Đồng chí Lê Công Thanh được Xứ ủy cử về bắt mối, liên lạc với các hội viên Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Thanh Hóa để truyền đạt chủ trương của Xứ ủy.. Từ đây giai cấp công nhân, g
Trang 1ĐỀ CƯƠNG BÀI DỰ THI
“Tìm hiểu Lịch sử và truyền thống cách mạng của nhân dân Thanh Hoá”
Năm học 2022-2023
Câu 1 Hội nghị thành lập Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa cử Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 03 đồng chí là những ai? Em hãy nêu những hiểu biết của mình về đồng chí Bí thư đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá.
Gợi ý trả lời:
Thanh Hóa là một tỉnh giàu truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng Truyền thống ấy ngày càng được nhân lên ngay sau khi Đảng bộ Cộng sản tỉnh được thành lập.
1 Sự thành lập Đảng bộ Cộng sản tỉnh Thanh Hóa.
Đầu tháng 1 năm 1930 Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm (Thái Lan) đến Hương Cảng (Trung Quốc) Với tư cách là “Phái viên của quốc tế cộng sản”, Người triệu tập đại biểu của các tổ chức cộng sản và chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn) thành một Đảng duy nhất tại Cửu Long - Hương Cảng (Trung Quốc)
Hội nghị nhất trí tán thành việc hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng duy nhất nhằm đủ sức đảm đương sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam Hội nghị thông qua chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, chương trình tóm tắt, điều lệ vắn tắt của Đảng
Ngay từ sau Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, xứ Bắc kỳ đặc biệt quan tâm đến việc thành lập tổ chức cộng sản ở Thanh Hóa Đồng chí Lê Công Thanh được Xứ ủy cử về bắt mối, liên lạc với các hội viên Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Thanh Hóa để truyền đạt chủ trương của Xứ ủy Đồng chí Nguyễn Doãn Chấp cũng được Xứ ủy, ủy nhiệm về Thanh Hóa vận động thành lập Đảng bộ
Ngày 25-6-1930, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Doãn Chấp, Hội nghị thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở Thanh Hóa đã được tiến hành tại làng Hàm
Hạ (Đông Sơn) gồm 7 đồng chí Sự ra đời của chi bộ Hàm Hạ là mốc son chói lọi trong phong trào cách mạng ở Thanh Hóa trước Cách mạng Tháng Tám, đồng thời là nền móng, là mạch nguồn sự ra đời của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa Đến tháng 7-1930, hai chi bộ cộng sản khác cũng lần lượt được thành lập ở làng Phúc Lộc (Thiệu Hóa) và làng Yên Trường (Thọ Xuân) Như vậy đến cuối tháng 7-1930, tại Thanh Hóa đã có 3 chi bộ cộng sản đủ điều kiện về tổ chức và tư tưởng để tiến tới thành lập Đảng bộ tỉnh
Ngày 29-7-1930, hội nghị đại biểu của 3 chi bộ trên được tổ chức tại làng Yên Trường (Thọ Xuân) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Doãn Chấp Ngôi nhà lịch sử chính là của gia đình đ/c Lê Văn Sỹ - Bí thư Chi bộ Yên Trường, huyện Thọ Xuân lúc bấy giờ, được chọn làm địa điểm để tổ chức hội nghị thành lập Đảng bộ tỉnh Điều đặc biệt là cũng tại ngôi nhà này trước đó một tuần đã diễn
ra sự kiện thành lập chi bộ cộng sản Yên Trường, tiền thân của Đảng bộ huyện Thọ Xuân Hội nghị đã bàn công tác phát triển Đảng, gây dựng các tổ chức quần chúng như: Nông hội đỏ, Công hội đỏ, Phụ nữ giải phóng và quyết định xuất
Trang 2bản tờ báo “Tiến lên” để làm cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Hội nghị đã
tuyên bố thành lập Đảng bộ tỉnh và bầu ban chấp hành gồm 3 đồng chí: Lê Thế Long, Vương Xuân Các, Lê Văn Sĩ do đồng chí Lê Thế Long làm bí thư.
