Nghiên cứu ứng dụng các biện pháp kỹ thuật nâng cao gía trị dinh dưỡng của rơm tươi và rơm khô qui mô phòng thí nghiệm Rơm sau thu hoạch tươi và khô được ép thành khối có trọng lượng 5kg
Trang 1CHẾ BIẾN, BẢO QUẢN RƠM BẰNG PHƯƠNG PHÁP (BÁNH/KIỆN) ĐỂ SỬ DỤNG
NUÔI BÒ THỊT TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Phạm Hồ Hải, Nguyễn Thị Mùi và Lê Hà Châu
Bộ môn Dinh dưỡng, thức ăn chăn nuôi và đống cỏ Viện Chăn Nuôi – Thụy Phương – Từ Liêm – Hà Nội
*Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Mùi – Bộ Môn dinh dưỡng, Thức ăn và Đồng cỏ
Viện Chăn nuôi -Thụy Phương - Từ Liêm - Hà Nội Tel: (04) 38.386.130; Fax: (04) 38.389.775; Email: Nguyenthimui@yahoo.com
ABSTRACT Treating, reserving rice straw by bales technique and use it for feeding cattle in Mekong River Delta
The study was carried out at three places: (i) Lieu Tu commune, Long Phu district, Soc Trang province; (ii) Research Centre for Agriculture in Dong Thap Muoi and in Long An province from 01/07/2006 to 31/12/2007 The results showed that: in the Lab, all of treatments for improving quality of rice straw appeared to be good in colour, smell and nutrition components However two treatments, the CT2 and CT4, were promising for treating fresh rice straw For dry rice straw, the CT8 treatment could be applied for practice The combination of dry rice straw with dry high protein foliage or legume (CT10) was easily processing in the production At the present practice, suitable procedure for producing rice straw bales is a machine with capacity of 5 tonnes/day and working by a group with 4 labours Rice straw bale products have size of 60 x 40 x 50 cm and the weight was 25
kg The price for producing 1 kg of product (including collecting rice straw and processing without transportation) was ranged from 616 to 689 VND Using machine for tie the bales resulted in reducing the losses during transportation After processing, rice straw product was keft in normal condition until 60 days without effect on quality and colour Replacing 50% fresh grasses by treated rice straw bales and storing after 2 months
in the diet for fattening cattle improved live weight gain and saved 30% of feed cost compared to control diet of grasses and concentrate Research result should be introduced into practices for making better use of by-products
as ruminant feeds
Key words: Rice straw, treatment, urea, processing, procedure, price, feeding, cattle
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rơm lúa được sử dụng phổ biến trong chăn nuôi trâu bò ở các nước nhiệt đới Ở Thái Lan, 75% rơm lúa rẫy và 82% rơm lúa nước dùng cho chăn nuôi trâu bò (Wanapat, 1990); Bangladesh tỷ lệ này là 47% (Saadullah và cs, 1991) Ở nước ta hàng năm có khoảng 25 triệu tấn rơm (Lê Xuân Cương, 1994; Lê Viết Ly và Bùi Văn Chính, 1996), theo ước tính khoảng 70% số hộ chăn nuôi sử dụng rơm cho trâu bò Vì đây là nguồn thức ăn thô quan trọng, đặc biệt là vào mùa khô ở các tỉnh phía Nam Đồng bằng sông Cửu Long được coi là vựa lúa lớn nhất cả nước, điều đó có nghĩa là lượng rơm rất dồi dào Trước đây rơm chỉ để đốt đồng hoặc phủ liếp dưa Gần đây, rơm được nông dân tận dụng trồng nấm rơm, nấm bào ngư và hình thành một số chợ rơm tại Chợ Mới (An Giang) và Phụng Hiệp (Cần Thơ) với số lượng mua bán rất lớn 200-300 tấn rơm/ngày Tuy nhiên, giá trị dinh dưỡng của rơm thấp, chủ yếu là xơ thô (34%), tỷ lệ tiêu hoá kém (<45%) và nghèo dinh dưỡng (protein: 2 – 3%) đặc biệt là rơm tươi (rơm mới thu hoạch) lại dễ bị nấm mốc Ngoài ra, rơm lại rất cồng kềnh khó vận chuyển
và bảo quản Việc ứng dụng các giải pháp kỹ thuật, nâng cao giá trị dinh dưỡng, sử dụng rơm mang lại hiệu quả trong chăn nuôi gia súc nhai lại đã được các tác giả nghiên cứu: Lê Viết Ly
và Bùi Văn Chính, (1996); Đoàn Đức Vũ, (2000); Nguyễn Thạc Hoà, (2004) Các công trình trên chỉ dừng ở mức độ chế biến và sử dụng rơm ở qui mô nông hộ hoặc trang trại, vấn đề biến rơm thành sản phẩm hàng hóa mang lại hiệu quả kinh tế cao còn hạn chế Trên cơ sở đó chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu này
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 2Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được tiến hành tại tại Xã Liêu Tú, huyện Long Phú tỉnh Sóc Trăng và Trung tâm Thực nghiệm Nông nghiệp Đồng Tháp Mười, Long An.,
Thời gian nghiên cứu: từ 01/07/2006 đến 31/12/2007.
