1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Việt nam các dân tộc anh em người co phần 2

65 4 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Việt Nam - Các Dân Tộc Anh Em
Tác giả Nguyễn Vĩnh Bền, Bùi Cảnh Ba
Trường học Nhà Xuất Bản Trẻ
Chuyên ngành Dân Tộc Học
Thể loại Bộ Sách
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 5,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ sách gồm 48 tập, mỗi tập giới thiệu một cách giản lược từng dân tộc trên các miền đất nước, từ lịch sử tộc người, các hoợt động hính tế để mưu sinh, tập quán trong 0iệc dựng nhà, ăn,

Trang 2

NGƯỜI CO

NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

Trang 3

E-mail: nxbtre@hcm.vnn.vn

Website: http:/Awww.nxbtre.com.vn

Trang 4

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Việc tìm hiểu uăn hóa các dân tộc trên đất nước Việt Nam dang

lò nhu câu bức thiết của đông đảo bạn đọc, nhất là lớp trẻ Đề đáp ứng yêu cầu ấy, Nhà xuất bán Trẻ đứ nhờ nhóm tác giả, uốn là những nhà nghiên cứu uề Dân tộc học, cùng một số nhà nhiếp ảnh lâu nay chuyên ởi sâu uào hình dnh các dân tộc Việt Nam để tham gia thực hiện bộ sách: Việt Nam - các dân tộc anh em

Bộ sách gồm 48 tập, mỗi tập giới thiệu một cách giản lược từng dân tộc trên các miền đất nước, từ lịch sử tộc người, các hoợt động hính tế để mưu sinh, tập quán trong 0iệc dựng nhà, ăn, ở, mặc đấn những tập tục trong hôn nhân, sinh đẻ, ma chay uò những hoạt động tỉnh thần như lễ hội, cúng bói, uui chơi, ca hút Mỗi dan tộc đều di uào những uấn đề như nhau nhưng tộp trung nhiều hơn nhưng nét đặc sắc riêng của dân tộc đó Một số dân tộc quá

ít người, sẽ được gộp chung hơi hoặc ba dôn tộc trong một tap Tuy chưa thột đầy đủ, nhưng hy uọng tập sách sẽ giúp bạn đọc nắm được những nét chính yếu uề bản sắc uăn hóa riêng của từng dân tộc trên đất nước ta

Tuy nhiên, đây thực sự la một đề tòi khd Voi khd nang con hạn chế, chắc chắn bộ sách không khói còn những thiếu sót Nhà xuất bdn Trẻ rất mong được sự cộng tác uà góp ý của bạn đọc gân xa để bộ sách ngày càng hoàn thiện hơn

Nhà xudt ban Tré

Trang 5

`Ä2-, NGƯỜICO

LỜI MỞ ĐẦU

Đất nước Việt Nam ngày nay là một ddi bán đdo chạy dài theo

bờ cong khúc khuyu từ Bắc xuống Nam - uốn mình uen biến Đông Phía Tây va phía Bắc gôm những uùng biên giới uới núi non trùng diép; phia Déng va Tay Nam sóng uỗ quanh năm Ngay từ thiên

kỷ trước công nguyên, trước cỏ khi có nhà nước Văn Lang - Âu Lạc, uùng lứnh thổ này đđ lò nơi gặp gỡ giữa các luông di dân

từ Bắc xuống Nam, từ Táy sang Đông, từ lục dia ra hdi ddo va ngược lợi Vì ouậy mà nơi day dda diễn ra một sự giao thoa van

hóa ud tộc người rất phúc tạp Câu ca dao xưa của người Việt:

“Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khúc giống nhưng chung một giàn”

đđ soi tỏ đấu ấn uê sự giao thoa này trong buổi binh minh cua lịch sử

Và trên nên cảnh ấy, đất nước ta nay là nơi phân bố cúa gần

60 dân tộc anh em - bøo gồm trên 170 nhóm địa phương Tốt cd

có chung một cách mưu sinh là làm nông nghiệp trằng lúa uà chung một huyền thoại uê “Qud bầu mẹ” hay “Bọc trăm trúng” Các dân tộc ở đây đều nằm trong 7 nhóm ngôn ngữ thuộc ngứ hệ: Nam Á,

Nam Deo, Tang - Mién, Hoa v.v tao nén bic tranh uăn hóa đa

sốc

Có số dân đông nhất, trên 68 triệu người là nhóm ngôn ng Việt - Mường, bao gôm những cộng đông: Kinh, Mường, Thổ, Chit Đồng bào không chỉ sinh sống ở các miên châu thổ dài, rộng, phì nhiêu, suốt từ Bắc chí Nam theo bờ cong của lục địa mà còn lan

cd dén tận những miền chân núi

Trang 6

Người Kinh tập trung hơn ở châu thổ Bắc Bộ, châu thổ Thanh

- Nghệ, các tam giác châu uen biến miễn Trung dàng dặc va ca đồng bằng sông Cưu Long bao la Họ là cư dân đđ từng dùng cày - cuốc để đi mở nước Một bộ phận khai thúc hdi sản trong lộng - ngoài khơi

Người Mường sống tập trung ở miễn núi Hòa Bình, một bộ phận

6 ving trung du Phu Tho va mién Tay xứ Thanh Người Thố tập trung ở miên Tây Nghệ An; còn người Chút thì phân bố ở miễn núi tỉnh Qudng Bình Vào những thập niên giữa thế ky XX vita qua, nhóm người Rục - một bộ phôn trong tộc người Chứt - còn lay hang déng hay mdi dd lam nơi cư trú để mưu sinh bằng săn bắt, bái lượm búng bángU', dùng uỏ sui - uỏ côây rừng - đế làm đô

người Mdng; xen cư uới người Thúi ở Sơn La, Lai Châu, Điện Biên

uà miền Tây Nghệ An như người Kho-mu, người Khúdng, người Xinh-mun, O-du; réi men theo dọc ddi Trường Sơn như các tộc Bru-Vân Kiều, Cơ-tu, Tù-ôi, Co, Hrê; tỏa khắp các cao nguyên miễn

Tay như các tộc Gié-Triêng, Ba-na, Xơ-đăng, Bráu, Rơ-măm; ởi

dê phía Nam tiếp đó là các tộc Mnông, Mạ, Co-ho; cho đến tận miền châu thổ sông Cửu Long như người Khơ-me uò cả miễn núi

thếp ở Đông Nam Bộ như các tộc XtHiêng, Chơ-ro Nhịn trên toản cục, các tộc người nói ngôn ngứ Môn - Khơ me là hiện thân - hậu

duệ của một cộng đồng ngôn ngứ - uăn hóa uốn cư tụ ở miễn rừng phía Táy uà Táy Nam của cả 0uùòng lãnh thố Việt Nam ngày nay Văn hóa cổ truyền của các tộc người trong nhóm ngôn ngứ Môn

- Kho me da hợp thành nền tảng uà lá một nguồn cội cua van

hóa Việt Nam

Cóc cư dân thuộc ngữ hệ Nam do, nhém Malayé - Pélynédi (nay gọi là Melayu) gôm có 5 tộc, đó là Gia-rai, E-dé, Chim, Ra- 8lai uù Chu-ru; tổng dân số có gần 833 ngàn người Họ quần tụ

1 Tên một loại cây rừng mà người Rục khai thác lấy bột để nấu ăn (như bảnh đúc, cháo đặc)

Họ dựa vào việc khai thác cây này để sống khi chưa sản xuất được lương thực.