Đảng bộ Tỉnh Thanh Hóa thành lập là một sự kiện trọng đại, đánh dấu bước ngoặt của phong trào cộng sản ở tỉnh nhà Từ đây giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động ở Thanh Hóa đã có một chính Đảng vô sản lãnh đạo, vững bước tiến lên lập nhiều chiến công viết tiếp những trang sử vẻ vang trong suốt những chặng đường cách mạng của mình, góp phần
to lớn vào sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc
2 Lê Thế Long- Bí thư đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
Lê Thế Long sinh năm 1893, tại làng Hàm Hạ, tổng Kim Khê (nay thuộc
xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn) trong một gia đình nho học với nhiều đời làm nghề dạy học Lê Thế Long từ nhỏ vốn sáng dạ nên được ông và cha dạy dỗ, rèn cặp đã học hành tấn tới Suốt 10 năm đèn sách (1908 - 1918), Lê Thế Long sau khi tham gia kỳ thi sát hạch ở địa phương đạt kết quả đã được dự thi Hương ở Nghệ An vào mùa thu năm Mậu Ngọ (1918) Đây là kỳ thi cuối cùng của khoa
cử phong kiến Vốn hiếu học, từ năm 1919 – 1921, Lê Thế Long theo học trường Pháp - Việt tại Ý Yên, Nam Hà và đã thi đậu Tiểu học (primaire)
Những năm xa quê bôn ba theo nghiệp đèn sách, ông đã có điều kiện tìm hiểu sách báo bí mật và những thông tin về các nhà yêu nước Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… Đặc biệt là luồng gió mới của Cách mạng Tháng 10 Nga đã được giới trí thức trẻ Việt Nam và ở Thanh Hoá tiếp nhận, ngưỡng mộ… Ông quyết định trở về quê cùng gia đình, bà con làng xóm lao động kiếm sống từ nghề nông và tìm sách báo tài liệu tự học để nâng cao trình độ, thực hiện hoài bão trở thành nhà giáo giỏi và tìm con đường cứu nước
Đầu tháng 3 năm 1922, Lê Thế Long bắt đầu đi dạy học chữ Nho ở một gia đình tư nhân tại làng Bái Châu, tổng Bái Châu Đến cuối năm 1923, thầy Long đã được bố trí dạy trường công Trịnh Xá (tổng Trịnh Xá, nay thuộc xã Yên Ninh, huyện Yên Định) Sau đó, đến cuối năm1926, thầy Long chuyển về dạy ở thị xã Thanh Hoá
Trong thời gian từ năm 1925 – 1929, tuy dạy học ở xa, nhưng Lê Thế Long vẫn nhớ về quê hương Lúc này ở Hàm Hạ, phong trào yêu nước đã dội tới
và được nhiều chiến sĩ cộng sản chú trọng gây dựng Tháng 4/1930, đồng chí Nguyễn Doãn Chấp được xứ uỷ Bắc Kỳ cử về Thanh Hoá, chuẩn bị cho việc thành lập tổ chức Đảng Ngày 18/61930, đồng chí Nguyễn Doãn Chấp trở về làng Hàm Hạ bắt liên lạc với đồng chí Lê Bá Tùng, một hội viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên cơ sở Hàm Hạ Trong thời gian ở đây, đồng chí Nguyễn Doãn Chấp đã tuyên truyền, kết nạp được 3 đồng chí vào Đảng Cộng sản Việt Nam là Lê Bá Tùng, Lê Oanh Kiều, Lê Thế Long Tiếp đó, công tác tuyên truyền phát triển đảng viên được đẩy mạnh
Ngày 25/6/1930, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Doãn Chấp, Hội nghị thành lập chi bộ Hàm Hạ, chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của Thanh Hóa
đã được tiến hành, Hội nghị nhất trí bầu đồng chí Lê Thế Long làm Bí thư chi bộ
Trang 3Giữa lúc các tổ chức Đảng, các tổ chức quần chúng và phong trào đấu tranh của nhân toàn tỉnh đang trên đà phát triển thì Xứ uỷ Bắc kỳ bị địch khủng
bố Ngày 21-22/12/1930, binh lính kéo về lùng sục, truy bắt đảng viên trong tỉnh Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh và đồng chí Lê Thế Long đã bị sa vào tay địch
Cuối năm 1935, đồng chí Lê Thế Long cùng các đồng chí Lê Chủ, Trịnh Huy Quang, Bùi Đạt… được trả tự do và đã bắt liên lạc với Đảng tiếp tục hoạt động Tháng 3/1936, nhận nhiệm vụ phân công của Đảng bộ, đồng chí Lê Thế Long đã tổ chức dạy học chữ Quốc Ngữ để truyên truyền cách mạng cho nhân dân địa phương Mục đích của lớp học không chỉ dạy Quốc Ngữ mà qua đó tuyên truyền tinh thần yêu nước, giác ngộ cách mạng cho thế hệ trẻ
Đang say sưa với công tác giảng dạy và dẫn dắt học viên đến với cách mạng thì đồng chí Lê Thế Long ngã bệnh hiểm nghèo Những năm tháng hoạt động cách mạng gian khó, lại bị địch bắt tù đày tra khảo khiến sức lực đồng chí dần suy kiệt Ngày 17 tháng 11 năm Bính Tý (tức 30/12/1936), Lê Thế Long -một Đảng viên cộng sản kiên trinh, Bí thư đầu tiên của Đảng bộ Thanh Hoá đã vĩnh viễn ra đi giữa tuổi 43 đầy hoài bão, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho bạn
bè, đồng chí và nhân dân Thanh Hoá
Câu 2 Những địa danh sau: Hang Treo, Chiến khu Ngọc Trạo (thuộc huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá) có liên quan đến sự kiện lịch sử quan trọng nào trong phong trào phản đế cứu quốc của tỉnh Thanh Hoá? Nêu tóm tắt nội dung và ý nghĩa của sự kiện đó?
