BÀI THẢO LUẬN TUẦN 1 KHÁI NIỆM, NHIỆM VỤ, NGUỒN VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM MÔN LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ THẢO LUẬN TỐ TỤNG HÌNH SỰ BUỔI 1 5 I. CÂU HỎI LÝ THUYẾT 5 1. Chức năng TTHS là gì? Phân tích các chức năng TTHS cơ bản. 5 2. Mô hình TTHS là gì? Có những mô hình TTHS nào đã và đang tồn tại trên thế giới? Ưu điểm và hạn chế của từng mô hình TTHS? 6 3. Nêu đặc điểm để nhận diện mô hình TTHS Việt Nam hiện nay? Việt Nam nên đối mới mô hình TTHS theo hướng nào? Tại sao? 8 4. Đánh giá quy định của BLTTHS2015 về nguyên tắc Suy đoán vô tội? 9 5. Nguyên tắc “Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm”? 10 6. Phân tích những quy định của BLTTHS 2015 nhằm thực hiện nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội.”? 10 7. Trình bày cơ sở của việc ghi nhận nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” trong BLTTHS 2015? 11 II. CÂU HỎI NHẬN ĐỊNH 12 1. Quan hệ pháp Luật Tố tụng hình sự chỉ phát sinh khi có quyết định KTVAHS của cơ quan nhà nước có thẩm quyền 12 2. Quan hệ pháp Luật Tố tụng hình sự xuất hiện sau và trên cơ sở quan hệ pháp luật hình sự 12 3. Quan hệ giữa người bào chữa và người bị buộc tội thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Tố tụng hình sự 12 4. Quan hệ giữa CQĐT và nguyên đơn dân sự trong VAHS là quan hệ pháp luật TTHS. 12 5. QHPL mang tính quyền lực nhà nước là QHPL tố tụng hình sự. 13 6. Phương pháp phối hợp chế ước chỉ điều chỉnh các mối quan hệ giữa các CQTHTT 13 7. Quan hệ giữa điều tra viên với người được bào chữa điều chỉnh bởi phương pháp quyền uy 13 8. Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án chỉ được quy định trong pháp luật TTHS. 13 9. Nguyên tắc xét xử công khai được áp dụng cho tất cả phiên tòa hình sự. 13 10. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm chỉ có trong luật TTHS. 13 11. Kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ tại phiên tòa là căn cứ duy nhất để Tòa án ra bản án, quyết định. 14 12. Người THTT và người TGTT có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình. 14 III. PHẦN TRẮC NGHIỆM 14 IV. PHẦN BÀI TẬP 14 Bài tập 1 14 1. Xác định tất cả quan hệ xã hội giữa các chủ thể trong vụ án trên thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Tố tụng Hình sự? 15 2. Xác định phương pháp điều chỉnh của Luật Tố tụng Hình sự đối với từng quan hệ xã hội? 15 Bài tập 2 15 1. Trong quá trình giải quyết vụ án trên có thể phát sinh quan hệ giữa những chủ thể nào? 15 2. Trong những quan hệ đó, quan hệ nào thuộc đối tượng điều chỉnh của luật TTHS? 16 3. Xác định phương pháp điều chỉnh đối với từng quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật TTHS? 16 Bài tập 3 17 1. Giả sử A là người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam và thuộc đối tượng được hưởng các đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ theo pháp luật Việt Nam, Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì vụ án được giải quyết như thế nào? 17 2. Nếu A không sử dụng thông thạo tiếng Việt và đề nghị có người phiên dịch cho mình thì yêu cầu này có được chấp nhận không? 17 3. Giả sử A không có khả năng nhờ luật sư bào chữa thì CQTHTT sẽ giải quyết như thế nào?
