1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Việt nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới thực trạng và giải pháp thúc đẩy khóa luận tốt nghiệp đại học

70 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Việt Nam Gia Nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới Thực Trạng Và Giải Pháp Thúc Đẩy
Tác giả Nguyễn Văn Thủy
Người hướng dẫn PGS.TS Đào Duy Huân
Trường học Trường Đại Học Mở Bán Công - TPHCM
Chuyên ngành Kinh Tế Đông Nam Á
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2004
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 3,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: Quá trình hình thành tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và mục đích của n ó (6)
    • 1.2 Cơ cấu tổ chức (0)
    • 1.3 Mục đích của W TO (8)
      • 1.3.1 Những nguyên tắc cơ bản (8)
      • 1.3.2 Thương mại hàng hóa (8)
      • 1.3.3 Thương mại dịch v ụ (13)
      • 1.3.4 Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương m ại (0)
    • 1.4 Xu hướng phát triển của W TO (17)
  • Chương 2: Tiến trình Việt Nam đàm phán gia nhập WTO. 16 (19)
    • 2.1 Mục đích của Việt Nam gia nhập WTO (19)
    • 2.2 Các giai đọan đàm phán gia nhập WTO (0)
    • 2.3 Các bước tiếp theo trong quá trình đàm phán (24)
      • 2.3.1 Xây dựng lộ trình gia nhập W T O l (25)
      • 2.3.2 Xây dựng đội ngũ đàm phán (26)
      • 2.3.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kỉnh tế đặc biệt của các (0)
    • 2.4 Cơ hội và thách thức cho Việt Nam (28)
      • 2.4.1 Cơ Hội (28)
        • 2.4.1.1 Công nghiệp (29)
        • 2.4.1.2 Nông nghỉẹp (30)
        • 2.4.1.3 Thương mại (31)
        • 2.4.1.4 Những lọi ích từ việc cải thiện cơ chế giải quyết tranh chấp (0)
        • 2.4.1.5 Thúc đẩy cải cách kinh tế trong nước (0)
      • 2.4.2 Thách thức (34)
        • 2.4.2.1 Sản xuất công nghiệp (34)
        • 2.4.2.2 Sản xuất nông nghiệp (35)
        • 2.4.2.3 Thương mại (39)
  • Chương 3: Những giải pháp thúc đẩy gia nhập WTO (40)
    • 3.1 v ề Phía nhà nước (0)
      • 3.1.1 Cải cách giải pháp tổng thể (0)
      • 3.1.2 Chính sách ngân sách (40)
      • 3.1.3 Chính sách thuế (41)
      • 3.1.4 v ề phí, lệ phí (42)
      • 3.1.5 Chính sách tài chính doanh nghiệp (0)
      • 3.1.6 Phát triển thị trường vốn, dịch vụ tài chính (0)
      • 3.1.7 Tăng cường năng lực và hiệu lực quản lý của ngành tài chính (44)
      • 3.1.8 Đẩy mạnh cải cách thể chế (45)
      • 3.1.9 Hoàn thiện hệ thống pháp luật theo thông lệ quốc tế (47)
    • 3.2 Giải pháp của các doanh nghiệp (48)
      • 3.2.1 Cổ phần hóa giải pháp để hội nhập (0)
      • 3.2.2 Bảo vệ phát triển nhãn hiệu để cạnh tranh và hội nhập (0)
      • 3.2.3 Cơ chế xử lý vi phạm còn yếu (0)
      • 3.2.4 Năng lực hạn chế của cơ quan quản lý việc đăng ký và thực thi bảo hộ sở hữu trí tuệ (0)
      • 3.2.5 Hiểu biết về thương hiệu từ phía doanh nghiệp và thiếu vắng các chuyên gia giỏi về thương hiệu (0)
    • 3.3 Kiến nghị (0)
  • Kết luận (54)
  • Tài liệu tham khảo (0)
  • Phụ lục (15)

Nội dung

Quá trình hình thành tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và mục đích của n ó

Mục đích của W TO

- Nguyên tắc thứ nhất: Không phân biệt đổi xử

Mỗi thành viên trong một tổ chức sẽ đối xử với sản phẩm của thành viên khác không kém phần ưu đãi so với cách mà họ đối xử với sản phẩm của một quốc gia thứ ba, theo nguyên tắc Đãi Ngộ Tối Huệ Quốc (MFN).

Mỗi quốc gia cam kết không ưu tiên sản phẩm của công dân mình so với sản phẩm nước ngoài, đảm bảo sự công bằng trong thương mại quốc tế.

