Bệnh quanh răng ở cộng đồng dân cư vùng đồng bằng sông hồng Trịnh Đình Hải Trường Đại Học Răng Hàm Mặt Nghiên cứu điều tra cắt ngang về tình trạng bệnh quanh răng ở cộng đồng dân cư v
Trang 1Bệnh quanh răng ở cộng đồng dân cư
vùng đồng bằng sông hồng
Trịnh Đình Hải
Trường Đại Học Răng Hàm Mặt
Nghiên cứu điều tra cắt ngang về tình trạng bệnh quanh răng ở cộng đồng dân cư vùng Đồng bằng Sông
Hồng Kết quả điều tra cho thấy:
1 Tỷ lệ trẻ em viêm lợi từ 28.1% đến 66.1% Tỷ lệ trẻ em có cao răng rất cao và gia tăng theo tuổi ở lứa tuổi
15 - 17 tuổi, tỷ lệ trẻ em có cao răng cao hơn gấp 3.5 lần mục tiêu của TCSKTG đặt ra cho các nước trong khu vực
2 Đối với người lớn, tỷ lệ người có bệnh viêm lợi và viêm quanh răng rất cao và ở mức từ 99.16% đến 99.8% Tỷ lệ người có túi quanh răng rất cao, ở mức 54.6% đối với lứa tuổi trung niên và ở mức 68.6% đối với người từ 45 tuổi trở lên Những người có túi lợi quanh răng nếu không được điều trị tích cực thì sẽ sớm dẫn đến mất răng, ảnh hưởng lớn đến chức năng ăn nhai
3 Cần khẩn trương đẩy mạnh các hoạt động chăm sóc răng miệng cho trẻ em và cộng đồng thì mới có thể cải thiện được sức khoẻ quanh răng và đạt được các mục tiêu của TCSKTG đặt ra cho các nước trong khu vực
I Đặt vấn đề
Tổ chức quanh răng gồm 4 thành phần là lợi, dây
chằng quanh răng, xương ổ răng và xương răng Tổ
chức quanh răng có tác dụng chống đỡ răng, giữ răng
chắc chắn trên cung răng, giúp cho răng thực hiện tốt
các chức năng nhất là chức năng ăn nhai [2]
Bệnh quanh răng là bệnh có tổn thương ở tổ
chức quanh răng, tức là đã có tổn thương một
thành phần hoặc nhiều thành phần trong 4 thành
phần của tổ chức quanh răng Bệnh quanh răng
hay gặp là viêm quanh răng Nếu chỉ có tổn thương
viêm ở lợi gọi là viêm lợi Nếu tổn thương tiếp tục
phát triển sâu xuống dưới đến dây chằng quanh
răng và xương ở răng thì các tổ chức này sẽ bị phá
huỷ và tạo thành túi lợi bệnh lý hay túi quanh răng
Khi đã có túi quanh răng, nếu không được điều trị
sớm tích cực thì sẽ sớm dẫn đến mất răng [2,3]
Vùng Đồng bằng sông Hồng có 9 tỉnh, bao
gồm cả thủ đô Hà Nội Đây là một trong các khu
vực sớm tổ chức chương trình chăm sóc răng
miệng trẻ em học đường (Nha học đường) so với
các địa phương khác Tuy vậy, chương trình Nha
học đường cũng chưa rộng khắp Hơn nữa, ở đây
còn chưa có chương trình chăm sóc răng miệng
cho người lớn Vì vậy việc nghiên cứu điều tra về
bệnh quanh răng ở khu vực này là cần thiết để cung cấp số liệu cho chương trình chăm sóc răng miệng cho trẻ em và cộng đồng trong khu vực với nhiều đặc điểm địa lý, kinh tế, văn hoá xã hội riêng biệt [1]
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Xác định tỷ lệ viêm lợi ở trẻ em vùng Đồng bằng sông Hồng và đối chiếu với mục tiêu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đặt ra cho các nước trong khu vực
- Xác định tỷ lệ người lớn có bệnh quanh răng ở vùng Đồng bằng sông Hồng
- Xác định nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ răng miệng để cải thiện tình trạng quanh răng cho trẻ
