô »], chứ tôi không hiểu đó là một « cô thôn nữ »! Hai câu đó tôi hiểu là : ông chài gác mái chèo rồi về phố xa, trẻ chăn trâu gõ sừng trong khi trở lại xóm hẻo lánh Chao ôi, học văn thời này sao mà khó thế!

Y :

Trang 18

Loại chuyện như vậy thiếu gì đâu Nghe kể học sinh còn lầm « sĩ tử » với « tử sĩ » Còn thày giáo thì lầm « Nam triều » (triều đình nước Nam, cụm từ hay dùng thời triều Nguyễn thuộc Pháp) với lính « Nam Triều tiên » sang đánh hôi ở miền Nam trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ

Đã có ông Việt kiều kể rằng báo Văn Nghệ số 39, 29/9/1979, trong bài viết của nhà văn Triêu Dương, có đoạn : « Có giáo viên khi giảng bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, do không có chú thích về chữ linh , đọc lính và giảng rằng cụ Đồ Chiểu đứng vững trên quan điểm nhân dân lao động nên chỉ chú ý tới lính chứ không chú ý đến tướng tá Sau đây là lời bàn của anh NHT : « Thày giáo nói trên đây là thuộc diện hồng hơn chuyên (có lẽ được chiếu cố), nhưng biết bao nhiêu thầy cô rất xứng đáng, tận tụy với nghề mà không đủ sống với nghề

mà lương không đủ nuôi sống một mình » Nhưng đây là chuyện một thời có lẽ đã qua

Tôi góp lời :

Về câu chuyện hai chữ « tịch » Ai mà biết chắc được sự thật, mặc dù khả năng tỉ số « người Việt Nam không biết phân biệt hai chữ này » hẳn là cao Tôi không được hân hạnh quen biết vị quan chức quan trọng này nhiều, tôi chỉ được gặp ông có một lần, chính trong lần ông sang Pháp kể trên Buổi gặp diễn ra ở Sứ quán ta ở Paris, do đại sứ tổ chức mời một số trí thức dùng cơm với ông, ông đã nói câu đó Hôm ấy, tôi kẹt xe nên đến hơi chậm ; lúc tôi vào phòng khách thì ông

đã ngồi ở cái ghế dài đi-văng, ông vồn vã đứng dậy ôm tôi, kéo tay tôi ngồi cạnh ông và nhắc lại việc ông đã đọc tất cả các thư điều trần của tôi gửi về nước, bởi vì [ông nói] « chúng tôi trong Bộ chính trị chuyền tay nhau đọc » Rồi ông còn dặn tôi : « Từ nay trở đi, anh có viết thư thì viết gửi cho một mình tôi là đủ », điều mà tất nhiên tôi không thực hiện được như ông muốn Ông tỏ thiện cảm với tôi như vậy, tất nhiên là tôi cũng có thiện cảm đáp lại ; có lẽ vì vậy mà tôi thiên về giả thuyết ông « chơi chữ » Mà « chơi chữ » thì thiếu gì trong các giai thoại văn học Việt Nam,

đủ kiểu, đủ cách, hay cũng có, mà dở cũng có (thí dụ « vị » có thể đọc lại cuốn « Chơi chữ » của Lãng Nhân, nxb Nam Chi Tùng thư, Sài Gòn 1963, hay cuốn « Văn Đàn bảo giám » của Trần

Trang 19

Trung Viên, nxb Nghiêm Hàm, 3 cuốn 1925,1927,1930, tái bản 3 tập 1931 nxb Nam ký, và sau này có in lại)

Nhân đây, tôi xin kể vài chuyện vặt, liên quan đến việc « chơi chữ » hay đến việc « biết hay không biết »

Hồi Hội nghị Paris (1968-1973) về chiến tranh Việt-Mỹ, trong một buổi gặp gỡ với trí thức Việt kiều, có một chị giới thiệu một nhà khoa học Việt kiều với ông Nguyễn Minh Vỹ ( tên thật là Tôn Thất Vỹ, lúc đó đang là phó của bộ trưởng Xuân Thủy, trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa) Chị kia nói : « Đây là anh X, nhà khoa học đang làm việc tại CNRS » (chú thích : CNRS là tên gọi tắt của Centre National de la Recherche Scientifique, Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học của Pháp) Tôi không rõ vì ông Vỹ không có cảm tình với anh đó, hay vì ông muốn « chơi chữ », mà ông hỏi : « CRS hả ? » (chú thích : CRS là tên gọi tắt của Compagnie Républicaine de Sécurité, đội lính giữ an ninh của Pháp, trong thực tế thuở đó, thường dùng để dẹp các buổi biểu tình hay đình công, thí dụ như của giới lao động) Rõ ràng là ông nói đùa, nên anh chị em chung quanh cười ầm lên Nhưng cái « chị giới thiệu » lại ngây thơ, ngỡ ông không hiểu, nên vội vàng giải thích, làm cho anh chị em chung quanh lại cười ầm lên một đợt nữa Lại một loại « chơi chữ » nữa, nhảm hơn :

Tôi nhớ loáng thoáng (nếu tôi nhớ nhầm thì ai biết xin sửa hộ, bởi vì sách báo ít nói đến) : vào khoảng năm 1943 gì đó xảy ra một câu chuyện tình, lẽ ra là « đại sự » của nước Đại Nam Việc xảy ra ở Đà Lạt: Đức vua lên nghỉ trên ấy, chả biết chim chuột thế nào mà ngài Nam Phuơng nổi ghen, hình như rút súng bắn (?), may mà Đức vua kịp ngự xuống gầm giường nên thoát Do đó, toàn quyền Decoux (đọc là Đờ-Cu) vội cử toàn quyền phu nhân lên Đà Lạt hòa giải Chẳng may

xe phu nhân bị nạn, phu nhân bị chết (nghe nói mộ còn ở Đà Lạt, hình như trong tu viện Couvent des Oiseaux) Cho nên thời đó mới có câu rằng : vì bà chết, nên ông mới « đờ cu »! Sau đó để đền công Toàn quyền đại nhân, nhà vua mới ban tặng cho quan toàn quyền tước « Phò vương », hay « Phò quận vương » gì đó

Y bảo :

Ngày nay, mấy học sinh của ta học tiếng Việt nhưng không có vốn chữ Nho nên có khi hiểu sai tuột, thí dụ như đọc « trọng nghĩa khinh tài » lại hiểu là trọng nghĩa nhưng khinh khi sự tài giỏi, chứ không biết rằng tài đây là « tiền tài » Nếu ta đùa một chút, chế ra cụm từ « trọng tài khinh tài » theo nghĩa trọng tiền tài và khinh sự tài giỏi, có lẽ phù hợp cho ngày nay đấy Rồi « cố » trong « cố vấn » lại được hiểu là « cũ », hỏi cái cũ rích Hay là phải dạy lại chữ Nho trong trường

?

Tôi đáp :

Trang 20

Chớ nên mỉa mai quá đáng Như tôi đã viết trong bài « Thoáng nghĩ về chữ Nho » đăng trong tạp chí Tia Sáng, số Xuân, tháng 2/2002, chẳng cần học chữ Nho và nhớ tự dạng các chữ đâu, vì khó nhớ lắm và lại vô ích, chỉ cần khi học tiếng Việt, học sinh được giải thích cặn kẽ rằng có nhiều từ đồng âm mà khác nghĩa là đủ Thí dụ « đại diện », rốt cục ai cũng hiểu là « thay mặt », chứ có hiểu là « mặt to » đâu ; nếu có ai cắt nghĩa là tại mặt to cho nên mới thay mặt cho người khác được, thì chỉ là bỡn cợt thôi

Y :

Giữa cái « biết hay không biết » và cái « chơi chữ », còn cả một đống trường hợp trung gian Có chuyện một ông già Việt Nam quen nói tiếng Pháp kiểu xưa, còn quen thuộc với những kiểu cách baisemain (cúi đầu hôn tay phụ nữ hay vua chúa), với kiểu cách rút pochette (khăn để thò trên túi ngực áo) lót tay khi mời phụ nữ khiêu vũ, vv Vào khoảng những năm 1950, ông sang Pháp sống ; lúc đó ông chưa thích nghi được với thay đổi của xã hội này Một bữa đi dạo, ông gặp mấy bà già Pháp người quen, đang dắt cháu đi chơi Cháu bé trai của bà này gặp cháu bé gái của bà kia, cả hai bé mới lên năm tuổi ; chúng làm bisous nhau (hôn má) Ông cụ nói đùa với bé trai : « A ton âge, tu baises déjà les petites filles? » Mấy bà già Pháp chưng hửng, không dám cười, mà cũng không dám sửa (vì lẽ rằng trong tiếng Pháp hiện đại, động từ « baiser » đã chuyển nghĩa : không còn nghĩa là « hôn » nữa mà mang nghĩa « làm tình » Như vậy là cái câu « Ở tuổi cháu mà cháu đã biết hôn các cháu gái à ? » đã được hiểu rằng « Ở tuổi cháu mà cháu đã làm tình với cháu gái à ? » Chuyện này có thật, không phải chuyện tiếu lâm bịa đặt

Tôi :

Cũng không nên « trách » ông cụ, bởi vì ngay cuốn Từ điển Pháp-Việt , do nhóm Lê Khả Kế thuộc Ủy Ban Khoa học Xã hội Việt Nam soạn, và do Tổ chức Hợp tác Văn hóa và Kỹ thuật (Agence de Coopération Culturelle et Technique) xuất bản năm 1981, trang 96, còn dịch từ « baiseur » là « người hay hôn » Nhóm người làm từ điển còn nhầm, thì người thường tránh sao được

Tôi nói tiếp :

« Biết hay không biết », cũng là chuyện phức tạp lắm Tôi xin thử nêu vài chuyện làm thí dụ :

Do thời cuộc xảy ra trong những năm thuộc nửa sau của thế kỉ 20, nhiều người nghĩ rằng ông Bảo Đại làm vua bù nhìn thời Pháp thuộc, tất là một con người « ì », « chẳng biết gì » Nhắc lại

là khi ông Khải Định được chính quyền thực dân Pháp đưa lên làm vua, ông có gửi gắm con trai

là ông Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại tương lai) cho vợ chồng ông Charles đưa sang Pháp du học Vì vậy hồi ông Vĩnh Thụy du học ở Pháp, thời đầu ông ấy ở nhà ông bà Charles Ông này trước là khâm sứ Trung Kỳ (tức là quan tây đứng đầu Trung Kỳ) Ông Charles vốn quen biết ông Khải