- Nguyên tắc thứ hai: Thương mại phải ngày càng được tự do hơn thông qua đàm phán

Các hàng rào cản trở thương mại đang dần được loại bỏ, tạo điều kiện cho các nhà sản xuất xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn Điều này giúp họ có thời gian điều chỉnh, nâng cao sức cạnh tranh và chuyển đổi cơ cấu Mức độ cắt giảm hàng rào bảo hộ được thống nhất thông qua các cuộc đàm phán song phương và đa phương.

- Nguyên tẳc thứ ba: D ễ dự đoán

Các nhà đầu tư và chính phủ nước ngoài tin tưởng rằng rào cản thương mại, bao gồm thuế quan và các biện pháp phi thuế quan, sẽ không bị tăng lên một cách tùy tiện Cam kết về thuế quan và các biện pháp khác được đảm bảo bởi các ràng buộc pháp lý.

- Nguyên tắc thứ tư: Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng

Để hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp và ưu đãi đặc quyền cho một số doanh nghiệp, cần có các chính sách quản lý chặt chẽ và công bằng Việc này không chỉ bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp nhỏ mà còn đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh và bền vững.

- Nguyên tẳc thứ năm: Dành cho các thành viên đang phát triển một số ưu đãi

Các ưu đãi này cho phép các thành viên phát triển một số quyền mà không cần thực hiện nghĩa vụ hay thời gian quá dài để điều chỉnh chính sách.

WTO công nhận thuế quan là công cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất cho các ngành sản xuất trong nước, trong khi các hàng rào bảo hộ phi thuế cần phải được bãi bỏ Điều này cho thấy thuế quan là biện pháp bảo hộ ít gây ra sự méo mó thương mại nhất và cũng là phương pháp minh bạch nhất.

Thuế quan được phân loại thành nhiều loại, bao gồm thuế phần trăm, thuế cụ thể, thuế thay thế và thuế kết hợp Thuế phần trăm tính theo tỷ lệ phần trăm nhất định trên giá trị hàng hóa nhập khẩu, trong khi thuế cụ thể quy định một khoản tiền cố định trên mỗi đơn vị hàng hóa Thuế thay thế có thể áp dụng thuế phần trăm hoặc thuế cụ thể, tùy theo mức nào cao hơn, còn thuế kết hợp yêu cầu người nhập khẩu phải trả cả hai loại thuế WTO khuyến khích sử dụng thuế phần trăm do tính rõ ràng của nó, và trong trường hợp áp dụng các loại thuế khác, cần thiết phải xác định mức thuế phần trăm tương đương để đảm bảo mức bảo hộ hợp lý.

Thuế quan phải được áp dụng trên nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) cho tất cả các thành viên WTO.

- Một số phương thức kỹ thuật áp dụng cho các biện pháp thuế quan của WTO:

Do tính linh hoạt trong đàm phán cắt giảm thuế quan, các thành viên WTO đã đồng thuận áp dụng phương thức tiếp cận thị trường nông sản chỉ thông qua thuế quan Các biện pháp hạn chế số lượng trước Vòng Uruguay giờ đây phải được “thuế hoá”, tức là chuyển đổi các biện pháp phi thuế thành mức thuế quan bổ sung tương đương Trong lĩnh vực nông nghiệp, hạn ngạch thuế quan cũng được sử dụng, cho phép duy trì mức thuế suất thấp cho hàng nhập khẩu trong hạn ngạch và mức thuế suất cao hơn cho hàng hóa vượt hạn ngạch Mức thuế sau khi thuế hoá sẽ tiếp tục được ràng buộc và cắt giảm qua các cuộc đàm phán.

Khi một quốc gia thành viên cam kết "ràng buộc" về thuế suất, họ không được phép nâng thuế nhập khẩu vượt quá mức đã cam kết Đối với sản phẩm nông nghiệp, các quốc gia thành viên cam kết ràng buộc thuế quan cho toàn bộ mặt hàng, trong khi các nước phát triển ràng buộc thuế cho 99% mặt hàng trong lĩnh vực công nghiệp Các con số tương ứng cho các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi lần lượt là 73% và 98% Những cam kết này đảm bảo mức độ tiếp cận thị trường an toàn hơn cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp quốc tế.

Các mặt hàng không có trong Biểu cam kết sẽ phải chịu thuế suất ràng buộc Dù vậy, những mặt hàng này vẫn cần tuân thủ nguyên tắc MFN.

+ c ắ t giảm thuế quan hơn nữa.

