I Tác giả Thạch lam 1910 1942 Tên khai sinh Nguyễn Tường Vinh, sau đổi là Nguyễn Tường Lân Bút danh Việt Sinh Là người đôn hậu và tinh tế, rất thành công ở truyện ngắn Ông chủ yếu khai thác thế giới n.
Trang 1I Tác giả
- Thạch lam: 1910-1942 Tên khai sinh Nguyễn Tường Vinh, sau đổi là Nguyễn Tường Lân Bút danh Việt Sinh
- Là người đôn hậu và tinh tế, rất thành công ở truyện ngắn
- Ông chủ yếu khai thác thế giới nội tâm của nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ Mỗi truyện ngắn như một bài thơ trữ tình
- Truyện ngắn của Thạch Lam thường không có cốt truyện mà chủ yếu khai thác thế giới nội tâm con người với những cảm xúc mong manh, mơ hồ, những rung động nhẹ nhàng Truyện ngắn của ông Có giọng điệu như bài thơ trữ tình đượm buồn với văn phong sáng sủa và giản dị thể hiện niềm yêu mến của nhà văn với con người và cảnh vật Các tác phẩm tiêu biểu: “Tập truyện ngắn Gió đầu
mùa”,”Nắng trong vườn”,”Sợi tóc” và tiểu thuyết “Ngày mới”…
II Tác phẩm
* Tóm tắt văn bản
Hai đứa trẻ là câu truyện về hai đứa trẻ Liên và An Liên và An đã từng có một cuộc sống đầy đủ vui vẻ ở Hà Nội Do gia đình sa sút, hai đứa trẻ phải về sống nơi phố huyện - một cuộc sống nghèo khổ, đơn điệu Trong một buổi chiều tà, nhìn thấy những đứa trẻ con đi nhặt nhạnh những đồ thừa, Liên cảm thấy lòng man mác buồn Xung quanh chị em Liên là cuộc sống tàn lụi của chị Tí, bác Siêu, bác
Sẩm Thế nhưng chừng ấy người sống trong bóng tối vẫn hy vọng cái gì đó tươi
Trang 2sáng hơn Mong ước ấy được thể hiện qua việc chờ chuyến tàu đêm chạy qua phố huyện Chuyến tàu đêm từ Hà Nội về, ầm ầm lăn bánh qua phố huyện rồi khuất dạng, im tiếng trong trời đêm sâu thẳm Lúc đó người buôn bán ở phố huyện mới dọn hàng sau một tối ế ẩm để trở về nhà Còn hai đứa trẻ dần dần chìm vào giấc ngủ yên tĩnh
* Bố cục văn bản
- Phần 1(từ đầu đến cười khanh khách): cảnh phố huyện lúc chiều xuống
- Phần 2 (tiếp đến cảm giác mơ hồ không hiểu nổi): cảnh phố huyện về đêm
- Phần 3 (còn lại): cảnh chuyền tàu đêm đi qua phố huyện
* Hoàn cảnh sáng tác, vị trí
- Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” rút trong tập “Nắng trong vườn” (1938)
- Tác phẩm có lẽ được gợi lên từ những câu chuyện cảnh đời nơi phố huyện Cẩm Giàng, Hải Dương quê ngoại nhà văn với những kỉ niệm tuổi thơ
- Hai đứa trẻ tiêu biểu cho phong cách truyện ngắn tài hoa, độc đáo của Thạch Lam Ở Hai đứa trẻ chất hiện thực hòa quyện với lãng mạn, tự sự giao duyên với trữ tình
* Giá trị nội dung
- Thạch Lam đã thể hiện một cách nhẹ nhàng mà thấm thía niềm xót thương với những sống cơ cực quẩn quanh, tăm tối ở phố huyện nghèo những ngày trước Cách mạng Đồng thời ông cũng biểu lộ sự trân trọng ước vọng đổi đời mơ hồ trong họ
* Giá trị nghệ thuật
- Cốt truyện đơn giản, nổi bật là những dòng tâm trạng chảy trôi, những cảm xúc, cảm giác mong manh, mơ hồ trong tâm hồn nhân vật Miêu tả sinh động những biến đổi tinh tế của cảnh vật và tâm trạng của con người
Trang 3- Bút pháp tương phản đối lập; ngôn ngữ giàu hình ảnh, tượng trưng
- Giọng điệu thủ thỉ, thấm đượm chất thỏ chất trữ tình sâu sắc
-> Sự tinh tế của tác giả khi ông tả tâm trạng và quang cảnh phố huyện qua cách tạo dựng không khí kể chuyện của Thạch Lam
* Ý nghĩa văn bản
- Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” thể hiện niềm cảm thương chân thành của Thạch Lam đối với những kiếp sống nghèo khổ, chìm khuất trong mòn mỏi, tăm tối, quẩn quanh nơi phố huyện trước cách mạng và sự trân trọng với những mong ước nhỏ
bé, bình dị mà tha thiết của họ
* Ý nghĩa biểu tượng của chuyến tàu đêm đối với những người thị phố
- Hình ảnh con tàu lặp 10 lần trong tác phẩm
- Là biểu tượng của một thế giới thật đáng sống với sự giàu sang và sự rực rỡ ánh sáng Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh với người dân phố huyện
- Là tiếng nói xót thương đối với những kiếp người nghèo đói cơ cực, sống quẩn quanh bế tắc, không ánh sáng, không tương lai, cuộc sống như cát bụi ở phố huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám
=> Qua những cuộc đời đó Thạch Lam làm sống dậy những số phận của một thời,
họ không hẳn là những kiếp người bị áp bức bóc lột, nhưng từ cuộc đời họ Thạch Lam gợi cho người đọc sự thương cảm, sự trân trọng ước mong vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn của họ.Vì vậy tác phẩm vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị nhân đạo
Trang 4* Ý nghĩa biểu tượng của chuyến tàu đêm đối với hai chị em
- Đối với An, chuyến tàu chính là một món quà của cuộc sống, thay thế cho những món đồ chơi mà em không có được, khơi gợi trong tâm hồn non nớt của em những tưởng tượng phong phú
- Đối với Liên chuyến tàu mang đến cho chị những xúc cảm mơ hồ khó hiểu, gợi nhắc về một thời quá vãng xa xăm, đồng thời khiến chị ý thức rõ ràng hơn về cuộc sống cơ cực, bế tắc của người dân nơi đây
* Ý nghĩa biểu tượng của ngọn đèn dầu
- Ngọn đèn dầu được nhắc hơn 10 lần trong tác phẩm
-> Tất cả không đủ chiếu sáng, không đủ sức phá tan màn đêm, mà ngược lại nó càng làm cho đêm tối trở nên mênh mông hơn, càng ngợi sự tàn tạ, hắt hiu, buồn đến nao lòng
- Ngọn đèn dầu là biểu tượng về kiếp sống nhỏ nhoi, vô danh vô nghĩa, lay lắt Một kiếp sống leo lét mỏi mòn trong đêm tối mênh mông của xã hội cũ, không hạnh phúc, không tương lai, cuộc sống như cát bụi Cuộc sống ấy cứ ngày càng một đè nặng lên đôi vai mỗi con người nơi phố huyện
- Cả một bức tranh đen tối Những hột sáng của ngọn đèn dầu hắt ra giống như những lỗ thủng trên một bức tranh toàn màu đen
* Chi tiết hai đứa trẻ đợi đoàn tàu từ Hà Nội về
- Lí do:
+ Cuộc sống của hai đứa trẻ nơi phố huyện nghèo nàn, tù túng, ngày ngày nhịp sống tù túng ấy cứ lặp đi lặp lại Đó là hình ảnh của mẹ con chị Tí với ngọn đèn dầu, với gánh phở bác Siêu, với tiếng đàn bầu bật trong yên lặng của vợ chồng bác Xẩm, Tâm hồn ngây thơ của những đứa trẻ khao khát một thứ gì đó mới lạ, tươi
Trang 5sáng hơn sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ Bởi thế, hai đứa trẻ tìm đến ánh sáng của đoàn tàu như để bồi đắp chất thơ cho tâm hồn của hai chị em
+ Việc nhìn thấy chuyến tàu như là thói quen, là điều quan trọng không thể thiếu trong cuộc sống của hai chị em mỗi ngày Bởi thế, dù có buồn ngủ thế nào, hai chị
em cũng không từ bỏ thói quen ấy
- Ý nghĩa:
+ Đoàn tàu đã đem lại sự sôi động cho cuộc sống nghèo nàn, đơn điệu của phố huyện, là nguồn sáng rực rỡ khác hẳn với cuộc sống tối tăm nơi đây
+ Đó là ánh sáng của khát vọng, của ước mơ về một cuộc sống tươi mới hơn, đẹp