Nghiên cứu ứng dụng các biện pháp kỹ thuật nâng cao gía trị dinh dưỡng của rơm tươi và rơm khô qui mô phòng thí nghiệm
Rơm sau thu hoạch (tươi và khô) được ép thành khối có trọng lượng 5kg/khối, xử lý theo các biện pháp khác nhau (Bùi Văn Chính va cs, 1992; Lê viết Ly và cs, 1996; Đoàn Đức Vũ, 2000; Nguyễn Thạc Hòa, 2004), sau đó cho vào bao nylon buột chặt miệng, dự trữ trong điều kiện bình thường Mỗi công thức (CT) nghiệm thức được lặp lại 03 lần; các biện pháp xử lý được trình bày qua Bảng 1
Bảng 1 Các công thức (CT) ứng dụng để nghiên cứu nâng cao giá trị dinh dưỡng cho rơm lúa
2 Phối hợp với cây giầu đạm và cỏ họ đậu 2 Xử lý sinh học
CT 10 Sử dụng 2 loại:
(i) Cây trà lá lớn và (ii) Dây lá đậu CT 5 Men lactic với tỷ lệ 0,5% + 0,5%muối ăn (NaCl) + 3% cám gạo
ăn + 5% cám gạo Vào các thời điểm: 7-10 ngày sau khi ủ; 1 tháng , 2 tháng và 3 tháng sau ủ sẽ lấy mẫu gửi phân tích các chỉ tiêu : vật chất khô (DM), đạm thô (CP), Xơ thô (CF) và khoáng tồng số tại Phòng phân tích Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam
Nghiên cứu ứng dụng kết quả từ phòng thí nghiệm vào dây chuyền sản xuất rơm đóng bánh/kiện tại địa phương Kết quả trình bày tại Sơ đồ 1.
Sơ đồ 1 Hệ thống nghiên cứu tổng thể
Thu thập các mẫu thiết bị đóng bánh rơm trong và ngoài nước qua các Catalogue xem các thiết bị nào thoả mản yêu cầu: Giá cả phù hợp với Việt Nam; Công suất thiết kế đáp ứng cho qui mô SX vừa và nhỏ (5- 6 tấn/ngày); Dễ dàng vận chuyển đến từng địa bàn khác nhau; Thao tác vận hành thuận tiện cho người sử dụng có trình độ không cao (tốt nghiệp PTCS); Có thể lắp đặt thêm các linh kiện phụ trợ để giảm lao động cho QT vận hành
Phương án thu gom rơm lúa/nguyên liệu ngoài đồng ruộng: theo 02 hình thức (i) Thu gom
trực tiếp: bằng cách đến các nông hộ mua trực tiếp và thuê công vận chuyển về nơi chế biến (ii) Khoán gọn cho người trung gian thu gom rơm đến nơi đóng bánh
Rơm lúa
(tươi,
khô)
Thu gom:
Trực tiếp Hợp đồng
Chế biến nâng cao chất lượng
Ép bánh/kiện công nghiệp
Bảo quản sản phẩm sau chế biến Xây dựng
mô hình hoàn thiện QT
Sản xuất thử và
TN nuôi gia súc
Hội thảo đánh giá kết quả
SX hàng
hoá
Trang 3Cải tiến thiết bị và công nghệ ép bánh rơm theo hướng công nghiệp: Thay đổi một số chi
tiết máy từ t/khảo ý kiến chuyên gia nhằm gia tăng khối lượng (KL) rơm đóng bánh; Bổ sung các thiết bị hỗ trợ cho quá trình (QT) vận hành thiết bị; thử nghiệm qui trình (SX) rơm tươi
Quy trình: Thu gom rơm ngoài đồng > phơi khô (sản xuất rơm khô); phun, tưới urê theo tỷ