Gợi ý trả lời:
Hang Treo, Chiến khu Ngọc Trạo - một trong những chiến khu du kích đầu tiên của cả nước, nơi thành lập đội du kích Ngọc Trạo- tiền thân của lực lượng vũ trang Thanh Hóa.
Ngọc Trạo thuộc tổng Trạc Nhật, huyện Thạch Thành, nằm về phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa, cách huyện lỵ Kim Tân (Thạch Thành) 15km, cách đồn lính khố xanh ở Bỉm Sơn khoảng hơn 10km về phía Đông Bắc
Vào những năm 1940 – 1941, Ngọc Trạo là một bản của đồng bào dân tộc Mường, chỉ có 43 hộ dân với 215 người được phân bố khắp thung lũng Ngọc Trạo nằm trong vùng đồi núi tương đối hiểm trở, cây cối um tùm rậm rạp, các đường mòn qua rừng, qua suối chỉ có dân bản địa mới thông hiểu đường đi lối lại
Nơi đây có vị trí đặc biệt quan trọng và khá thuận lợi, có núi rừng bao bọc xung quanh, có đường giao thông liên huyện nối liền với các khu căn cứ cách mạng: Hà Trung, Yên Định, Vĩnh Lộc; vừa có đường đi Phố Cát, Kim Tân để từ
đó liên hệ với vùng rừng núi phía Tây rộng lớn của tỉnh Thanh Hóa; lại có
đường thẳng xuống Bỉm Sơn, Tam Điệp một phòng tuyến đặc biệt hiểm yếu và lợi hại mà hơn hai trăm năm trước đại binh của Vua Quang Trung – Nguyễn Huệ
đã từng chọn làm nơi phục binh, đồng thời lại có đường về hang Treo xã Hà Long huyện Hà Trung nơi đã từng là đồn trú của các nghĩa sỹ Cần Vương Rồi
Trang 4từ Ngọc Trạo có thể đi tắt sang tỉnh Ninh Bình để liên hệ với đồng bằng Bắc Bộ
và xứ ủy Bắc Kỳ, rất thuận lợi cho việc huấn luyện cán bộ, huấn luyện du kích,
dễ dàng liên lạc với các khu căn cứ cách mạng
Mặt khác, nhân dân Ngọc Trạo vốn giàu lòng yêu nước và tinh thần chiến đấu, thiết tha với độc lập tự do Từ năm 1886 hưởng ứng chiếu “Cần Vương” của vua Hàm Nghi, trong làng đã có nhiều người đi lính sơn phòng cho cụ Tống Duy Tân và bản thân cụ Tống Duy Tân cũng đã từng qua lại vùng này nhiều lần Đến thời kỳ 1930 - 1931; 1936 - 1939, nơi đây từng là cơ sở hoạt động cách mạng của các đồng chí Đảng viên; Nhiều tổ chức quần chúng được thành lập như: “Hội tương tế ái hữu”; “Hội truyền bá Quốc ngữ”; “Hội đọc sách báo” v.v…Tác phẩm “Vấn đề dân cày” của Qua Ninh và Vân Đình (tức đồng chí Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp) được giới thiệu, tuyên truyền rộng rãi tại đây Những quần chúng giác ngộ cách mạng như: Tôn Viết Nghiệm, Tôn Viết Minh, Bùi Oanh … đã tích cực vận động nhân dân trong vùng tham gia các hoạt động cứu nước
Năm 1940, tiếp thu tinh thần Nghị quyết TW6 (tháng 11/1939), Tỉnh ủy Thanh Hóa đã kịp thời chỉ đạo việc xây dựng các đoàn thể phản đế cứu quốc ở Ngọc Trạo Tháng 3/1941, Mặt trận phản đế cứu quốc huyện Thạch Thành chính thức thành lập Nhiều cuộc mít tinh, biểu tình được tổ chức ở các làng Phúc Lộc, Cẩm Bào, Xuân Áng nhằm tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân xây dựng lực lượng vũ trang chống Pháp, đuổi Nhật
Giữa năm 1941, trong lúc phong trào ở các huyện Thiệu Hóa, Thọ Xuân đang bị kẻ thù uy hiếp thì Thạch Thành, Vĩnh Lộc lúc này vẫn còn là nơi an toàn Cơ sở cách mạng Thạch Thành được mở rộng ra đến vùng Phố Cát, Bỉm Sơn giáp Ninh Bình Do đó điều kiện để thành lập một khu căn cứ huấn luyện cán bộ, huấn luyện du kích, chuẩn bị cho phong trào khởi nghĩa vũ trang đã chín muồi
Theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương, tháng 6 năm 1941, Tỉnh ủy Thanh Hóa triệu tập Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng tại làng Phúc Tỉnh (huyện Thiệu Hóa) Hội nghị đánh giá đầy đủ tình hình ta và địch trong tỉnh, đồng thời đề ra chủ