Trang 7

thành một dải suốt từ bờ biển Nam Trung Bộ - uùng Ninh - Bình Thuận (Phan Rang - Phan Thiết) rôi tỏa lên các cao nguyên mênh mông thuộc mién Tay Trung Bộ như cao nguyên Lâm Đồng, cao nguyên Dak Lék vd cao nguyén Plei Ku Địa bàn phân bố dân cu

ấy chia cốt uùng cư trú của các tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me ra làm 2, để phía Bắc, người Gia-rai tiếp xúc uới người Xoơ-đăng uà phía Tây Nam, người Ê-đê kế cận uới người Mnông Mặc dù đa trdi qua nhiêu biến thiên của lịch sử, nhưng búc tranh phân bố đân cư hiện nay của các tộc người trong nhóm ngôn ngữ Nam Đdo đứ để lại dấu uết chưa mấy phai mờ uê những cuộc

thiên di tự mấy ngàn năm trước - ti ving bién Thdi Binh Duong

uòo bán đdo rồi tiến lên miễn nội địa của cao nguyên đốt đỏ Các tộc người Nam Đdo cho đến nay đêu tổ chúc gia đình theo mẫu

hệ Vào thế kỳ IÏ sau công nguyên, các tộc ở ven bién Nam Trung

Bộ đa tổ chúc thònh uương quốc Chăm Pa, tọa lạc giữa quốc gia Đại Việt uê phía Bắc uà quốc gia Chan Lap vé phia Nam

Nhóm ngôn ngữ Thái - Ka đaưi gồm có 12 tộc uới tổng số gần õ triệu người Các cộng đông này sinh sống chủ yếu ở các tính miễn núi phía Bắc nhưng đá sớm hình thành hai uùng Uăn hóa với một số sắc thái riêng Vùng Đông Bắc - Bắc Bộ với các tộc người

chủ yéu la Tay, Nang, Cao Lan - Sdn Chi, Gidy, B& Y, La Chi,

Cờ Lao, Pu Péo Còn ở uùng Tây Bắc - sự phân bố dân cư tràn cỏ xuống miền Tây Thanh - Nghệ uù chủ yếu có người Thái, Lào,

Lu, La Ha

Nét uăn hóa ở uùng Đông Bắc có sự dnh hưởng thường xuyên hơn uới uăn hóa miễn Hoa Nam - do cận cư với ouành đai biên giới Viét - Trung, Con 6 vung Téy Bac, uới biên giới phía Túy - từ A

Pa Chải - Lai Châu đến thung lửng sông Cd ở Nghệ An - lại tao nên sự giao lưu uăn hóa uới các tộc người ở Đông Bắc Lào

` Ngay từ nhiều thế kỷ trước công nguyên, các tộc người nói ngôn ngu Tay - Thdi cé dd séng can cư uới người Việt - Mường cổ uù sớm tham gia uào quá trình hình thành nhà nước Văn Lang - Âu

Lac - nhà nước đầu tiên ở Đông Nam Á

Cộng đông ngôn ngữ Tạng - Miến trong lịch sử gọi là Thoán, uốn là những cư dân du mục ở uùng Trung Á, sau thiên di uào cao nguyên Táy Tạng rôi chuyển cư dần xuống miễn Hoa Nam.

Trang 8

Vào thế kỷ thứ VII sau công nguyên, họ đđ từng lập ra nhà nước

Nam Chiếu ở Vân Nam, đến thế kỷ X, nhà nước này mới bị thay

thế bởi nước Đại Lý của người Bạch, bộ phận đầu tiên nhập cư uào miền Tóy Bắc từ đầu công nguyên, roi vdo cao nguyên Đồng

Van - Ha Giang tu thé ky XV Da số các dòng họ hiện hứu mới

di cu 0uào Việt Nam từ 300 - 150 năm nay Trong các bộ trang phục của nữ giới, thủ phúp trung trí bằng kỹ thuật chắp udi màu theo những hình hình học ad lưu giữ được nét truyền thống uăn hóa của những cộng đông uốn là cư dân dụ mục

Nhóm ngôn ngữ Hoa - Hán gồm có 3 tộc la Hoa, Ngdi va Sdn Dìu uới tổng số dán gần một triệu người Bộ phận lớn cư trú ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ, đặc biệt là thành phố Hà Chí Minh Một bộ phán khúc cư trú thành từng nhóm nhỏ ớ các tỉnh trung

dụ uà miễn múi uàng Đông Bắc - Bắc Bộ Nhưng tập trung đáng

hể là uàng biến Quảng Ninh va Hdi Phòng

Nhóm ngôn ngữ Hún đến cộng cư ở Việt Nam từ nhiều xứ sở: Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông, Quảng Táy, Hải Nam trong nhiều giai đoạn khác nhau của lịch sử Một bộ phận sinh sống ở nông thôn, làm nông nghiệp uà phát triển chăn nuôi Bộ phận

khác quần cư thành từng phường hội tại các đô thị để kinh doanh

công - thương nghiệp uà làm dịch 0uụ Lại có một bộ phận sống ở ben biển, làm chùi lưới Văn hóa của họ có nhiêu dnh hưởng đến các tộc láng giêng

Nhóm ngôn ngữ Hmâng - Dao có 3 tộc là Hmông, Dao va Pa Thén, dan số chung có gần 1 triệu 150 ngàn người Địa bàn phân

bố của họ là uùng núi cao uà uùng trước núi các tỉnh miền Đông Bắc ua Táy Bắc - Bắc Bộ Nơi tập trung là uành đai biên giới cực Bắc; vé phía Đông đến tỉnh Quảng Ninh; oê phía Tây từ Đông Bắc tỉnh Lai Châu, Điện Biên, qua Sơn La, Thanh Hóa đến tận miền Tây Nghệ An

Trong khi các nhóm Hmông mưu sống trên những đính núi ving cao biên giới ở cao độ hàng ngàn mét thì các nhóm người Dao lại khai thúc uùng lung chung nui - & cao dé khoảng 600 mát, nên

bê phía Nam địa bàn phán bố của người Dơo còn 0ươn tới cả những

1 Tức thung lũng Đây là thuật ngữ mà giới địa lý, lịch sử, dân tộc học thường dùng.

Trang 9

miễn bân sơn địa thuộc câc tính Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang,

Có một truyền thuyết bể rằng: từ thuở hồng houng, cha Lạc (Long

Quan) va me Au (Au Co) sinh ra boc tram trúng, nở thằnh trăm

người con Rồi sau đó 50 người con theo mẹ lín núi, 50 người theo cha xuống biển để mưu sinh