lệ 2%, 4% + 20% nước (rơm tươi) > ép khối, trọng lượng 25-30 kg/khối (rơm khô); 45-50 kg/khối (rơm tươi), buột chặt bằng dây đai > cho vào bao ny lon (2 khối rơm/bao), bao gai phía ngoài, may miệng bao (rơm tươi) > dự trữ ở nhiệt độ bình thường
Đánh giá chất lượng sản phẩm sau khi chế biến, bảo quản: (i) Cảm quan: màu sắc, mùi, độ
ẩm của 2 nghiệm thức 2% và 4% theo các thời điểm 7-10 ngày; 45 ngày và 60 ngày của rơm không ủ và rơm ủ urê 2% và 4%, (ii) Đánh giá chất lượng (CL) bằng phương pháp (PP) lấy mẫu phân tích thành phần dinh dưỡng (DD) vật chất khô (VCK) (DM); đạm thô (CP); Xơ thô (CF) và khoáng tổng số (KTS) vào các thời điểm 0, 7, 14, 21, 30, 45, 60 ngày bảo quản
Nghiên cứu sử dụng sản phẩm rơm sau chế biến đến khả năng sinh trưởng của bò thịt ở trang trại ông Nguyễn Thanh Bình, xã Liêu Tú, huyện Long Phú, Sóc Trăng Thời gian thí
nghiệm: 03 tháng từ 15/08/2007 đến 15/11/2007 trên 30 bò ta vàng, trọng lượng (BQ) 125
kg, tháng tuổi 16-18 tháng, được phân làm 03 lô đồng đều về tuổi và KL
Thí nghiệm bố trí với 3 khẩu phần (KP) khác nhau: KP đối chứng (T1): sử dụng cỏ và cám 0,5-1kg/con/ngày KP thí nghiệm 1 (T2): lượng cỏ trong KP sẽ được thay thế bằng 50% lượng rơm tươi ủ 2% urê (tính theo VCK) và cám 0,5-1kg/con/ngày KP thí nghiệm 2 (T3) lượng cỏ
trong khẩu phần sẽ được thay thế bằng 50% lượng rơm tươi ủ 4% urê (tính theo VCK) 0,5-1kg/con/ngày Cỏ xanh thu cắt hàng ngày tại địa phương, cám hỗn hợp mua tại địa phương có 15% CP và ME 2.600 kcal cho bò ăn 0,5-1kg/con/ngày và đá liếm bổ sung khoáng treo trong chuồng cho bò liếm tự do
Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm: (i) Trọng lượng hàng tháng (được cân bằng cân đại gia súc 1
tháng/lần), (ii) Lượng cỏ tự nhiên, rơm ủ ăn được (theo vật chất khô), theo dõi hàng ngày/lô thí nghiệm trong suốt thời gian thí nghiệm và (iii) Các bệnh tật xảy ra (nếu có)
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Các biện pháp kỹ thuật nâng cao gía trị dinh dưỡng của rơm tươi và rơm khô
Về mặt cảm quan: Đối với rơm tươi (rơm sau thu hoạch): kết quả thấy các CT đạt yêu cầu về
mặt cảm quan: màu sắc, mùi vị, khả năng bảo quản trong SX Đối với rơm khô: Ở tỷ lệ nước 30% thích hợp trong điều kiện (đk) sản xuất hơn cả về cảm quan (màu sắc, mùi vị và KN bảo quản) CT phối trộn với các loại cây họ đậu đều tỏ ra thích hợp vì dễ dàng thực hiện trong SX
Giá trị dinh dưỡng: Số liệu Bảng 2 cho thấy, khi xử lý rơm tươi với urê 2% và 4% ở các tỷ lệ
