Tình huống 1: Năm 2010, sau một thời gian yêu đương, tìm hiểu chị Ng và anh Kh quyết định dọn về sống chung với nhau. Năm 2012 anh chị tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Trong năm 2011, anh Kh nghe theo lời rủ rê của bạn bè sa đà vào việc chơi cờ bạc, cá độ. Anh Kh đã vay 1 tỉ để chơi cờ bạc và làm việc riêng của bản thân, chị Ng hoàn toàn không biết về việc vay nợ của anh Kh. Trong thời gian chung sống, vợ chồng anh Kh và chị Ng với sự hỗ trợ của gia đình hai bên có mua được một ngôi nhà trị giá 3 tỷ đồng tại địa chỉ số 19 đường Y phương B quận H thành phố M.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- -
MÔN HỌC:
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Bài thảo luận năm và sáu:
Chấm dứt hôn nhân
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 4: HLM GROUP
STT Họ và tên Lớp MSSV
1 Nguyễn Thị Bích Hồng TM42A2 1753801011066
2 Nguyễn Mai Lan Hương TM42A2 1753801011069
3 Huỳnh Ngọc Loan TM42A2 1753801011106
4 Lê Thị Bích Loan TM42A2 1753801011107
5 Nguyễn Thị Thu Mai TM42A2 1753801011113
6 Nguyễn Văn Minh TM42A2 1753801011115
7 Nguyễn Thị Mỹ Mỹ TM42A2 1753801011121
NĂM HỌC:
2018-2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
LỚP TM-DS-QT 42A
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TP HCM, ngày 07 tháng 11 năm 2018
BIÊN BẢN LÀM VIỆC
1 Thành phần: Thành viên nhóm 4: HLM GROUP
2 Nội dung làm việc: Thảo luận bài thảo luận môn Luật Hôn nhân và gia đình
3 Nhật ký làm việc
- Thời gian: 16h00 Thứ hai ngày 05/11/2018
- Địa điểm: HLM GROUP
- Nội dung: Định thời gian làm việc, phân công công việc
- Số lượng thành viên tham gia: 7/7
- Hạn cuối nộp bài của các thành viên: 20h00 thứ ba ngày 06/11/2018, các thành viên phải gửi bài làm của mình lên nhóm HLM GROUP hoặc tin nhắn riêng của nhóm trưởng trên mạng xã hội Facebook hoặc qua email của nhóm trưởng mymynho2702@gmail.com
4 Đánh giá kết quả làm việc
Họ tên Tham gia
nhiệt tình
Chất lượng bài
Nộp bài trễ hạn Ký tên
Nguyễn Thị Bích Hồng A A Không
Nguyễn Mai Lan Hương A A Không
Nguyễn Thị Thu Mai A A Không
Nhóm trưởng
Nguyễn Thị Mỹ Mỹ
Trang 3BUỔI THẢO LUẬN THỨ NĂM VÀ THỨ SÁU
CHẤM DỨT HÔN NHÂN
Tình huống 1:
Năm 2010, sau một thời gian yêu đương, tìm hiểu chị Ng và anh Kh quyết định dọn về sống chung với nhau Năm 2012 anh chị tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn
Trong năm 2011, anh Kh nghe theo lời rủ rê của bạn bè sa đà vào việc chơi cờ bạc, cá độ Anh Kh đã vay 1 tỉ để chơi cờ bạc và làm việc riêng của bản thân, chị Ng hoàn toàn không biết về việc vay nợ của anh Kh
Trong thời gian chung sống, vợ chồng anh Kh và chị Ng với sự hỗ trợ của gia đình hai bên có mua được một ngôi nhà trị giá 3 tỷ đồng tại địa chỉ số 19 đường Y phương B quận H thành phố M
Giữa năm 2018, chị Ng cho rằng anh Kh không hề quan tâm đến gia đình, vợ và con Anh Kh suốt ngày chơi cờ bạc, cá độ rồi về đánh đập, sỉ nhục chị Ng Chị Ng khuyên nhủ, can ngăn anh Kh rất nhiều nhưng không có kết quả
Chị Ng thể hiện ý định muốn ly hôn với anh Kh, anh Kh đồng ý ly hôn nhưng bắt chị Ng phải trả 1 tỷ đồng mà anh đã vay trong thời gian trước đây Nếu chị Ng không đồng ý trả số tiền 1 tỷ anh Kh đã vay thì anh Kh xác định rõ ràng với chị Ng là chị ly hôn anh Kh chị sẽ phải ra khỏi nhà với hai tay trắng vì căn nhà số 19 đường Y phương B quận H thành phố M thuộc quyền sở hữu của anh do anh là người đứng tên trong giấy chứng nhận QSH
Chị Ng băn khoăn, bối rối chưa tìm ra được hướng giải quyết cho vụ việc của mình Chị thực sự muốn biết nếu chị muốn ly hôn thì khi ra tòa chị có phải trả số tiền
mà anh Kh đã vay trước đó không? Chị quan tâm đến việc liệu chị có được chia đôi căn nhà số 19 đường Y phường B quận H thành phố M không?