Sau khi ràng buộc thuế, các quốc gia cần cam kết cắt giảm thuế quan liên tục Tại Vòng đàm phán Uruguay, các nước phát triển đã cam kết giảm trung bình 36% thuế quan trong lĩnh vực nông nghiệp, với mức giảm tối thiểu 15% cho mỗi dòng thuế trong vòng 6 năm bắt đầu từ năm 1995 Trong lĩnh vực công nghiệp, mặc dù không áp dụng cho tất cả các dòng thuế, nhưng xu hướng cắt giảm thuế quan theo ngành và hài hòa thuế quan diễn ra mạnh mẽ, với nhiều mặt hàng có mức thuế suất rất thấp, thậm chí bằng 0% Các sản phẩm công nghệ thông tin, dược phẩm, và một số sản phẩm kim loại, gỗ, bột giấy là những ví dụ tiêu biểu.

WTO công nhận thuế quan là công cụ hợp pháp để bảo vệ sản xuất trong nước, nhưng yêu cầu loại bỏ các rào cản thương mại khác Bên cạnh đó, các thành viên có thể áp dụng biện pháp phi thuế để hạn chế nhập khẩu nhằm đảm bảo an ninh quốc gia, bảo vệ văn hóa truyền thống, môi trường và sức khỏe con người.

+ Hạn chế định lượng nhập khẩu.

Các thành viên không được duy trì các biện pháp hạn chế định lượng như cấm hoặc hạn ngạch mà không có lý do chính đáng, phù hợp với quy định của WTO.

+ Doanh nghiệp có đặc quyền thương mại.

Trong khuôn khổ WTO, các doanh nghiệp thương mại nhà nước, dù thuộc sở hữu nhà nước hay tư nhân, được cấp các đặc quyền thương mại Một số ví dụ điển hình về các doanh nghiệp này bao gồm những công ty hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu và dịch vụ công.

“đầu mối” nhập khẩu, hay là những doanh nghiệp có khả năng tiếp cận tới các nguồn tài chính hay ngoại tệ.

Xu hướng phát triển của W TO

Hệ thống thương mại đa biên đã phát triển mạnh mẽ trong hơn 50 năm qua, bắt đầu từ năm 1948 với chỉ 23 quốc gia tham gia Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) Đến tháng 9 năm 1999, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã có 135 thành viên, với gần 30 quốc gia đang nộp đơn hoặc đàm phán gia nhập.

Kể từ năm 1986 đến nay, Trung Quốc trải qua gần 14 năm đàm phán gia nhập.Năm 1993, Cộng hòa Liên bang Nga cũng tích cực đàm phán gia nhập WTO.

Cộng đồng quốc tế, bao gồm cả các thành viên WTO, đang tích cực phối hợp để thống nhất lập trường cho các cuộc đàm phán thương mại toàn cầu sắp tới, nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường và tạo thuận lợi cho thương mại Tuy nhiên, vẫn tồn tại những bất đồng sâu sắc về mối quan hệ giữa thương mại với môi trường và tiêu chuẩn lao động Những vấn đề mới như thương mại dịch vụ và thương mại điện tử đang ngày càng trở nên quan trọng trong các diễn đàn đàm phán Các nội dung quan trọng như tiếp cận thị trường nông sản và hàng công nghiệp vẫn giữ vị trí trọng yếu Đặc biệt, các nước đang phát triển ngày càng có vai trò lớn hơn trong các cuộc đàm phán, thành công trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, và cần phải liên kết chặt chẽ hơn để biến WTO thành công cụ hiệu quả cho sự phát triển bền vững.

Các nước đang phát triển đã thể hiện tiếng nói mạnh mẽ trong các cuộc đàm phán tại Đại Hội Đồng WTO Điều này được thể hiện qua bản dự kiến nội dung chương trình đàm phán, đang được thảo luận để trình lên các Bộ Trưởng WTO trong Hội nghị Bộ trưởng lần thứ.

Hội nghị 3 sẽ diễn ra tại Settle, Hoa Kỳ từ ngày 30/11 đến 2/12/1999 Dù danh mục nội dung vẫn đang được bổ sung và điều chỉnh, nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến quyền lợi của các nước đang phát triển sẽ được nhấn mạnh để các Bộ trưởng xem xét.

Tiến trình Việt Nam đàm phán gia nhập WTO 16

Mục đích của Việt Nam gia nhập WTO

Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia Các tổ chức kinh tế - thương mại như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã hình thành để tạo lập hành lang pháp lý chung, giúp các nước cùng giải quyết các vấn đề lớn của kinh tế thế giới Từ khi thành lập vào năm 1995, WTO đã thu hút 148 thành viên, chiếm trên 85% tổng thương mại hàng hóa và 90% thương mại dịch vụ toàn cầu Sự gia nhập của Trung Quốc vào WTO vào năm 2001, với gần 1,3 tỷ dân, đã tạo ra tác động lớn đến kinh tế - thương mại toàn cầu, đặc biệt là với Việt Nam.