em và cộng đồng
II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng:
Đây là điều tra cắt ngang Đối tượng nghiên cứu là 1253 người bao gồm 7 nhóm tuổi , 4 nhóm tuổi trẻ em và 3 nhóm tuổi người lớn: nhóm 6 - 8 tuổi, nhóm 9 - 11 tuổi, nhóm 12 - 14 tuổi, nhóm
15 - 17 tuổi, nhóm 18 - 34 tuổi, nhóm 35 - 44 tuổi
và nhóm từ 45 tuổi trở lên
Trang 2Việc chọn mẫu được tiến hành theo phương
pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng nhiều giai
đoạn, bao gồm chọn ngẫu nhiên các tỉnh thành (có
cả thành phố và nông thôn), chọn ngẫu nhiên các
huyện thị, chọn ngẫu nhiên các xã phường, chọn
ngẫu nhiên các cụm dân cư và các trường học và
cuối cùng là chọn ngẫu nhiên từng cá thể dựa vào
danh sách trong cụm dân cư đối với người lớn và
danh sách của trường học đối với trẻ em
Các đối tượng đã được chọn ngẫu nhiên, được
khám răng miệng để đánh giá tình trạng quanh
răng theo phương pháp của WHO [3], người khám
là các bác sỹ Răng Hàm Mặt đã được tập huấn và
định chuẩn để thống nhất về phương pháp và cách
đánh giá với chỉ số Kappa là 0,96 – 0,98 Các kết quả khám tình trạng tổ chức quanh răng được mã hoá và điền vào phiếu in sẵn Các số liệu được xử
lý theo phương pháp thống kê Y học
2 Phương pháp: Phương pháp nghiên cứu là
điều tra mô tả cắt ngang
III Kết quả
1 Tình trạng viêm lợi và cao răng ở trẻ em:
Tình trạng viêm lợi và cao răng ở trẻ em được trình bày ở bảng 1 và 2
Bảng 1: Viêm lợi ở trẻ em vùng Đồng bằng sông Hồng
Tuổi Tỷ lệ chảy máu lợi
(%)
Số trung bình vùng lục phân chảy máu lợi (vùng)
Tỷ lệ vùng lục phân chảy máu lợi (%)
Kết quả ở bảng trên cho thấy có 28.1% - 66.1% trẻ em có chảy máu lợi tự nhiên hoặc trong khi thăm khám, tức là đã có viêm lợi ở lứa tuổi 9 - 11 tuổi, tỷ lệ viêm lợi trẻ em cao nhất và ở mức 66,1%, trung bình mỗi em có 1,97 vùng lục phân (32,9%) bị viêm trong tổng số 6 vùng
Bảng 2: Tình trạng cao răng ở trẻ em vùng Đồng bằng sông Hồng
Tuổi Tỷ lệ có cao răng
(%)
Số trung bình vùng lục phân cao răng (vùng)
Tỷ lệ vùng lục phân cao răng (%)
Kết quả ở bảng 2 cho thấy tỷ lệ trẻ em có cao răng cao và gia tăng theo tuổi ở lứa tuổi 15 - 17 tuổi,
có 89,2% trẻ em có cao răng và trung bình mỗi em có 3,77 vùng lục phân (chiếm 63,0%) có cao răng trong tổng số 6 vùng lục phân của 2 hàm răng
2 Tình trạng bệnh quanh răng ở người lớn:
Bảng 3: Tỷ lệ người có chỉ số CPI nặng nhất ở vùng Đồng bằng sông Hồng (%)
Trang 3Kết quả ở bảng 3 cho thấy tỷ lệ người có tổ
chức quanh răng lành mạnh rất thấp, chỉ ở mức 0,0
% - 2,2 %, còn lại hầu hết là đã có tổn thương ở tổ
chức quanh răng hoặc là viêm lợi (CPI 1 và CPI 2)
hoặc là có tổn thương ở tổ chức quanh răng sâu và
hình thành túi lợi bệnh lý (CPI 3 và CPI 4)
Kết quả trên cũng cho thấy tỷ lệ người mắc
bệnh viêm quanh răng rất cao ở cả 3 nhóm tuổi và
ở mức 36.4% đối với nhóm tuổi 18 - 34, mức
54,6% đối với lứa tuổi trung niên (35 - 44 tuổi) và
ở mức 68.6% đối với nhóm cao tuổi Tỷ lệ người
có bệnh quanh răng cũng gia tăng nhanh theo tuổi,