nước khác nhau các thành phần (TP) như xơ thô, KTS không có sự thay đổi lớn Trong khi đó, hàm lượng (HL) đạm thô gia tăng khi tỷ lệ urê gia tăng nhưng đạt cao nhất là ở công thức (CT) 3 sau 10 ngày ủ (CP đạt 11,82%); Sau 30 ngày bảo quản HL đạm thô ở CT 2 và 4 gia tăng nhưng ở CT1 và 3 HL đạm thô có khuynh hướng giảm Như vậy, trong đk thực tiển SX CT2 và CT4 có thể khả thi hơn CT1 và CT3; có lẽ là do với tỷ lệ nước phù hợp, quá trình ép
đã phá vỡ cấu trúc xơ của tế bào làm lượng nitơ phi protein từ urê đi vào các tế bào của rơm giữ lại và không bị bốc thoát theo lượng hơi nước (Saadullah và cs, 1991)
Đối với 02 CT ủ men, đều cho gía trị DD khá tốt so với rơm tươi, HL đạm thô và khoáng tăng, xơ thô lại giảm Có lẽ, do quá trình lên men của vi khuẩn (VK) lactic đã phân hủy xơ thành các dưỡng chất khác
Trang 4Bảng 2 Giá trị dinh dưỡng của rơm tươi sau khi xử lý ở mức độ phòng thí nghiệm
(%/DM)
Tuy nhiên, CT này sẽ khó thực hiện trong SX do quá trình ủ phức tạp và trong thời gian dự trữ rất dễ bị chuột phá hoại do lượng cám trong rơm, 02 công thức này có thể thích hợp việc
sử dụng tại chỗ không phải vận chuyển
Bảng 3 Giá trị dinh dưỡng của rơm khô sau xử lý
(%/DM) T
Đối với rơm khô: Số liệu Bảng 3 cho chúng ta thấy, CT 7 tỏ ra thích hợp trong đk thực tiễn
SX vì sau 60 ngày bảo quản HL đạm thô đạt 12,1% và VCK xấp xỉ 70% đây là giá trị lý tưởng cho gia súc CT10 chỉ dựa trên cơ sở tính toán lý thuyết mà không lấy mẫu phân tích và bằng nhận xét cảm quan, CT này phù hợp với đk SX và dễ dàng vận chuyễn và bảo quản
Ứng dụng kết quả phòng thí nghiệm vào dây chuyền sản xuất rơm đóng bánh/kiện tại
địa phương - Phương án thu gom rơm lúa/nguyên liệu ngoài đồng ruộng
Trang 5Bảng 4 Khó khăn, thuận lợi và giá thành thu gom nguyên liệu rơm lúa từ đồng ruộng Thu gom trực tiếp từ nông dân Khoán gọn cho người trung gian thu gom rơm đến
nơi đóng bánh
Giá mua vào 250.000 đồng/ha
Ưu điểm/thuận lợi dễ dàng thu mua với
SL lớn; giá cả hợp lý; chủ động được
nguồn nguyên liệu; CL rơm đồng nhất
Hạn chế: chí phí lao động cho thu gom
vận chuyển, phơi, phóng cao; diện tích
sân, bãi lớn; thời gian SX ngắn không
kéo dài
Giá mua vào 400.000-500.000 đồng/tấn rơm khô
Ưu điểm/thuận lợi: Tiết kiệm được lao động,
không đòi hỏi diện tích sân, bãi nhiều; bộ phận quản lý tinh, gọn, nhẹ
Hạn chế: không chủ động được nguồn nguyên
liệu; chất lượng rơm không đồng nhất; Tỷ lệ hao hụt cao
Mua và vận hành trang thiết bị đóng bánh.