- và Nê pan cũng đã được kết nạp vào WTO Chính vì vậy, việc Việt Nam gia nhập

WTO, là nhu cầu cần thiết.

Hiện nay, làn sóng tự do hóa thương mại đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, với khoảng 250 hiệp định thương mại tự do song phương và khu vực được thông báo cho WTO tính đến tháng 5-2003 Trong số đó, có 130 hiệp định được công bố sau tháng 1-1995 Dự kiến, đến cuối năm 2005, tổng số hiệp định thương mại tự do có hiệu lực, bao gồm cả những hiệp định đang trong quá trình đàm phán hoặc đã ký kết, sẽ tăng cao đáng kể.

Khu vực Đông Á đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của các hiệp định thương mại tự do, như ASEAN/AFTA và các thỏa thuận giữa Việt Nam với Hoa Kỳ (VN-US BTA) và giữa Trung Quốc với ASEAN (AC-FTA) Sự mở rộng của EU về phía Đông, với việc kết nạp thêm 10 thành viên, đã nâng tổng số thành viên lên 25, tạo ra một liên minh kinh tế lớn nhất thế giới với dân số 455 triệu và GDP khoảng 9.000 tỷ USD Tuy nhiên, sự gia nhập của các nước có nền kinh tế kém phát triển hơn sẽ dẫn đến sự gia tăng bảo hộ, gây khó khăn cho Việt Nam trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, nhưng cũng mở ra cơ hội lớn cho xuất khẩu của Việt Nam.

Áp lực cạnh tranh từ Trung Quốc, Ấn Độ và các nước ASEAN ngày càng gia tăng, đặc biệt trong các ngành xuất khẩu chủ lực như nông sản, thủy sản, may mặc và giày dép Để thu hút FDI, Việt Nam cần có chính sách cải thiện môi trường đầu tư mạnh mẽ, nếu không sẽ đối mặt với nguy cơ suy giảm FDI Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế yêu cầu Việt Nam phải tiến hành tự do hóa và mở cửa nhanh chóng, nếu không sẽ bị tụt hậu so với các nước trong khu vực So sánh giữa Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, mặc dù có xuất phát điểm gần giống nhau, nhưng nhờ cải cách và hội nhập, Trung Quốc đã đạt mức tăng trưởng xuất khẩu 14,4% trong giai đoạn 2000-2002, trong khi Việt Nam chỉ đạt 7%.

2.2 CÁC GIAI ĐOẠN ĐÀM PHÁN GIA NHẬP WTO

Quá trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam bắt đầu vào năm 1995 với việc nộp đơn cho Tổng giám đốc WTO, mặc dù Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập GATT từ tháng 6-1994 và trở thành quan sát viên Ban Công tác về việc gia nhập WTO được thành lập vào tháng 1-1995, đánh dấu giai đoạn đầu đầy khó khăn với yêu cầu "minh bạch hóa chính sách thương mại" Việt Nam đã nộp “Bản Bị vong lục về Chế độ Ngoại thương” vào tháng 9-1996 và nhận hơn 1700 câu hỏi từ các thành viên WTO để làm rõ thể chế pháp luật và kinh tế Đến nay, đã có sáu cuộc họp của Ban Công tác diễn ra, với phiên họp thứ bảy được tổ chức sau Hội nghị Bộ trưởng WTO tại Mê-hi-cô Ngoài việc trả lời câu hỏi, Việt Nam còn chuẩn bị nhiều tài liệu như Bản Hiện trạng và Kế hoạch hành động để minh bạch hóa các quy định trong nước và thể hiện lộ trình phù hợp hóa luật lệ với WTO, cũng như nộp các Bản Chào về tiếp cận thị trường cho dịch vụ và hàng hóa.

- Quá trình đàm phán gia nhập có thể chia làm 3 giai đoạn

+ Minh bạch hóa chính sách

Việt Nam đã tích cực tham gia vào quá trình gia nhập WTO bằng cách cung cấp các tài liệu cần thiết và trả lời hơn 1700 câu hỏi liên quan đến chính sách kinh tế và thương mại Ban công tác đã tổ chức bốn phiên họp chính thức tại Geneva từ năm 1998 đến năm 2000, trong đó phiên họp thứ tư vào tháng 11 năm 2000 đánh dấu việc Việt Nam hoàn tất giai đoạn minh bạch hóa chính sách Sau giai đoạn này, Việt Nam chuyển sang đàm phán thực tế về việc mở cửa thị trường và thực hiện các hiệp định đa phương.