Trang 21

Định, hình như ngay từ lúc ông Khải Định còn là ông hoàng Kiến Giang, kiết lõ đít, phải ăn nhờ nơi này nơi nọ, đặc biệt là nhờ chủ hiệu chuyên làm đồ trang sức bằng vàng giả (vàng mạ) ở Hà Nội là hàng Mỹ Ký (?) Hình như ông Charles này (hay là một ông nào khác mà tôi nhớ nhầm chăng) cũng có công trong việc ông Khải Định lên ngôi Cho nên ông Khải Định mới gửi gắm « con » mình cho ông Charles Công bằng ra mà nói thì ông bà Charles này chăm nuôi ông Vĩnh Thụy rất kỹ, dạy từ cách đi đứng, ăn uống, cầm thìa, cầm muỗng, ra dáng qui cách một ông hoàng như phương Tây, vv Năm 1926, khi ông Khải Định chết bệnh, ông Vĩnh Thụy về nuớc lên ngôi, tức là vua Bảo Đại, lúc ấy mới 13 tuổi Rồi lại trở sang Pháp du học, mãi đến 1932 mới

về nước Quyền thì trong tay thực dân Pháp, ông chỉ làm vua bù nhìn Nhưng ông cũng có được một số hành động : Ông bỏ lệ quì lạy vua năm lạy, thay bằng « vái vua ba vái » (tam khấu lễ) Ông lấy một vợ (bà hoàng hậu Nam Phương), không có cung tần mỹ nữ chính thức như vua cũ (còn sự nhân tình nhân ngãi, chim chuột, thì cũng chỉ như vua chúa phương Tây, trong khi quan lại hay bàn dân thiên hạ còn đang đa thê) thì cũng là chuyện hiểu biết và tiến bộ (Như đến tận năm 1950, vua Mohamét V xứ Maroc, còn cả harem, mà « mẫu quốc » Pháp đâu có cản !) Đến 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp Ngày 11/3/1945, Viện Cơ mật của triều đình Huế tuyên bố hủy bỏ hiệp ước 1884 (Pháp bảo hộ) và Việt Nam khôi phục chủ quyền độc lập Ngày 11/3/1945, vua Bảo Đại tuyên chiếu từ nay đích thân cầm quyền, với nguyên tắc chính trị « Dân vi quý » Nhắc lại là câu này trích ra từ sách Mạnh tử « Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh » Chính

vì cái khẩu hiệu chính trị này, mà có người nêu câu hỏi về ông Bảo Đại « biết hay không biết ?» Trong cuốn hồi ký « Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc », nxb Hà Nội 1983, ông Phạm Khắc Hòe, thuở đó đang làm Ngự tiền Văn phòng Tổng lý của vua Bảo Đại, thì khẩu hiệu này do đại sứ Nhật Yokoyama mớm cho ông Bảo Đại vì cho rằng tự ông không thể nghĩ ra Học giả Hoàng Xuân Hãn thì bảo tôi rằng ông Hòe nói quá, vì ông Bảo Đại thuở trước có người phụ đạo giỏi chữ Nho (nhà nho Lê Nhữ Lâm), lẽ nào ông ấy không biết Một vị Việt kiều thì lưu ý là từ việc biết cái câu của Mạnh tử đến cái khả năng áp dụng tư tưởng đó để biện minh cho thái độ chính trị của mình là cả một trời một vực, và cho rằng khó hình dung ông Bảo Đại hay ông Yokoyama, tự mình đưa ra câu đó, mà đằng sau chắc phải có một thày dùi hạng nặng Tôi thì phân biệt : (a) khoảng cách giữa việc biết có câu « Dân vi quý » và việc dùng nó làm khẩu hiệu chính trị (rõ ràng là rất lớn), và (b) khoảng cách giữa khẩu hiệu chính trị đó và việc áp dụng nó vào việc trị nước (đúng là một trời một vực) Ở đây, tôi chỉ luận tới khoảng cách (a) ; nếu cho rằng ông Bảo Đại không biết tự mình đưa câu này ra thì ai là người xui ông ? Theo như ông Phạm Khắc Hòe trong cuốn hồi ký của ông, thì những ý tưởng tiến bộ đều là qua ông, mà cái khẩu hiệu này thì không phải của ông (ông kể : Sáng 17-3, tôi vào văn phòng làm việc thì nghe nói nhà Vua vừa hỏi tôi Tôi qua Phòng Phê thì Bảo Đại đã ngồi ở bàn giấy rồi Tôi tới gần thì thấy trên bàn có một tờ giấy với những dòng chữ rất to tự tay Bảo Đại viết Nhà Vua cầm tờ giấy

ấy đưa cho tôi và nói : « Ông theo ý như đây mà thảo một đạo Dụ » Tôi cầm tờ giấy càng đọc càng ngạc nhiên ; một thứ ngạc nhiên không sao tả nổi Vì trong giấy Bảo Đại viết rằng : từ nay Trẫm sẽ tự cầm quyền và chế độ chính trị sẽ căn cứ vào khẩu hiệu « Dân vi quý ») Theo tôi, dù

có nghi ngờ, cũng không thể đẩy xa hơn câu hỏi « biết hay không biết », bởi vì không có bằng chứng cụ thể Vả lại khi người ta đã là « homme public » - tôi không biết tiếng Việt dịch là gì :

có cuốn từ điển Pháp-Việt dịch là « nhân vật trọng yếu » (?), tôi thấy không ổn lắm - thì mấy ông

« nègres » - hình như tiếng Anh thuở xưa là «ghostwriters » (?), để chỉ những người « cộng tác kín » có nhiệm vụ thảo văn bản thay cho một nhân vật nào đó - cứ nên nằm im trong bóng tối thôi Ở đây tôi không nói đến mấy ông xì-pin-đốc-to ngày nay đâu

Trang 22

Y bảo :

Việc « chơi chữ » cũng được hiện đại hóa đấy Như việc viết tiếng Việt Nam trên mạng, có người viết bỏ dấu cẩn thận, nhưng cũng có người viết không chịu bỏ dấu, và khăng khăng rằng không cần bỏ dấu vẫn hiểu được Cho nên một anh Việt kiều đùa phong cho một chị danh hiệu «

ba dam dang» [Nhắc lại là thuở chiến tranh chống Mỹ, về vinh danh, nên có danh hiệu phụ nữ «

ba đảm đang »] Rồi cũng lại viết đến cái tên ông Toàn quyền Đông Dương Doumer

1897-19012, (cái người mà mang tên cái cầu, nay là cầu Long Biên đó), phiên âm tiếng Việt Nam viết không bỏ dấu là « du me » Rồi lại có câu : « Gai cu chi chi, cu hoi cu chi Trai giai phong, phong giai cho giai phong » Nhưng đây thực sự là « chơi chữ », không phải là chuyện « biết hay không biết »

Tôi :

Tôi không rành mấy chuyện tối tân này ; tôi chỉ nhớ một câu chuyện cũ rích đầu thế kỉ 20 Thuở

ấy, chữ quốc ngữ chưa thịnh hành lắm Mấy ông đồ quê còn quen đọc chữ Nho, từ phải sang trái

Ra tỉnh, gặp chỗ đề « cấm không được đái », mấy ổng đọc thành « đái được không cấm », và vạch quần ra tưới, và … bị phạt Chắc là chuyện tiếu lâm thôi

Y :

Còn câu chuyện trục trặc ngôn ngữ Việt giữa người trong và ngoài nước, như bài của ông Chung Mốc gì đó ở Thủ Đức viết trong bài « Nói với Việt kiều » năm 2004 này Ông viết : Đàn bà con gái gì mà nói giữa chốn đông người « Tôi không có khe » (care); « Vẫn còn ở chỗ cũ đấy, chứ tôi đâu có mu (move) » Cười, bởi vì khe và mu là những chữ dùng để chỉ cơ quan sinh dục của đàn

bà […] Tôi tới thăm gia đình người bạn mới từ nước ngoài về, bố bảo con gọi mẹ ra đây Thằng con chạy vào trong hét toáng lên: « Momy, dady muốn momy bây giờ » Hồi lâu sau nó lại chạy

ra bảo: « Momy đang rửa he » Tôi ngạc nhiên ngẫm nghĩ mãi mới hiểu là má nó đang gội đầu (hair)… Ôi ngôn ngữ Việt của Việt Ta và Việt Tây sao mà rắc rối, biến hoá làm vậy ! Vậy thì tôi còn mong gì khi chúng lớn lên, học hành thành tài rồi về giúp đỡ quê hương?

Tôi :

Tôi nghĩ các vị nên « giảm khinh » cho kiều bào sống ở nước ngoài Cuộc sống nó khó khăn đấy, chứ không phải ở nước ngoài cứ mang xẻng ra đường mà hốt bạc đâu Cuộc sống khó khăn nên phải lao động vất vả để mưu cuộc sống cho gia đình, bảo đảm việc học hành cho con cái Cho nên dạy con hiểu và nói được tiếng Việt là cả một kỳ công, nên khuyến khích hơn là chế giễu

Trang 23

Y :

Mới rồi, có người kể cho nghe rằng trên mạng của một tờ báo 29/10/2004 có bài « Đọc văn học trò vừa cười vừa khóc », có đoạn dẫn trường hợp của một học sinh C.V.T lớp 10, PTTH P.N , khi phân tích trình tự diễn biến tâm trạng nàng Kiều có đoạn viết:

« Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng » Qua đó ta thấy tên khách họ Hoàng thật là tàn nhẫn, hắn hôn Thúy Kiều đã rồi lại bắt Kiều hôn lại làm cho Kiều ngày càng biến thành gái lầu xanh chuyên nghiệp muốn ngóc đầu lên cũng không nổi

Nhưng tôi lại nghe có người kể rằng thuở xưa lúc còn học phổ thông đã nghe và đọc thấy câu chuyện tương tự như vậy rồi Chẳng lẽ sự việc lại tái diễn trùng hợp như vậy sao ? Có lẽ là văn trào phúng hạng nặng Nếu đúng là học sinh viết, thì phải coi đó là « nhân tài » của đất nước đấy

Tôi :

Nhưng cũng có vấn đề nghiêm chỉnh về từ ngữ với những khó khăn thực sự Thí dụ như câu chuyện về một câu thơ khác của bà huyện Thanh Quan ; đó là câu

Lác đác bên sông, « chợ » mấy nhà ,

trong bài « Qua đèo ngang », mà tôi giữ trong trí nhớ, từ thuở nhỏ học trong mấy cuốn sách giáo khoa Mới đây, một nhà ngôn ngữ học ở nước ngoài thông tin rằng câu thơ này, có lẽ phải là Lác đác bên sông, « rợ » mấy nhà ,

mới đúng Và có dẫn một số đồng nghiệp trong nước cũng nêu vấn đề này Những lý lẽ nêu ra đều có vẻ nghiêm túc, nhưng có phần « bác học », tôi không dẫn lại được ở đây Chỉ ghi lại rằng

có một ý cho là nếu tìm được bản gốc chữ Nôm của tác giả thì vấn đề sẽ sáng tỏ Cái khó là, như ông Dương Bá Trạc viết trong Tiếng gọi đàn (Nghiêm Hàm ấn quán, Hà Nội 1925) : « […Ta] Bắt chước người Tàu học chữ Hán mà trong khoảng mấy ngàn năm chỉ học nhờ viết mướn, không hề nghĩ ra được một thứ chữ quốc văn nào – trừ ra có một thứ chữ Nôm cũng viết bằng chữ Hán mà ai muốn viết thế nào thì viết, chưa thành lối chữ nhất định »

Anh K.V có lưu ý rằng, theo cuốn « Giúp đọc chữ Nôm và Hán Việt » của LM Trần Văn Kiệm (1998), thì chữ « rợ » có 4 cách viết :

1 Trợ (chữ Hán)

2 Di (chữ Hán)

3 Khuyển + Trợ (chữ Nôm)

Trang 25

đã quen, nhưng chưa bao giờ có món hàng quí [chỉ Tử Sở] như thế này, có thể buôn được đây »

Thế rồi mới nói với Tử Sở, đại ý rằng : « Vua Tần đã già ; mất đi thì An Quốc quân sẽ nối ngôi

An Quốc quân rất yêu Hoa Dương phu nhân ; phu nhân không có con ; nhưng chỉ phu nhân mới lập nổi con thừa tự Anh em ngài, cùng cha khác mẹ, hơn hai mươi người, ngài lại là con giữa, lại làm con tin ở nước ngoài, khó hy vọng sau này được nối ngôi Nay tôi xin bỏ ngàn vàng, vì ngài mà sang Tần nói An Quốc quân và Hoa Dương phu nhân, lập ngài làm con thừa tự » Tử Sở mừng lắm, cám ơn, và hứa : « Nếu được như mưu của ông thì sau này cùng nhau hưởng nước Tần »