Có thể sử dụng cho mọi địa hình
Dễ dàng bảo trì, sửa chửa khi có
sự cố
Vận hành đơn giản, không đòi hỏi
kỹ thuật cao
Tiêu thụ nhiên liệu thấp
Cấu trúc bánh xe thép nên khi vận hành máy bị rung, thời gian bảo trì ngắn
Chưa bảo đảm an toàn cho người lao động do bộ phận lấy rơm từ trên xuống
Kích thước khối rơm ép chưa đúng qui cách do sự ước lượng của người vận hành
Tính cơ động chưa cao do sử dụng bánh xe bằng thép Các trang thiết bị của nước ngoài, của Trung Quốc giá cả tương đối phù hợp, tính cơ động không cao, máy phải đặt cố định, vận hành bằng mô tơ nên không thể đưa vào vùng sâu vùng
xa Máy ép tại ruộng của Hà Lan SX giá thành cao, khó di chuyển trong ĐK đồng ruộng ở miền Nam Vì vậy, máy ép rơm do nhà máy Z755 SX được chọn là giá cả phù hợp, KL 1.250kg, động cơ chạy xăng/dầu, công suất thiết kế 6-8 tấn/ngày Trong quá trình vận hành, chúng tôi nhận thấy máy có những ưu, khuyết điểm sau:
Sản xuất thử nghiệm, cải tiến, hoàn thiện qui trình công nghệ ép bánh và hạch toán giá thành sản phẩm
Hình 1 Rơm khô thành phẩm Kết quả SX TN cho thấy với kích thước (60x40x50)cm, KL bánh rơm khô thấp từ 12-15 kg, rất dễ bị bung tróc khi vận chuyển và dự trữ, tỷ hao hụt khá cao từ 10-15% nên rơm đóng bánh SX không đạt như công suất thiết kế Khắc phục tình trạng này, chúng tôi đã cải tiến các khâu: Hạ thấp mỏ ăn rơm của máy xuống gần đáy; thay miếng chặn rơm trước đây bằng ván
ép rất dễ bị bể trong QT vận hành bằng gổ ghép từ thân cây bạch đàn; hạ thấp lổ thứ hai nơi buộc khối rơm xuống 1cm; Thay dây buộc bằng dây nylon bằng dây đai và sử dụng thêm một máy ép dây Từ đó, KL của bánh rơm khô đã tăng đáng kể, với kích thước như cũ, KL rơm tăng gấp đôi (28-30kg) Chính điều này đã nâng KN SX rơm khô đóng bánh của thiết bị này lến 7-8 tấn/ngày, cao hơn so công suất TK 1,1-1,2 lẫn mà không thay đổi QT (Hình 1) Với cải tiến trên và từ KQ phòng TN, chúng tôi đã SX rơm tươi ủ với urê theo CT2, CT4 Kết quả theo dõi màu sắc, mùi và hiện tượng mốc của rơm lúa tươi; rơm lúa (Bảng 5)
Trang 6Bảng 5: Đánh giá cảm quan mẫu ủ ở thời điểm sau khi ủ
Rơm tươi
Rơm xử lý: 2%ure
Rơm xử lý 4% ure
Nâu Vàng sẫm Vàng sẫm
Thối ít Amoniac nhẹ Amoniac nồng
Nước nhiều Nước ít Nước ít
Mốc trắng
Ít mốc trắng Không có mốc trắng
Về màu sắc, rơm ủ ure nói chung có màu vàng sẫm, có mùi hắc nồng đặc trưng của amoniac rất mạnh, còn rơm không ủ có màu nâu đen, có mùi ẩm mốc Kết quả khẳng định, ure trong
QT ủ đã giải phóng amoniac và amoniac này có tác dụng tốt trong việc ức chế nấm mốc phát triển (Nguyễn Xuân Trạch, 2005)
Bảng 6 Chất lượng rơm theo thời gian bảo quản
%/DM
10 Ủ 4% urê sau 21 ngày 20,22±1,94a 17,95±0,23b 35,05±1,21 16,17±0,08
