1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề Tài Đồng Bằng Sông Hồng docx

28 687 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 239 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thế, Việt Nam - Quốc gia xuất khẩu lúa gạo lớn thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan phải cóchiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp bằng cách sử dụng thành tựuKHKT,ứng dụng công ng

Trang 1

Đề Tài Đồng Bằng Sông Hồng

Trang 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Đồng bằng sông Hồng (còn được gọi là châu thổ sông Hồng) là mộtvùng đất rộng lớn nằm quanh khu vực hạ lưu sông Hồng thuộc miền Bắc ViệtNam, vùng đất bao gồm 9 tỉnh và 2 thành phố: Vĩnh Phúc, TP Hà Nội, BắcNinh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, TP Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định,Ninh Bình, Quãng Ninh Gần như đồng nghĩa với đồng bằng sông Hồng là vùngtrung châu, khác với vùng chân núi trung du và núi cao thượng du

1.2.3 Đối tượng nghiên cứu:

 Phạm vi nghiên cứu:dồng bằng sông Hồng

 Phương pháp nghiên cứu:thống kê,tổng hợp,phân tích…

1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước:

Đồng bằng sông Hồng là vựa lúa lớn thứ 2 sau Đồng bằng sông CửuLong ở Việt Nam, vì vậy Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đếnn việcphát triển kinh tế, xã hội ở nơi đây đặc biệt theo dự báo của Thế giới và ViệtNam thì an ninh lương thực ngày càng trở nên cấp thiết Chính vì thế, Việt Nam

- Quốc gia xuất khẩu lúa gạo lớn thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan) phải cóchiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp bằng cách sử dụng thành tựuKHKT,ứng dụng công nghệ…, điều này đã được Đảng và Nhà nước VN quantâm đến và đang từng bước hiện thực hóa ở những khu vực sản xuất lương thực

Trang 3

trọng điểm tại Việt Nam nhằm bảo đảm an ninh lương thực trong nước cũngnhư Thế giới.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU

2.1 Vị trị địa lý và giới hạn lãnh thổ:

2.1.1 Vị trí, diện tích:

Đồng bằng sông Hồng trải rộng từ 19°53´B (huyện Nghĩa Hưng) đến21°34´B (huyện Lập Thạch), từ 105°17´Đ (huyện Ba Vì) đến 107°7´Đ (trên đảoCát Bà)

Phía bắc và đông bắc là Vùng Đông Bắc (Việt Nam), phía tây và tây nam

là vùng Tây Bắc, phía đông là vịnh Bắc Bộ và phía nam vùng Bắc Trung Bộ.Đồng bằng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ các thềm phù sa cổ 10 -15m xuống đến các bãi bồi 2 - 4m ở trung tâm rồi các bãi triều hàng ngày cònngập nước triều

Toàn vùng có diện tích: 15.000 km², chiếm 4,5% diện tích của cả nước

2.1.2 Địa lý:

Toàn bộ miền đồng bằng sông Hồng nằm trên một lớp đá kết tinh cổ,loại giống nền đá ở vùng Đông Bắc Cách đây 200 triệu năm, vào cuối đại Cổsinh, lớp đá này bị sụt xuống Vào thời đó, biển lên đến quá Việt Trì ngày nay,tiến sát các vùng đồi Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên, Nho Quan Cửa sôngHồng lúc đó ở Việt Trì Chế độ biển kéo dài trên 170 triệu năm Các trầm tíchNeogen lắng xuống làm cho vịnh biển thu hẹp lại Lớp trầm tích này có nơi dàyđến 3000 mét Trên cùng là lớp phù sa Holocen dày từ 80 đến 100 mét ở trungtâm vùng đồng bằng sông Hồng, và càng xa trung tâm thì càng mỏng dần

Trong đồng bằng sông Hồng có nhiều ô trũng tự nhiên, điển hình là ôtrũng Hà Nam Ninh, ô trũng Hải Hưng và ô trũng Nho Quan Ngoài ra còn córất nhiều đầm lầy Trầm tích và phù sa do các sông vận chuyển ra khỏi lòngsông mỗi mùa lũ đã không lấp được các ô trũng và đầm lầy này do chúng quá

xa sông hoặc do bị đê điều nhân tạo ngăn cản Việc các sông đổi dòng cũng tạo

ra nhưng đầm lầy và ao hồ

Vùng Đồng bằng sông Hồng có toạ độ địa lí là 220 - 21030' B và 105030'