ở lứa tuổi 18 - 34, có 30,5% người có túi lợi sâu, ở tuổi 35 - 44 có 44,1% có túi lợi nông và 10,5% có túi lợi sâu, ở lứa tuổi trên 45, có 52 % có túi lợi nông và 16.4 % có túi lợi sâu Trong số những người có túi lợi bệnh lý, có từ 5,9% đến 16,4% người có túi lợi sâu (CPI 4) và có nguy cơ bị mất răng sớm nếu không được điều trị tích cực kịp thời
Bảng 4: Số trung bình vùng lục phân có chỉ số CPI nặng nhất ở vùng Đồng bằng sông Hồng (vùng)
18 - 34 0,84 v 0,54 v 3,63 v 0,85 v 0,06 v 0,08 v
* v: vùng
Kết quả trên cho thấy ở lứa tuổi 18 - 34, trung
bình mỗi người chỉ có 0.84 vùng lục phân có tổ
chức quanh răng bình thường trong tổng số 6 vùng
của cả 2 hàm răng Hay nói cách khác, trung bình
mỗi người lứa tuổi này chỉ có 14.0% các răng có tổ
chức quanh răng bình thường, còn lại 86% các
răng còn lại có tổ chức quanh răng bị viêm ở các
giai đoạn khác nhau từ viêm lợi đến viêm quanh
răng có túi lợi sâu Số trung bình của vùng lục
phân có túi lợi nông và sâu (CPI 3 và CPI 4) gia
tăng theo tuổi ở lứa tuổi 18 - 34, trung bình một
người chỉ có 0,91 vùng có túi lợi, con số này tăng
lên 1,51 vùng ở lứa tuổi 35 - 44 và ở mức 1,86 ở
lứa tuổi từ 45 tuổi trở lên Các răng tương ứng với
các vùng có túi lợi (hay túi quanh răng) nhất là túi
lợi sâu (CPI 4) thì có nhiều nguy cơ bị mất răng
sớm
Bảng 5: Tỷ lệ người có các vùng lục phân lành
mạnh (CPI 0) ở vùng Đồng bằng sông Hồng
Tuổi ≥ 3 vùng Dưới 3 vùng
Người có từ 3 vùng lục phân trở lên lành mạnh
là người có sức khoẻ quanh răng ở mức chấp nhận
được Kết quả trên cho thấy tỷ lệ người có sức khoẻ quanh răng ở mức chấp nhận được rất thấp, chỉ có 0,7% đối với lứa tuổi trung niên và 16,5%
đối với lứa tuổi 18 - 34
IV Bàn luận Các kết quả ở bảng 1 và 2 cho thấy tỷ lệ trẻ em có viêm lợi ở mức từ 28,1% đến 66,1% Trẻ em ở lứa tuổi từ 9 - 14 tuổi có tỷ lệ chảy máu lợi cao nhất Lứa tuổi 6 - 8 tuổi đã có 1/4 số trẻ em có cao răng và tỷ lệ trẻ em có cao răng gia tăng theo tuổi rõ, đến lứa tuổi
15 - 17 tuổi có tới 89.2% có cao răng Như vậy có thể nói tỷ lệ trẻ em ở đây có cao răng rất cao
Đối với người lớn, các kết quả ở bảng 3, 4 và 5 cho thấy tỷ lệ người có viêm lợi và viêm quanh răng rất cao Đối với lứa tuổi từ 35 tuổi trở lên, có trên 95% người bị viêm lợi và viêm quanh răng
Đặc biệt, tỷ lệ người có túi lợi nông (CPI 3) và túi lợi sâu (CPI 4) rất cao, ở mức 54,6% đối với lứa tuổi 35 - 44 và 68,6% đối với người từ 45 tuổi trở lên Các răng tương ứng với vùng có túi lợi sâu nếu không được điều trị tích cực thì sẽ sớm dẫn đến mất răng Như vậy tỷ lệ người có nguy cơ mất răng cũng ở mức cao
Trang 4WHO đặt mục tiêu năm 2000 cho các nước khu
vực Châu á Thái Bình Dương là lứa tuổi 15 - 19 chỉ
có 25% người có cao răng (chỉ số nhu cầu điều trị
quanh răng cộng đồng CPITN là 2) [4,5] Trong khi
đó, kết quả ở bảng 2 cho thấy trẻ em 15 - 17 tuổi có
cao răng (CPITN 2) cao hơn 3.5 lần so với mục tiêu
Các nước EEC cũng đặt mục tiêu cho năm 2000 là
ở tuổi 18 có 90% số người có sức khoẻ quanh răng ở