11 Ủ 4% urê sau 30 ngày 21,03±0,92a 16,84±0,12b 33,10±0,93 16,17±0,22
12 Ủ 4% urê sau 45 ngày 20,23±1,73a 16,94±0,08b 33,14±1,21 16,15±0,79
13 Ủ 4% urê sau 60 ngày 24,33±1,58b 16,88±0,79b 32,28±1,56 16,09±0,69
Theo cột dọc, các chử cái khác nhau sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Quan sát ở các thời điểm 14, 21, 30, 45, 60 ngày tiếp theo: Lô đối chứng (100% rơm tươi) lượng nước tiếp tục tăng, mùi thối tăng lên, màu sắc chuyển màu nâu đen Các lô còn lại:
lượng nước tăng không nhiều, chưa nhũn nát, mùi amoniac tăng lên nhiều theo lượng ure bổ sung vào, màu sắc không đổi, chưa có mốc trắng Đối với CT 2% urê có hiện tượng bị mốc trắng sau 45 ngày ủ Kết quả này tương tự như Nguyễn Xuân Trạch, (2005) Cho rằng mẫu ủ đạt CL tốt có màu vàng sẫm, mùi amoniac đặc trưng Như vậy, theo dõi sự biến đổi về màu sắc, mùi và độ mốc, nhận thấy các CT ủ có thể áp dụng để bảo quản rơm lúa làm TĂ cho trâu bò; đặc biệt là rơm tươi ủ urê 4% đạt cảm quan tốt sau 60 ngày ủ (Hình 2)
Hình 2 Rơm tươi thành phẩm
Số liệu Bảng 6 cho thấy HL đạm thô đã gia tăng đáng kể ở cả 02 CT chế biến, trong khi đó các chỉ tiêu khác gần như không thay đổi Lượng VCK tăng sau 45 và 60 ngày bảo quản (P<0.05) ở cả 2 nghiệm thức Điều này là do hiện tượng bốc, thoát hơi nước do bảo quản làm
ẩm độ của khối ủ giảm sút Theo Kayouli, 1996; Wanapat, 1999 và Wiltorsson, 2001 ghi nhận
sự gia tăng HL đạm thô trong rơm xử lý so với rơm không xử lý ure Mức tăng này tùy thuộc
Trang 7vào VCK của rơm trước khi ủ và tỷ lệ urê sử dụng Kết quả NC của chúng tôi phù hợp với công bố của các tác giả trên
Bảng 7 Giá thành sản xuất rơm đóng bánh Đơn vị : 1000đ
Ghi chú : (*) NS rơm 4-5 tấn/ha; (**): Giá tính thời điểm 04/2007
Giá thành SX rơm bao gồm các chi phí sau (tính cho 1 tấn rơm thành phẩm) trình bày ở Bảng
7, theo hình thức thuê khoán gọn (2) giá thành cho 1kg rơm 476-515đ/kg Trong khi đó nếu thuê mướn toàn bộ (1) thì giá thành 1kg rơm SX tại chỗ từ 616-689đ/kg Giá này thay đổi tùy theo mùa vụ và công lao động tại các địa phương với mức 15% Công vận chuyển tính toán bằng 20% đến 25% so với vân chuyển rơm thô chưa chế biến từ Sóc trăng về TP.HCM
Sử dụng sản phẩm rơm sau chế biến đến khả năng sinh trưởng của bò thịt
Bảng 8 Khẩu phần và giá trị dinh dương của khẩu phần
Khẩu phần ăn Cỏ tự nhiên Kg/con/ngày 14,2±0,4 7,8±0,2 7,9±0,1
Bảng 8 cho thấy, mức năng lượng KP đạt từ 6.41-7.22 Mcal, HL protein thô từ 365-490gam, phù hợp với TC NRC, 2000 cho bò sinh trưởng với mức tăng trọng BQ 300-500 g/con/ngày
Bảng 9 Kết quả trọng lượng và tăng trọng bò thí nghiệm
Khẩu phần
-Các chử cái khác nhau sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0.05) * Giá được ước tính vào cuối tháng 12/2007.