đẽ hơn; ánh sáng của nhu cầu tinh thần được sống dù trong một khoảnh khắc + Đó cũng chính là tình cảm nhân đạo sâu sắc của Thạch Lam, nhà văn luôn tin tưởng vào khả năng vươn dậy của nhân vật
* So sánh hình ảnh bức tranh phố huyện nghèo trong hai tác phẩm “Vợ Nhặt” của Kim Lân và
“Hai đứa trẻ” của Thạch Lam
“Vợ nhặt” – Kim Lân “Hai đứa trẻ” – Thạch Lam
- Hình ảnh phố huyện nghèo được
miêu tả theo chiều rộng và sâu hơn
- Hình ảnh phố huyện nghèo được hiện
ra nhẹ nhàng hơn
- Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của
rác rưởi trộn với mùi gây của xác
người chết Mùi đốt đống rấm ở những
căn nhà không may có người thân qua
đời thoảng vào gió khét lẹt
- Phố huyện có mùi ẩm mốc bốc lên từ bãi rác và hơi nóng của ban ngày trộn với mùi cát bụi từ những con đường
- Âm thanh của phố huyện là tiếng quạ
kêu trên mấy cây gạo cứ gào lên thảm
thiếp Xen lẫn trong đó tiếng hờ khóc tỉ
tê của những gia đình có người chết
đói Tiếng trống thúc thuế dồn dập
- Âm thanh của phố huyện được hiện lên qua tiếng trông thu không báo hiệu buổi chiều Tiếng trống cầm canh điểm nhịp trong đêm Tiếng ếch nhái kêu râm ran ngoài đồng Tiếng muỗi vo ve, tiếng cót két của chiếc chõng tre sắp
Trang 6khiến cho đàn quạ trên những cây gạo
bay toán loạn
gãy mà chị em Liên đang ngồi Tiếng cười khanh khách của bà cụ Thi điên Những âm thanh rất quen thuộc gợi lên một phố huyện yên bình
- Hình ảnh con người trong phố huyện
của Kim Lân là đám người đói khắp
nơi “lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên
xanh xám như những bóng ma và nằm
ngổn ngang khắp lều chợ Người chết
như ngả rạ…” Không một sáng nào mà
“không gặp ba bốn cái thây nằm còng
queo bên đường” Những con người
còn sống thì cũng được ví như những
bóng ma dật dờ đi lại
- Con người trong phố huyện của Thạch Lam khá ít ỏi Hai chị em Liên, gia đình nhà bác hát xẩm, bà cụ Thi điên, bác Siêu bán phở, hai mẹ con nhà chị Tý, vài anh lính canh đi tuần đêm
=> Phố huyện của Kim Lân lại hiện lên
ai oán với tiếng khóc và hình ảnh
những bóng ma dật dờ trong nạn đói
năm Ất Dậu 1945
=> Phố huyện của Thạch Lam mang đến nét bình yên và mộc mạc
* Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo
- Giá trị hiện thực:
+ Hai đứa trẻ phản ánh một cách chân thực cuộc sống lam lũ của những người lao động nghèo, những kiếp người tàn tạ chìm khuất trong bóng tối Đó là những mảnh đời nhỏ bé, bất hạnh Đó là hàng nước của mẹ con chị Tí, là gánh hàng phở Bác Siêu, là gia đình bác Xẩm nghèo và cả hai chị em Liên và An…Tất cả được tái hiện một cách tinh tế, sinh động dưới ngòi bút tài hoa của Thạch Lam
+ Bức tranh phố huyện nghèo trong tác phẩm đậm chất trữ tình Khác với bức tranh hiện thực khách quan trong trào lưu hiện thực, bức tranh đời sống trong “Hai đứa trẻ”được cảm nhận chủ yếu qua cảm xúc và tâm trạng của nhân vật Mặt khác, Thạch Lam viết về cuộc sống chủ yếu qua kí ức tuổi thơ của mình Trang đời đã hóa thành trang văn, do vậy màu sắc trữ tình có phần đậm nét hơn
=> Sự hòa quyện giữa yếu tố hiện thực và trữ tình là một đặc điểm nổi bật trong phong cách nghệ thuật Thạch Lam Điều đó đã tạo nên những trang văn vừa mang hơi thở cuộc sống, vừa giàu chất thơ cho “Hai đứa trẻ”
Trang 7- Giá trị nhân đạo:
+ “Hai đứa trẻ” miêu tả cuộc sống con người bằng niềm cảm thông, xót thương sâu sắc Miền đất và những mảnh đời bị quên lãng trong tù túng, tăm tối kia lại có sức gợi cảm sâu sắc