Đất nước Việt Nam tự buối khai nguyín uốn đđ gồm cả hai miễn dia ly ấy Nếu nhìn rộng ra tới những tộc người cư trú theo doc dạy Trường Sơn, nhất lă câc tộc người nói ngôn ngữ Môn - Khơ

me vad ngôn ngữ Nam Đdo, nhóm Malayô - Pôiynídi trín mấy cao nguyín miền Trung, mă phđn Đông uẫn còn giữ truyền thống mẫu

hĩ, dd cho thay cdi di dnh của “ð0 người con theo mẹ lín núi” Trai lại, ở câc uùng chđu thố, những đồng bằng hẹp uen biến, nơi sinh sống của đa số đông băo Kinh va những cư dđn thuộc uăng Đông Bắc - Bắc Bộ, nơi hiện diện chế độ gia đình phụ hệ, lại gợi cho thấy câi bóng ddng cua “ð0 người con theo cha xuống biến” Cho đến, nay, chỉ nói riíng trong nhóm ngôn ngữ Việt - Mường cũng đđ thấy sự phđn bố dđn cư của câc nhóm tộc người như một

“định phận” tù trong truyĩn thuyết uă từ thuở câc uua Hùng dựng nước

Sự cộng cư trín cùng một lânh thổ đđ lăm cho câc tộc người ở

Việt Nam chung một số phận lịch sử uă đa đưa đến nhiíu điều biện thuận lợi trong giao lưu oăn hóa thường xuyín Câc tộc người

ở Việt Nam sớm biết cố kết thănh một khối tính thđn đủ mạnh

dĩ bdo uệ độc lập - tu do, bdo vĩ tdi sản uă hạnh phúc, giữ gìn bản sắc riíng lă những tỉnh hoa uăn hóa của mỗi tộc người đa chung đúc thănh truyền thống uă hương sắc của quốc gia - dđn

tộc Việt Nam

Hă Nội, mùa xuđn năm 2003

CHU THAI SON

10

Trang 10

LICH SỬ TỘC NGƯỜI

gười Co là một trong những dân tộc cư trú lâu đời trên khu

ực Trường Sơn - Tây Nguyên của nước ta Theo kết quả của

cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 1999, dân tộc này có

27.766 người, với 14.239 nam và 13.527 nữ, cư trú tập trung tại

hai tỉnh Quảng Ngãi và Quảng Nam Tại Quảng Ngãi, người Co

có 22.760 nhân khẩu, sinh sống tại hầu hết các xã huyện Trà

Núi Cà Đam 1.600m là địa bàn cư trủ của người Co ở Quảng Ngãi Ảnh: Cao Chư

Trang 11

NGƯỜI CÓ

Nủi Răng Cưa, sông Trả Bồng (Quảng Ngãi), địa bản cư trủ của người Co “đường nước”

Ảnh: Cao Chư

Béng và một vài xã thôn thuộc huyện Sơn Hà Tại tỉnh Quảng,

Nam, người Co với 4.607 nhân khẩu, sống tập trung tại huyện

Trả My Số người Co còn lại (399 người) cư trú rải rác tại các

tỉnh xung quanh, như: Kon Tum, Gia Lai, Dak Lak, Da Nẵng,

Thừa Thiên - Huế

Trong lịch sử tổn tại và phát triển của dân tộc, người Co mang

nhiều tên gọi phiếm xưng khác nhau, như: Của, Khủa, Của, Trầu,

Béng Miêu, Mọi Trà Bỏng, Thanh Bềng, La Thu Những người

Co cư trú ở Trà Bỏng (Quảng Ngãi) tự nhận mình là Cor; số ở Trà My (Quảng Nam) lại tự coi mình là Col Từ năm 1979, khi Nhà nước ta công bố Danh mục chính thức Các thánh phần dân

tộc ở Việt Nam, tên Co đã được đồng bào công nhận và trở thành

tên gọi phổ biến

Trước đây, có một thời gian người Co được cho là nhóm địa phương của dân tộc Xơ-đăng hay một nhánh của người Cùa Tuy

nhiên, ngay từ trước năm 1979, họ cũng đã được một số nhà khoa học coi là một dân tộc độc lập Người Co có ý thức tự giác

dân tộc khá cao Số đông cho rằng họ là con cháu của cư dân

mấy làng bị trôi ra biển mà thành Vũng đất củ lao bị trôi ra

Trang 12

LICH SU TOC NGƯỜI °”

biển đó nay là đảo Lý Sơn Chính vì vậy, đa số người Co vẫn

cho quê hương gốc của họ là ở hòn đảo nằm ngoài khơi tỉnh Quảng

Ngãi này Mặc dù, cho đến nay vẫn chưa có cứ liệu khoa học

nào chứng minh điều đó là xác thực

Những nét gần gũi giữa người Co với người Hrê và cư dân các

nhóm Hà-lăng, Ca-dong thuộc dân tộc Xơ-đăng đã được nhiễu

người chú ý tới và nhấn mạnh trước hết là về mặt ngôn ngữ

Tiếng Co ham chứa một số yếu tố tương đồng với các ngôn ngữ

Ba-na, Hrê, Xơ-đăng, Gié-Triêng, cùng các ngôn ngữ này hợp thành

nhóm ngôn ngữ Ba-na Bắc, trong đông ngôn ngữ Môn - Khơ me,

thuộc ngữ hệ Nam A Ngay từ thời kỳ đầu của cuộc chiến tranh

chống thực dân Pháp, nhiều lớp người Co đã tích cực học tiếng

phổ thông nên hiện nay, đa số đồng bào có thể sử dụng tốt ngôn

ngữ này bên cạnh tiếng mẹ đẻ của dân tộc mình Quá trình tiếp

xúc, giao lưu văn hóa từ xa xưa trong lịch sử và nhất là trong

giai đoạn hiện nay, đã tạo ra trong cộng đồng dân tộc Co nhiều

người biết nói tiếng Hrê và một số ngôn ngữ khác trong vùng

Làng người Co ở xã Trà Quân, huyện Trả Bồng, Quảng Ngãi nơi cách mắt nước biển gần

900m Ảnh: Báo TGPN

13

Trang 13

# Ego sống tập trung trên sườn phía đông của đãy Trường Son,

địa bàn rừng núi hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn nên ở người