trương xây dựng lực lượng vũ trang, tiến tới “ thành lập căn cứ địa cách mạng từ Tây Bắc đến Đông Nam Thanh Hóa”
Sau một thời gian nghiên cứu, khảo sát, nhận thấy Ngọc Trạo là vùng đất
“địa lợi, nhân hòa” cuối tháng 7/1941, Tỉnh ủy quyết định thành lập Chiến khu Ngọc Trạo (nay là xã Ngọc Trạo, huyện Thạch Thành) Ban Lãnh đạo chiến khu gồm ba đồng chí:
- Đồng chí Đặng Châu Tuệ - Thường trực Tỉnh ủy phụ trách chung
- Đồng chí Trần Tiến Quân- Tỉnh ủy viên phụ trách công tác an toàn khu
- Đồng chí Đặng Văn Hỷ - Tỉnh ủy viên phụ trách công tác an toàn khu
Chiến khu đã hình thành, mọi hoạt động đều dặt dưới sự chỉ huy chặt chẽ
và thống nhất của ban lãnh đạo chiến khu Nhân dân Ngọc Trạo phấn khởi, đặt tất cả niềm tin vào Đảng và cách mạng
Cùng với việc thành lập chiến khu, cơ quan ấn loát của Tỉnh ủy cũng được
chuyển về Ngọc Trạo “Báo Tự Do” và các tài liệu tuyên truyền của Đảng trở
Trang 5thành một vũ khí tuyên truyền sắc bén, hiệu quả góp phần cổ vũ, động viên nhân dân khắp mọi miền hướng về chiến khu cách mạng
Ảnh hưởng của chiến khu ngày càng mở rộng Tên tri huyện Thạch Thành Sầm Văn Kim và tên đồn trưởng Bỉm Sơn đưa lính đến tuần tra, dò xét Song nhờ sợ đùm bọc che chở, giúp đỡ của đồng bào, chiến khu Ngọc Trạo vẫn được
an toàn
Lực lượng ban đầu gồm 21 chiến sỹ cách mạng được chọn lựa từ nhiều huyện trong Tỉnh, vượt vòng vây của mật thám đã về Ngọc Trạo tụ họp
Sau một thời gian tập kết lực lượng và chuẩn bị địa bàn, ngày 18/9/1941, Ban Lãnh đạo chiến khu quyết định chuyển toàn bộ lực lượng về Hang Treo (xã Hà Long, huyện Hà Trung), cách Ngọc Trạo 15km Tại đây, đêm 19/9/1941, đội du
kích Ngọc Trạo dưới sự chỉ huy của đồng chí Đặng Châu Tuệ chính thức làm
lễ thành lập Bên ánh lửa hồng, dưới lá cờ Đảng quang vinh, 21 chiến sĩ du kích
với gương mặt sáng quắc, kiên nghị xếp hàng làm lễ tuyên thề nguyện hy sinh phấn đấu đến giọt máu cuối cùng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Bài
hát “Đời ta bấy lâu khổ rồi” - bài Đội ca của đội du kích Ngọc Trạo vang lên
với âm hưởng hào hùng trong niềm hân hoan phấn khởi của tất cả mọi người Và bài hát đã trở thành bài "Đội ca"
"Đời ta khổ bấy lâu rồi
Mà sao vẫn cam chịu hoài Đời mình tự mình phải cứu Chớ trông cậy vào ai Công nông binh đoàn kết Trên con đường giai cấp đấu tranh Búa liềm kia dắt chúng ta lên đường Đại đồng".
Việc thành lập đội du kích chiến khu Ngọc Trạo đã gây tiếng vang lớn cho nhân dân, cổ vũ nhiều thanh niên yêu nước trong tỉnh tình nguyện lên chiến khu hoạt động Đội du kích gồm 21 chiến sỹ ưu tú tiền thân của lực lượng vũ trang Thanh Hoá sau này, mang số thứ tự từ 1 đến 21 do đồng chí Đặng Châu Tuệ trực tiếp làm chỉ huy trưởng
Sự ra đời của đội du kích Ngọc Trạo đánh dấu bước trưởng thành to lớn của LLVT cách mạng Thanh Hóa nói chung và ở huyện Thạch Thành nói riêng
Từ nay, Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà đã có một lực lượng vũ trang thoát ly đầu tiên, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang sau này Đây là một lực lượng có tổ chức chặt chẽ Tất cả đều mặc quần áo nông dân, có thêm túi dết, xà cạp xanh Mỗi chiến sĩ đều được trang bị một con dao nhọn, cán bộ được thêm một khẩu súng kíp, việc học tập chính trị, văn hóa