Sử dụng các kiến thức pháp luật đã biết trả lời các thắc mắc của chị Ng
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 45 Luật hôn nhân gia đình 2014 về nghĩa vụ riêng tài sản của vợ, chồng:
“Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:
1 Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;
2 Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của
vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật này;
Trang 43 Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;
4 Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng”
Do đó chồng của chị Ng cờ bạc, nợ nần là hành vi vi pháp luật của riêng người chồng được quy định tại khoản 4 điều này và việc chồng chị Ng tự mình giao dịch dân
sự vay tiền không vì nhu cầu của gia đình theo quy định tại khoản 3 điều này Do đó, khi giải quyết việc ly hôn, chị Ng không có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ xuất phát từ những khoản vay riêng của chồng mình
Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
Điều 27 Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng
“1 Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này
2 Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này.”
Căn cứ theo quy định trên thì vợ/chồng có trách nhiệm liên đới đối với giao dịch
do một bên thực hiện trong trường hợp giao dịch đó được xác lập nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, giao dịch liên quan đến nghĩa vụ chung của
vợ/chồng đối với tài sản trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp
Cụ thể, Điều 30 về Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, quy định:
“1 Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình
”
Điều 37 về Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
“Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
1 Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa
vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
2 Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
3 Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
4 Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
Trang 55 Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân
sự thì cha mẹ phải bồi thường;
6 Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.”
Trong trường hợp này anh Kh dùng số tiền vay 1 tỷ đó để chơi cờ bạc và dùng làm việc riêng của bản thân Nên không thể coi là việc vay tiền đó nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình được
Nên trường hợp này không thể buộc chị Ng phải chịu trách nhiệm liên đới với anh Kh được Anh Kh phải tự chịu trách nhiệm về khoản nợ đó
Chị quan tâm đến việc liệu chị có được chia đôi căn nhàsố 19 đường Y
phường B quận H thành phố M không?
Trước tiên, về vấn đề xác định căn nhà đó là tài sản chung hay tài sản riêng của
vợ chồng:
Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng:
“1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của
vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”
Về tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng; đồ dùng, tư trang cá nhân
Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định:
“1 Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác
2 Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản
đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này.”
Trang 6Theo thông tin trong tình huống thì căn nhà do sự hỗ trợ của gia đình hai bên mua, vậy thì đây xác định là tài sản chung Nếu anh Kh bảo rằng căn nhà số 19 đường
Y phường B quận H thành phố M thuộc quyền sở hữu của anh do anh là người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu thì chị Ng phải chứng minh rằng mình cũng góp tiền để mua căn nhà đó
Thứ hai, việc chia tài sản chung khi ly hôn căn cứ vào Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 như sau:
“1 Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏahuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của
vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3,
4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy
đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết
2 Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng
3 Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch
4 Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này….”