THUỜMS ĐẬl học wớ TP.HCM

WTO đã thiết lập các quy định quan trọng về biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIM), bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (TRIP), và trị giá tính thuế hải quan Trong các phiên họp, Việt Nam cùng các nước thành viên đã thảo luận và tiến hành thông báo về các vấn đề như trợ cấp công nghiệp, nhằm thúc đẩy hợp tác và hiểu biết lẫn nhau trong lĩnh vực thương mại quốc tế.

Các thành viên đã tham gia thảo luận về tất cả các vấn đề liên quan đến hệ thống chính sách thương mại của Việt Nam Họ đã nắm bắt được bức tranh tổng thể và bày tỏ sự hài lòng với các thông tin mà Việt Nam cung cấp.

Giai đoạn đàm phán của Việt Nam với WTO bao gồm đàm phán đa phương và song phương, nhằm rà soát sự phù hợp của hệ thống pháp luật và chính sách thương mại với quy định của WTO Vào tháng 12 năm 2001, Việt Nam đã chính thức gửi các bản chào ban đầu về hàng hóa và dịch vụ Bản chào hàng hóa cam kết 96% số dòng thuế với mức thuế suất trung bình 27,8%, trong đó thuế xuất hàng nông nghiệp là 32% và phi nông nghiệp là 27,1% Bản chào dịch vụ bao gồm 9 ngành và 78 phân ngành, đã được sửa đổi với mức thuế trung bình là 25,8%, hiện nay mở rộng ra 10 ngành và 88 phân ngành.

Tại các phiên đàm phán thứ 5 và thứ 6 vào tháng 4 năm 2002 và 2003, Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan trọng trong việc làm rõ quan điểm với các đối tác về các vấn đề quan tâm Bản chào về thuế và dịch vụ đã được điều chỉnh theo hướng tích cực hơn, và Việt Nam cam kết cung cấp biểu thuế hiện hành trước phiên đàm phán tiếp theo Mặc dù gặp khó khăn về số liệu thống kê và điều kiện kỹ thuật, Việt Nam đã hoàn thành và gửi bản thông báo về hỗ trợ nông nghiệp và trợ cấp xuất khẩu Tất cả các câu hỏi từ các thành viên WTO liên quan đến nội dung đàm phán đã được Việt Nam trả lời đầy đủ bằng văn bản, đồng thời cập nhật chương trình xây dựng pháp luật và thông báo về các biện pháp phi thuế.

Việt Nam đã ghi nhận nhiều tiến bộ trong việc thực hiện các hiệp định của WTO, nhưng vẫn chưa đủ để hoàn tất quá trình gia nhập vào năm 2005 như dự kiến Các bên vẫn chưa thống nhất về các nội dung chủ yếu trong hầu hết lĩnh vực, và cần có bước nhảy vọt để kết thúc đàm phán đúng thời hạn Năm 2003 được coi là năm bản lề trong quá trình đàm phán gia nhập, với tốc độ đàm phán phụ thuộc vào quyết tâm chính trị, khả năng mở cửa của nền kinh tế và thiện chí của các thành viên WTO Dư luận quốc tế đang chú ý đến mục tiêu gia nhập WTO của Việt Nam.

Năm 2005 có thể đạt được mục tiêu nếu tiến độ đàm phán được tăng cường và bản chào của Việt Nam được cải thiện rõ rệt vào tháng 9 năm 2003.

Phần lớn thành công trong việc gia nhập WTO của Việt Nam phụ thuộc vào nỗ lực của chính nước này Việt Nam cần chuẩn bị kỹ lưỡng cho phiên họp sắp tới để đạt được mục tiêu đã đề ra.

Ban công tác, Việt Nam cần hoàn tất những công việc sau:

1) Trả lời đầy đủ và chi tiết các câu hỏi hoặc yêu cầu của các thành viên về các vấn đề liên quan.

Mở rộng và cập nhật bản tổng quan về chương trình xây dựng pháp luật cùng với các chương trình hành động thực hiện các hiệp định của WTO, dựa trên ý kiến đóng góp từ các thành viên.

3) Chuẩn bị các tài liệu theo yêu cầu của các nước thành viên.

Đẩy mạnh các cuộc đàm phán song phương hoặc với một số nhóm nước để làm rõ các vấn đề kỹ thuật phức tạp, bao gồm nông nghiệp, biện pháp phi thuế, hàng rào kỹ thuật trong thương mại và các biện pháp kiểm dịch.