Co, trong xã hội truyền thống, việc trồng trọt từ các loại cây lương

thực, cây rau xanh, cây ăn quả đến cây đặc sản chủ yếu được

tiến hành trên rẫy

Cũng như các khu vực khác trên phân Đông Trường Sơn, địa

bàn cư trú của người Co có độ đốc khá lớn, địa hình khá phức

tạp, đất bị xói mòn nhanh theo những trận mưa mùa đử dội nên

mỗi đảm rẫy (diek) của họ thường chỉ gieo trồng trong một vụ

đã phái bỏ hoá một vài năm cho rừng cây tái sinh Ở đây hầu

như không còn rẫy phát trên những cánh rừng già Đồng bào

chủ yếu quay vòng canh tác rẫy trên những diện tích rừng đã

được khai thác từ lâu Loại rẫy định canh (apoh hlai) không nhiều

Trang 14

Cô gái Co ở Trà Bồng đeo gùi,

cắm rựa lên tẫy Ảnh: Tấn Vịnh

cho rừng cây mọc lại

Người Co thường dùng

những mảnh đất này

để trồng ngô, sắn, thuốc

lá hay các loại cây ăn

quả, cây lâu năm

Kỹ thuật làm rẫy của

người Co tương tự như

các cư dân khác ở khu

vực Trường Sơn - Tây

Nguyên, với các khâu

cơ bản từ phát, đốt tới

chọc, trỉa, chăm sóc và

thu hoạch Bộ công cụ

làm rấy của đồng bào

gồm có rìu (xuôk), rựa

hay dao phat (wuk), gay

chọc lỗ (gay da mul}, cái

nạo cỏ (knor) Cây gậy

chọc lễ là một thân gỗ

vừa tắm một tay nắm, dài khoảng 1,5 m, nặng, chắc, một đầu được đẽo, mài nhọn và đốt qua lửa để tăng độ cứng Qua thời gian sử dụng, khi đầu gậy bị cùn hoặc xước có thể đẽo lại để dùng tiếp Thời gian gần đây, trong trường hợp không tìm được

thân cây dài, gỗ tốt, đồng bào dùng một đoạn gỗ theo đúng yêu

cầu về sức bền và độ cứng, đài chừng 0,15 - 0,20 m, để làm mũi gây Đoạn mũi gỗ này sẽ được ghép với một khúc tre hoặc nứa đài làm cán Sau khi gieo trỉa xong, đoạn cán được giữ lại cho các vụ sau, còn phần mũi gỗ nếu củn được bỏ đi

Chính vì vậy, trên phần cán bằng tre, nứa của một số cây gậy

chọc lỗ được cư đân nơi đây tạo khá nhiều hoa văn trang trí bằng

kỹ thuật khắc chìm

15

Trang 15

NGƯỜI CŨ

Khúc cây khoét ruột rồi cho than vào đối để tạo thành chiếc cối giã gạo Ảnh: Cao Chư

Sau khi đã lựa chọn được đất cho vụ rẫy mới, công việc đầu

tiên người Co phải tiến hành là phát cỏ, chặt dây leo và cây cối

nhỏ mọc trên đó, ỉt ngày sau mới chặt cây lớn Khi cỏ, cây trên

rẫy được chặt và phát đã khô, người ta chọn một buổi trưa nắng

gắt để đốt rẫy, Nếu sau một lần đốt mà rẫy chưa cháy hết thì

họ dọn những khúc cây chưa cháy hết rỗi đốt lại Ray da duoc

phát đốt xong, người ta chỉ việc chờ cho đến khi trời sắp có mưa

thì mới tiến hành gieo trỉa Thóc giống để gieo trỉa, được đựng

trong những ống nứa có đường kính chừng 4cm, dài khoảng 75cm,

một đầu có khắc hoa văn trang trí Việc chăm sóc và làm cỏ rẫy

được tiến hành hai lần trong một vụ Khi thu hoạch lúa rẫy, người

Co dùng tay tuốt lấy lúa bỏ vào một cái giỏ đan gọi là achó đeo

ở trước bụng, khi thóc đẩy giỏ thì đổ vào gùi (ates hay ta nang)

rồi cõng về chứa vào kho lúa của gia đình, dựng gần nhà Với

phương pháp đa canh và xen canh, rẫy của người Co đã đem

lại nhiều loại nông phẩm, đáp ứng phần lớn nhu cầu thiết yếu

hàng ngày, từ lương thực, rau xanh, gia vị, hoa quả đến thuốc

hút và thuốc chữa bệnh

16

Trang 16

Sản phẩm thu được từ hoạt động canh tác rẫy của người Co

đầu tiên và quan trọng nhất phải kế đến lúa Trong xã hội truyển thống, đồng bào đã gieo trỉa khá nhiều giếng lúa khác nhau như:

ba ul, ba nhe, ba xanỏl, ba brak, ba lấp, ba babol, ba chíiok nhét, ba

nao Giống ba kabol gạo trắng, hạt tròn; giếng ba xandl gạo trắng, hạt đài, cơm đẻo Đây là hai giống lúa sớm, ngắn ngày, được

trồng để chống đói lúc giáp hạt Hai giống lúa này đòi hỏi phải được gieo trỉa trên những diện tích rẫy có đất tốt, lại thường cho năng suất không cao và dễ bị thất thu nếu gặp nắng hạn Do vậy, chúng không được người Co trồng nhiều Ba ¡Ï cũng ít được phát triển vì gạo không nở và cơm không ngon Ba bräk tuy là

giống lúa chính muôn nhất nhưng năng suất cao hơn cả, gạo

đỏ, hạt to, ngon cơm nên được gieo trỉa nhiễu nhất Ba nhé hạt

dài, gạo trắng, cơm dẻo (người Việt trong vùng gọi là lúa nhe)

Ba láp gạo đỏ; ba chiok nhet là giống lúa nếp, gạo đỏ dùng làm

bánh cúng trong những địp lễ tết; ba nao gạo trắng củng là một giống lúa thường được người Co trồng nhiễu, trồng chính

trên các mảnh rẫy

Phơi bắp giống Ảnh: Cao Chư.

Trang 17

~ NGUOILCO

Về thời gian gieo trỉa, trừ hai giống bz kabol và ba xanól được trồng vào cuối tháng 5 dương lịch, thu hoạch vào khoảng tháng

8, tháng 9; ba brấk trồng vào tháng 6, chín vào tháng 11-12 Các giống lúa còn lại đều được trồng tập trung vào tháng 6, thu hoạch khoảng tháng 11 Vé cơ bản có thể tổng kết lịch trồng lúa trên rẫy của người Co như sau: thời gian tìm và chọn rẫy: tháng 12

đương lịch hàng năm, lịch người Co gọi là xiếc cấm; phát rẫy: thang 1 (xiéc mui); d6t ray: thang 3 (xiếc pé); gieo trỉa lúa: tháng

4 (xiếc gót); làm cỏ lúa lần dau: thang 5 (xiéc poddp); lam cỏ lúa

lần thứ hai: tháng 7, tháng 8 (xiếc pơ, xiếc thơm); thu hoạch lúa

sớm: tháng 8 (xiếc thơm); thu hoạch lúa muộn: tháng 9, tháng

10 (xiếc xíp, xiếc kul)

Trong nhóm cây lương thực được gieo trồng trên rẫy của người

Co, sau lúa phải kế đến ngô (bắp) và sắn (củ mì) Ngô thường

được gieo cùng lúa muộn, trừ giống ngô sớm x4 nói được trồng vào tháng 4 và tháng 12 Thứ ngô này hạt đỏ, chỉ hai tháng rưỡi