- 1070 Đ, nằm ở phía Nam của đường chí tuyến Bắc Vùng bao gồm đồng bằng

Trang 4

châu thổ màu mỡ, dải đất rìa trung du với một số tài nguyên khoáng sản, tàinguyên du lịch và vịnh Bắc Bộ giàu tiềm năng

Như đúng tên gọi của vùng, sông Hồng đã gắn bó ngàn đời nay với cưdân của vùng đồng bằng châu thổ này Địa hình của vùng tương đối bằngphẳng, có độ cao từ 0,4 - 12m so với mực nước biển Ngoài ra, địa hình cũng cómột số vùng đồi có cấu tạo cacxtơ đá vôi dọc hai cánh Tây Nam và Đông Bắc

Vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bìnhnăm khoảng 22,5 - 23,50C Lượng mưa trung bình năm là 1400 - 2000mm

Vùng có vị trí thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội Đây là cầu nốigiữa Đông Bắc, Tây Bắc với Bắc Trung Bộ, đồng thời cũng nằm ở trung tâmmiền Bắc, trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có thủ đô Hà Nội là trung tâmcông nghiệp, hành chính, chính trị cao nhất nước Vùng lại tiếp giáp với hơn400km bờ biển, có cửa ngõ thông ra biển qua cảng Hải Phòng, dễ dàng mở rộnggiao lưu với các vùng khác và các nước trong khu vực Tuy nhiên, do nằm trongvùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tainhư bão, lũ lụt, hạn hán

Hiện tại cũng như trong tương lai, Đồng bằng sông Hồng là một trongnhững vùng đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước

Vùng là cái nôi của văn minh sông Hồng, nền văn minh đồ đồng pháttriển rực rỡ với trống đồng, thạp đồng, mũi tên đồng, với nông nghiệp trồng lúanước Hiện tại, Đồng bằng sông Hồng bao gồm 11 tỉnh thành: Bắc Ninh, HàNam, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, NinhBình, Vĩnh Phúc, Quãng Ninh

Trang 5

Dân Số Trung Bình (Nghìn Người)

Diện Tích (Km 2)

Mật Độ Dân Số (Người/Km 2 )

Những nơi dân cư đông nhất của vùng là Hà Nội (2.013 người/km2 ),Thái Bình (1.138 người/km2), Hải Phòng (1.233 người/km2), Hưng Yên (1.242người/km2), Bắc Ninh (1.289 người/km2) Ở các nơi khác, chủ yếu thuộc khuvực rìa phía Bắc và Đông Bắc của châu thổ, dân cư thưa hơn

Sự phân bố dân cư quá đông ở Đồng bằng sông Hồng liên quan tới nhiềunhân tố như nền nông nghiệp thâm canh cao với nghề trồng lúa nước là chủ yếuđòi hỏi phải có nhiều lao động Trong vùng còn có nhiều trung tâm công nghiệp

Trang 6

quan trọng và một mạng lưới các đô thị khá dày đặc Ngoài ra, Đồng bằng sôngHồng đã được khai thác từ lâu đời và có các điều kiện tự nhiên khá thuận lợicho hoạt động sản xuất và cư trú của con người.

Ở Đồng bằng sông Hồng, dân số gia tăng vẫn còn nhanh Vì vậy, tốc độtăng dân số chưa phù hợp với nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội Điều này gâykhó khăn cho việc phát triển kinh tế - xã hội của đồng bằng

Đất canh tác ít, dân đông nên phải đẩy mạnh thâm canh Song nếu thâmcanh không đi đôi với việc hoàn lại đầy đủ các chất dinh dưỡng sẽ làm cho đấtđai ở một số nơi bị giảm độ phì nhiêu

Dân số đông và sự gia tăng dân số đã để lại những dấu ấn đậm nét vềkinh tế - xã hội Mặc dù mức gia tăng dân số đã giảm nhiều, nhưng sản xuấtnhìn chung chưa đáp ứng được nhu cầu tích luỹ và cải thiện đời sống nhân dân.Hàng loạt vấn đề xã hội như việc làm, nhà ở, y tế, văn hoá, giáo dục vẫncòn gây bức xúc