Các bước tiếp theo trong quá trình đàm phán

NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM

Giai đoạn đàm phán gần đây diễn ra song song giữa hai phương thức: đàm phán đa phương tại Ban Thư ký WTO và đàm phán song phương tại trụ sở WTO hoặc thủ đô của nước xin gia nhập Trong các phiên họp của Ban Công tác về việc gia nhập WTO, các nước thể hiện quan điểm và đàm phán các cam kết chung, đồng thời tổng kết kết quả từ đàm phán song phương Đàm phán đa phương thường ngắn gọn, chỉ nhằm chính thức hóa các cam kết đã đạt được, trong khi đàm phán song phương diễn ra quyết liệt hơn, thường được tổ chức trước hoặc ngay sau các phiên họp đa phương Nước xin gia nhập chỉ được chấp nhận sau khi đạt được thỏa thuận trong tất cả các cuộc đàm phán song phương.

Cuộc họp thứ sáu của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO diễn ra từ ngày 12 đến 13-5-2003, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc đàm phán các điều khoản cụ thể về tiếp cận thị trường Trong cuộc họp này, các luật lệ cho giai đoạn chuyển tiếp cũng được thảo luận để đảm bảo quá trình gia nhập diễn ra suôn sẻ.

Khoản đặc biệt khác dành cho các nước đang phát triển đã được thảo luận, với nội dung đàm phán xoay quanh 6 tài liệu mà Việt Nam đã gửi cho Ban Thư ký.

1- Bản hiện trạng chính sách thương mại (FS);

2- Chương trình xây dựng pháp luật;

3- Chương trình hành động về thủ tục cấp phép nhập khẩu;

4- Chương trình hành động thực hiện Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS);

5- Chương trình hành động về thực hiện Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT);

6- Lộ trình cắt giảm các biện pháp phi thuế (NTM).

Việt Nam đã cung cấp các bản cập nhật về Chính sách giá, Hiệp định Trị giá Hải quan (CVA), Hiệp định TRIMS và TRIPS dưới hình thức non-paper nhằm thể hiện tiến bộ trong việc thực hiện cam kết và thu hút sự ủng hộ từ các thành viên trước phiên họp đa phương Đồng thời, Việt Nam cũng tiến hành các phiên đa phương từ ngày 12 đến 23-5-2003, bao gồm các cuộc đàm phán song phương liên quan đến nhân nhượng thuế và cam kết tiếp cận thị trường.

Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho quá trình đàm phán thương mại dịch vụ song phương Hiện tại, có 5 đối tác chính thức đã đăng ký tham gia đàm phán với Việt Nam, bao gồm Thụy Sỹ, Ô-xtrây-li-a, Ca-na-đa, Liên minh Châu Âu (EU) và Đài Loan.

Giai đoạn đàm phán gần đây rất quan trọng vì nó quyết định việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Thời điểm thích hợp trong quá trình gia nhập sẽ giúp giảm "lệ phí gia nhập" và quyết định khả năng thành công của Việt Nam khi trở thành thành viên chính thức Chính phủ đã đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu trong đàm phán, kiên trì điều chỉnh hệ thống chính sách phù hợp với quy tắc quốc tế và điều kiện cụ thể của đất nước Cần có những nhượng bộ hợp lý, tương xứng với trình độ phát triển của Việt Nam, đồng thời nỗ lực đạt được ưu đãi về mở cửa thị trường từ WTO cho các nước đang phát triển Để tối ưu hóa kết quả đàm phán, Chính phủ sẽ tận dụng các mối quan hệ quốc tế đa dạng nhằm thu hút sự hỗ trợ và đồng tình từ cộng đồng quốc tế.

, 2.3.1 Xây dựng lộ trình gia nhập WTOl

Chính phủ đang xây dựng lộ trình gia nhập WTO, tập trung vào việc điều chỉnh luật pháp và mở cửa thị trường Trong quá trình này, cần chú ý đến hai yếu tố quan trọng: Thứ nhất, chính sách thương mại phải phù hợp với khuôn khổ phát triển bền vững của quốc gia, đảm bảo sự đồng bộ với các chính sách tỷ giá, đầu tư, lao động, cạnh tranh và quản lý hành chính Thứ hai, các ưu tiên trong chính sách thương mại cần nhận được sự ủng hộ trong nước và được xác định thông qua đối thoại cấp quốc gia, nhằm đạt được các mục tiêu xã hội và cân nhắc các khía cạnh kinh tế vĩ mô và tài chính.

Trong quá trình chuẩn bị, cần nghiên cứu kỹ các hiệp định, nguyên tắc và nghĩa vụ của WTO để rà soát và điều chỉnh các chính sách kinh tế, thương mại trong nước Việc này không chỉ giúp giảm sự chênh lệch với quy định của WTO mà còn phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế và hoàn cảnh cụ thể của đất nước Trước khi ban hành các chính sách mới, cần kiểm tra mức độ phù hợp với WTO Bên cạnh đó, việc tính toán và vận dụng linh hoạt các nguyên tắc ngoại lệ của WTO như quyền tự vệ, quyền tham gia các tổ chức kinh tế khu vực, và chế độ đối xử khác biệt cũng rất quan trọng.