và huấn luyện quân sự đều được tiến hành khẩn trương và rất kỉ luật
3 Qúa trình hoạt động và chuyển hóa của đội du kích Ngọc Trạo.
Đêm 19/9/1941, đội du kích Ngọc Trạo dưới sự chỉ huy của đồng chí Đặng Châu Tuệ chính thức làm lễ thành lập - Đây là một trong những lực lượng
vũ trang tập trung tiền thân của lực lượng vũ tranh Tỉnh Thanh Hoá
Sau khi thành lập, để tăng cường lực lượng, khắp nơi trong tỉnh du kích được tuyển lựa về ngày một đông Đến cuối tháng 9/1941 số du kích lên tới 80 người,
Trang 6trong đó có 8 chiến sĩ từ Ninh Bình vào và một số thanh niên của các tỉnh Nghệ
An, Hà Tĩnh, Thái Bình đang làm ăn và theo học ở Thanh Hóa cũng được giác ngộ và tự nguyện gia nhập đội du kích Ngọc Trạo Đội được biên chế thành hai trung đội; mỗi trung đội gồm một tiểu đội súng, một tiểu đội dao-kiếm, tổ trinh sát, tổ y tế, tổ hậu cần Trang bị của đội viên gồm có: Quần áo nông dân, túi dết,
xà cạp xanh, một con dao nhọn Cán bộ được phát thêm khẩu súng kíp Thời gian làm việc của đội là: Buổi sáng tập quân sự, chiều học chính trị, và buổi tối học tập văn hoá, sinh hoạt văn nghệ
Quân số tăng, khó khăn về hậu cần xuất hiện, “có những ngày anh em phải ăn lá cây, quả rừng, thay cơm” Trong khi đó kẻ thù đã phát hiện ra địa điểm đóng quân của ta
Ngày 25/9/1941, nhận thấy Hang Treo nằm sâu trong rừng vắng giữa hai huyện Thạch Thành và Hà Trung không được thuận tiện cho việc giao thông, liên lạc, tiếp tế, mở rộng địa bàn hoạt động của đội du kích đã trưởng thành, đồng thời xét thấy kẻ thù đã lạc hướng do thám, Ban lãnh đạo đã quyết định chuyển toàn bộ lực lượng về đóng tại đồi Ma Mầu- cách làng Ngọc Trạo 7.800m
về phía Tây Bắc
Khu vực đồi Ma Mầu có rừng cây rậm rạp, ở độ cao khoảng 500m, các đồi Yên ngựa liền nhau tạo thành thể liên hoàn Từ đây có thể quan sát được đối phương từ Hà Trung lên và từ Thạch Thành tới
Tại đây, các chiến sĩ du kích dựng lán trại, san lấp bãi tập, lập 3 bốt gác, chốt ở
ba đỉnh đồi (Trạc Lòi, Ba Cao và đồi Riềng) theo hình tam giác Mọi hoạt động của chiến khu nhanh chóng được ổn định Từ việc luyện tập đến việc sinh hoạt đều được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ Các chiến sĩ không chỉ hăng say luyện tập quân sự như: Tập võ, bắn súng, tập đâm mác, đâm dao găm, đánh giáp lá cà, học chính trị, học văn hóa, văn nghệ mà còn học thêm tiếng dân tộc Mường để làm tốt công tác dân vận Mối tình quân với dân vùng Ngọc Trạo và phụ cận ngày càng gắn bó keo sơn
Đội du kích đã lớn lên Nhưng toàn bộ việc ăn ướng của du kích đều do nhân dân Ngọc Trạo đảm nhận Hàng ngày đội tự vệ nữ lo việc cơm nước từ nhà mang lên đồi Ma Mầu Còn các cụ già thì lo việc luyện cám rang để làm lương khô dự trữ cho du kích Các tự vệ nam ở Ngọc Trạo ngà đêm tuần tra canh gác trong làng, dẫn đường chuyển tài liệu, thuốc men và vũ khí cho cán bộ chiến sĩ lên chiến khu Còn ở gia đình, nhiều người làm tên, làm nỏ, mở lò rèn làm vũ khí cho du kích, người thì đi chợ Kim Tân mua muối, thuốc men, vải, đá in lô mang lên cho du kích
Từ Ngọc Trạo, nhân dân khắp mọi nơi trong tỉnh đã mở thêm các lò rèn cung cấp dao, kiếm, quyên góp nỏ, súng săn, lương thực thực phẩm, chở đá in, mực, giấy cho xưởng ấn loát, mua sắm quần áo, thuốc men, đạn dược… tiếp tế cho chiến khu
Với ý định hoàn chỉnh chiến khu để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài, tăng thêm quân số với quy mô rộng lớn, Tỉnh ủy quyết định tuyển chọn thêm
500 chiến sĩ tự vệ ở các phủ, huyện về Ngọc Trạo Huyện uỷ phản đế các huyện Thiệu Hóa, Thọ Xuân, Yên Định đã lựa chọn những đội viên du kích tiêu biểu
Trang 7nhất trong vùng và lấy: “Đa Ngọc làm địa điểm tập kết chuyển quân lên chiến khu”
Ngày 8-10-1941, sau nhiều lần trinh sát, bọn mật thám phát hiện được lực lượng của ta tập trung tại Đa Ngọc (xã Yên Giang, huyện Yên Định) Đêm hôm
ấy chúng đưa lính bất ngờ đột nhập vào Đa Ngọc - nơi tập kết hơn 100 chiến sĩ
tự vệ trước khi hành quân lên chiến khu Tại đây đã nổ ra cuộc chiến đấu ác liệt đầu tiên giữa tự vệ Đa Ngọc với kẻ thù Trong trận chiến đấu này, đồng chí Nguyễn Đức Tẻo bị thương nặng, anh dũng hy sinh tại Đa Ngọc
Được nhân dân hết lòng ủng hộ giúp đỡ, ngay trong đêm, các chiến sĩ du kích quyết định rời khỏi làng Đa Ngọc, chia thành nhiều tổ băng rừng hành quân lên Ngọc Trạo Nhưng kế hoạch không thành