+ Nhà văn khẳng định, trân trọng sâu sắc trước những ước mơ, khát vọng nhỏ bé, bình dị nhưng hết sức chính đáng và đẹp đẽ Sống trong buồn tẻ, tăm tối, vô nghĩa nhưng con người vẫn hướng đến một cuộc sống tươi sáng Có người cho rằng: Liên đã nỗ lực vươn lên, bám vào chiếc phao để một mặt không bị chìm nghỉm, mặt khác để khuấy động ao đời tù túng, đơn điệu kia
+ Tác phẩm còn rung lên tiếng chuông cảnh tỉnh người đọc trước những mảnh đời bất hạnh dễ bị lãng quên, chìm lấp trong đói nghèo, tăm tối, vừa có sức lay gọi: hãy quan tâm đến họ, giúp họ thoát khỏi sự tù túng bế tắc
=> Tư tưởng nhân đạo của Thạch Lam có sự khác biệt với nhân đạo chủ nghĩa trong một số sáng tác của nhóm Tự lực văn đoàn lúc bấy giờ Tư tưởng nhân đạo của Thạch Lam có nhiều điểm tiến bộ, phù hợp với quá trình phát triển tư tưởng nhân đạo trong VHVN giai đoạn 1930-1945
* Phân tích tác phẩm 1 (t/gian và k/ gian)
1 Cảnh phố huyện lúc chiều tàn
+ Thời gian trong truyện: Buổi chiều tối
+ Không gian trong truyện: Phố huyện
+Ánh sáng trong truyện: Ngọn đèn dầu
- Mọi cuộc sống sinh hoạt diễn ra đều được cảm nhận qua con mắt của Liên Cuộc sống nơi đây đều gợi sự tàn tạ, hiu hắt:
+ Cảnh ngày tàn: Tiếng trống, phương đông đỏ rực, tiếng ếch nhái, tiếng muỗi vo ve bóng tối bắt đầu tràn ngập trong con mắt Liên
+ Cảnh chợ tàn: Mấy đứa trẻ nhặt nhạnh, mùi ẩm mốc quen thuộc, mùi riêng của quê hương Liên thương bọn trẻ và cảm nhận rõ ràng thời khắc của ngày tàn
Trang 8+ Cảnh kiếp người tàn tạ: Vợ chồng bác sẩm, gia đình chị Tý, bà cụ Thi điên, mấy đứa trẻ con nhà nghèo, bác Siêu, và chính cả hai chị em Liên Thân phận tàn tạ đang héo mòn, con người hoà lẫn cùng bóng tối như những cái bóng vật vờ lay lắt, mong manh đang trôi theo thời gian
- Cuộc sống ấy cứ đều đều, đơn điệu, lặp đi lặp lại buồn tẻ, nhàm chán đối với người dân phố huyện
- Tất cả họ đang mong đợi một cái gì đó tươi mát thổi vào cuộc đời họ
-> Nét vẽ âm thanh, ánh sáng, con người của bức tranh phố huyện tưởng chừng rời rạc, nhưng nó hoà quyện cộng hưởng trong hệ thống u buồn, trầm mặc, xót xa Điểm thêm vào cuộc sống ấy là ngọn đèn dầu cùng bóng tối bao phủ, càng ngợi
sự nghèo khổ lay lắt đến tội nghiệp
2 Cảnh phố huyện lúc đêm khuya
- Lặp hơn 20 lần trong tác phẩm
*Khung cảnh thiên nhiên và con người: ngập chìm trong bóng tối Đường phố và các ngõ chứa đầy bóng tối
-> Bóng tối bao trùm tất cả, tràn ngập trong tác phẩm, tạo nên một bức tranh u tối, một không gian tù đọng, gợi cảm giác ngột ngạt
- Bóng tối được miêu tả nhiều trạng thái khác nhau, có mặt suốt từ đầu đến cuối tác phẩm
-> Gợi cho người đọc thấy một kiếp sống bế tắc, quẩn quanh của người dân phố huyện nói riêng và nhân dân trước cách mạng tháng Tám nói chung
-> Đó là biểu tượng của những tâm trạng vô vọng, nỗi u hoài trong tâm thức của một kiếp người
* Nhịp sống của những người dân:
+ Tối đến mẹ con chị Tý dọn hàng nước
+ Đêm về bác phở Siêu xuất hiện
+ Trong bóng tối gia đình bác hát Sẩm kiếm ăn
+ Khi bóng tối tràn ngập là lúc bà cụ Thi điên đến mua rượu uống
+ Đêm nào Liên cũng ngồi lặng ngắm phố huyện và chờ tàu
Trang 9-> Lặp đi lặp lại đơn diệu, buồn tẻ với những động tác quen thuộc, những suy nghĩ mong đợi như mọi ngày Họ mong đợi “một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày”