mức chấp nhận được tức là có từ 3 vùng lục phân lành
mạnh trở lên Mục tiêu cho lứa tuổi trung niên (35 - 44
tuổi) là có 75% người có sức khoẻ quanh răng ở mức
chấp nhận đượcm [5] Đối chiếu với các mục tiêu này,
các kết quả ở bảng 5 cho thấy cộng đồng dân cư ở
vùng Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ người có sức
khoẻ quanh răng đạt yêu cầu rất thấp, ở lứa tuổi 18 -
34 chỉ có 16.5%, thấp hơn 5 lần so với mục tiêu Còn ở
lứa tuổi trung niên chỉ có 0,7% người có sức khoẻ
quanh răng đạt yêu cầu, thấp hơn rất nhiều so với mục
tiêu 75% mà WHO đặt ra cho các nước trong khu vực
V Kết luận
Qua kết quả nghiên cứu và bàn luận về bệnh
quanh răng ở cộng đồng dân cư vùng Đồng bằng
sông Hồng, chúng tôi rút ra các kết luận dưới đây:
1 Tỷ lệ trẻ em viêm lợi từ 28,1% đến 66,1%
Tỷ lệ trẻ em có cao răng rất cao và gia tăng theo
tuổi ở lứa tuổi 15 - 17 tuổi, tỷ lệ trẻ em có cao
răng cao hơn gấp 3,5 lần mục tiêu của WHO đặt ra
cho các nước trong khu vực
2 Đối với người lớn, tỷ lệ người có bệnh viêm lợi và viêm quanh răng rất cao và ở mức từ 99,16% đến 99,8% Tỷ lệ người có túi quanh răng rất cao, ở mức 54.6% đối với lứa tuổi trung niên và
ở mức 68.6% đối với người từ 45 tuổi trở lên Những người có túi lợi quanh răng nếu không được
điều trị tích cực thì sẽ sớm dẫn đến mất răng, ảnh hưởng lớn đến chức năng ăn nhai
3 Cần khẩn trương đẩy mạnh các hoạt động chăm sóc răng miệng cho trẻ em và cộng đồng thì mới có thể cải thiện được sức khoẻ quanh răng và
đạt được các mục tiêu của WHO đặt ra cho các nước trong khu vực
Tài liệu tham khảo
1 Trịnh Đình Hải (2000) Hiệu quả chăm
sóc răng miệng trẻ em học đường trong dự phòng viêm lợi - Y học thực hành, 6,2 - 5
2 Manson J.D, Eley B.M (1995); Clinical
Feature of Chronic Periodontal Treatment Outline of periodontics Oxford, 126 - 131
3 WHO (1997); Oral heath Surveys basic
Methods Geneva, 4 - 65
4 WHO (1994), Oral heath for Healthy life
Geneva, 10 - 20
5 WHO (1984), Prevention Methods and
programmes for Oral Diseases Geneva
Summarry
Periodontal disease in the population of the Red River Delta The study is a cross - sectional survey on the situation of periodontal diseases in the population living in the Red River Delta The result of the survey showed that:
1 The percentage of children who have gingivitis is 28.1% - 66.1% The percentage of children having calculus
is very high and increases a cross the age groups In the 15 - 17 year age group, the percentage of children who have calculus is 3.5 times higher than WHO’s goal for the member states in the Western Pacific Region
2 The percentage of adults affected by gingivitis and periodontitis is very high and is at 99.16 % - 99.80% The percentage of adults who had periodontal pocket is also very high and is at 54.6% in the 35 - 44 year age group and 68.6% in the older group
Because of high level of Oral diseases, it is necessary to strengthen oral health care activities for children and population in the area in order to improve oral health for people.