Vợ chồng khi ly hôn có thể thỏa thuận để chia tài sản, nếu hai bên tranh chấp thì Tòa án sẽ căn cứ theo quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng vẫn thuộc sở hữu của người đó, tài sản chung được chia đôi nhưng xem xét đến các yếu tố như hoàn cảnh gia đình, công sức đóng góp, lỗi của các bên trong việc vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh
Trang 7Trong tình huống trên, vì Chị Ng thể hiện ý định muốn ly hôn với anh Kh, anh
Kh đồng ý ly hôn nhưng bắt chị Ng phải trả 1 tỷ đồng mà anh đã vay trong thời gian
trước đây nên chị Ng có thể đơn phương xin ly hôn Nếu hai anh chị không thỏa thuận
được với nhau về việc ly hôn thì chị Ng có thể nộp đơn xin ly hôn đơn phương đến tòa
án nhân dân quận H nơi vợ chồng chị Ng đang cư trú Tòa án sẽ thụ lý và giải quyết việc ly hôn
Hồ sơ ly hôn bao gồm:
+ Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn (với trường hợp thuận tình ly hôn) hoặc đơn xin ly hôn (trường hợp ly hôn đơn phương)
+ Giấy chứng nhận kết hôn
+ Bản sao chứng minh thư nhân dân của hai vợ chồng (có chứng thực)
+ Bản sao sổ hộ khẩu (có chứng thực)
+ Bản sao giấy khai sinh của con (có chứng thực)
+ Các giầy tờ chứng minh quyền sở hữu đối với tài sản có tranh chấp
Các bước tiến hành thủ tục ly hôn đơn phương tại tòa án:
+ Thụ lý đơn ly hôn (đơn khởi kiện): Sau khi nhận được đơn từ nguyên đơn,
sau 5 ngày làm việc Tòa án phải xem xét có thụ lý đơn hay không Nếu hồ sơ hợp lệ thì Tòa án gửi thông báo cho nguyên đơn đóng tiền tạm ứng án phí, Tòa án ra quyết định thụ lý đơn ly hôn đơn phương từ thời điểm nguyên đơn nộp biên lai đã đóng tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 167 và Điều 171 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi 2011
+ Hòa giải: Theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì hòa
giải tại Tòa án là thủ tục bắt buộc trước khi đưa vụ án ra xét xử Nếu hòa giải thành thì tòa án lập biên bản hòa giải thành và sau 7 ngày mà các đương sự không thay đổi về ý kiến thì Tòa án ra quyết định công nhận hòa giải thành và quyết định này có hiệu lực ngay và không được kháng cáo kháng nghị Nếu hòa giải không thành Tòa án cũng phải lập biên bản hòa giải không thành sau đó ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 183, 186, 187,188, 195 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi 2011
+ Phiên tòa sơ thẩm: Sau khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử các bên được
Tòa án gửi giấy triệu tập và được thông báo rõ về thời gian, địa điểm mở phiên Tòa sơ thẩm Theo đó các bên phải có mặt, nếu không có mặt thì áp dụng theo quy định tại Điều 199 và Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi 2011
Nơi nộp đơn: Tòa án cấp huyện nơi bị đơn cư trú
Như vậy thì chị Ng vẫn sẽ được hưởng ½ giá trị căn nhà
Trang 8Tình huống 2 :
Anh A và chị B xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp vào ngày 01/5/2002 Tháng 02/2000 anh A quyết định mua quyền sử dụng một mảnh đất tại phường X quận Y TP
K từ số tiền vay tại ngân hàng T Anh A và ngân hàng T thỏa thuận với nhau là số tiền anh A vay của ngân hàng sẽ được ngân hàng lấy lại bằng cách trừ dần hàng tháng từ bảng lương của cơ quan anh A
Năm 2006 anh A và chị B phát sinh mâu thuẫn trầm trọng Chị B làm đơn ra Tòa xin ly hôn với anh A
Liên quan đến tài sản giữa anh A và chị B phát sinh mâu thuẫn Chị B cho rằng
quyền sử dụng mảnh đất mà anh A mua là của chung của 2 vợ chồng vì từ khi xác lập quan hệ hôn nhân đến khi xin ly hôn anh A không đóng góp tiền sinh họat chung, mọi chi phí trong cuộc sống gia đình đều do chị B chi trả bởi lẽ tiền lương của anh hàng tháng đều được dùng để thanh toán khoản nợ cho ngân hàng Anh A lại cho rằng quyền sử dụng mảnh đất là tài sản riêng của anh
Anh A và chị B tranh chấp quyền sử dụng mảnh đất nêu trên
Trong trường hợp Tòa án giải quyết cho anh A và chị B ly hôn, Tòa án sẽ giải quyết tranh chấp qyền sử dụng mảnh đất tại phường X quận Y TP K như thế nào? Tại sao?