S&D hỗ trợ các nước đang phát triển và chậm phát triển trong việc xây dựng và thực thi chính sách nội địa, đảm bảo tính phù hợp với các quy định quốc tế, đồng thời bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của các ngành sản xuất và doanh nghiệp.

Để đạt được hiệu quả trong đàm phán, việc thu thập và nghiên cứu kỹ lưỡng về đối tác là rất quan trọng, từ đó xác định mức độ và chiến lược "mặc cả" phù hợp Chúng ta có thể học hỏi từ những kinh nghiệm thành công và thất bại trong đàm phán của các quốc gia đang phát triển.

Khi gia nhập một thị trường mới, việc đối chiếu các cam kết và nhượng bộ của đối tác với các quốc gia khác là rất quan trọng Điều này giúp chúng ta đánh giá khả năng nhượng bộ của chính mình trong quá trình hợp tác.

Sự thống nhất về phương án đàm phán giữa các bộ, ngành là yếu tố quyết định thành công trong quá trình đàm phán Điều này bao gồm việc đạt được sự nhất trí về mức độ nhân nhượng trong các cam kết và xác định vị thế đàm phán của quốc gia Cơ quan điều phối liên bộ, cụ thể là Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế, cần nỗ lực thể hiện rõ vai trò của mình trong việc tổng hợp các phương án đàm phán Mâu thuẫn trong tiếp cận thị trường giữa các lĩnh vực liên quan cần được giải quyết thông qua đối thoại hệ thống và dân chủ Các bộ và nhóm lợi ích trong nước cũng cần vượt qua lợi ích cục bộ để bảo vệ lợi ích chung của đất nước, nhằm đạt được kết quả đàm phán tốt nhất.

Quá trình chuẩn bị đàm phán cần có sự tham gia ý kiến từ khu vực doanh nghiệp và những người chịu tác động trực tiếp từ các cam kết Việc công bố và hướng dẫn kịp thời kết quả đàm phán cho công chúng, đặc biệt là doanh nghiệp, là rất quan trọng để họ có thể áp dụng vào thực tiễn sản xuất và kinh doanh quốc tế Điều này không chỉ nâng cao sự chuẩn bị hội nhập mà còn tạo ra sự đồng thuận, giúp tránh phản ứng trong nước khi xin phê duyệt gia nhập và giảm thiểu biến động xã hội sau khi trở thành thành viên WTO.

Cho đến nay, vị thế đàm phán của Việt Nam trong WTO đã được thống nhất sơ bộ, với cam kết với Mỹ là nền tảng cho các cuộc thương lượng Việt Nam sẽ nỗ lực tối đa để đạt được những ưu đãi mà WTO dành cho các thành viên đang phát triển và chuyển đổi Đồng thời, cam kết mở cửa thị trường của Việt Nam sẽ thấp hơn so với ASEAN và có thể tương đương hoặc thấp hơn mức của APEC.

2.3.2 Xây dựng đội ngũ đàm phán

Cơ hội và thách thức cho Việt Nam

Khi tham gia WTO, Việt Nam đã thu được nhiều lợi ích lớn, đặc biệt là mở rộng thị trường xuất khẩu nhờ được hưởng quy chế MFN vô điều kiện Điều này giúp hàng hóa Việt Nam cạnh tranh bình đẳng với các đối thủ, giảm thiểu rào cản thuế và hạn ngạch Thương mại giữa các nước thành viên WTO hiện chiếm tới 90% khối lượng thương mại thế giới, điều này tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường tiềm lực kinh tế thông qua xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài.

- Hiệp định đa sợi MFA qui định bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu bằng số lượng đối với hàng dệt may.

- WTO qui định bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu bằng số lượng thay thế bàng thuế đối với sản phẩm gạo.

- WTO qui định mức thuế thấp đối với sản phẩm sử dụng nhiều lao động.

Việc tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng trong kinh doanh giữa các thành phần kinh tế là điều cần thiết khi Việt Nam gia nhập WTO Để thực hiện các nguyên tắc tự do hóa thương mại, Việt Nam cần cải cách mạnh mẽ các luật lệ, phù hợp với thông lệ quốc tế Điều này sẽ góp phần xây dựng một môi trường kinh doanh thông thoáng và công bằng cho tất cả các thành phần kinh tế, cả trong nước lẫn nước ngoài.