Trang 26

Lã Bất Vi liền đem vàng cho Tử Sở tiêu dùng, rồi mình lại mua sắm của báu vật lạ, sang Tần đút lót cho người thân cận của Hoa Dương phu nhân để dâng của báu, và thưa với phu nhân rằng : « Nhan sắc cũng có lúc tàn, tình yêu thương cũng có thể phai nhạt Phu nhân đang được An Quốc quân yêu, sao không nhân lúc này chọn một người hiền hiếu, nhận làm con nuôi, xin lập làm con thừa tự Như thế, khi chồng còn, phu nhân được tôn quí ; khi chồng mất đi, con phu nhân được làm vua, phu nhân sẽ không thất thế Nay Tử Sở là người hiền, lại vẫn quí trọng phu nhân, nên nhận anh ta làm con thừa tự thì suốt đời phu nhân sẽ có quyền thế » Hoa Dương phu nhân cho là phải ; nhân dịp thư thả, mới nỉ non với An Quốc quân, xin nhận Tử Sở làm con của mình và cho làm người thừa tự An Quốc quân nhận lời, cùng phu nhân nhờ Lã Bất Vi trở về Triệu giúp đỡ

Tử Sở

Nhờ có tiền bạc của Lã Bất Vi, Tử Sở tiếp đãi tân khách, từ đó nổi tiếng với chư hầu Lã Bất Vi

là con buôn có mánh lới, muốn dùng món lạ để câu, mới kén trong số vợ của mình một người tuyệt đẹp, múa khéo là Triệu Cơ, biết người này đã có mang với mình, nhưng giữ kín ; lại bày mưu mời Tử Sở sang chơi nhà mình, đãi tiệc, gọi Triệu Cơ ra múa và chuốc rượu Tử Sở trông thấy, đem lòng mê, nài xin Lã Bất Vi cho mình Lã Bất Vi bàn với Triệu Cơ nhận lời, hẹn nhau nếu người con đang trong bụng là con trai thì sau này sẽ có ngày làm vua ; rồi dâng Triệu Cơ cho

Tử Sở Tương truyền rằng vì người con trong bụng Triệu Cơ đó là quí nhân, nên quá tháng mới sinh ra ; Tử Sở ngỡ là con mình, đặt lên là Chính, lập Triệu Cơ làm phu nhân Mấy năm sau, nước Tần đem quân xâm chiếm đất của nước Triệu, tính mạng Tử Sở bị đe dọa ; Lã Bất Vi đem vàng đút lót cho kẻ canh giữ, để Tử Sở trốn thoát khỏi Triệu về Tần Được vài năm, vua Tần chết, An Quốc quân nối ngôi làm vua, phong Tử Sở làm thái tử, được một năm thì vua chết Tử

Sở nối ngôi, tức là vua Trang Tương vương, cho Lã Bất Vi làm thừa tướng, phong tước Văn Tín hầu, ăn thuế mười vạn hộ Tương truyền, Trang Tương vương làm vua được ba năm, bị bệnh ; Lã Bất Vi dâng thuốc, vua chết Thái tử Chính lên làm vua, tức Tần Thủy hoàng sau này ; Triệu Cơ

là mẹ vua, làm thái hậu ; Lã Bất Vi làm thừa tướng Vua còn nhỏ tuổi, thái hậu cùng Lã Bất Vi lén lút thông dâm Lã Bất Vi quyền cao chức trọng, giàu sang không ai bằng ; rồi phú quí sinh lễ nghĩa, nuôi khách trong nhà đến cả mấy nghìn, sai họ soạn những điều mình biết, cho rằng đủ hết

cả việc trời, đất, muôn vật, xưa nay, hơn hai mươi vạn chữ, gộp thành sách, đặt tên là Lã Thị Xuân Thu …

Những chuyện này có kể trong « Sử ký » của Tư Mã Thiên và sách « Đông Chu Liệt Quốc »

Trang 27

Y kể tiếp :

Khi vua Tần đã lớn, mà Thái hậu cứ dâm loạn mãi, Lã Bất Vi e bị lộ, mình sẽ mang vạ, nên mới lập kế, sai người ngầm tìm được kẻ tên là Giao Ái (có người phiên âm là Lao Ái), có dương vật lớn, được nhiều « dâm phụ » trong vùng ái mộ Lã Bất Vi dùng hắn làm người nhà ; làm trò vui, sai Giao Ái lấy vật của mình xỏ vào bánh xe, bánh xe quay tít mà vật không suy suyển ; lại khiến người lén kể chuyện cho thái hậu biết để nhử ; quả nhiên thái hậu mừng rỡ, muốn được riêng Giao Ái Lã Bất Vi vờ sai người tố cáo Giao Ái phạm tội đáng thiến, ngầm đút tiền cho viên quan coi việc thiến, giả thiến, rồi lại nhổ râu mày cho Giao Ái, cho làm hoạn quan Thái hậu cùng y gian dâm, rất yêu, rồi có chửa, sợ việc tiết lộ, vờ viện cớ thày bói khuyên tránh điềm dữ, dời cung sang đất Ung Lại viện cớ Giao Ái theo hầu có công, phong cho làm Trường Tín hầu Sau có kẻ phát giác, Giao Ái sợ, bàn với Thái hậu tính nổi loạn giết vua Vua Tần sai tra xét, biết

rõ thực tình, bắt giết ba họ nhà Giao Ái ; sai bắt hai con hoang của thái hậu, bỏ vào túi đập chết ; lại cách chức tướng quốc Lã Bất Vi, sau thấy tân khách đi lại thăm hỏi nhiều, sợ làm phản nên tính bắt đày sang đất Thục Lã Bất Vi sợ rồi cũng sẽ bị giết, nên uống thuốc độc tự tử

Tôi :

Như vậy, việc « buôn vua » này, tuy lãi lớn nhưng cũng không bền, không trọn được một đời Vả lại cũng còn nhiều điều nghi vấn, thực hay hư ? Tần Thủy hoàng thống nhất nước Tàu, bỏ chế độ phong kiến (1) , vốn bị nhiều người ghét, đặc biệt là các Nho sĩ ; họ ghét vì cái vụ đốt sách chôn học trò (2) Mà Nho sĩ lại là bọn người sau này cầm bút viết sử, chắc gì đã không thêu dệt ra lắm điều Sự việc lại xảy ra cách đây đã hơn hai nghìn năm, tài liệu chứng cớ không bảo đảm chắc chắn Thí dụ như : Chắc gì Lã Bất Vi đã là bố đẻ của Tần Thủy hoàng ? Câu chuyện Triệu Cơ có mang nhưng dấu kín ; người ta thường nói chín tháng mười ngày thì đẻ, đằng này thì quá kỳ hẹn, cho rằng tại là chân mệnh đế vương, đến mười hai tháng mới đẻ, khi sinh có ánh đỏ rực nhà, trăm thứ chim bay đến lượn múa, lúc sinh ra mỗi con mắt có hai tròng con ngươi, trong miệng đã

có mấy cái răng, vv (theo sách « Đông Chu liệt quốc »), khó ai mà tin được

Nhưng thôi, cứ cho là vậy đi, mà cũng chỉ có một đời không trọn vẹn Có chuyện phương Tây, cũng buôn bán mà có quyền lực, nhưng dai dẳng hơn

Trang 28

vay lãi, dần dần trở nên có thế lực ở vùng này Sang đến thế kỉ 14, với ngân hàng Medici họ dần dần gắn với các nhà quyền thế trong vùng tăng thêm của cải và đất đai bên cạnh sức mạnh của thương nghiệp của họ ; họ cho vua chúa vay lãi và dần dần trực tiếp tham gia quyền lực, thậm chí trở thành nhà quyền quí Nhưng những nhân vật nổi tiếng của dòng họ Medici này xuất hiện vào thế kỉ 15 :

Come de Medici (1389-1464) chủ ngân hàng, đồng thời cũng là một thứ Mạnh Thường quân (3), bảo vệ che chở nâng đỡ đối với văn học và nghệ thuật Lorenzo de Medici còn gọi là Lorenzo il magnifico (1440-1492), cháu nội của Come, cũng là người che chở nâng đỡ văn nghệ sĩ, chính bản thân cũng là thi sĩ, và là một trong khuôn mặt điển hình của thời Phục hưng của châu Âu Vì nhiều tiền bạc, gia đình Medici nắm đựoc quyền thế ở Firenze Nhưng sự hào nhoáng và quyền lực của họ cũng làm cho có người ghét và ganh tị Giuliano de Medici (1478-1516) với sự giúp

đỡ của quân đội giáo hoàng và quân đội Tây-ban-nha, lập lại quyền lực của dòng họ Medici ở Firenze sau bị khi bị đuổi khỏi nơi này một thời do cuộc cách mạng gây ra bởi Savonarola (4) Girolamo Savoranola (1452-1498) là một tu sĩ dòng Đô-mi-ních, chống lại những xa hoa phù phiếm của gia đình và bè cánh Medici, chủ trương khổ hạnh, đuổi phe Medici ra khỏi Firenze và lập một hiến pháp mới với một thể chế nửa thần quyền - nửa dân chủ từ 1494 đến 1497 Trong thời thịnh của tu sĩ này, một số sách vở và tác phẩm nghệ thuật coi là thể hiện sự đồi trụy bị đốt phá công cộng Sau vì sự quá đáng của Savoranola, dân chúng dần dần chán ghét và bỏ rơi tu sĩ này và rốt cuộc, ông ta bị giáo hoàng Alexander VI (tiếng Pháp gọi là Alexandre VI) (5) « rút phép thông công » (tiếng Pháp là « excommunié ») rồi bị treo cổ và đốt xác Dòng họ Medici còn cai trị xứ này lâu dài, đến tận Gian Gastone de Medici (1671-1737) mới chuyển sang dòng họ khác

Cũng phải nói đến mấy ông giáo hoàng Medici (dưới đây, tôi sẽ ghi tên các giáo hoàng theo âm tiếng La-tinh, nhưng tôi cũng cố ghi bên cạnh âm tiếng Pháp vì tôi quen với tiếng Pháp, và vì các giáo hoàng thuộc nhiều quốc tịch nên tôi không có khả năng tra tận gốc) :

Giáo hoàng Leo X (tiếng Pháp gọi là Léon X, tức là Giovanni de Medici, 1475-1521 được bàu làm giáo hoàng vào năm 1513) (6) và Giáo hoàng Clemens VII (tiếng Pháp gọi là Clément VII, tức là Giulio de Medici, 1478-1534 được bàu làm giáo hoàng vào năm 1523 ) (7), không cứ là do đạo đức tu hành mà nên, nhưng góp phần củng cố quyền lực của dòng họ Medici Và giáo hoàng thứ ba là Pius IV (tiếng Pháp gọi là Pie IV , tức là Gian Angelo de Medici, 1499-1565 được bàu làm giáo hoàng vào năm 1559) cũng khá đặc biệt vì tên tuổi gắn với hội nghị giám mục ở Trente (tiếng Pháp là Concile de Trente) và cũng vì cái chết « sướng » của vị (8)

Nhưng khi đề cập đến dòng họ Medici, thì cũng phải nhắc đến những nghệ sĩ mà dòng họ này che chở nâng đỡ, trong đó có ba nghệ sĩ danh tiếng : Botticelli, Leonardo da Vinci và Michelangelo

- Botticelli (1445-1510), tên thật là Alessandro Filipepi, là một danh họa, dưới trướng của Lorenzo il magnifico, được vị Medici này nâng đỡ Các tác phẩm của ông phần lớn do cảm hứng

tự niềm tin ở đạo Nhưng cũng có những ngoại lệ như bức họa « mùa Xuân » hay « Sự ra đời của Vénus » (Vénus là nữ thần sắc đẹp và tình yêu) Lúc đã đứng tuổi, ông trải qua một giai đoạn thần bí, bị ảnh hưởng của những lời « cảnh tỉnh » của Savoranola như kể trên, cũng nao núng, tự