Trong nhiều năm qua, nước ta đã tiến hành phân bố lại dân cư và laođộng trên phạm vi cả nước Đối với Ðồng bằng sông Hồng, điều đó có ý nghĩađặc biệt quan trọng Ngay từ năm 1961 đã có nhiều người từ Đồng bằng sôngHồng chuyển lên các tỉnh thuộc miền núi Tây Bắc và một số tỉnh thuộc miềnnúi Đông Bắc Nhưng phải đến cuối những năm 70 và đầu những năm 80 củathế kỉ này, việc chuyển cư mới được thực hiện với quy mô lớn Trong thời kỳ

1984 – 1989, tỉ lệ chuyển cư thuần tuý (tương quan giữa tỉ lệ người chuyển đến

và tỉ lệ người chuyển đi) của hầu hết các tỉnh trong vùng đều mang giá trị âm,nghĩa là số người chuyển đi nhiều hơn số người chuyển đến Đồng bằng sôngHồng

Ngoài vấn đề chuyển cư, giải pháp hàng đầu ở Ðồng bằng sông Hồng làviệc triển khai có hiệu quả công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình nhằm giảm

tỉ lệ sinh Đồng thời, trên cơ sở lựa chọn cơ cấu kinh tế hợp lí, từng bước giảiquyết việc làm tại chỗ cho lực lượng lao động thường xuyên tăng lên, tiến tớinâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân trong vùng

Một số chỉ tiêu phát triển dân cư, xã hội ở Đồng bằng sông Hồng năm 2011:

Chỉ Tiêu Đồng Bằng Sông

Hồng Cả Nước

Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số theo địa 9,2 9,7

Trang 7

là mạng lưới đường giao thông

Do được khai thác từ lâu đời, vùng tập trung nhiều lễ hội, làng nghề, ditích văn hoá lịch sử, có mạng lưới đô thị phát triển Đồng bằng sông Hồng cómột số đô thị hình thành từ lâu đời Kinh thành Thăng Long, nay là thủ đô HàNội được thành lập từ năm 1010 Thành phố cảng Hải Phòng là cửa ngõ quantrọng hướng ra vịnh Bắc Bộ

Tuy nhiên, đời sống người dân ở Đồng bằng sông Hồng cũng còn nhiềukhó khăn do kinh tế dịch chuyển chậm, dân số quá đông

2.1.4 Quân sự:

Vùng Đông Bắc có vai trò xung yếu trong an ninh quốc phòng Tronglịch sử Việt Nam, nhiều lần các thế lực phương Bắc xâm lược đã thâm nhập vàovùng này trước tiên Nơi đây có các con đường được các nhà sử học Việt Namgọi là con đường xâm lược, đó là đường bộ qua Lạng Sơn, đường bộ ven biển ởQuảng Ninh, và đường biển trên vịnh Bắc Bộ rồi cũng đổ bộ vào Quảng Ninh

Đã có nhiều trận đánh ác liệt giữa quân và dân Việt Nam với giặc ngoại xâmngay khi chúng thâm nhập vào vùng này trong đó nổi tiếng là các trận tại ải ChiLăng, trận Như Nguyệt, các trận Bạch Đằng, v.v Thời kỳ kháng chiến chốngPháp cũng có các trận đánh lớn như chiến dịch Việt Bắc (1947), chiến dịch biêngiới thu đông (1949), v.v Cuối thập niên 1970 và trong thập niên 1980, quân

Trang 8

Trung Quốc đã tấn công dữ dội Việt Nam chủ yếu là trên dọc tuyến biên giới ởvùng Đông Bắc.