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Môn: LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Nhóm: 4 Lớp: TM42A2
BÀI THẢO LUẬN TUẦN 1 KHÁI NIỆM, NHIỆM VỤ, NGUỒN VÀ CÁC NGUYÊN TẮC
CƠ BẢN CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Danh sách thành viên:
Nguyễn Thị Bích Hồng 1753801011066
Nguyễn Mai Lan Hương 1753801011069
Lê Thị Bích Loan 1753801011107
Nguyễn Thị Thu Mai 1753801011113
Nguyễn Thị Mỹ Mỹ 1753801011121
Ngày 03/9/2020
Trang 2ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
LỚP TM42A2
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Tp Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 9 năm 2020
BIÊN BẢN LÀM VIỆC
I THÀNH VIÊN: Thành viên nhóm 4 – Lớp TM42A2
II NỘI DUNG LÀM VIỆC:
Thảo luận bài thảo luận tuần 1 của môn Luật Tố tụng hình sự - Khái niệm, nhiệm
vụ, nguồn và các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự việt nam Gồm các phần
nội dung:
- Câu hỏi lý thuyết;
- Câu hỏi nhận định;
- Bài tập tình huống
1 Phân công công việc
1 Nguyễn Thị Bích Hồng Lý thuyết 1; Nhận định 1, 2, 3
2 Nguyễn Mai Lan Hương Lý thuyết 2; Nhận định 4, 5, 6
3 Huỳnh Ngọc Loan Lý thuyết 4; Nhận định 10, 11, 12
4 Lê Thị Bích Loan Lý thuyết 3; Nhận định 7, 8, 9
5 Nguyễn Thị Thu Mai Lý thuyết 5; Bài tập 1
6 Nguyễn Văn Minh Lý thuyết 6; Bài tập 2
7 Nguyễn Thị Mỹ Mỹ Lý thuyết 7; Bài tập 3
Thứ nhất, chuẩn bị công việc trước khi thảo luận theo bảng phân công
Thứ hai, về việc thảo luận:
- Thời hạn nộp bài: Hạn cuối nộp bài của các thành viên: 23h59’ thứ tư ngày 02/9/2020, các thành viên phải gửi bài qua email của bạn tổng hợp
Trang 3nguyenthimymy2312@gmail.com hoặc gửi bài lên nhóm trò chuyện HLM GROUP trên mạng xã hội Facebook
- Thời gian thảo luận nhóm tổng kết kết quả: 17h thứ năm ngày 3/9
- Hình thức thảo luận nhóm: Online
- Số thành viên tham gia buổi thảo luận tổng kết kết quả làm việc: 7/7
2 Đánh giá kết quả
Họ tên nhiệt tình Tham gia Nộp bài Ký tên
NHÓM TRƯỞNG
(Đã ký)
Nguyễn Thị Bích Hồng
Trang 4MỤC LỤC
MÔN LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ THẢO LUẬN TỐ TỤNG HÌNH SỰ BUỔI 1 5
I CÂU HỎI LÝ THUYẾT 5
1 Chức năng TTHS là gì? Phân tích các chức năng TTHS cơ bản 5
2 Mô hình TTHS là gì? Có những mô hình TTHS nào đã và đang tồn tại trên thế giới? Ưu điểm và hạn chế của từng mô hình TTHS? 6
3 Nêu đặc điểm để nhận diện mô hình TTHS Việt Nam hiện nay? Việt Nam nên đối mới mô hình TTHS theo hướng nào? Tại sao? 8
4 Đánh giá quy định của BLTTHS2015 về nguyên tắc "Suy đoán vô tội"? 9
5 Nguyên tắc “Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm”? 10
6 Phân tích những quy định của BLTTHS 2015 nhằm thực hiện nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội.”? 10
7 Trình bày cơ sở của việc ghi nhận nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” trong BLTTHS 2015? 11
II CÂU HỎI NHẬN ĐỊNH 12
1 Quan hệ pháp Luật Tố tụng hình sự chỉ phát sinh khi có quyết định KTVAHS của cơ quan nhà nước có thẩm quyền 12
2 Quan hệ pháp Luật Tố tụng hình sự xuất hiện sau và trên cơ sở quan hệ pháp luật hình sự 12
3 Quan hệ giữa người bào chữa và người bị buộc tội thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Tố tụng hình sự 12
4 Quan hệ giữa CQĐT và nguyên đơn dân sự trong VAHS là quan hệ pháp luật TTHS 12