Trang 29

mang đốt mấy tranh coi là phù phiếm của mình để tập trung vào những sáng tác « thuần đạo » và như vậy cho đến cuối đời

- Leonardo da Vinci (1452-1519) không những là một danh họa, mà còn là nhà khoa học, kỹ thuật, kiến trúc ; ông sống hai giai đoạn ở Firenze dưới sự bảo trợ của các ông hoàng Medici Ông là tác giả của nhiều bức tranh, trong đó bức tranh nổi tiếng nhất là « La Joconde », chân dung của Mona Lisa, (vẽ vào khoảng những năm 1503-1507), hiện nay trưng bày ở bảo tàng Louvre ở Paris ; lý do vì sao bức tranh này được rất được ngưỡng mộ, du khách chen nhau tới xem, cũng là điều bí ẩn của thị hiếu Năm 1513, ông được Giuliano de Medici, em giáo hoàng Leo X, vời đến Roma để tu sửa cảng Civitavecchia và bình ổn đầm lầy Pontins Ba năm sau, khi Giuliano Medici chết, ông nhận lời mời của vua Pháp François I, và tiếp tục công trình nghiên cứu về kiến trúc, đô thị, thủy lợi, hình học,… ở Pháp cho đến lúc chết

- Michelangelo (1475-1564) tên thật là Michelangelo Buonarroti, vừa là nhà tạc tượng, họa sĩ, kiến trúc sư, kỹ sư và thi sĩ, cùng với Leonardo da Vinci, là khuôn mặt tiêu biểu nhất của nghệ thuật thời Phục hưng Thuở nhỏ, lúc còn học nghề, ông được Lorenzo il magnifico phát hiện ra tài năng , và được ông hoàng này nuôi nấng trong gia đình, cùng với các lứa trẻ họ Medici, trong

đó có hai người sau này trở thành giáo hoàng như đã nói trên (Leo X và Clemens VII) Về các tác phẩm của ông, có thể kể tóm tắt : Pietra (tượng « Đức Bà đau khổ ») tạc bằng cẩm thạch trắng, đặt ở thánh đường San Pietro ở Roma, tượng David ở Firenze cũng bằng cảm thạch, mả của gia đình Medici, mả của giáo hoàng Julius II (tiếng Pháp gọi là Jules II), các tranh vẽ trên vòm và tường của Capella Sixtine, công trình kiến trúc cái vòm của thánh đường San Pietro ở Roma Ông là người có quan hệ mật thiết với gia đình Medici tuy không phải lúc nào ông cũng đồng tình với cách hành xử của gia đình này

Nhưng dòng họ Medici cũng còn dây mơ rễ má sang đến tận Pháp qua hai bà hoàng hậu (sau là thái hậu nhiếp chính) : Catherine de Médicis và Marie de Médicis Vì hai bà này sang ở Pháp, nên tên đã Pháp hóa thành Médicis

Trước hết là chuyện bà Catherine de Médicis (1519-1589) Bà này là cháu giáo hoàng Clemens VII đã kể trên; bà mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được vị này nuôi nấng che chở ; lúc bà 14 tuổi thì gả cho thái tử Pháp, sau này là vua là Henri II Tuy không được vua yêu, bà cũng đẻ với vua nhiều con, trong đó có 3 người con trai (sau đều làm vua) và một người con gái (sau là hoàng hậu) Đời

bà là một bi kịch cá nhân, trong một giai đoạn loạn li của nước Pháp, nhưng bà cũng chứng tỏ được tài năng cầm quyền của mình : Vua Henri II vốn thích trò cưỡi ngựa « đấu giáo » (joute),

để tỏ mình có sức mạnh (Một cuốn Từ điển Pháp-Việt dịch « joute » là « đấu giáo », không biết

có chính xác lắm không : hai kỵ sĩ, mặc giáp sắt, mang lá chắn và « giáo » (đây là chiếc gậy dài), thúc ngựa chạy nhanh ngược chiều nhau – gậy này hình như to và dài hơn cái cán giáo ở ta – đã

bỏ mũi nhọn đi, đẩy vào lá chắn của đối phương, ai yếu hơn thì ngã ngựa) Nhân dịp lễ cưới con gái đầu, nhà vua ép một quần thần đấu sức, chẳng may miếng che mặt của chiếc mũ sắt không đậy kỹ, bị cán giáo gẫy đâm vào con mắt, đụng tới óc, hấp hối mươi ngày mới chết (Thuở đó, ông thày thuốc giải phẫu Ambroise Paré được vời đến chữa, đã xin giết 4 tử tù để thử cách chữa trên xác của họ, nhưng rốt cục không cứu được vua) Thái tử nối ngôi, tức là vua François II, mới

15 tuổi Vua này vốn ốm yếu, tuy đã « trưởng thành » - tuổi trưởng thành của vua Pháp lức đó là mười ba - nhưng vẫn dựa vào mẹ là thái hậu Cathérine de Médicis, nên bà thực sự cầm quyền Được hơn một năm thì vua chết bệnh Em trai nối ngôi, là vua Charles IX mới 10 tuổi , thái hậu

Trang 30

Cathérine de Médicis nhiếp chính Vua này tính tình bất nhất, dễ bị ảnh hưởng của mẹ cũng như của thân cận Thuở đó lại là thuở mà xã hội Pháp bị giằng xé của hai nhánh đạo Ki-tô (Christianisme) : một nhánh đạo Công giáo (Catholicisme) vốn là quốc giáo, và một nhánh đạo Tin lành (Protestantisme), nhưng qua các nhân vật quyền lực trở thành phe phái kình địch Nhà vua lúc thì nghe bên này, lúc ngả về bên kia, trong khi thái hậu cố gắng tìm cách giữ cân đối giữa hai phe để làm dịu tình hình Vào năm 1574, nhà vua tin dùng một quần thần phe Tin lành ; thái hậu lo sợ, thuyết phục được vua là phe Tin lành mưu loạn Nhân dịp đám cưới gả công chúa Marguerite cho ông hoàng Henri de Navarre – xứ Navarre này lúc đó chưa sát nhập vào Pháp, ông này theo đạo Tin lành, lại là anh em họ với nhà vua Pháp – phe Tin lành theo ông hoàng Henri de Navarre tụ tập ở kinh đô Paris ; vua Charles IX bị thái hậu và phe Công giáo thúc đẩy,

ra lệnh tàn sát phe Tin lành Đó là vào đêm 24/8/1572, được sử sách gọi là đêm Barthélémy Phe Công giáo tàn sát phe Tin lành, từ quan đến dân, nam phụ lão ấu, trong ba ngày trên khắp lãnh thổ, đặc biệt là ở kinh đô, xác chết vứt xuống sông Seine Ông hoàng Henri de Navarre vì vừa là anh em họ của vua, vừa là rể của thái hậu, nên không bị giết, nhưng phải hứa

Saint-bỏ đạo và bị giam lỏng trong điện Louvre Sau nhờ sự cư xử khéo léo và mưu mô, mới trốn thoát được về xứ, còn vợ vẫn ở lại kinh đô Hai năm sau vụ việc Saint-Barthélémy, vua Charles IX chết bệnh lao, lúc hấp hối còn ân hận về vụ tàn sát này Đó là sử, nhưng dã sử thì có thêm thắt, thực hư khó kiểm Cũng xin kể lại như sau :

Alexandre Dumas père (1802-1870) có viết cuốn « La reine Margot » – Margot là gọi tắt tên của công chúa Marguerite, reine nghĩa là hoàng hậu, vì Henri de Navarre là vua xứ Navarre – trong

đó kể lại giai đoạn thảm kịch này Truyện đại khái như sau Công chúa Margot không phải là gái đoan trang Nàng có một tình nhân tên là de La Mole, là một chàng quí tộc nghèo tỉnh nhỏ, từ quê lên kinh đô Paris tìm cách tiến thân Chàng có một cuốn sách hiếm, nói về cách săn bắn Túng tiền, chàng đem bán cuốn sách cho một nhà hàng Thái hậu gả con gái cho ông hoàng Henri de Navarre, vốn để kết chặt xứ Navarre với Pháp, nhưng sau vụ tàn sát Saint-Barthélémy, muốn khử luôn con rể (đang bị giam lỏng ở điện Louvre), để trừ hậu hoạn Nhưng vua Charles

IX lại thân với Henri de Navarre vì hai người đều ham săn bắn Thái hậu sai người tìm mua một cuốn sách về săn bắn thật hấp dẫn – và tình cờ mua trúng vào cuốn sách của chàng de La Mole –

và sai tẩm thuốc độc vào các trang giấy, rồi sai lén đặt vào phòng của ông hoàng Henri de Navarre Ông này vắng mặt Số phận run rủi, nhà vua ghé thăm, thấy cuốn sách để trên bàn, lại là sách về săn bắn rất hấp dẫn, bèn ngồi lại đọc, trang giấy nhớp dính khó giở, phải liếm ngón tay

để giở từng trang, thành ra trúng độc Khi phát hiện ra thì đã quá muộn, bệnh thổ ra máu, không

có thuốc chữa ; vua biết là tại mẹ mình, nhưng vì « lý do quốc sự » (raison d’Etat), đổ tội cho chàng de la Mole, vì có tên chàng ghi trên cuốn sách, nên chàng bị kết án chặt đầu Cái tài của người viết dã sử hay, là cài thêm được những chế biến ly kỳ của tiểu thuyết nhưng vẫn giữ được cốt lõi chính của sự kiện lịch sử (Sử thì có khác đôi chút : chàng de La Mole, tên thật là Joseph

de Boniface, tước gọi là hầu tước Comte de La Mole, vốn là bạn của công tước Duc d’Alençon

em trai út vua, và là tình nhân của nàng Margot Theo một nhà chép sử biên niên (chroniqueur), thì chàng này mỗi ngày nghe thánh lễ (messe) đến ba, bốn lần, thời giờ còn lại thì chơi bời trác táng có tiếng ; chàng ta tin rằng cứ nghe lễ chăm chỉ, thì bao nhiêu tội lỗi đều được tha thứ xóa

bỏ ; đến nỗi có một lần nhà vua cười bảo : nếu ai muốn đo sự trụy lạc của hắn như thế nào, thì cứ đếm buổi nghe thánh lễ của hắn Sau chàng de La Mole cùng với em vua âm mưu phản vua, nên

bị tội chết Một nhà chép sử biên niên khác cũng kể rằng hôm chàng bị hành quyết, nàng Margot đứng chứng kiến từ một cửa sổ Nàng để tang một cách công khai, và cho tiền đao phủ để lấy cái

Trang 31

đầu của chàng đem ướp, cất ngay trong tủ của phòng ngủ của mình trong một thời gian dài Cũng

là một mối tình thắm thiết)

Trở lại câu chuyện vua: Vua Charles IX chết, không có con trai, người em nối ngôi là vua Henri III, tuy đã 23 tuổi, vẫn chịu sự cố vấn của thái hậu Cathérine de Médicis Sự đấu đá giữa hai phe Công giáo và Tin lành vẫn tiếp tục Để an dân, nhà vua buộc phải nhượng bộ, cho phe Tín lành hưởng một số đặc quyền, làm cho phe Công giáo (mà người cầm đầu là công tuớc Duc Henri de Guise) phản ứng rất mạnh, và càng ngày càng lấn thêm quyền, họp nhau lập nên một « Liên minh » (tiếng Pháp là Ligue) Thêm vào đó, vua Henri III không có con, người em trai của vua lại chết sớm, và như vậy do quyền thế tập trong dòng họ, người có thể nối ngôi lại chính là Henri

de Navarre, ông hoàng theo đạo Tin lành, chồng của bà Margot kể trên Điều này lại càng làm cho phe Công giáo phẫn nộ Tháng 5 năm 1588, dân chúng bắt đầu dựng chướng ngại vật ở kinh