đã được thu hoạch Đây là một nguồn lương thực cứu đói quan trọng khi giáp hạt, nhưng nó cần loại đất màu mỡ hơn Ở đây còn có giống ngô lở hạt đó, được trồng nhiều nhất, mỗi vụ kéo đài trong 4 tháng Ngô kó là giống nếp, hạt trắng, dẻo, thường trồng vào tháng giêng, thu hoạch vào cuối tháng 4 Vụ sau trồng

vào tháng 5, thu hoạch vào tháng 8

Vùng cư trú của người Co còn nổi tiếng với các giống cau, trầu không và quế Trầu không và cau ở đây vừa nhiều, vừa ngon,

là một mặt hàng quen thuộc được khách miễn xuôi ưa thích Chính

vì thế cho nên người Co còn được gọi là Người Trầu hay Mọi

Trâu Trầu không đã góp phần tăng cường giao lưu, trao đổi hàng hóa giữa cư dân dưới đồng bằng và cư dân trên miền núi, giữa

người Co với các đân tộc anh em khác, đặc biệt là người Việt

Quế Quảng là đặc sản nổi tiếng của người Co ở Trà Bồng (Quảng

Ngãi) và Trà My (Quảng Nam) Quế ở đây có 3 loại: quế rừng

(cinnamomum iners reinw) còn được gọi là quế trời, mọc tự nhiên

trong rừng, trong núi, đặc biệt quý nhưng ngày càng hiếm; quế thanh (cinamomum loureirii ness) hay quế đắng, quế bùi được

cư dân trồng nhiều; quế chành rành (cinnamomum burmannii

ness Bl) hay quế trèn trèn, tuy vỏ không tốt bằng hai loại trên

18

Trang 18

HOAT BONG KINH TE # yp

không gieo trỉa, chiết

Ñ cảnh hay tải sinh chổi như nhiều nơi

trồng quế khác Quả

trình ươm quế giống rất công phu, đòi hỏi

kỹ thuật cao và cũng rất vất vả Họ phải chọn những nơi đất

: tốt, có độ ẩm cao Sau

tiếng trên thế giới Lư đất được cuốc lên

cũng là dụng cụ làm

cỏ (knor), Hạ dùng tay bóp cho đất nhỏ tơi rồi vụn thành luống,

cao từ 0,18 - 0,20 m Quả quế được lấy về, đem ngâm trong nước

lạnh khoảng nửa tháng rồi dùng tay bóp loại bỏ hết vỏ, giữ lại

hạt Hạt quế có thể được gieo thưa đêu trên khắp mặt luống rỗi

rắc một lớp đất mỏng lên trên hoặc dùng ngón tay hay những

chiếc que nhỏ chọc xuống rồi lấp đất lại Khoảng cách giữa các

lỗ vào khoảng 2,5 x 2,5cm Sau khi gieo trỉa xong, người ta dùng

lá hoặc rạ mục rải lên trên che kín mặt luống Xung quanh khu

đất gieo quế giống phải được rào kỹ, phía trên gác tre, nứa làm

giàn rồi che kín bằng rạ hoặc cỏ cây để tránh mưa, nắng nhưng

vẫn phải đảm bảo độ thoáng mát, thông gió Sau đó, phải thường

xuyên nhổ bỏ hết cỏ trên miếng đất và chăm sóc cho quế con

bằng cách tưới nước và xới đất, nhổ cỏ

Quả quế giống thường được lấy vào tháng 12 hàng năm Khoảng

10 -12 tháng sau, khi quế con cao chừng 15- 20cm, người ta bắt

đầu nhổ quế đem trồng Ngày nay, thởi gian ươm quế giống đã

19

Trang 19

- NGƯỜI CŨ

được rút ngắn dẫn, có thể chỉ còn từ 8 - 9 tháng, thậm chí, một

vài gia đỉnh nhổ quế con đi trồng chỉ 20 -30 ngày sau khi gieo

Đất trồng quế thường là loại đất có khả năng giữ ẩm, ít lẫn sói

da, do mau day, gọi là brí hất Quế thường được trồng vào cuối

năm, khi vùng đất này có mưa nhiều Người ta có thể dùng luôn

cây gây chọc lễ gieo trỉa lúa để chọc lỗ trồng quế hoặc tạo một cây gậy khác dài khoảng 1,0 m dành riêng cho việc chọc lỗ trồng

quế Khoảng cách giữa các lỗ trồng quế thường ở mức 0,60 m x

0,60 m Khi quế giống đã trồng được khoảng 2 tháng, họ dùng

knor làm cỏ cho quế lần đầu; hai tháng sau làm cỏ lần hai và chừng

7 -8 tháng sau khi trồng, làm cỏ lần 3 Sau đó cứ một năm họ làm cỏ quế hai lần cho đến khi thu hoạch Ngoài làm cỏ quế, còn

phải quan tâm đặc biệt đến việc phòng chống sâu bệnh

Thưởng trên 10 năm, nhiều khi đến 15 hoặc 20 năm sau khi

trồng mới có thể thu hoạch vỏ quế Do phải trèo cao và chặt hạ cây, đây là một công việc khá vất vả và còn có phần nguy hiểm

nên chủ yếu được dành cho đàn ông Người ta dùng một thanh tre làm thước đo từ gốc cây quế trở lên (lứ đớp guế) Thước thường

có 2 mức dài ngắn khác nhau dùng cho loại quế tốt và quế xấu

Đo đến đâu, lại lấy một con dao chuyên dùng trong việc thu hoạch

Trang 20

HOAT ĐỘNG KINH TẾ :' “

qué làm bằng nhíp xe ô tô (siz nhíp) tiện quanh thân cây cắt đứt

vỏ quế tại điểm đầu thước thành từng đoạn ngắn, bằng nhau

cả trên thân và cành cây, bằng chiều dài của thước Sau khi dùng

đao cắt xong, lại dùng một dụng cụ có múi nhọn gọi là siô, được

làm bằng xương sườn trâu hay miếng sừng mỏng hoặc một thanh

tre cứng để rạch và tách lớp vỏ quế ra khỏi thân cây Khi phần

vỏ ở gốc quế đến điểm cao quá tầm tay với đã được tách hết, người ta dùng dao chat cho cay đổ xuống để tách nốt vỏ quế ở phan than và cành phía trên

Để quế thành phẩm có chất lượng cao, việc phơi vỏ quế cũng khá cầu kỳ, đòi hỏi nhiều công sức Đồng bào Co thường đem

vỏ quế hong trong bóng râm rồi ủ và phơi úp dưới nắng nhạt Khi vỏ quế đã khô, họ bó lại thành từng bó rồi bọc phía ngoài

bằng cỏ tranh hay lá chuối khô Đôi khi người ta lại cất quế vào

trong gùi Riêng quế rừng thu hoạch về được bảo quản cẩn thận

hơn bởi giá trị vượt trội của nó Người ta thường để quế rừng

thu hái được trong những chiếc ché lớn có nắp đậy kín Ngay

loại quế trồng, sau khi thu hoạch cũng được phân thành nhiều loại khác nhau Loại có chất lượng cao nhất là quế kẹp hay quế