Nên vùng Đồng bằng sông Hồng có vị trí chiến lược trong an ninh-quốcphòng Hiện nay, vùng Đồng bằng sông Hồng do Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội vàQuân khu 3 bảo vệ

Quân đoàn 1, còn gọi là Binh đoàn Quyết Thắng, được thành lập ngày 24tháng 10 năm 1973 tại Ninh Bình Trụ sở : Thị xã Tam Điệp

2.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên:

2.2.1 Điều kiện tự nhiên:

Diện tích đất nông nghiệp khoảng 779.800 ha, trong đó 70% là đất phù

sa màu mỡ, có giá trị lớn về sản xuất nông nghiệp Đất nông nghiệp chiếm 37%diện tích vùng

Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có mùa đông lạnh làm cho cơ cấu câytrồng đa dạng như khoai tây, bắp cải…

Thủy văn: Hệ thống sông Thái Bình, hệ thống sông Hồng bồi đắp phù sa,

mở rộng châu thổ về phía biển Ngoài ra còn có nước ngầm, nước nóng, nướckhoáng có giá trị kinh tế lớn

2.2.2 Tài nguyên thiên nhiên:

Tài nguyên biển: bờ biển dài 400 km, vùng biển có tiềm năng lớn để pháttriển nhiều ngành kinh tế và đang được khai thác có hiệu quả nhờ phát triểnnuôi trồng và đánh bắt thủy sản, du lịch

Tài nguyên khoáng sản có giá trị đáng kể là các mỏ đá (Hải Phòng, HàNam, Ninh Bình), sét cao lanh, đá vôi (Hải Dương), khí tự nhiên (Thái Bình),than nâu (Hưng Yên) có trữ lượng rất lớn (hơn 30 tỷ tấn) hiện chưa được khaithác, song đây cũng là một tiềm năng lớn cho phát triển ngành công nghiệp này

để cung cấp nhu cầu tiêu dùng, sản xuất trong nước và xuất khẩu Đặc biệt, mỏkhí đốt Tiền Hải đã được đưa vào khai thác nhiều năm nay và đem lại hiệu quảkinh tế cao

Tài nguyên đất: Đất Feralit (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Ninh Bình), đất lầy thụt(Hà Nam, Bắc Ninh), đất mặn, đất phèn (Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định,Ninh Bình), đặc biệt là đất phù sa chiếm diện tích lớn toàn vùng và là nguồn đấtquan trọng nhất

Trang 9

Đồng bằng sông Hồng là nơi có nhiều khả năng để sản xuất lương thực,thực phẩm Trên thực tế, đây là vựa lúa lớn thứ hai của cả nước, sau Ðồng bằngsông Cửu Long Số đất đai sử dụng cho nông nghiệp là 2.616.500 ha, chiếm64,5% tổng diện tích tự nhiên của vùng Ngoài số đất đai phục vụ nông nghiệp

và các mục đích khác, số diện tích đất chưa được sử dụng vẫn còn hơn 291.900

ha

Nhìn chung, đất đai của Ðồng bằng sông Hồng khá màu mỡ do được phù

sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp Tuy vậy, độ phì nhiêucủa các loại đất không giống nhau ở khắp mọi nơi Đất không được bồi đắphàng năm vẫn màu mỡ hơn đất được bồi đắp Đất thuộc vùng châu thổ sôngHồng phì nhiêu hơn đất thuộc vùng châu thổ sông Thái Bình Có giá trị nhất đốivới việc phát triển cây lương thực ở Ðồng bằng sông Hồng là diện tích đấtkhông được phù sa bồi đắp hàng năm (đất trong đê) Loại đất này chiếm phầnlớn diện tích châu thổ, đã bị biến đổi nhiều do trồng lúa

Vùng có hai hệ thống sông lớn là hệ thống sông Hồng và hệ thống sôngThái Bình nên nguồn nước rất phong phú Cả nguồn nước trên mặt lẫn nguồnnước ngầm đều có chất lượng rất tốt Tuy nhiên, vùng cũng có xảy ra tình trạngquá thừa nước trong mùa mưa và thiếu nước trong mùa khô

Vùng còn có bờ biển dài, có ngư trường Hải Phòng - Quảng Ninh, cảngHải Phòng, khu du lịch Đồ Sơn

Điều kiện khí hậu và thuỷ văn thuận lợi cho việc thâm canh tăng vụtrong sản xuất nông nghiệp Thời tiết mùa đông rất phù hợp với một số câytrồng ưa lạnh

Tuy nhiên, vùng thiếu nguyên liệu cho việc phát triển công nghiệp, phầnlớn nguyên liệu phải được nhập từ vùng khác Một số tài nguyên của vùng bịsuy thoái do khai thác quá mức

2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội của đồng bằng sông Hồng:

Dân cư đông nên có lợi thế: Có nguồn lao động dồi dào, nguồn lao độngnày có nhiều kinh nghiệm và truyền thống trong sản xuất, chất lượng lao độngcao Tạo ra thị trường có sức mua lớn

Chính sách: có sự đầu tư nhiều của Nhà nước và nước ngoài Kết cấu hạtầng phát triển mạnh (giao thông, điện, nước…), đường bộ có quốc lộ 1A, quốc

Trang 10

lộ 5, 2, 3, 6, 32, 18…tuyến đường sắt Bắc – Nam và toả đi các thành phố khác;các sân bay quốc tế Nội Bài, sân bay Cát Bi, Hải Phòng; các cảng lớn như cảngHải Phòng, cảng Cái Lân…

Cơ sở vật chất kỹ thuật cho các ngành ngày càng hoàn thiện: hệ thốngthuỷ lợi, các trạm, trại bảo vệ cây trồng, vật nuôi, nhà máy chế biến…

Có lịch sử khai phá lâu đời, là nơi tập trung nhiều di tích, lễ hội, làng nghềtruyền thống…với 2 trung tâm KT-XH là Hà Nội và Hải Phòng

Đồng bằng sông Hồng là một khu vực có tốc độ phát triển kinh tế nhanh,nhưng nếu so với vùng Đông Nam Bộ thì các tỉnh Đồng bằng sông Hồng có tỷtrọng đóng góp vào GDP và xuất khẩu của cả nước thấp hơn, cơ sở hạ tầng cònyếu kém và thu hút được ít các nguồn vốn đầu tư hơn Nguyên nhân chính củatình hình này là do cả khu vực còn thiếu cơ chế chính sách đồng bộ, chưa hìnhthành được thị trường bất động sản, thị trường vốn, cũng như chưa có một quyhoạch tổng thể để phát huy lợi thế so sánh của cả vùng Theo kế hoạch pháttriển các tỉnh Đồng bằng sông Hồng, từ nay đến năm 2020, vùng sẽ phải giữđược tốc độ tăng trưởng liên tục trên 11% và đóng góp khoảng 25% cho GDPcủa cả nước

Đồng bằng sông Hồng cũng là nơi tập trung nhiều các cảng biển, khucông nghiệp, nông nghiệp nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế

và tốc độ tăng trưởng ngày càng tăng

2.3.1 Công nghiệp:

Các ngành công nghiệp mà đồng bằng sông Hồng có là : luyên kim, cơkhí, hóa chất, vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng,nhiệt điện

Các ngành công nghiệp khai thác : khai thác khí dầu, khai thác đá vôi,khai thác sét cao lạnh

Giá trị sản xuất công nghiệp tăng mạnh từ 214.132,4 tỉ đồng ( 2005 ) lên709.979,3 tỉ đồng (2010), chiếm 24% GDP trong công nghiệp cả nước

Những nơi có nhiều ngành công nghiệp tập trung nhất là Hà Nội, HảiPhòng

Công nghiệp Đồng bằng sông Hồng hình thành sớm nhất và pháttriển mạnh trong thời kì đất nước thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Các nhóm sản phẩm công nghiệp thế mạnh của vùng gồm khai thác đá, sỏi,quặng sắt; sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử, xe

Trang 11

máy, công nghiệp chế biến hàng nông, thuỷ sản xuất khẩu Ước lượng 9 tháng,kim ngạch xuất khẩu của toàn vùng đạt hơn 16 tỷ USD, tăng 27% so với cùng

kỳ năm trước và đạt 77% kế hoạch năm Tuy nhiên, do ảnh hưởng từ nhữngbiến động của kinh tế thế giới, lạm phát ở trong nước, chính sách thắt chặt tăngtrưởng tín dụng, sản xuất công nghiệp của một số địa phương trong vùng cũnggặp không ít khó khăn

Phần lớn các cơ sở công nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng có quy mô vừa vànhỏ, mức đầu tư thấp, thiếu vốn và khả năng tiếp cận vốn hạn chế, công nghệlạc hậu, năng suất thấp, khả năng cạnh tranh kém, chưa xây dựng được thươnghiệu, uy tín cả trên thị trường trong và ngoài nước Tốc độ tăng giá trị sản xuấtcông nghiệp cao nhưng tiềm ẩn nhiều yếu tố chưa vững chắc do phụ thuộc chủyếu vào khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, chiếm đến hơn 40% tổng giátrị sản xuất công nghiệp của vùng