đô và hoan hô hưởng ứng Henri de Guise Nhà vua và thái hậu sợ, phải lén bỏ kinh đô Paris, chạy về Blois (khoảng 200 km phía tây nam Paris, nơi này có lâu đài của hoàng gia, gọi là Château de Blois, nơi ngự của nhiều vua tiền triều) Rồi vua và thái hậu lập mưu cho vời Henri

de Guise đến Blois, sai giết chết (23/12/1588) (Điều đáng mỉa mai là Henri de Guise này chính

là một trong những người đã cầm đầu vụ tàn sát đêm Saint-Barthélémy 16 năm trước đó) Mười

ba ngày sau, thái hậu Cathérine de Médicis cũng chết Vụ ám sát Henri de Guise làm cho phe Công giáo càng thêm phẫn nộ chống vua Vua Henri III phải vời ông hoàng Henri de Navarre mang quân đến giúp, chung sức để dẹp « Liên minh » Nhưng một tu sĩ, giả cách xin gặp vua, bất ngờ đâm vua tử thương Trước khi chết, vua Henri III kịp chính thức chỉ định ông hoàng Henri

de Navarre làm người nối ngôi, tức là vua Henri IV Đó là vào 1/8/1589, chấm dứt dòng Valois, chuyển sang dòng khác

Như vậy là Cathérine de Médicis (9), xuất thân là con gái dòng họ Medici, làm dâu hoàng tộc Pháp từ thuở 14 tuổi, tham gia cầm quyền trong 35 năm lúc trực tiếp, lúc gián tiếp, qua ba người con làm vua, giữ được thế đứng cho gia đình trong một giai đoạn vô cùng khó khăn, đâu có phải

là người tầm thường Nhưng thời cơ không thuận, không giúp con giữ được cơ đồ, và tuyệt tự dòng đực, cũng là một bi kịch Người ta gán cho bà câu nói : « Ta chưa hề làm vua ; nhưng ta đã lập [nhiều] vua và điều khiển vua »

Về bà Marie de Médicis, thì câu chuyện như sau : Ông hoàng Henri de Navarre kể ỏ phần trên, nối ngôi vua Henri III, nay tức là vua Henri IV, phải chinh chiến để dẹp cuộc nổi loạn của cánh Công giáo Nhưng để an lòng dân, nhà vua nhận theo đạo Công giáo, và lấy lại được hòa bình, và tiến vào kinh đô Paris năm 1594 Nhắc lại là trước kia, nhà vua đã cưới bà Margot (vụ việc Saint-Barthélémy đã kể trên ), nhưng bà chê ông bẩn và không thanh nhã ; đôi bên không thuận hòa Do đó, cuộc hôn nhân sau đó bị hủy (đạo Công giáo không cho phép ly dị, vua chúa thường tìm cớ này nọ, thí dụ vì quan hệ gia tộc, cuộc hôn nhân trước đó là trái phép, xin phép giáo hoàng hủy cuộc hôn nhân) Năm 1600, nhà vua cưới bà Marie de Médicis, con gái ông hoàng Medici Năm 1610, nhà vua bị một kẻ quá khích đâm chết khi xe vua đi trong phố Con nối ngôi

là vua Louis XIII mới 9 tuổi, thái hậu Marie de Médicis nhiếp chính Nhưng bà không là người

có bản lĩnh, để cho kẻ thân cận Concini lũng đoạn, tham nhũng, làm rối loạn việc nước Năm

1617, nhà vua Louis XIII không chịu nổi nữa, sai giết Concini, và tước quyền thái hậu Trong đám quần thần có Richelieu (sau là hồng y) vốn do thái hậu tiến cử, nên cũng bị thất thế ; nhưng

Trang 32

vì ông là người có tài nên sau cũng được vua sử dụng lại, và hoàn toàn tin cậy, áp dụng một đường lối chính trị khác với ý thái hậu Năm 1630, thái hậu bất mãn, xúi vua cách chức Richelieu, và tưởng rằng vua nghe mình, nên cùng với đồ đảng của mình mở tiệc ăn mừng ở điện Luxembourg (xem phụ lục) Nhưng ngay tối hôm đó, nhà vua ở điện Versailles (xem phụ lục) quyết định tín nhiệm Richelieu, và an trí thái hậu ở Compiègne (xem phụ lục) Sử gọi ngày hôm

đó là « ngày của những lừa bịp » (Journée des Dupes) Năm sau, thái hậu trốn thoát và lưu lạc ở nước ngoài cho đến lúc chết, mười một năm sau Cũng là một bi kịch Cũng như các người trong dòng họ Medici, bà che chở nâng đỡ nghệ sĩ trong đó có nhà danh họa Rubens (1577-1640) nguời Hà-lan

Kể thêm là hồng y Richelieu (1585-1642) giúp vua Louis XIII rồi vua Louis IV trị nước, dần dần mang lại bề thế cho nước Pháp Ông cũng là người sáng lập ra Viện Hàn lâm Pháp (Académie française), và khuếch trương đại học Sorbonne (xem phụ lục) Lúc ông chết, mả ông chôn trong nhà thờ của khu Sorbonne, còn tồn tại ngày nay

Nhà văn Alexandre Dumas père (10) kể trên viết một cuốn dã sử, Les trois mousquetaires (thuở xưa Nguyễn Văn Vĩnh dịch ra tiếng Việt dưới đề « Ba người ngự lâm pháo thủ », nxb Vĩnh Thành, Hà Nội 1921) nói về quan hệ giữa hồng y Richelieu và thái hậu Anne d’Autriche dưới thời vua Louis XIV lúc vua còn nhỏ tuổi, cho rằng ông này mê bà kia

Tôi nói tiếp :

Một gia đình xuất phát từ thương nhân, nhờ làm ăn buôn bán, biết dùng tiền bạc, nâng được dòng

họ mình trải qua nhiều đời từ thế kỉ 15 đến thế kỉ 18 lên đến tột đỉnh của quyền lực và tôn giáo, lại ghi lại dấu ấn qua các công trình văn nghệ thuật kiến trúc bằng cách che chở nâng đỡ các tài năng, như vậy đâu có phải là tầm thường Đây là một nhận xét, không phải là một sự so sánh

Il Milione, Le Devisement du monde, kể lại cuôc hành trình của ông ta Nghe kể là bản chính nay đã mất, nhưng có khoảng 150 bản sao chép tay còn tồn tại, dịch ra nhiều thứ tiếng Cuốn

Trang 33

sách khơng chỉ kể cuộc hành trình của chính ơng ta, mà cịn kể cả cuộc hành trình trước đĩ của cha và chú ơng ta là Nicolo và Matteo Polo Gia đình này vốn là một gia đình thương nhân, ngay

từ năm 1252 đã mở một chi nhánh ở Constantinople Năm 1260, hai ơng này muốn thăm dị thị trường phía châu Á, mới bắt đầu một cuộc hành trình về phía đơng, đến tận Bu-kha-ra (thuộc Ouzbekistan ngày nay) để bán đồ trang sức Vì nơi đây cĩ chiến tranh, họ bị kẹt ở đĩ 3 năm, và

do đĩ tình cờ cĩ dịp gặp một đồn sứ giả của Đại hãn Khoubilạ (sử ta gọi là Hốt-tất-liệt, tức Nguyên Thế Tổ), và theo đồn này sang tận Yên Kinh (Đại Đơ, cịn gọi là Khanbaliq tức Bắc Kinh ngày nay) Chuyến đi này kéo dài một năm Họ ở đĩ đến năm 1266 mới trở về, được cấp cho « tablettes d’or » (tơi khơng biết dịch tiếng ta là gì, một thứ phù ấn để làm giấy thơng hành

và làm tin ?) và được ủy thác chuyển lời của Nguyên Thế Tổ tới Giáo hồng yêu cầu gửi sang Nguyên triều một trăm người tinh thơng mọi nghề Cuộc hành trình đi-về kéo dài gần 10 năm, và năm 1269 họ trở về đến Venizia

Lúc đĩ là thời giáo hồng Clemens IV (tiếng Pháp gọi là Clément IV ) ; theo một thuyết cĩ lẽ vị này khơng mặn mà (?) nên năm 1271, hai anh em Nicolo và Matteo Polo mới lên đường trở lại Yên Kinh, dắt theo Marco Polo, cùng với việc mang thư và quà tặng của giáo hồng mới là Gregorius X (tiếng Pháp gọi là Grégoire X) gửi cho Nguyên Thế Tổ Nhưng giáo hồng khơng kiếm được một trăm người như yêu cầu nên chỉ gửi hai giáo sĩ đi theo ; tương truyền hai vị này nhát gan nên chỉ đến xứ Ác-mê-ni rồi bỏ cuộc Ba anh em cha con Polo đi bằng đường bộ, qua Bu-kha-ra, Sa-mác-kan, sa mạc Gơ-bi, Tân Cương, vv và mất bốn năm mới tới đến Yên Kinh

Họ được tiếp đĩn tử tế và ở lại Trung quốc 17 năm Theo như lời kể của Marco Polo thì ơng ta được vua Nguyên Thế Tổ trao cho nhiều nhiệm vụ, hai lần được trao sứ mạng thực hiện một số điều trong nước Tàu cho nên quan sát được nhiều Năm 1291, ba anh em cha con Polo lên đường trở về, được giao cho nhiệm vụ hộ tống một cơng chúa Mơng Cổ sang làm vợ vua nước Ba-tư Lần này đi bằng đường biển, vịng phía Nam Dương quần đảo, ngang qua phía Ấn Độ, vv đầy gian truân, lúc đi cĩ sáu trăm người tùy tùng, chỉ mười tám người đến được tới đích Và cuối cùng ba anh em cha con Polo về tới Venizia năm 1295 sau 24 năm vắng mặt

Câu chuyện của Marco Polo kể, cĩ người tin cĩ người khơng tin Ngay thời ơng ta cịn sống cũng như ngày nay, cĩ người đặt câu hỏi rằng ơng ta cĩ thực sang đến tận nước Tàu khơng, (thí dụ như cuốn sách « Did Marco Polo go to China ? » của Frances Wood, nxb Secker & Warburg,

1995 , trong đĩ cĩ những câu hỏi : sao ở Venizia cũng như tại Trung quốc khơng cĩ tài liệu nào nĩi tới chuyến đi của ơng ta, tại sao cuốn sách của ơng ta lại quên khơng nĩi tới chữ viết của người Tàu, sao khơng kể tới Vạn Lý Trường thành, sao khơng kể tới tục bĩ chân của phụ nữ - nhưng thời đĩ khơng phải phụ nữ nào cũng bĩ chân, phụ nữ Hán bĩ chân chứ phụ nữ Mơng Cổ đâu cĩ bĩ (!) - vv.) Cũng nĩi thêm là ơng Marco Polo về đến Venizia năm 1295 Năm 1298 trong một trận thủy chiến với xứ Genova, Marco Polo bị bắt và bị cầm tù khá lâu, và lúc đĩ ơng

ta mới đọc cho một người bạn tù chép lại chuyện hành trình kể trên của ơng ta Sau này vào năm

1324, vào tuổi 70, lúc sắp chết, khi người thân của ơng ta khuyên ơng ta nên nĩi ra sự thật thì ơng ta trả lời : « Tơi chưa kể đầy một nửa những điều mà tơi đã thấy » Cũng là chuyện mờ mờ

ảo ảo, sự thật ở đâu cũng chẳng biết được Cĩ điều là ảnh huởng của Marco Polo rất lớn, đặc biệt

là đối với các nhà thám hiểm hơn một thế kỉ sau …

Y :