chồng Đây là những đoạn quế vừa dây vừa to bản, sau khi tách

khỏi thân cây người ta dùng những thanh tre để kẹp và căng

vỏ quế ra rồi mới đem phơi Loại thứ hai là quế nách được lấy ở

chỗ chạc cây, chạc cành Thứ 3 là loại quế chát được lột ở phan

gốc cây, chất lượng kém hơn Cuối cùng là quế thảo, quế chỉ giá

rẻ vì không tốt và không công hiệu bằng các loại trên Thanh

quế loại này vừa mồng, vừa nhỏ lại giòn, được lột ở phần ngọn

và cành cây

Trong điều kiện rẫy không cung cấp một cách ổn định lương thực cho nhu cầu của người dân, đồng thời lại thiếu những nghề phụ có thể góp phần nuôi sống con người, thì cây quế có vai trò kinh tế rất quan trọng đối với đồng bào Co Những nơi không

có điều kiện phát triển nghề trồng lúa rẫy, cây quế trở thành nguồn kính tế quan trọng của nhân dân Những nơi có điều kiện phát triển cây lương thực, cây quế vẫn có ý nghĩa nổi bật về kính

tế Nhờ bán quế mà đồng bào có thể mua sắm được trâu, ché,

công cụ lao động bằng sắt, quần áo, muối mắm và một phần

21

Trang 21

NGƯỜI CƠ

Phụ nữ Co giã gạo bằng cối gỗ truyền thống Ảnh: Cao Chư

đáng kể gạo ăn Vào thời điểm năm 1997, toàn huyện Trà Bổng

có tới 3.000 ha quế, chủ yếu là của người Co

Mặc dù cư trú cạnh người Hrê và người Việt, những dân tộc

có truyền thống làm lứa nước, nhưng người Co trước kia hoàn

toan không có hoạt động trồng trọt trên ruộng Ngày nay, trong

quá trình định canh, định cư, nhiều làng Co hình thành ở các

khu vực thấp, địa hình bằng phẳng, gần sông suối nên đã xuất

hiện các thửa ruộng trồng lúa nước tại khu vực cư trú của đồng bào Ở một số buôn làng người Co hiện nay, việc trồng lứa nước

đã trở thành quen thuộc nhưng điện tích bình quân đầu người còn thấp, năng suất chưa cao nên phương thức hoạt động kinh

tế này chưa có vai trò quan trọng trong toàn bộ đời sống vật

chất của người dân Năm 1996, 2.056 nhân khẩu của xã Trà Thuỷ, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi chỉ có gần 50 ha ruộng nước làm cho bình quân mỗi nhân khẩu ở đây chỉ được cấy trồng trên 0,65 sào Bắc Bộ, tương đương với khoảng 240 m' Diễu đặc biệt

là toàn bộ kỹ thuật canh tác ruộng nước của cư đân nơi đây đã

được học tập từ kỹ thuật canh tác lúa nước của người Hrê và người Việt,

22

Trang 22

HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

CHAN NUOI GIA SUC, GIA CAM

Đàn vật nuôi trong các gia đình Co từ xưa đến nay vẫn chỉ là

các con vật thân quen, như: trâu, lợn, chó, gà Ngày nay, ở một

số nơi, thay vì nuôi trâu người Co đã bắt đầu nuôi bò Vào đầu

năm 1996, riêng xã Trà Thuỷ, huyện Trà Bỏng, tỉnh Quảng Ngãi,

có tất cả 433 con bò được nuôi trên tổng số 404 hộ Trong khi

đó, số trâu được nuôi ở đây chỉ còn có ó con Các loại gia súc,

gia cầm của đồng bào vẫn chủ yếu được chăn nuôi theo kiểu thả rông, mặc dù họ đã chú ý hơn đến việc cho chúng ăn thêm

một hoặc hai bữa trong ngày, nhất là với lợn và gà Một số gia

đình cũng đã chú ý đến việc làm chuông trại nuôi nhốt gia súc, gia cầm Tuy nhiên, vẫn như trước đây, các loại gia súc - gia cằm

mà người dân nuôi vẫn chủ yếu được sử dụng cho các nghỉ lễ

cúng tế thần linh hoặc để bán lấy tiền mua sắm các đồ dùng

trong gia đình, ít khi chúng được sử dụng để nâng cao chất lượng cho bữa ăn hàng ngày Một số gia đình đã biết làm ao dé nuôi

NGHE PHU GIA ĐÌNH

Ở người Co, nghề đệt, nghề rèn và nghề làm đồ gốm đều không phát triển Các đồ dùng thiết yếu trong gia đình có nguồn gốc

từ các nghề thủ công này đều được đồng bào mua hoặc đổi của các đân tộc khác quanh vùng: đồ gốm của người Giẻ và người

Việt; đồ đệt của người Việt, người Gia-rai và người Xơ-đăng; đỗ rèn của người Xơ-đăng, người Việt

Trong số các nghề phụ gia đình, chỉ có nghề đan là khá phát triển Các kỹ năng, kỹ thuật trong quá trình hoàn thiện sản phẩm,

từ cách chọn vật liệu và chọn thời điểm chặt hạ khai thác đến

kỹ thuật làm nan, kỹ thuật đan cải hoa văn đều được thế hệ

trước truyền lại một cách cụ thể, tỉ mỷ cho thế hệ sau qua phương

pháp truyền nghề trực tiếp Chính vì vậy, ở các buôn làng người

Co, cả đàn ông, đàn bà, người già lẫn trê em đều thông thạo

việc đan lát và đều có khả năng tạo nên những sản phẩm bền

đẹp phục vụ sinh hoạt trong gia đình Người Co tạo ra sản phẩm

đan bằng nhiều loại vật liệu khác nhau như: mây, nứa, đang (kfác),

23

Trang 23

Sản phẩm của nghề đan ở đây khá phong phú với các loại mẹt

ba góc, phên cót, rổ, ra, dụng cụ đánh bắt tôm cá, dụng cụ đựng

lúa khi tuốt và các loại gủi Tuy nhiên, sản phẩm đan có nhiều loại phong phú và đòi hỏi sự tài hoa của đôi bàn tay trong các

thao tác kỹ thuật nhất là việc tạo ra những chiếc gùi Gùi ở đây

có nhiều loại, gủi củi, gủi thóc, gủi của đàn ông, gủi của đàn

bà, gủi cho người lớn và gùi cho trẻ em Riêng loại gùi thóc (ateo) lại có nhiều kích cỡ khác nhau Chiếc tương đối lớn đựng được

6 ang thóc, người Co gọi là ateo lơ; chiếc nhỏ hơn đựng vừa 4

ang théc la ateo đế Nhưng sản phẩm đan độc đáo nhất của

tộc người này là những chiếc gùi đựng đỗ của nữ giới (sui na)

và nam giới (siu pấc) Hai loại này đểu được dan bằng sợi mây

vót nhỏ và đều Sui na chi có một ngăn, dùng để đựng một bộ

vay - áo, ống đựng trâu cau, vôi phục vụ cho việc ấn trầu của

phu nữ Chiếc gủi này thường chỉ được dùng một lẫn, trong đám

cưới, khi cô đâu về nhà chồng Sau đó suí na được cất kỹ ở trong

Vợ chồng người Co đang đan gũi Bên cạnh là chiếc sju pác đá đan xong Ảnh: Cao Chư