Rạng sáng ngày 19/10/1941, thực dân Pháp bí mật cho quân tấn công vào chiến khu Ngọc Trạo Cuộc chiến đấu đầu tiên giữ đội duc kích Ngọc Trạo và bọn lính khố xanh diễn ra hết sức quyết liệt Một đội lính hơn 100 tên dưới sự chỉ huy của các sỹ quan Pháp, trong đó có tên quan Một, trưởng đồn Bỉm Sơn Dumorat và một lũ mật thám bí mật tiến về rừng núi Ngọc Trạo giữa đêm khuya Một toán khác khoảng 50 tên bố trí tập kích quân ta bên đình Ngọc Trạo Các chiến sĩ vừa đánh giáp lá cà, dùng dao, kiếm, mã tấu quần nhau với địch, vừa xung phong, dùng loa kêu gọi binh lính quay súng trở về với nhân dân Cuộc chiến đấu dằng co kéo dài, bọn địch tập trung về phía trước đình Ngọc Trạo để
cố thủ lực lượng, còn quân du kích thì rút về phía sau nương sắn làng Ngọc trạo tiếp tục chiến đấu Đồng chí Phạm Văn Hinh, trưởng ban quân báo bị thương nặng, biết mình không thể sống được đã đề nghị đồng đội cho nằm lại để khỏi ảnh hưởng tới cuộc chiến đấu
Trước tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường của các chiến sĩ du kích, quân địch hoang mang lo sợ không dám liều mạng tấn công Một số nhanh chóng rút khỏi trận địa, tập trung lực lượng bắn xối xả về phía quân du kích Ba chiến sĩ du kích Phạm Văn Hinh, Hoàng Văn Môn, Đỗ Văn Tước đã hy sinh anh dũng trong trận chiến đấu này
Sau khi cùng bà con làm lễ truy điệu cho các đồng chí, cất dấu tài liệu và vạch kế hoạch đấu tranh chống khủng bố cho đồng bào Ngọc Trạo Để bảo toàn lực lượng, ngay tối 19/10/1941, ban chỉ huy chiến khu đã quyết định cho toàn đội du kích vượt vòng vây chuyển về phía Bắc huyện Vĩnh Lộc Tối 25/10/1941 toàn đội đã tập kết tại đình làng Cẩm Bào ( xã Vĩnh Long huyện Vĩnh Lộc), thông qua kế hoạch phân tán lực lượng về các địa phương để tránh sự truy lùng khủng bố của địch, cùng nhân dân tiếp tục đấu tranh chống khủng bố, bảo vệ cơ
sở cách mạng, duy trì phong trào đánh Pháp đuổi Nhật cứu nước
Chiến khu Ngọc Trạo bị tan vỡ, chiến sỹ Ngọc Trạo bị khủng bố ác liệt, phần lớn bị bắt, tù đày Số ít thoát được vẫn tiếp tục hoạt động bí mật Nhưng dù
ở trong tù hay còn hoạt động bí mật gian khổ, các chiến sỹ Ngọc Trạo vẫn giữ vững khí tiết cách mạng, chí khí tiến công và tinh thần anh dũng, quật khởi Chiến khu Ngọc Trạo chỉ tồn tại 3 tháng, nhưng tinh thần cách mạng bất khuất, dũng cảm của đồng bào và chiến sỹ Ngọc Trạo là tấm gương sáng cho nhân dân trong Tỉnh noi theo đứng lên chống thực dân xâm lược Ngọc Trạo còn để lại
Trang 8một bài học xương máu về tổ chức, xây dựng căn cứ địa, bảo vệ và phát triển lực lượng cách mạng khi lực lượng quân thù đang còn mạnh
“Chiến khu du kích Ngọc Trạo tuy không còn, nhưng ngọn lửa đỏ từ hang Treo- Ngọc Trạo đã lan tỏa về mọi miền quê tỉnh Thanh Hóa, bền bỉ cháy, để từ
đó góp phần thổi bùng lên ngọn lửa tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8/1945, mở ra một kỷ nguyên mới- kỷ nguyên độc lập tự do cho nước nhà”
Chiến khu du kích Ngọc Trạo - một trong những chiến khu du kích đầu tiên của cả nước, đỉnh cao của phong trào phản đế cứu quốc ở Thanh Hóa, giai đoạn 1940 - 1941 Đội du kích và Chiến khu Ngọc Trạo đã hoàn thành nhiệm vụ
mà Trung ương và Tỉnh ủy giao Đó là sự tiếp nối của tiếng súng Bắc Sơn và Nam Kỳ khởi nghĩa, là nguồn sức mạnh cổ vũ to lớn đối với Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thanh Hóa Đồng thời cũng để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong công tác xây dựng lực lượng vũ trang và chiến tranh du kích; kết hợp sức mạnh chính trị với sức mạnh vũ trang, khởi nghĩa từng phần, chớp thời cơ tiến tới tổng khởi nghĩa góp phần làm nên thành công của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945
Với tầm vóc và ý nghĩa lịch sử to lớn ấy, năm 1991 nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Đội du kích Ngọc Trạo, UBND huyện Thạch Thành đã xây dựng Tượng đài chiến sĩ du kích Ngọc Trạo Tượng đài được đặt ở vị trí chính giữa khu trung tâm, là biểu tượng cao đẹp về khí phách anh hùng của các chiến
sĩ du kích Ngọc Trạo Để mùa thu hàng năm vào ngày 19/9 con cháu ở khắp mọi miền Tổ quốc lại tụ hội về đây tri ân, tưởng nhớ những người con cảm tử của quê hương Thanh Hóa./
Câu 3 Người anh hùng huyền thoại quên thân mình cứu pháo trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 là ai? Trình bày sơ lược vài nét về người anh hùng đó.