Trang 34

Thương nhân xứ người ta như vậy, sao cái xã hội mình thuở xưa lại đặt vào hạng bét Ví von xa xôi lẩm cẩm một chút : Cũng chẳng khác gì chữ « tạp » ngày nay Chất hỗn hợp hiện giờ coi bộ cũng thịnh trong công nghệ đấy chứ, đâu cứ phải nguyên chất, thuần đạo, mới là hay …

do cưới gả mà thừa hưởng Ngay sang đến thế kỉ 17, một vua mạnh như Louis XIV chuyên chế, cũng không chấm dứt, và chế độ này còn tồn tại tới Cách mạng Thời cộng hòa ngày nay, đất đai không còn, quyền lực không còn, nhưng vẫn còn có thể duy trì danh hiệu hão Nếu không phân biệt được điều này, thì kể chuyện tây cho ta, kể chuyện ta cho tây, đều rất khó hiểu

Ở ta, không có chế độ phong kiến thực sự, không có những dòng họ có thực ấp đời đời cha truyền con nối, trừ trường hợp của một số tù trưởng ở vùng biên giới Cũng nên nhận xét rằng trường hợp « thổ ty thế tập » này chỉ là khoanh lại ở việc được cai quản vùng đất đai, chứ chức tước thì tùy thời tùy triều đình, nên khi có công lao to thì có đời được phong tước quận công, có đời công lao nhỏ hơn thì được phong tước hầu, tước bá, tước nam ; cũng có đời có chức nhưng không được phong tước gì cả Cho nên lại càng khác với châu Âu, nơi mà đất đai và tước danh hiệu truyền đời nọ sang đời kia Tôi xin nêu thí dụ của một dòng họ ở ta mà tôi được biết : họ Vi

ở Lạng Sơn Tôi có được đọc (bản dịch) thế phả của dòng họ này, xin kể lại như sau :

Tương truyền tổ tiên của họ này là Hàn Tín bên Tàu (xem chuyện Hàn Tín kể ở chương 1) Gia phả đó viết : « Khi Hàn Tín bị họ Lữ hạ độc thủ (nghiã là bị Lữ hậu lừa bắt giết cả ba họ), chỉ còn lại một người con trai, được người bạn của Hàn Tín là Tiêu Hà, gửi thư dặn dò quan huyện lệnh Long Xuyên là Triệu Đà nhờ trông nom người con đó hộ Đà nuôi làm con, khi nhớn đặt tên là Nhân, đổi họ là Vi, lấy nghĩa chữ Vi là nửa chữ Hàn Con cháu mấy đời làm tù trưởng Lĩnh Nam Các đời về sau không ghi gia phả, rốt cục tông tích tổ tiên không có truyền »

[Chú thích : Chính người dịch cuốn gia phả này, Đ.K.M., có ghi lời bàn như sau : « Truyền thuyết trên có chỗ không hợp với lịch sử Khi Hàn Tín bị giết năm 196 trước Công nguyên, thì Triệu Đà đã tự xưng là Nam Việt vương từ năm 207 trước Công nguyên rồi, nghĩa là 12 năm về trước Nhưng rất có thể là con Hàn Tín được phó thác cho Triệu Đà khi ông ta còn là huyện lệnh

ở Long Xuyên » Đó là ý của dịch giả Tôi xin nêu thêm vài chi tiết, có vẻ như trái ngược nhau : Đúng là Tiêu Hà là người tiến cử Hàn Tín với Lưu Bang, nhưng tướng quốc Tiêu Hà cũng là

Trang 35

người lừa Hàn Tín đến để Lữ hậu bắt giết Lừa thật hay buộc phải lừa ? Và sau ân hận nên tìm cách cho một người con của Hàn Tín trốn đi và gửi cho Triệu Đà mãi tận Nam Việt ? Còn nếu Tiêu Hà gửi gắm người con của Hàn Tín cho Triệu Đà 12 năm trước thì cũng có chỗ khó trùng hợp, vì lẽ khi Tiêu Hà tiến cử Hàn Tín cho Lưu Bang cho đến lúc Hàn Tín bị giết thì hình như chưa đầy 12 năm, nghĩa là có thể rằng Tiêu Hà chưa quen thân Hàn Tín khi Triệu Đà còn làm huyện lệnh Long Xuyên Nhưng việc Triệu Đà chống cự Lữ hậu thì là chuyện có thật, và Triệu

Đà xưng đế (Nam Việt Vũ đế) là vào khoảng thời gian đó

Câu chuyện Tiêu Hà tiến cử Hàn Tín thì chi tiết như thế này : Hàn Tín vốn là người huyện Hoài

Âm ; lúc hàn vi, nhà nghèo phải ăn nhờ ; ra chợ có kẻ làm nhục, dọa hoặc là dám đọ sức đâm hắn, hoặc chịu thua thì chịu chui dưới háng hắn ; Hàn Tín chịu chui dưới háng hắn, vì biết bỏ việc tiểu tiết để giữ mình làm việc lớn Thời Hạng Vũ, khởi binh chống nhà Tần, Hàn Tín theo Hạng Vũ, làm chức quan nhỏ, nhiều lần bày mưu lập kế nhưng Hạng Vũ không nghe Khi Hạng

Vũ bội ước không cho Lưu Bang làm vương ở đất Quan Trung, mà đẩy vào làm Hán vương đất

Ba Thục mãi tận cùng phía tây, và phong cho đồng đảng của mình làm vương phía ngoài để chặn đường về phía đông của Lưu Bang , như đã kể ở phần 1, Hàn Tín bỏ Hạng Vũ theo Lưu Bang Đất Ba Thục này là đất xấu, đã vào thì khó hy vọng trở về trung nguyên, nên nhiều tuớng bỏ trốn Hàn Tín thấy Lưu Bang không có ý trọng dụng mình, bèn bỏ đi Tiêu Hà nghe tin Hàn Tín

bỏ đi, vội vã đuổi theo, khi đón được về thì lại ra sức thuyết phục Lưu Bang sử dụng Hàn Tín, với lý lẽ là nếu muốn an phận làm Hán vương ở đất Ba Thục thì có thể không dùng Hàn Tín, còn nếu muốn mang quân về phía đông thâu tóm thiên hạ thì phải nên trao binh quyền cho Hàn Tín, người khác không ai bằng được Thế nên Hàn Tín mới được phong đai tướng chỉ huy các tướng mặc dù chưa hề có công lao Và rồi đánh đâu được đấy Tương truyền Hàn Tín có thể cầm quân đông tới mức không thể đếm được, cho nên mới có « bài toán Hàn Tín điểm binh », mà ngày nay dưới dạng tổng quát, các nhà toán học gọi là « định lý [hay là bổ đề] Tàu » Hàn Tín lập được công lao, là nhờ Tiêu Hà hết lòng tiến cử Nhưng khi công thành danh toại , thì sự nghi ngờ nảy sinh, bị chết vì tay Lữ hậu, như đã kể ở phần 1 Sử ký của Tư Mã Thiên chép là Lữ hậu bàn với tướng quốc Tiêu Hà, tướng quốc Tiêu Hà lừa Hàn Tín vào chầu, Lữ hậu sai võ sĩ bắt trói đem chém và giết ba họ Sau này lại có chuyện người con trai gửi gắm cho Triệu Đà mà có được họ

Vi ở ta Chuyện xảy ra đã hơn hai nghìn năm, thực hư ngày nay sao biết được !]

Tôi xin nói thêm : tự dạng chữ « Hàn » gồm bên trái là một chữ « mà tôi không biết đọc, nó gồm hai chữ thập trên và dưới kẹp chữ nhật hay chữ viết ở giữa», bên phải là chữ « vi »; bỏ chữ « bên trái » đi, thì còn lại chữ « vi » Hay là chỉ vì mặt chữ, tình cờ mà sinh ra truyền thuyết ? Cũng nhắc lại là Triệu Đà ở đây, chính là Triệu Đà trong truyền thuyết thần Kim qui : Tục truyền rằng khi An Dương vưong nuớc Âu Lạc ta, xây Loa thành ở Cổ Loa, có những yêu quái quấy nhiễu, xây mãi không được, mới lập đàn cầu khấn, có thần Kim Qui (thần Rùa vàng) hiện lên bày phép cho nhà vua trừ yêu quái đi, nên mới xây được thành Thần Kim Qui lại cho cho An Dương vương một cái móng chân, để làm cái lẫy nỏ, có giặc đem nỏ ấy bắn ra một phát, giết chết hàng vạn người (!) Triệu Đà muốn thôn tính nước Âu Lạc, nhưng vì cái nỏ nên Triệu Đà đánh không được, mới lập kế, cho con là Trọng Thỉ sang lấy Mị Châu con gái An Dương vương, giả kết nghĩa vợ chồng để do thám Trọng Thỉ lừa vợ, biết được bí mật của nỏ thần, lấy cắp được cái lẫy

nỏ, thay bằng lẫy giả, rồi về kể lại cho cha Triệu Đà lại mang quân sang đánh An Dương vương cậy nỏ thần, không phòng bị, nay giặc đến chân thành, mới đem nỏ ra bắn, không hiệu nghiệm, mới đem Mị Châu lên ngựa chạy về phía nam, đến bờ biển gần núi Mộ Dạ (thuộc Nghệ An ngày nay), kíp quá, mới khấn thần Kim Qui lên cứu Thần hiện lên bảo : « Giặc ngồi sau lưng Vua đấy

Trang 36

» An Dương vương tức giận, rút gươm chém chết Mị Châu rồi nhảy xuống bể tự tử Trọng Thỉ theo dấu lông ngỗng của vợ rắc chỉ đường, đem binh đuổi theo đến núi Mộ Dạ, tìm thấy xác vợ, thương xót đem về chôn, rồi nhảy xuống giếng trong Loa thành tự tử Tục truyền Mị Châu vì tình thực mà chết oan (!?) nên máu chảy xuống bể, những con trai ăn phải hóa ra ngọc trai, ai lấy được đem về rửa bằng nước giếng ở Loa thành, thì ngọc ấy đẹp thêm Triệu Đà sát nhập Âu Lạc vào quận Nam Hải, lập nên nước Nam Việt, tức Triệu Vũ vương (207-137 trước Công nguyên), một thời xưng đế tức là Triệu Vũ đế, lúc chống đối với Lữ hậu (người diệt Hàn Tín) cầm quyền bên Tàu, vv

Trong cuốn « Lý Thường Kiệt », quyển 1, trang 86, ông Hoàng Xuân Hãn viết: (thế kỉ 11) « Họ

Vi là một họ lớn, chiếm vùng Tư Lăng, Lộc Châu, Tây Bình ở Tống và châu Tô Mậu ở ta Các động trưởng ở vùng này đều họ Vi Họ Vi và ba họ khác là Nùng, Hoàng, Chu, là bốn họ mà Tống sử nhận là dân khê động vùng Tả giang và Hữu giang », và theo trang 156, khi Lý Thường Kiệt đánh Tống (1075) có Vi Thủ An cầm quân Không biết có phải là tổ tiên họ Vi nói dưới đây không?