Trang 8Với KP trên mức tăng trọng BQ của bò 3 tháng thấp nhất là KP T1 đạt 158gam/con/ngày; ở T2 đạt 303gam/con/ngày và cao nhất là ở T3 đạt 325 gam/con/ngày (P<0,05) Tiêu tốn năng lượng trao đổi cho 1 kg tăng trọng cao nhất là ở T1 (40.6 Mcal/KgP), kế đến là T2 23.4 Mcal/kgP và thấp nhất là ở T3 chỉ có 22.2 Mcal/kgP (Bảng 9) Kết quả cho thấy, chi phí thức
ăn cho 1kg tăng trọng, thấp nhất là T3 (15.969 đ/kgP), sau là T2 là 16.897 đ/kgP và cao nhất
là T1 23.164 đ/kgP Như vậy, sử dụng bánh rơm ủ urê trong KP nuôi sinh trưởng bê, sẽ cải thiện tăng trọng, làm giảm chi phí thức ăn; đây là một hướng mở ra cho khả năng PT chăn nuôi bò ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết luận: Ở qui mô Phòng thí nghiệm, hầu hết các CT xử lý rơm tươi và rơm khô đều cho kết
quả khá tốt về mặt cảm quan và giá trị dinh dưỡng Tuy nhiên, CT2 (2% urê, 20% nước) và CT4 (4% urê và 20% nước) tỏ ra có ưu thế hơn trong thực tiển SX rơm tươi Đối với rơm khô
CT 7 (4% urê và 30% nước) có khả năng sử dụng tốt cho SX, tốt hơn cả là CT 10 phối trộn rơm khô với cây họ đậu vì dễ dàng thực hiện trong thực tiển SX Thiết bị ép rơm là phù hợp với điều kiện SX hiện nay, với công suất BQ 5tấn/ngày với 01 tổ SX gồm 4 người Giá thành
SX 1kg rơm đóng bánh khoảng 616-689đ/kg là chấp nhận được trong điều kiện hiện tại Cải tiến một số thông số kỹ thuật trên máy ép rơm đã gia tăng khôi lượng rơm đóng bánh lên gấp đôi so với trước đây, trong khi chi phí SX không thay đổi Sử dụng dây đai và máy buộc dây
đã giảm tỷ lệ hao hụt khi vận chuyển, giúp khối rơm chắc chắn không bị bung, sốc Qui trình
xử lý rơm tươi đóng bánh với urê 4% là khả thi và hiệu quả trong thực tiển SX Giá trị dinh dưỡng của SP rơm sau chế biến/rơm đóng bánh không thay đổi sau 60 ngày bảo quản Thay thế 50% cỏ xanh bằng rơm tươi ủ urê đóng bánh (tính trên VCK) trong KP nuôi bò sinh trưởng giúp cải thiện tăng trọng và tiết kiệm 30% chi phí khi sử dụng KP chỉ có cỏ và cám
Đề nghị: Công nhận kết quả nghiên cứu khoa học của đề tài và ứng dụng trong sản xuất
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
Bui Van Chinh, Le Viet Ly, Nguyen Huu Tao, Pham Van Thin and T.R Preston, 1992 Ammoniated rice straw or
untreated straw supplemented with a molasses-urea block for growing Sindi x Local cattle in Vietnam Livestock Research for Rural Development 4 (3).
Bui Van Chinh, Nguyen Huu Tao, Vo T Phan, 1993 Effect of molasses urea block as supplements for milking cattle fed rice straw and maize stover Proceedings regional workshop in Increasing livestock by making better use of local feed resources, FAO/MAFI/SAREC, Hanoi, Ho Chi Minh.
Đoàn Đức Vũ, 2000 Nghiên cứu sử dụng một số phụ phế phẩm vào xây dựng khẩu phần ăn cho bò sữa trên nguồn thức ăn sẵn có ở một số tỉnh phía Nam Luận án Tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp, năm 2000.
Lê Viết Ly và Bùi Văn Chính, 1996 Phát triển chăn nuôi trong hệ thống nông nghiệp bền vững Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.
Lê Xuân Cương, 1994 Biến rơm cỏ thành thịt sữa Nhà xuất bản Nông nghiệp, TP Hồ Chí Minh.
Nguyễn Thạc Hòa, 2004 Kết quả nghiên cứu bảo quản rơm tươi bằng phương pháp ủ chua làm thức ăn chăn nuôi bò sữa Báo cáo Khoa học phần Dinh dưỡng và Thức ăn vật nuôi Hà Nội 8-9/12/2004 Nhà Xuất bản Nông nghiệp Trang 83-88.
Nguyen Xuan Trach, 1998 The need for improved utilisation of rice straw as feed for ruminants in Vietnam: An overview Livestock Research for Rural Development 10 (2).
Saadulah, M and Siriwardene, J.A de S 1993 Reasons for success and failure of straw treatment and straw feeding in Bangladesh and Sri Lanka In: Singh, K and Schiere, J.B (eds.) Feeding of Ruminants on
Fibrous Crop Residues Proceedings, International Workshop National Dairy Research Institute Karnal (India) 4-8 February 1991 IARC, Delhi (India) Pp 277-288.
Wanapat M, 1990 Nutritional Aspects of Ruminant production in Southeast Asia with special Reference to Thailand University of Khon Kaen, Thailand.
* Người phản biện: TS Đỗ Viết Minh; TS Đinh Văn Tuyền