24

Trang 24

Nơm xúc cả và lỗng nhốt gà của người Co,

Anh: Cao Chư

Chiéc gui thưa của người Co

Ảnh: Cao Chư

Trang 25

NGƯỜI CO

nhà, mãi cho đến khi người đàn bà này qua đời thì chiếc sưi na được đem chôn theo chủ Si pác của đàn ông được dùng phổ

biến hơn Đây là loại gùi 3 ngăn, một ngăn lớn - ngăn mẹ (szi

mí) ở giữa và hai ngăn nhỏ hơn - ngăn con (sui con) & hai bên

Sui pac được dùng để đựng quần áo, thức ăn, thuốc hút và một

vài dụng cụ thiết yếu khác phục vụ cho những chuyến đi rừng

của người đàn ông như dao, ống tên

Cũng giống như các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme,

trên Trường Sơn - Tây Nguyên, đồ đan của người Co vừa đa dang

về kích cỡ, kiểu loại vừa bền đẹp trong từng chỉ tiết Đặc biệt, ở

đồ đan của họ ta vẫn gặp các đải hoa văn chạy song song được tạo bởi kỹ thuật đan cải giữa nan đen và nan nền màu vàng óng

Trước kia, để có nan màu đen, đồng bào Co thường “nhuộm”

màu cho nan bằng cách hơ nan trong khói của các loại cây có

nhiều nhựa như gỗ thông, gỗ xà nu Hiện nay, họ tạo ra nan đen một cách đơn giản hơn: nhuộm nan bằng nhọ nồi hoặc bằng

ruột pín thối Riêng loại nan màu vàng óng, màu nên của đa số

đồ đan được đồng bào tạo ra bằng cách để trên gác bếp trong

một thời gian dài

SAN BAT - HAI LUOM

Ngoài trồng trọt, người Co còn duy trì các hoạt động săn bắt

và hái lượm Các loại nấm, rau, củ, quả hái lượm được trong rừng rất phong phú và là nguồn thức ăn khá quan trong trong

mỗi gia đình Đặc biệt loại rau rrêch (người Việt trong vùng gọi

là rau ranh) mọc tự nhiên ở khắp nơi Người Co thường lấy hạt

cây rrêch về nướng lên tạo ra một món ăn khoái khẩu; lá cây

rrêch có thể đem hấp hoặc nấu canh ăn vừa ngọt, vừa mát Trong

số các loại rau rừng, rrếch chiếm vị trí hàng đầu không chỉ vì nó

có nhiều, ngon mà còn vì thời vụ thu hoạch kéo dài từ tháng 3

đến tháng 8 Phụ nữ Co thường chịu khó hái lượm và cũng thạo hơn nam giới cả trong việc mò cua, ốc, bắt cá, tôm dưới sông, suối Ở vùng cư trú của người Co đo sông, suối nhỏ và đốc, ít

có điều kiện đánh bắt tôm, cá bằng thuyền với vó, chài, lưới

nên phụ nữ chú yếu dùng tay không mò bắt cua ốc hay dùng

26

Trang 26

HOST

KINH TE

một loại đồ đan nhỏ (anhá) để xúc cá; đàn ống thì dùng cần câu

hoặc các dụng cụ đơm cá có mỏi, thả xuống chỗ nước sâu (krie

ka) hoặc không mỗi, chắn ngang dòng nước chẩy (hóh ka) dé bat ca Hang năm người Có cũng tổ chức các cuộc đảnh bắt tôm,

cá tập thể Họ thường sử dụng các loại vỏ cây có nhựa độc giã

ra rồi vắt lấy nước để duốc cá (sudt ka)

Phụ nứ Co thường không tham dự vào những cuộc đi săn thú

rừng củng nam giới Việc đi săn đối với người Co và hầu hết các dân tộc khác trên Trường Sơn - Tây Nguyên không chỉ nhằm cung cấp chim, thú cải thiện bữa ấn hàng ngày mà còn để bảo

vệ mùa màng Họ tiến hành săn bắt chim, thú bằng nhiều cách với nhiều công cụ khác nhau Khi săn bắn trực tiếp, cả sẵn cá

thể và sẵn tập thể, họ thường sử dụng ná (pø nanh) với những mủi tên thường (nh) để bắn chim, sóc, khi và tên tẩm thuốc

độc (nóh jœrâu) để bắn các loại thú lớn, hung dữ, như: hổ, báo,

heo rừng Ngoài ná, người Co còn có rất nhiều kiểu giáo khác

nhau, như giáo có lưỡi hình mũi mắc (đáo phang), giáo có lười

hình lá (đáo phớp) và giáo cổ lưỡi hình mũi tên với hai nganh

Người đàn ông Co và bộ tên, nỏ đi sản Ảnh Cao Chư

Trang 27

Đoàn người đi săn để góp thịt cho gia đinh có lễ cưới Ảnh: Cao Chư

sắc hai bên (giáo hóc) Người Co cũng sáng tạo ra khá nhiều

loại cạm bẫy để sử dụng trong săn bắt chim thú như bẫy thò

(đờ lắc) dùng sức đàn hồi của thân cây để phóng mũi lao bằng

nứa giết chết các loại thú lớn, chủ yếu là heo rừng; hay loại bẫy

sập (spó) dùng sức nặng của thân cây đè chết thú nhỏ như cẩy,

cáo, nhím và các loại bẫy nhỏ (kiếp), bẫy ống (kiếp đíc) dùng

để bắt chim, chuột, sóc

BUÔN BÁN, TRAO ĐỔI

Sử sách cũ cũng từng nói đến chợ Trà Bỏng (chợ Man ở Trà

My hiện nay) như là những trung tâm giao lưu, trao đổi hàng

hóa trong vùng Ngay từ thời đó, quế, trâu không và cau, các

sản phẩm trồng trọt của người Co đã hấp dẫn, thu hút khách

bốn phương dỗn về đây tấp nập suốt hai mùa thu hoạch hàng

năm: mùa tiễn và mùa hậu Từ rất sớm, các thương lái người

Việt và Hoa kiều đã tìm đến các làng Co để mua quế Quế cũng

đã đưa một số người Co vào con đường buôn bán kiếm lời

28

Trang 28

Ngày nay, vì cây quế và vỏ quế mà các hoạt động buôn bán,

rao đổi hàng hoá ở vủng người Co vẫn tiếp tục có bước phát

riển hơn những vùng cư trú của các dân tộc khác trên Trường

3ơn - Tây Nguyên Quế Quảng vẫn tiếp tục thu hút các thương

ái từ khắp nơi đến đây thu mua và cung cấp cho cư dân tại

:hỗ những đổ dùng thiết yếu trong cuộc sống như mắm, muối,

lầu, đèn các sản phẩm của nền công nghiệp hiện đại như: xe jap, xe may, nay khau, déng hồ ; đến các phương tiện truyền hông đại chúng như: đài, tỉ vi, dau vidéo

29

Trang 29

NHA CUA VA LANG BAN

Khi Dáng và Nhà nước ta chưa thực hiện chính sách định canh

- định cư, các làng Co thường nằm cheo leo trên sườn núi Mỗi lãng (pldy) có tên gọi riêng theo tên người Đầu làng hoặc theo tên sông, suối, đất, rừng Đôi khi cũng có tên làng của người