Gợi ý trả lời:
Để góp phần vào sự thành công của chiến thắng Điện Biên Phủ
(7/5/1954) đã có biết bao tấm gương anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn xuân xanh Họ, những người chiến sĩ mang trên mình một tình yêu Tổ Quốc, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.Trong đó, anh hùng Tô Vĩnh Diện đã dũng cảm lấy thân mình cứu pháo.
Anh hùng Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924, ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa Anh sinh ra trong một gia đình nghèo, lên 8 tuổi đã phải
đi ở cho địa chủ, suốt 12 năm đi ở đợ anh luôn phải chịu bao cảnh áp bức, bất công Năm 1946 anh tham gia dân quân ở địa phương, đến năm 1949 anh xung phong đi bộ đội
Tháng 5/1953, quân đội ta thành lập các đơn vị pháo cao xạ để chuẩn bị đánh lớn Tô Vĩnh Diện được điều về làm tiểu đội trưởng một đơn vị pháo cao
xạ Trong quá trình hành quân cơ động trên chặng đường hơn 1.000km tới vị trí tập kết để tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, anh luôn nhận những nhiệm vụ khó khăn, nặng nhọc, động viên giúp đỡ đồng đội kéo pháo đến nơi an toàn
Trang 9Ngày ấy, để chi viện cho chiến trường Điện Biên phủ, cùng với các loại vũ khí như DKZ-82B10, P40, P41, và các loại súng bộ binh như đại liên, tiểu liên AK, thì hai khẩu pháo lựu loại 105mm và cao xạ 37mm được quyết định đưa đến chiến trường Nhưng đưa pháo vào trận địa bằng cách nào vừa bảo đảm an toàn
bí mật, vừa kịp thời gian khẩn trương triển khai đội hình chiến đấu là cả một kế hoạch hành quân gian khổ Trong khi đó lực lượng ta mỏng, địa hình hiểm trở, nhiều dốc cao, vực sâu, rừng rậm chằng chịt và liên tục bị quân địch trinh thám
dò la kiểm soát bằng không quân Trước tình hình ấy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch
quyết định: “Huy động lực lượng tại chỗ, kéo pháo vào trận địa bằng sức người, hành quân ban đêm, bảo đảm tuyệt mật” Hai khẩu pháo hạng nặng loại 105mm
và cao xạ 37mm do Liên Xô sản xuất lúc đó được coi là “gia bảo quốc gia” khẩn trương được chằng dây, ngụy trang cho cuộc hành quân bí mật Sau 3 ngày vận chuyển từ Tuần Giáo, Lai Châu, trưa ngày 16/1/1954, hai khẩu pháo được tập kết tại ki-lô-mét 63, đường 42
Cuộc hành quân bắt đầu từ đêm 16/01/1954 Với tinh thần quyết
tâm “bằng sức người, pháo vào trận địa”, các chiến sĩ Điện Biên và công binh
sử dụng dây thừng, dây dù, dây rừng tại chỗ để kéo pháo Có chỗ phải vượt qua núi cao 1.450m, kéo pháo lội qua dòng suối chảy xiết do nước mưa rừng đổ về Mặc cho trời rét căm căm, mặc cho núi cao, đèo dốc, vực thẳm, rừng chằng chịt, các chiến sĩ Điện Biên vẫn kiên cường kéo pháo Tất cả không ai chùn bước Trước tình hình phòng ngự kiên cố của địch, để thay đổi chiến thuật cách đánh, ngày 26/01/1954, Tổng tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định đổi phương án tác chiến từ “Đánh nhanh thắng nhanh” sang “Đánh chắc tiến chắc” Các đơn vị pháo nhận được mệnh lệnh phối hợp với các đơn vị bộ binh kéo pháo trở ra Đơn vị của anh Tô Vĩnh Diện được lệnh kéo pháo ra điểm tập kết tại bản Bắng Hôm để ăn tết Giáp Ngọ và chờ lệnh mới
Ngày 01/2/1954, đơn vị anh trên đường kéo pháo ra, đến một con dốc cao
và hẹp ở gần Bản Chuối Anh cùng một pháo thủ phụ trách điều khiển càng pháo