Có thực tế là không ít địa phương vẫn còn tư tưởng lợi ích cục bộ, dẫn đến việctrùng dẫm, ồ ạt trong thu hút đầu tư, không khai thác được hết các tiềm năng,thế mạnh riêng của từng địa phương Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xãhội cũng như quy hoạch các ngành, sản phẩm chủ yếu cấp vùng chậm đượchoàn thiện gây khó khăn cho các địa phương trong xây dựng các quy hoạch, kếhoạch và thu hút đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực, đảm bảo tính thống nhất,hài hòa trong cả vùng

Những năm gần đây, vấn đề liên kết phát triển kinh tế, trong đó có phát triểncông nghiệp, thương mại giữa các địa phương và của toàn vùng đã được đặt ranhưng thực hiện còn ít, chưa hiệu quả Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng kỹ thuật,nhất là hạ tầng giao thông liên kết với một số tỉnh trong vùng Đồng bằng SôngHồng còn yếu Chất lượng dạy nghề chưa đáp ứng yêu cầu cung cấp nhân lựccho mỗi địa phương và toàn vùng Thiếu trầm trọng nguồn nhân lực có trình độtay nghề, trình độ kỹ thuật phục vụ phát triển công nghiệp công nghệ cao, côngnghiệp chế biến sâu…Đây là những trở ngại không nhỏ khiến cho công nghiệpcủa toàn vùng phát triển chưa thật sự bền vững, giá trị gia tăng thấp

Việc chuyển dịch cơ cấu trong ngành công nghiệp cũng được thực hiệnqua việc hình thành các ngành trọng điểm dựa trên thế mạnh của vùng về tự

Trang 12

nhiên và dân cư như dệt may, giày da, cơ khí điện tử, vật liệu xây dựng, chếbiến lương thực thực phẩm.

2.3.2 Nông nghiệp:

Sản lượng lúa tăng từ 6762,6 nghìn tấn (2000) lên là 6979,2 nghìn tấn (2011)

Về diện tích và tổng sản lượng lương thực, Đồng bằng sông Hồng chỉđứng sau Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng là vùng có trình độ thâm canh caonên năng xuất lúa rất cao Hầu hết các tỉnh ở Đồng bằng sông Hồng đều pháttriển một số cây ưa lạnh đem lại hiệu quả kinh tế lớn như các cây ngô đông,khoai tây, su hào, bắp cải, cà chua và trồng hoa xen canh Hiện nay, vụ đôngđang trở thành vụ chính của một số địa phương trong vùng

Từ bao đời nay, người dân đồng bằng sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa,

đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm Đó là vốn rất quý để đẩy mạnh sản xuất.Ngoài ra, sự phát triển của nền kinh tế cùng với hàng loạt các chính sách mớicũng góp phần quan trọng cho việc giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm ởĐồng bằng sông Hồng

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, ngành trồng cây lương thực luôn giữđịa vị hàng đầu Diện tích cây lương thực là khoảng 1.240,5 nghìn ha, chiếmkhoảng 14% diện tích cây lương thực của cả nước Sản lượng lương thực là7422,4 nghìn tấn, chiếm 16% sản lượng lương thực toàn quốc (2011)

Trong các cây lương thực, lúa có ý nghĩa quan trọng nhất cả về diện tích

và sản lượng Hàng năm, Ðồng bằng sông Hồng có hơn 1 triệu ha đất gieo trồnglúa Với con số này, lúa chiếm 88% diện tích cây lương thực của vùng và chiếmkhoảng 14% diện tích gieo trồng lúa của cả nước (2011)

Cây lúa có mặt ở hầu hết các nơi, nhưng tập trung nhất và đạt năng suấtcao nhất là ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình.Thái Bình trở thành tỉnh dẫn đầu cả nước về năng suất lúa (65,9 tạ/ha – năm2011)