Co phản ảnh đặc điểm nào đó của nơi cư trú Tuy nhiên, số lượng nay rất ít

Lang của người Co ở huyện Hiên, tỉnh Quảng Nam

Ảnh: Nguyễn Thanh Bình

Trang 30

HOA VAT CHAT

Trước kia, tủy thuộc vào chủ kỳ quay vòng trong canh tác rẫy

mà người Co đi chuyển làng cho phù hợp Nhưng về cơ bản họ

chỉ đi chuyển vị trí cư trú trong phạm vi đất đã được xác định

là thuộc về làng Trưởng hợp trong làng xẩy ra dịch bệnh tram

trọng, hoặc bất ngờ có nhiều vụ chết bất đắc kỹ tử, nhất là trường

hợp chết do sinh đẻ thì làng mới phải đời đi một cách bất thưởng

Tuy nhiên, trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp và

can thiệp Mỹ vừa qua, các làng của người Co hầu hết đã bị xáo

trộn, đều phải đi chuyển nhiều lần vượt ra ngoài phạm vi dat

của làng để chống càn hoặc tránh bom đạn của địch Ngày nay

đo tác động của công cuộc định canh - định cư và các chính sách

kinh tế mới của Đảng và Nhà nước ta, các làng của người Co

hẳu hết được dựng lên ở những khu đất tương đối bằng phẳng,

gần sông suối, gần đường giao thông, thuận lợi cho việc đi lại,

giao lưu buôn bán, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội

Theo nghĩa rộng, từ làng (pláu) trong ngôn ngữ của người Ca

thường bao gồm phần đất làm

nơi cư trú và tất cả các loại

đất đai phục vụ sản xuất hay

không sản xuất, núi rừng,

sông suối trong một phạm vi

được xác định là thuộc về một

làng Tù đời trước qua đời sau,

các thế hệ cư dân truyền bảo

cho nhau biết cương vực của

làng Mọi người dân trong làng

đều nhận rõ ranh giới phân

định làng mình với các làng

xung quanh Nơi thì lấy dòng

sông, con suối làm mốc; nơi

lại đựa vào những gốc cây to,

tảng đá lớn, đỉnh núi cao, con

đường rộng làm địa giới

Nhà chứa lúa của người Co

Ảnh: Cao Chư

Trang 31

GUOI CO

phân chia đất đai giữa các làng Cũng có nơi địa giới phan chia

làng lại là chỗ giáp ranh giữa hai đám rẫy, chỗ tận cùng của vườn quế Nhờ quá trình gắn bó và kiểm nghiệm qua thực tế

lao động sản xuất, quá trình sinh hoạt của cá nhân, cũng như

tập thể, mỗi thành viên trong cộng đồng buôn làng Co đều thông thuộc những đường viền địa giới tưởng chừng vô cùng rắc rối

đó để có thể tự xác định khu vực được tiến hành các hoạt động kinh tế của gia đình, đồng thời xác định trách nhiệm của mọi

cá nhân trong việc bảo vệ đất đai của làng mình Khái niệm đđêh

hay đảih có nghĩa là vùng, xứ sở, khu vực đất đai được gắn với

những chủ nhân cụ thể và rõ ràng như: đđêh Co - vùng của người

Co, hay đđí Cha Bến - khu vực của làng Cha Bến

Thời điểm rời làng cũ và chọn địa điểm dựng làng mới là do

lớp người già, đại điện cho các gia đình xem xét, quyết định Người

Co rất quan tâm đến sự tiện lợi của chỗ dựng làng với các điều

kiện cơ bản như: phải gần nguồn nước, khả năng đất canh tác

không quá khó khăn, địa thế cao ráo, thoáng mát, độ dốc nhỏ

Trước kia, xung quanh làng là những hàng rào được dựng cao

và chắc chắn với các cổng làng mở ra, đóng vào theo những quy

định chặt chế, cùng hệ thống chông, thd, cam, bay day dac

để phòng thủ Đến nay việc rào làng hầu như đã được loại bỏ Một số nơi hàng rào làng vẫn còn nhưng đơn giản hơn xưa nhiều

và chủ yếu chỉ để ngăn không cho gia súc phá hoại cây trồng Hàng rào làng còn nhằm phân định khu vực đất dành cho cư trú và đất dành cho canh tác l

Tuỳ theo số lượng dân nhiều hay ít mà mỗi làng Co trong quá

khứ có một hay nhiều ngôi nhà ở, dài ngắn, rộng hẹp khác nhau

Người Việt quen gọi nhà ở của người Co là nóc Thường nóc cũng

đồng nghĩa với làng bởi trước kia rất phổ biến những làng Co

chỉ có một nóc nhà Những ngôi nhà như vậy đài tới trên 100m

Ngày nay, các ngôi nhà dài của người Co đã mất hẳn, các gia đình hạt nhân với bố mẹ và con cái phần lớn đều đã sinh sống

riêng biệt trong một ngôi nhà nhỏ Vì vậy, các làng Co hiện nay

không chỉ có một vài nhà mà thường có rất nhiều nhà Các ngôi

nhà được dựng bên nhau theo kiểu mật tập, cái nọ kế tiếp cái

kia, chỉ cách nhau chừng 5-10 m

32

Trang 32

Xưa kia, người Co ở nhà sàn Dân làng góp sức dựng chung

nhau một hoặc một vài ngồi nhà, sau đó từng hộ được chia một

điện tích phủ hợp để sinh sống Bao giờ vị trí máng nước củng được đặt về phía đầu của ngôi nhà Ngôi nhà cũng có thể được

nối dài thêm về phía này cho những gia đình đến sau hoặc các

gia đình mới Dưới gam sàn nhà là nơi xếp củi, nhốt lợn, gà ; trên mặt sàn là nơi đành cho người ở Ngoài ra, mỗi ngôi nhà còn có tới 2 hoặc 3 sàn phụ để phơi lúa, sấy thuốc lá và cất giữ

để đạc Như vây, người Co đã tăng thêm mặt bằng sinh hoạt

cho ngôi nhà bằng cách tạo ra các khoảng không gian phụ - sàn phụ, bên cạnh các khoảng không gian chính - sàn chính Tất cả

các khoảng không gian đó đều nằm gọn dưới hai mái nhà lợp

bằng lá rừng hoặc có tranh Trong đó, nhà lợp bằng cỏ tranh cảng ngày càng trở nên phổ biến hơn

Mặt bằng sinh hoạt trên ngôi nhà của người Co trước kia được

chia thành 3 phần chính theo chiều dọc: truôk, tum va gul, Trudk

là đường hành lang chạy suốt từ phần đầu đến phần cuối của

ngôi nhà Hai đầu của truôk được thông ra phía ngoài nhà qua hai khuôn cửa (mok ưl) Tum là phần điện tích được ngăn thành Cách bổ tri gian bếp của người Co Ảnh: Cao Chư

33

Ngày đăng: 18/10/2022, 12:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w