Trở lại cuốn gia phả họ Vi Tóm tắt đại khái như sau :

Dần dần đến đời Trần, Vi Kim Thăng quê ở xứ Nghệ An - trong gia phả nói đến một địa danh là Lục Ngạn ở Nghệ An, tôi lại nhớ có một châu Lục Ngạn ở Bắc Giang - làm quan nhà Trần , khi

Hồ Quý Ly cướp ngôi, ông bỏ quan Khi vua Lê Thái Tổ khởi binh ở Lam Sơn đánh nhà Minh, ông cùng với con là Phúc Hân có công cử binh theo giúp Thái Tổ định thiên hạ Vì có công nên ông được phong làm Thảo Lỗ tướng quân Tả đô đốc Mật quận công, con trai được phong làm Đô đốc đồng tri Hoàn quận công Ông cùng với Huyên quận công Nguyễn Đức Minh và các bộ thuộc của ông ta là các nông chủ họ Hoàng Đức, Nguyễn Công, Nguyễn Khắc, Hà Văn được chia nhau cai trị các xứ Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên và được thổ ty thế tập (cha truyền con nối giữ chức)

[Nhưng trong cuốn « Tiếp bước chân cha » của Nguyễn Kim Nữ Hạnh, con cố bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Văn Huyên và là cháu ngoại họ Vi, nxb Thế giới, Hà Nội 2003), cho thêm chi tiết, tôi không biết lấy từ đâu ra, không thấy trong cuốn gia phả tôi được đọc : Năm Hưng Long đời Trần, có Vi Kim Tôn làm quan đến chức Đô đốc, rồi con là Vi Kim Định được dự quan chức ở Hoan Châu và vì có công trạng vận lương cho quân lính đi đánh Chiêm Thành nên được phong tước Hằng quận công Tới con của Vi Kim Định là Vi Kim Thăng cùng con là Vi Đình Hân theo

Lê Lợi đánh quân Minh thắng lợi, Kim Thăng làm đến Tả Đô đốc Mật quận công và Đình Hân (cuốn gia phả tôi được đọc thì viết là Phúc Hân), làm đến Đô đốc đồng tri Hoàn quận công] Cuốn gia phả viết tiếp : Con trưởng của Hoàn quận công, là Thế Thân cùng 4 người em trai đều được trao chức Kinh lược sứ, tước hầu Đến khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, thời vua Mạc Phúc Hải, con trưởng ông Thế Thân là Tư Đường hầu (Phúc Đường), cùng với con là Nhữ Dực hầu và cháu là Trúc Khê hầu không chịu theo, đi tìm con cháu nhà Lê để mưu đồ khôi phục Khi nhà Lê bình được nhà Mạc, ông Phúc Đường được trao sứ mệnh làm Kinh lược đô chỉ huy sứ phương Bắc, được ban cho quê ở châu Lộc Bình, thôn Lộc Mã, họ Vi nhân đó mới ở đấy

Nhưng gia phả này cũng viết : « Từ ông Vi Nhân về sau, hơn hai nghìn năm […], những lời truyền lại từ thời xa xưa, tuy là lời thành, nhưng cũng khó mà đúng thật Nay cứ dựa vào các gia

Trang 37

phả biên ở nhiều nơi thì chỉ chỉ có thủy tổ Tư Đường hầu trở về sau thôi » Như vậy đây chỉ là một chi nhánh của họ Vi Từ đó trở xuống, gồm có :

- Đời thứ nhất : Tư Đường hầu Vi Phúc Đường

- Đời thứ nhì : Nhữ Dực hầu Vi Đức Độ

- Đời thứ ba : Trúc Khê hầu Vi Đức Quảng

- Đời thứ bốn : Thọ quận công Vi Đức Tự

- Đời thứ năm : Phụ quốc thượng tướng quân, Thiếu bảo, Dĩnh quận công Vi Đức Khánh

- Đời thứ sáu : Sóc nghĩa hầu Vi Đức Khao Em là Tả đô đốc Vũ quận công Vi Đức Thắng (Trong bài "Cuộc tiếp sứ Thanh năm 1683" đăng trong Tập san Khoa học Xã hội, số 3, 1977, ông Hoàng Xuân Hãn cũng nói đến Vi Đức Thắng đang cai quản Lạng Sơn)

- Đời thứ bảy : Dực vận tán trị công thần, Tả đô đốc Trấn quận công Vi Phúc An

- Đời thứ tám : Dực vận tán trị công thần, tham đốc quan ải, Khuê quận công Vi Phúc Vĩnh

- Đời thứ chín :Hiệu chính thủ hiệu, tuyên úy đại sứ, Huỳnh Thọ hầu Vi Phúc Cẩm

- Đời thứ mười : Chỉ huy sứ, Ỷ viễn tướng quân, Hoa Văn bá Vi Phúc Đường

- Đời thứ mười một : Thổ tri phủ, Gia nghị đại phu Thái thường tự khanh Vi Tuân

- Đời thứ mười hai : Tuần phủ Lạng Sơn, Vinh lộc đại phu, Hiệp biện đại học sĩ, Trường Phái nam Vi Lý

- Đời thứ mười ba : Tổng đốc Hà Đông, Thiếu bảo, An Phúc nam Vi Văn Định

Tôi ngưng ở đời thứ 13 này, vì sau đó là Cách mạng, hết chuyện phong kiến Cũng nên nhận xét rằng trường hợp « thổ ty thế tập » này chỉ là khoanh lại ở việc được cai quản vùng đất dai, chứ chức tước thì tùy thời tùy triều đình, nên khi có công lao to thì có đời được phong quận công, có đời công lao nhỏ hơn thì được phong tước hầu, tước bá, tước nam ; cũng có đời có chức nhưng không được phong tước gì cả Cho nên lại càng khác với châu Âu, nơi mà đất đai và tước danh hiệu cũng truyền đời nọ sang đời kia

Sở dĩ tôi nói tới dòng họ này là vì có quan hệ liên quan mật thiết với gia đình tôi, nên biết rõ Như tôi đã kể trong cuốn sách « Chuyện gia đình và ngoài đời », sau xuất bản dưới đầu đề « Tự

sự của người xa quê hương », nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2004 : Cụ Vi Văn Định (thường gọi

là « cụ Vi » để tránh tên) vốn là bạn đồng liêu với ông ngoại tôi, lại là quan trên của bố tôi, nên thuở ấy, bố mẹ tôi không phải là đồng hàng Nhưng anh Vi Văn Kỳ, con trai cụ Vi, lấy chị cả tôi

là chị Tĩnh Tâm, năm 1935 khi cụ Vi làm tổng đốc Thái Bình và bố tôi còn làm ở Tiên Hưng cũng ở tỉnh này ; chị tôi mất năm 1941)

Trang 38

Cũng do sự tình cờ run rủi, con trai cả của tôi là Marc-Khảo Mạc lại lấy con gái họ Vi là Florence-Loan, (thuộc đời thứ 16 theo gia phả họ Vi), tuy cả hai đếu sinh ở Pháp và đều nửa Pháp nửa Việt

Trở lại câu chuyện phong kiến và tàn dư : Họ Vi còn quan trọng hồi 1945 Cụ Vi Văn Định lúc

ấy đã về hưu (từ 1942), về sống ở quê ở Bản Chu, Lạng Sơn Trước Cách mạng anh rể tôi Vi Văn Kỳ cũng làm quan, Bố chánh tỉnh Yên Bái Sau Cách mạng, anh về sống ở Hà Nội, mở hiệu giải khát đế sinh sống Vào mùa hè 1946, tình hình quan hệ Pháp-Việt rất căng thẳng (nhắc là sau Hiệp định sơ bộ Việt-Pháp 6-3-1946, quân đội viễn chinh Pháp trở lại miền Bắc Việt Nam thay thế cho quân Tàu Tưởng) Một hôm chợt có người lẻn vào nhà anh, người là đó là C., công chức cao cấp trong guồng máy hành chính Pháp thời Pháp thuộc, một thời đã làm công sứ một tỉnh, rồi làm trưởng phòng chính trị ; người này đề nghị anh theo Pháp lên làm tỉnh trưởng Lạng Sơn, nhằm mục đích kích động chia rẽ vùng dân tộc Tày, Nùng với toàn dân tộc Việt Nam Anh cấp tốc báo cho chính quyền ta biết, và do đó đựoc tổ chức đi vào ngay Thanh Hóa, để tránh sự theo dõi của Pháp Thời điểm ấy là gần lúc Kháng chiến toàn quốc (Việc này tôi đã kể trong cuốn « Tự sự của người xa quê hương » dẫn trên) Cũng vì muốn tránh thực dân Pháp lợi dụng chia rẽ, nên chính quyền cụ Hồ cho người lên đón cụ Vi Văn Định về thủ đô (Tôi dựa theo lời

kể của cuốn « Tiếp bước chân cha » của Nguyễn Kim Nữ Hạnh, đã dẫn trên, nhưng chỉ ghi những gì mà phù hợp với trí nhớ của tôi và lời kể của bố tôi thời đó Nhắc lại là cụ Vi có con gái

là bà Vi Kim Ngọc lấy ông Nguyễn Văn Huyên, tiến sĩ nhà nước về Văn khoa, du học ở Pháp về, sau này là bộ trưởng Giáo dục; một con gái khác bà Vi Kím Phú lấy ông Hồ Đắc Di, y khoa bác

sỹ cũng du học ở Pháp về, một thời là Tổng giám đốc Đại học vụ, rồi giáo sư hiệu trưởng Đại học Y khoa; một cháu gái là bà Vi Nguyệt Hồ lấy ông Tôn Thất Tùng, y khoa bác sĩ, giáo sư hiệu trưởng Đại học Y khoa, anh hùng lao động, một thời làm thứ trưởng bộ Y tế nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) Cuốn sách kể lại việc đón cụ Vi về Hà Nội như sau (và cũng dựa trên lời của ông Vũ Đình Huỳnh đăng trên Tạp chí Văn, tháng 3-1990, TPHCM) : Cụ Hồ bảo : « Con cháu cụ Vi đều đi với Cách mạng cả, hãy mời cụ về Hà Nội », đồng thời chỉ thị cho ông Vũ Đình Huỳnh tìm một người cách mạng ngày xưa bị cụ Vi bắt, thời còn làm quan, để cầm giấy mời của Chính phủ lên trao tận tay, để chứng tỏ không có sự hận thù mà thật lòng đoàn kết Người được chọn là ông Ngọ, trước bị cụ Vi bắt hồi cụ Vi đang làm Tổng đốc Thái Bình Ông Ngọ kể lại là :

« Cụ Vi thường giam chính trị phạm ngay nhà tắm cạnh phòng ngủ của cụ Trưa cụ lại gọi lên đọc báo cụ nghe » Sau ông Ngọ được thả Năm 1935, cụ Vi gặp ông Ngọ ở hội chợ Đấu Sảo Hà Nội, đưa mắt gọi ông Ngọ ra chỗ vắng, cho ông 20 đồng bạc Đông Dương rồi bảo « trốn nhanh

đi vì nó [mật thám Tây] đang lùng bắt đấy » Ông Hoàng Hữu Nam, thử trưởng bộ Nội vụ thời

đó (1946), có họp với gia đình cụ Vi để bàn việc đi đón này Khi ông Ngọ vào Bản Chu bày tỏ sự việc, cụ Vi từ chối vì cớ tuổi già Đoàn ông Ngọ ra khỏi Bản Chu, nhưng hai ngày sau lại trở lại, thuyết được cụ Vi nhận lời Trong một buổi tập hợp bữa ăn đông tới vài nghìn người làng và các trại người Tày người Nùng, mọi người nhao nhao hỏi việc cụ Vi về thủ đô như thế có được bảo đảm không Ông Ngọ đã trả lời, cam kết : « Đồng bào yên tâm, Chính phủ đón đi là phải bảo đảm » Thế là được đưa về Hà Nội Lời cam kết đã được Chính quyền giữ đúng Khi Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cụ Vi được đưa đi chiến khu Việt Bắc, trong ATK (An Toàn Khu) cùng chỗ với cụ Bùi Bằng Đoàn, cụ Tôn Đức Thắng và cha Trực Ông Vũ Đình Huỳnh, trong Tạp chí Văn, tháng 3-1990, TPHCM, đã dẫn, có kể câu chuyện chọn ngựa cho cụ Hồ hồi Kháng chiến : « Bác cũng qua thăm cụ Vi và các cụ nhân sĩ cao tuổi khác Bác bận thì lại sai tôi tới thăm nom Năm 1949, tôi đi Cao Bằng mua về mấy con ngựa định bụng chọn một con để Bác dùng đi lại cho đỡ vất vả Biết tin, cụ Vi Văn Định bảo tôi : « Ông dẫn chúng nó lại đây cho tôi