Ngành trồng cây lương thực, đặc biệt là trồng lúa ở đây đã có từ lâu đời

và được thâm canh với trình độ cao nhất trong cả nước Tuy vậy, việc đảm bảolương thực cho con người và cho các nhu cầu khác (phục vụ chăn nuôi, côngnghiệp chế biến v.v…) còn bị hạn chế Mức bình quân lương thực theo đầungười ở Đồng bằng sông Hồng vẫn thấp hơn mức bình quân của cả nước (371,1kg/người so với 536,5 kg/người – năm 2011)

Trang 13

Vấn đề thực phẩm liên quan đến cơ cấu bữa ăn và ảnh hưởng nhiều tới

cơ cấu cây trồng Ở Đồng bằng sông Hồng, việc sản xuất thực phẩm chưa tươngxứng với tiềm năng hiện có

Rau các loại có diện tích gieo trồng hơn 7 vạn ha, chiếm 27,8% diện tíchrau cả nước, tập trung chủ yếu ở vành đai xung quanh các khu công nghiệp vàthành phố

Nguồn thực phẩm của vùng đồng bằng phụ thuộc nhiều vào ngành chănnuôi, nhất là chăn nuôi gia súc nhỏ, gia cầm và nuôi trồng thuỷ sản Việc pháttriển các ngành này còn nhiều khả năng to lớn Vấn đề cơ bản là giải quyết tốt

cơ sở thức ăn cho gia súc nhỏ và mở rộng quy mô của ngành nuôi trồng thuỷsản

Hiện nay, chăn nuôi lợn rất phổ biến và thịt lợn là nguồn thực phẩm quantrọng trong bữa ăn hàng ngày của nhân dân Đàn lợn của Đồng bằng sông Hồngchỉ đứng sau Vùng núi và trung du Bắc Bộ về số lượng với gần 709,2 nghìncon, chiếm 26,2% đàn lợn của toàn quốc (2011)

Việc nuôi, trồng thuỷ sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn đã được chú ýphát triển, nhưng thực tế chưa khai thác hết tiềm năng của vùng Hiện nay toànvùng có 126,4 nghìn ha diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, chiếm 11,98%diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản của cả nước

Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch là giảm tỉ trọngtrồng trọt, tăng tỉ trọng chăn nuôi và thuỷ sản, riêng trồng trọt thì giảm tỉ trọnglương thực, tăng tỉ trọng cây công nghiệp và cây thực phẩm

 Hà Nội và Hải Phòng là 2 đầu mối quan trọng

Bưu chính viễn thông phát triển mạnh của vùng Hà Nội là trung tâmthông tin, tư vấn, chuyển giao công nghệ, có nhiều tài chính, ngân hàng lớnnhất nước ta

Nhờ kinh tế phát triển mà hoạt động vận tải trở nên sôi động Thủ đô HàNội và thành phố Hải Phòng là hai đầu mối giao thông vận tải quan trọng

Trang 14

Hà Nội, Hải Phòng đồng thời là hai trung tâm du lịch lớn ở phía Bắc.Đồng bằng sông Hồng có nhiều địa danh du lịch hấp dẫn, nổi tiếng như chùaHương, Tam Cốc - Bích Động, Côn Sơn, Cúc Phương, Đồ Sơn, Cát Bà Cóhơn 1.700 di tích lịch sử - văn hóa được xếp hạng, chiếm 70% số di tích của

cả nước Ðó là những cơ sở để phát triển kinh tế du lịch đa dạng, phong phú, tạosức hấp dẫn thu hút ngày càng nhiều du khách trong nước, ngoài nước đến thamquan

Trong tương lai, vùng định hướng phát triển mạnh ngành dịch vụ và đẩymạnh hơn nữa việc phát triển du lịch, khai thác các tiềm năng sẵn có

Các trung tâm kinh tế và vùng kinh tế trọng điểm:

Vùng có hai trung tâm kinh tế lớn là Hà Nội và Hải Phòng

Các thành phố lớn như Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long (Quảng Ninh) tạothành tam giác kinh tế phát triển mạnh của vùng và có sự lan toả, thu hút vớicác vùng, tỉnh lân cận

Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ tạo điều kiện cho sự chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sử dụng hợp lí tài nguyênthiên nhiên, nguồn lao động của cả hai vùng Đồng bằng sông Hồng và Vùngnúi và trung du phía Bắc

CHƯƠNG III: NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN & ĐỊNH

HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI.

3.1 Thuận Lợi:

Ngày đăng: 15/03/2014, 19:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w