Trả lời:
Theo tình huống thì anh A và chị B là vợ chồng hợp pháp và anh A quyết định mua quyền sử dụng một mảnh đất tại phường X quận Y TP K Bởi vậy mảnh đất này được mua trong thời kỳ hôn nhân của anh A và chị B nên theo khoản 1 Điều 33 Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014 “1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ,
chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của
vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng” thì mnahr đát này là tài sản chung của 2 vợ chồng”
Hơn nữa mặc dù mua được quyền sử dụng mảnh đất là nhờ anh A và ngân hàng
T thỏa thuận với nhau là số tiền anh A vay của ngân hàng sẽ được ngân hàng lấy lại bằng cách trừ dần hàng tháng từ bảng lương của cơ quan anh A Nhưng từ khi xác lập quan hệ hôn nhân đến khi xin ly hôn anh A không đóng góp tiền sinh họat chung, mọi chi phí trong cuộc sống gia đình đều do chị B chi trả bởi lẽ tiền lương của anh hàng
Trang 9tháng đều được dùng để thanh toán khoản nợ cho ngân hàng Bởi vậy chị B đã có công trong sức đóng góp vào việc tạo lập, duy trì quyền sử dụng mảnh đất
Thêm vào đó anh A không chứng minh được quyền sử dụng mảnh đất là tài sản
riêng của mình nên theo khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 “Trong
trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp
là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”
Qua những điều trên thì quyền sử dụng mảnh đất tại phường X quận Y TP K là tài sản chung của hai vợ chồng anh A và chị B Nên sẽ áp dụng Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để chia quyền sử dụng mảnh đất Đó là nếu hai bên có thỏa thuận sẽ chia theo thỏa thuận của hai bên nếu không có thỏa thuận thì xét theo các yếu tố tại khoản 2 sẽ chia đôi giá trị quyền sử dụng mảnh đất này
Tình huống 3:
Anh Sơn và chị Liên xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp ngày 07/9/2012 Vợ chồng anh chị có một con chung là Mai sinh ngày 1/10/2013
Đầu năm 2017, mối quan hệ của anh Sơn và chị Liên hình thành và phát triển nhiều mâu thuẫn khó giải quyết liên quan đến quan điểm sống cũng như hướng phát triển sự nghiệp của hai người
Tháng 12 năm 2017 bản án xử cho anh Sơn và chị Liên ly hôn có hiệu lực pháp luật
Theo quyết định của Tòa án cháu Mai được giao cho chị Liên chăm sóc và nuôi dưỡng Anh Sơn thực hiện cấp dưỡng cho cháu Mai mỗi tháng 1.5000000 đồng Anh được quyền thăm nom, chăm sóc cháu Mai, chị Liên không được quyền cản trở quyền này của anh Sơn
Các quyết định của Tòa án liên quan đến cháu Mai đều được anh Sơn và chị Liên thực hiện nghiêm túc
Tháng 9 năm 2018, do muốn thay đổi cuộc sống sau ly hôn cũng như tìm kiếm các cơ hội mới cho cuộc đời của mình và cháu Mai, chị Liên quyết định chuyển sang Cộng hòa Séc sinh sống cùng gia đình người em gái của mình Gia đình người em gái của chị đã lập nghiệp và sinh sống nhiều năm ở Séc nên chị Liên hy vọng mình sẽ nhận được sự hỗ trợ cần thiết để đầu tiên là ổn định cuộc sống ở Séc, sau đó là tìm cách định cư lâu dài tại đó
Trước khi chuyển đi, chị Liên gọi điện thông báo tin này cho anh Sơn Anh Sơn thể hiện sự không đồng ý về việc chị Liên mang theo cháu Mai đi cùng mình sang Séc Anh lo ngại cho tương lai không có gì chắc chắn ở nơi sống mới sẽ ảnh hưởng xấu đến cháu Mai Chị Liên cho rằng cơ hội này sẽ mang lại tương lai tốt cho Mai Hai bên không đạt được sự đồng thuận về việc cháu Mai chuyển sang Séc sống cùng
mẹ
Trang 10Anh Sơn làm đơn yêu cầu Tòa án ngăn chặn cháu Mai xuất cảnh cùng chị Liên
Tòa án giải quyết vụ việc trên như thế nào? Tại sao?