Nền kinh tế Việt Nam sẽ ít bị tổn thương trước các hành vi bảo hộ mậu dịch và trừng phạt kinh tế từ các quốc gia khác trong bối cảnh tranh chấp thương mại hoặc lý do chính trị Điều này giúp mở rộng và ổn định thị trường cho hàng hóa Việt Nam, từ đó gia tăng lợi ích từ thương mại quốc tế.

Tự do hóa giá cả nông sản mang lại lợi ích cho các quốc gia sản xuất nông nghiệp, trong đó có Việt Nam Việc giảm bảo hộ giá nông sản từ các quốc gia phát triển sẽ tạo điều kiện mở rộng thị trường nông sản của Việt Nam, giúp nâng cao khả năng cạnh tranh và gia tăng cơ hội xuất khẩu.

Chi phí kinh doanh sẽ giảm khi lĩnh vực dịch vụ được Nhà nước bảo hộ ít hơn, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng dịch vụ Việc gia nhập WTO sẽ xóa bỏ độc quyền trong các ngành này, buộc doanh nghiệp phải cải cách, cắt giảm chi phí và hạ giá dịch vụ Nhờ đó, hiệu quả kinh tế toàn nền sẽ được cải thiện đáng kể.

Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS) đã mang lại sự đảm bảo quốc tế, từ đó khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

- Đời sống nhân dân được cải thiện.

Năm 2004 là năm thứ 4 triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ

IX và Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-

Năm 2005 là thời điểm quan trọng trong việc hoàn thành các mục tiêu của kế hoạch 5 năm, với yêu cầu cao trong hai năm còn lại (2004-2005) nhằm đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế tối thiểu 8,2%/năm Điều này đòi hỏi sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng tăng trưởng để nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế và cải thiện mức sống của người dân Mặc dù năm 2004 có một số thuận lợi, nhưng cũng gặp nhiều khó khăn, do đó cần có đánh giá và dự báo chính xác tình hình để tối đa hóa lợi thế và hạn chế tác động tiêu cực từ những thách thức.

Tình hình chính trị - xã hội tại Việt Nam hiện đang ổn định, tạo nền tảng vững chắc để khai thác tiềm năng và nguồn lực của đất nước, đồng thời thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài Việt Nam được quốc tế đánh giá cao về sự ổn định chính trị, trở thành điểm đến an toàn cho các nhà đầu tư Thành công rực rỡ tại SEA GAMES 22 vừa qua càng khẳng định vị thế của Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư quốc tế.

Các Nghị quyết của Đảng và chính sách của Nhà nước đã thực sự đi vào cuộc sống và sẽ tiếp tục phát huy hiệu quả trong tương lai Những chính sách này sẽ thu hút tốt hơn các nguồn nội lực, nhằm chủ động hướng đến các mục tiêu đầu tư, đặc biệt là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, qua đó thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế.

Tư duy kinh tế đang có những chuyển biến tích cực và năng động, đặc biệt trong giới doanh nghiệp Mặc dù môi trường đầu tư sản xuất vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nhưng các doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm giải pháp đổi mới quản lý để phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì ổn định Sau hai năm hội nhập thành công, doanh nhân và doanh nghiệp của chúng ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và sự tự tin để đối mặt với những thách thức trong giai đoạn mới.

Những kết quả tích cực trong cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thể chế kinh tế và đổi mới bộ máy, đã nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Những cải cách này sẽ tiếp tục tác động tích cực đến việc thực hiện các mục tiêu của kế hoạch.

Việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã mang lại những kết quả tích cực, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển trong giai đoạn mới.

Năng lực và trình độ của nhiều ngành kinh tế đã được nâng cao đáng kể, với cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, phát huy thế mạnh của từng ngành và vùng Chất lượng tăng trưởng cũng đã có những cải thiện rõ rệt, cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang dần thích nghi với thị trường quốc tế.

Quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày càng được củng cố và phát triển, với hàng xuất khẩu vững chắc trên nhiều thị trường và tiềm năng mở rộng trong tương lai Tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu cùng với việc thực hiện các hiệp định thương mại song phương và đa phương, đặc biệt là Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, đã góp phần quan trọng vào sự phát triển này.

Kỳ, sẽ tạo ra thế phát triển mới cho đất nước.

Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, việc thực hiện các chương trình hành động theo Nghị quyết Đại hội IX và các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương khóa IX, cùng với sự điều hành sát sao của Chính phủ, đã thúc đẩy quá trình đổi mới kinh tế Điều này tạo ra một môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh thuận lợi, thông thoáng, góp phần tăng cường huy động nội lực và sử dụng hiệu quả ngoại lực cho sự phát triển.

Những giải pháp thúc đẩy gia nhập WTO

Ngày đăng: 07/01/2022, 20:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w