Trang 39

xem Này, cái tướng ngựa là tôi rành lắm đấy Để tôi xem cho, con nào hay, con nào dở tôi bảo cho » Tôi dẫn lũ ngựa sang Đứng trước mấy con ngựa, ông già Vi Văn Định trẻ hẳn lại, háo hức như thanh niên Cụ trìu mến vỗ về chúng rồi xem kỹ từng con một, dắt tới dắt lui, xem răng xem ức… Cuối cùng cụ chỉ vào con tía : « Con này hay nước chạy mà hiền, xin ông để cụ Hồ dùng » Rồi chỉ con đứng bên cụ nói : « Con này hay lắm, nhưng phải cái hay dở chứng, để cho bảo vệ, anh nào trẻ mà nhanh » Con ngựa trong tấm ảnh lịch sử chụp Bác sửa soạn yên cương lên đường, chính là con ngựa mà cụ Vi chọn » Trong cuốn sách « Tiếp bước chân cha » đã dẫn , tác giả cũng kể là vào khoảng năm 1950 (theo tôi nghĩ : có lẽ là đợt đầu cải cách ruộng đất, có thể là chậm hơn nhưng tác giả nhớ nhầm chăng ?), ông Dương Thiệu Chinh (con rể đầu của cụ Vi) bị quy là địa chủ, cụ Vi có trách ông là « Đã bảo hiến tất cả, mà tại sao còn giữ lại », vì cụ quyết viết văn bản hiến điền Ông Chinh (trước cũng làm quan đến chức tuần phủ) đã giữ lại một cái đồn điền cam vì ông đã vay tiền mua, mà cũng là để giải quyết kinh tế cho cả họ hàng tản cư về nơi này ; ông bị quy là địa chủ kháng chiến, nhưng không trả được nợ nên vẫn bị bỏ tù

Kháng chiến thành công, cụ Vi về sống ở Hà Nội Tháng 7 năm 1975, lúc này hòa bình đã lập lại, theo lời mẹ tôi dặn, tôi có lại thăm cụ ở nhà riêng phố Trần Quốc Toản (tôi đã kể trong cuốn sách « Tự sự ») Cuối năm đó cụ mới mất, 96 tuổi (1)

(2) Khi đã thống nhất nước Tàu, Thừa tướng Lý Tư tâu với Tần Thủy hoàng rằng những kẻ học trò theo cái học riêng của mình, cùng nhau chê cười pháp luật, lệnh ban xuống thì họp nhau bàn tán, vào triều thì trong bụng chê bai, ra đường thì xúm nhau chê vua để lấy tiếng, làm khác người

để mình được coi là cao, bày cho kẻ dưới phỉ báng người trên ; nếu không cấm thì ở trên uy thế của nhà vua sẽ bị giảm sút, ở dưới các bè đảng sẽ nổi lên Vậy nên cấm là hơn Ai có sách Kinh Thư , Kinh Thi, sách của Bách gia thì đều hủy đi, trừ sách y dược, bói toán và trồng cây ; lệnh ban ra trong vòng ba mươi ngày, ai không theo thì khắc vào mặt đầy đi giữ thành (Tôi nghĩ : Bách gia đây phải chăng là chỉ Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Danh gia, Âm dưong gia, Tung hoành gia, Tiểu thuyết gia, … ? Nhưng Lý Tư thuộc Pháp gia, sách của Hàn Phi là sách của Pháp gia

mà Tần Thủy hoàng ưa, sách Lã Thị Xuân Thu của Lã Bất Vi sai người viết dưới thời Tần Thủy hoàng được xếp vào loại sách của Tạp gia ; sách của Âm Dương gia là loại sách về sao, về lịch,

về thuyết Ngũ hành (kim mộc thủy hỏa thổ) tương khắc - mà Thủy hoàng lại tin thuyết này, lấy Thủy diệt Hỏa, vì Hỏa tượng trưng cho nhà Chu cho nên lấy hiệu cho mình là Thủy hoàng - và sách Nông gia đều là sách nói về cách làm ruộng, trồng dâu, trồng cây Vậy thì đâu có hủy hết sách của tất cả các « gia » ? Cho nên câu này thấy khó hiểu ; giá ai biết mà giải thích cho thật tường tận, thì hay quá) Rồi cái chuyện chôn học trò cũng không có gì rõ rệt lắm, tương truyền chôn sống hơn bốn trăm sáu mươi người (theo Sử ký của Tư Mã Thiên), chôn sống thật hay giết rồi mới chôn, thực hư thế nào nay cũng khó kiểm Vốn là có cái chuyện Lư sinh được Tần Thủy hoàng sai đi tìm thuốc trưòng sinh bất tử Tất nhiên là tìm không ra, rồi lại tán với Thủy hoàng rằng phải có phép vi hành thì mới tránh được ác quỉ, tránh được ác quỉ thì chân nhân mới đến ; chân nhân đi vào nước không ướt, đi vào lửa không cháy, bay lên mây, cùng sống lâu với trời đất

; vậy nhà vua ở cung nào đừng cho ai biết (có lẽ muốn nói vi hành ?), thì sau đó mới có thể lấy được thuốc bất tử Thuỷ hoàng nghe theo, sai nối 270 cung điện ở Hàm Dương bằng đường ống, vua ở đâu không ai biết, ai nói vua ở nơi nào thì bị tội chết Sau Lư sinh và Hầu sinh bàn nhau, chê Thuỷ hoàng là ương bướng, việc gì cũng tự mình quyết đoán, chỉ thích bọn pháp quan (chắc

là nói người theo Pháp gia), vv , con người tham quyền thế như vậy thì không thể nào tìm thuốc

Trang 40

tiên cho ông ta được (!), rồi cũng nhau bỏ trốn Thuỷ hoàng nổi giận bảo : « Trước đây, ta thu sách trong thiên hạ, sách nào không dùng được thì bỏ đi, sai triệu tập những người có văn học và những phương sĩ, thuật sĩ, muốn làm cho thiên hạ thái bình ; sai bọn thuật sĩ tìm thuốc lạ; bọn Từ Phúc làm tốn kém hàng ức vạn, nhưng cuối cùng không được thuốc - (Chú thích : Từ Phúc tán với Thuỷ hoàng là ở ngoài biển có ba hòn đảo là Bồng Lai, Phương Trượng và Dinh Châu, có tiên ở đó, có phép trường sinh bất tử ; Thuỷ hoàng tin thật, cho nhiều vàng bạc và nhiều người theo đi đón tiên ; Từ Phúc đi rồi không về Có truyền thuyết cho rằng Từ Phúc đến Nhật rồi ở đó không về, vì nơi này có một đảo có nhiều người già sống lâu trên trăm tuổi, có người cho đó là đảo Okinawa ngày nay) Bọn Lư sinh được ta tôn quí, lại phỉ báng ta ; bon Nho thì lại có kẻ đặt

ra những lời nói nhảm để làm loạn dân » Bèn sai ngự sử xét tất cả các nhà Nho, bọn này tố giác lẫn nhau, có hơn 460 người phạm điều cấm, Thuỷ hoàng sai chôn sống

Lý Tư là người theo lập trường của phái Pháp gia, nên ghét người thuộc phái Nho gia, có thể có ảnh hưởng lớn trong việc này

Nhân nói đến nhà Tần và Pháp gia, cũng xin lướt qua vài câu về Vệ Ưởng, tướng quốc nước Tần mấy đời trước đó, là Pháp gia thời đầu Chiến quốc Người này vốn là dân nước Vệ tên gọi là Công tôn Ưởng - nên sử gọi là Vệ Ưởng - muốn lập danh, sang nước Ngụy, xin làm thuộc hạ cho tướng quốc là Công tôn Tọa Công tôn Tọa biết là người tài, thường hay hỏi ý khi có việc quan trọng Ít lâu sau, Công tôn Tọa bị bệnh nặng, vua Ngụy là Huệ vương - (chú thích : tức là cái ông Lương Huệ vương tiếp kiến Mạnh tử sau này, với cái câu ai ai cũng biết : « Vương viết hà dĩ lợi ngô quốc; đại phu viết hà dĩ lợi ngô gia ; sĩ thứ dân viết hà dĩ lợi ngô thân ; thượng hạ gia chinh lợi , nhi quốc nguy hĩ » ấy) - đến thăm , hỏi việc tương lai, ai là người thay thế Công tôn Tọa tiến cử Vệ Ưởng ; vua Huệ vương cho là người trẻ tuổi, không muốn dùng Công tôn Tọa mới khuyên vua rằng : « Hắn là bậc kỳ tài, nếu nhà Vua không dùng thì nên giết đi, chớ để hắn sang giúp nước khác, tất có ngày nguy cho nước Ngụy » Huệ vương không nghe Vua vừa ra về, Công tôn Tọa mới đem lời mình vừa nói với Huệ vương kể cho Vệ Ưởng nghe và khuyên rằng :

« Ta đã khuyên vua nếu không dùng ngươi thì phải giết ngươi đi, nay mau mau trốn cho kịp »

Vệ Ưởng từ chối không đi trốn và nói rằng : « Vua đã không biết nghe lời ngài khuyên dùng tôi, thì lẽ nào vua lại nghe lời ngài mà giết tôi » Quả đúng như vậy Sau Vệ Ưởng nghe tin vua Tần muốn dùng người tài, liền bỏ nước Ngụy sang nước Tần, thuyết vua Tần về « vương đạo » và «

bá đạo » (tóm tắt là : một đằng là giác ngộ nhân dân làm cho nhân dân tự nguyện thi hành bổn phận vì nước ; một đằng thì dùng sức mạnh để ép dân phải theo hiệu lệnh ; « vương đạo » thì cần thời gian, « bá đạo » thì chóng thành công tuy mất lòng dân) Vua Tần muốn nước chóng mạnh, tin dùng Vệ Ưởng làm tướng quốc, phong cho đất Thương Ô, nên gọi là Thương quân, sai áp dụng « bá đạo » Vệ Ưởng cầm quyền, mới đặt ra luật lệ mới gồm 7 điều Dân chúng xôn xao, thế tử Tứ có ý không thuận ; Vệ Ưởng nói : « Pháp luật không thi hành được là do lỗi người trên Nay Thế tử là người sẽ nối ngôi vua sau này, nên không thể gia hình được ; nhưng nếu tha thì là trái pháp luật » Vì thế nên tâu vua bắt quan thái sư và quan thái phó là người dạy thế tử học, đem cắt mũi Dân chúng thấy vậy sợ hãi, răm rắp theo luật ban ra, không dám trái, mọi việc đều theo luật mà làm, ai sai thì bị tội Nước Tần do đó chóng giàu mạnh, đem quân đánh phá các nước khác, đặc biệt là vua Tần sai Vệ Ưởng đem quân chiếm một phần đất nước Ngụy là nước

đã không biết dùng Vệ Ưởng Nhưng ít lâu sau, vua Tần bị bệnh chết, thế tử Tứ nối ngôi lên làm vua, nhớ thù cũ, mới cất chức tướng quốc của Vệ Ưởng, bắt lui về đất Thương Ô Lúc Vệ Ưởng

từ giã triều đình ra đi, các quan đưa tiễn đông đủ Hai quan thái sư, thái phó, nhớ thù bị cắt mũi, mới nói gièm với vua là nếu để hắn về đất Thương Ô thì sẽ làm phản Vua sai quân đuổi theo bắt

Ngày đăng: 16/03/2014, 00:20

w