* Tâm trạng của Liên :
- Nhớ lại những tháng ngày tươi đẹp ở Hà Nội
- Cảnh vật tuy buồn nhưng thân thuộc, gần gũi Liên và An lặng lẽ ngắm các vì sao, lặng lẽ quan sát những gì diễn ra ở phố huyện và xót xa cảm thông, chia sẻ với những kiếp người nhỏ nhoi sống lay lắt trong bóng tối của cơ cực đói nghèo,
tù đọng trong bóng tối của họ
-> Nỗi buồn cùng bóng tối đã tràn ngập trong đôi mắt Liên, nhưng trong tâm hồn
cô bé vẫn dành chỗ cho một mong ước, một sự đợi chờ trong đêm
3 Phố huyện lúc chuyến tàu đêm đi qua
- Hình ảnh con tàu lặp 10 lần trong tác phẩm
- Chuyến tàu đêm qua phố huyện là niềm vui duy nhất trong ngày của chị em Liên
+ Mang đến một thế giới khác: ánh sáng xa lạ, âm thanh nao nức, tiếng ồn ào của khách khác và đối lập với nhịp điệu buồn tẻ nơi phố huyện
+ Chuyến tàu ở Hà Nội về: trở đầy ký ức tuổi thơ của hai chị em Liên, mang theo một thứ ánh sáng duy nhất, như con thoi xuyên thủng màn đêm, dù chỉ trong chốc lát cũng đủ xua tan cái ánh sáng mờ ảo nơi phố huyện
- Việc chờ tàu trở thành một nhu cầu như cơm ăn nước uống hàng ngày của chị
em Liên Liên chờ tàu không phải vì mục đích tầm thường là đợi khách mua hàng
mà vì mục đích khác:
+ Được nhìn thấy những gì khác với cuộc đời mà hai chị em Liên đang sống + Con tàu mang đến một kỷ niệm, đánh thức hồi ức về kỷ nịêm mà chị em cô đã từng được sống
+ Giúp Liên nhìn thầy rõ hơn sự ngưng đọng tù túng của cuộc sống phủ đầy bóng tối hèn mọn, nghèo nàn của cuộc đời mình
Trang 10-> Liên là người giàu lòng thương yêu, hiếu thảo và đảm đang Cô là người duy nhất trong phố huyện biết ước mơ có ý thức về cuộc sống Cô mỏi mòn trong chờ đợi
* Phân tích tác phẩm 2 (Nhân vật)
1 Phố huyện nghèo và những người nghèo
- Phố huyện là một thị trấn nhỏ và nghèo Xung quanh là cánh đồng và xóm làng Gần bờ sông Có đường sắt chạy qua, có một ga tàu Chiều hè tiếng ếch nhái râm ran Đên xuống, phố vắng, tối im lìm Rất ít đèn
- Chợ chiều vãn Chỉ có vài đứa bé lang thang đi lại nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre… bóng chập chờn
- Chị Tí mò cua bắt tép, tối đến dọn hàng nước dưới gốc bàng; dọn hàng từ chập tối cho đến đêm “chả kiếm được bao nhiêu?” Thằng cu bé con chị Tí - xách điếu đóm và khiêng 2 cái ghế trên lưng ở trong ngõ đi ra trông thật tội nghiệp
- Bà cụ Thi hơi điên, cười khanh khách, ngửa cổ ra đàng sau, uống một hơi cạn sạch cút rượu, lảo đảo lần vào bóng tối
- Vợ chồng bác xẩm “tiếng đàn bầu bần bật”, thằng con bò ra đất…
- Bác phở Siêu gánh hành đi trong đêm, tiếng đòn gánh kĩu kịt, bóng bác mênh mang,… Phở của bác là món quà xa xỉ mà chị em Liên không bao giờ mua được
- Phố tối, đường ra sông tối, cái ngõ vào làng lại sẫm đen hơn Một vài ngọn đèn leo lét… Ngọn đèn con của chị Tí, bếp lửa của bác Siêu chiếu sáng một vùng đất cát, ngọn đèn của Liên từng hột sáng lọt qua phên nứa…
=> Tóm lại, phố nghèo, yên tĩnh và đầy bóng tối Con người phố huyện âm thầm, lạnh lẽo “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ? Cách viết nhẹ nhàng, đầy xót thương, thấm một nỗi buồn thấm thía Đó là tình cảm nhân đạo của Thạch Lam
2 Chị em Liên:
- Gia cảnh sa sút nghèo Cha mất việc Cả nhà bỏ Hà Nội về quê Mẹ làng hàng sáo Chị em Liên được mẹ cho trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu, phên nứa dán giấy nhật trình