Trả lời:
Về nguyên tắc, anh Sơn có quyền yêu cầu Tòa ngăn chặn cháu Mai xuất cảnh cùng chị Liên Bản án cũng có quyết định chị Liên không được cản trở việc thăm nom, chăm sóc cháu Mai của anh Sơn Nếu chị Liên đưa cháu Mai cùng xuất cảnh có thể sẽ ngăn cản quyền đó của anh Sơn Hơn nữa cháu Mai lúc bấy giờ chỉ mới 5 tuổi Căn cứ vào khoản 3 Điều 15 Nghị định 136/2007/NĐ-CP về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam thì chỉ cần có giấy tờ xác nhận có sự đồng ý của bố hoặc mẹ hoặc
người đỡ đầu hợp pháp: “Đối với trẻ em dưới 14 tuổi thì cha, mẹ hoặc người đỡ đầu
của trẻ em đó khai và ký vào tờ khai; nếu cha hoặc mẹ có nhu cầu cho con dưới 14 tuổi đi cùng hộ chiếu thì khai chung vào tờ khai của mình” Điều này có nghĩa, chị
Liên đưa cháu Mai xuất cảnh không cần sự đồng ý của anh Sơn
Căn cứ vào khoản khoản 2 Điều 81, việc chăm sóc nuôi dưỡng con chung đề cao
về quyền và lợi ích cũng như sự phát triển tốt nhất của con
Anh Sơn yêu cầu Tòa ngăn chặn cháu Mai xuất cảnh thì chị Liên phải cung cấp được những căn cứ để chứng minh rằng việc xuất cảnh sẽ có những điều kiện để cháu Mai phát triển tốt nhất
Nếu chị Mai cung cấp được những chứng cứ đó thì việc đưa cháu Mai xuất cảnh hoàn toàn không vi phạm pháp luật Bởi quyền lợi ích và sự phát triển của con là tiêu chí hàng đầu trong việc giao con cho cha hoặc mẹ chăm sóc
Với những lý lẽ trên, theo nhóm, Tòa sẽ giải quyết cho chị Liên đưa cháu Mai cùng xuất cảnh
Tình huống 4:
D và B xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp ngày 18/9/2011 Hai người chung sống hạnh phúc và có một con chung là M
Ngày 20/12/2014 D bị tai nạn trong khi đang thực hiện nghĩa vụ lao động theo hợp đồng lao động Sau đó D nhận được số tiền bồi thường thiệt hại do tai nạn là 350 triệu đồng
Cuộc sống gia đình D và B sau tai nạn của D đã trở nên khó khăn, giữa D và B
đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng
Ngày 5/7/2015 B làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn B yêu cầu TA xác định số tiền mà D nhận được do bồi thường thiệt hại do tai nạn là tài sản chung của vợ chồng để đem chia đôi mỗi người một nửa D yêu cầu TA xác định số tiền đó là tài sản riêng của D