để chỉnh hướng cho một đơn vị bộ đội kéo dây tời giữ pháo, thì bất ngờ quân Pháp bắn pháo từ Mường Thanh lên Đơn vị kéo giữ pháo nằm rạp xuống, đồng thời dây tời bị đứt Pháo mất đà lăn qua chèn Chiến sĩ pháo thủ Lê Văn Chi bị càng pháo hất xuống vực Pháo tiếp tục mất đà trôi dần về phía sau Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn đó, Tô Vĩnh Diện hô anh em “Thà hy sinh quyết bảo vệ pháo”, và anh buông tay lái xông lên phía trước, lấy thân mình chèn vào bánh pháo, nhờ đó các anh em đồng đội kịp ghìm giữ pháo Tuy cản được pháo lăn xuống vực, nhưng Tô Vĩnh Diện bị bánh xe của khẩu pháo nặng hơn 2 tấn đè lên người trọng thương Giây cuối cùng khi được đồng đội đưa ra để đi cấp cứu, nhưng không kịp Trước khi hy sinh, câu cuối anh hỏi đồng đội: “Pháo có việc gì không?” Tấm gương hy sinh vô cùng anh dũng của anh đã cổ vũ mạnh mẽ toàn đơn vị vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ, chuẩn bị chiến đấu và chiến đấu thắng lợi Khi hy sinh anh là Tiểu đội trưởng pháo cao xạ 37 ly, thuộc Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367
Anh được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất Ngày
7/5/1955, Tô Vĩnh Diện được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa truy
Trang 10tặng Huân chương Quân công hạng Nhì và được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
68 năm đã trôi qua, hành động chèn lưng cứu pháo của anh Tô Vĩnh Diện mãi mãi khắc sâu vào tim những người lính Cụ Hồ và những người đang sống Đối với thế hệ trẻ ngày nay, hành động dũng cảm của anh như một “cú hích” về
sự xả thân hy sinh Nó sống mãi với thời gian, tươi mới về tinh thần cống hiến
và vẹn nguyên giá trị quên mình vì Tổ quốc
Câu 4 Những đóng góp to lớn của quân, dân Thanh Hoá trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954- 1975)?
Gợi ý trả lời:
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Thanh Hóa, quân và dân Thanh Hoá luôn chắc tay súng bảo vệ vững chắc quê hương, khôi phục sản xuất, hàn gắn vết thương chiến tranh, giữ vững mạch máu giáo thông và làm tròn nghĩa vụ hậu phương với cách mạng miền Nam ruột thịt
1 Nhân dân Thanh Hóa bảo vệ vững chắc quê hương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).
1.1 Khôi phục sản xuất, hàn gắn vết thương chiến tranh, cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) thắng lợi, hòa bình được lập lại ở miền Bắc Nhưng nhân dân miền Nam vẫn phải sống trong ách thống trị bạo tàn của bè lũ Mỹ- Ngụy Thực hiện chủ trương, đường lối của Trung ương Đảng, nhân dân cả nước cùng lúc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng
là xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất
Tổ quốc Cùng với nhân dân miền Bắc, Thanh Hóa nhanh chóng thực hiện công cuộc hàn gắn hậu quả tàn phá của chiến tranh, khôi phục và phát triển sản xuất,
ổn định đời sống nhân dân
Trong gần 10 năm cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất ban đầu cho CNXH, nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền, sự nỗ lực phấn đấu của mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn nên KT-XH phát triển, tiềm lực QP-AN của tỉnh được tăng cường đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước Tỉnh đã dồn sức xây dựng nhiều cơ sở công trình thiết yếu phục vụ đời sống, đồng thời chú trọng áp dụng tiến bộ của công nghiệp vào sản xuất nông nghiệp nên năng suất lao động được nâng cao, đời sống nhân dân được cải thiện Phong trào thi đua xây dựng các mô hình, điển hình tiên tiến ở tất cả các ngành, các cấp được đẩy mạnh Các điển hình tiên tiến trong nông nghiệp như Đông Phương Hồng, Yên Trường, trong công nghiệp như cơ khí Thành Công, trong giáo dục như Hải Nhân được nhân rộng trên toàn miền Bắc Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất Thanh Hóa đã đạt được một số thành tựu quan trọng trong phát triển
KT-XH với nhiều cơ sở vật chất, công trình được đầu tư xây dựng
1.2 Chiến đấu bảo vệ quê hương.
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Thanh Hóa là địa bàn trọng điểm được xác định là hướng chiến lược quan trọng ở tuyến đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Quân khu; là cầu nối giữa hậu phương lớn miền Bắc và