5 QHPL mang tính quyền lực nhà nước là QHPL tố tụng hình sự 13
6 Phương pháp phối hợp chế ước chỉ điều chỉnh các mối quan hệ giữa các CQTHTT 13
7 Quan hệ giữa điều tra viên với người được bào chữa điều chỉnh bởi phương pháp quyền uy 13
8 Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án chỉ được quy định trong pháp luật TTHS 13
9 Nguyên tắc xét xử công khai được áp dụng cho tất cả phiên tòa hình sự 13
10 Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm chỉ có trong luật TTHS 13
11 Kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ tại phiên tòa là căn cứ duy nhất để Tòa án ra bản án, quyết định 14
12 Người THTT và người TGTT có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình 14
III PHẦN TRẮC NGHIỆM 14
IV PHẦN BÀI TẬP 14
Bài tập 1 14
1 Xác định tất cả quan hệ xã hội giữa các chủ thể trong vụ án trên thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Tố tụng Hình sự? 15
2 Xác định phương pháp điều chỉnh của Luật Tố tụng Hình sự đối với từng quan hệ xã hội? 15
Bài tập 2 15
Trang 51 Trong quá trình giải quyết vụ án trên có thể phát sinh quan hệ giữa những chủ thể nào?
15
2 Trong những quan hệ đó, quan hệ nào thuộc đối tượng điều chỉnh của luật TTHS? 16
3 Xác định phương pháp điều chỉnh đối với từng quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của
luật TTHS? 16 Bài tập 3 17
1 Giả sử A là người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam và thuộc đối tượng được hưởng các đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ theo pháp luật Việt Nam,
Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì vụ án được giải quyết như thế nào? 17
2 Nếu A không sử dụng thông thạo tiếng Việt và đề nghị có người phiên dịch cho mình thì
yêu cầu này có được chấp nhận không? 17
3 Giả sử A không có khả năng nhờ luật sư bào chữa thì CQTHTT sẽ giải quyết như thế
nào? 17
Trang 6MÔN LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ THẢO LUẬN TỐ TỤNG HÌNH SỰ BUỔI 1
I CÂU HỎI LÝ THUYẾT
1 Chức năng TTHS là gì? Phân tích các chức năng TTHS cơ bản.
Theo quy định tại Điều 2 Bộ Luật Tố tụng hình sự quy định về nhiệm vụ của Bộ Luật Tố tụng hình sự như sau:
‘‘Bộ Luật Tố tụng hình sự có nhiệm vụ bảo đảm phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm , không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm".
Theo đó chức năng của Tố tụng hình sự bao gồm các chức năng sau:
Bảo đảm phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội:
Luật Tố tụng hình sự là phương tiên sắc bén và hữu hiệu để giúp Nhà nước kịp thời phát hiện và xử lý những hành vi phạm tội, người thực hiện tội phạm Nhà nước thông qua Luật Tố tụng hình sự để duy trì trật tự và an ninh cho xã hội, đấu tranh phòng chống tội phạm, đi đến loại trừ tội phạm ra khỏi xa hội
Việc quy định rõ ràng, cụ thể trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiên hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, của các cơ quan, tổ chức
và công dân là những bảo đảm tố tụng quan trọng để phòng ngừa và ngăn chặn việc truy cứu trách nhiệm hình sự và kết án không có căn cứ đối với công dân
Góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân:
Đặc biệt trong Bộ luật năm 2015 đã có một số cụm từ mới so với Bộ luật năm
2003 thể hiện sự tiến bộ và hội nhập cộng đồng quốc tế của Việt Nam đó là “góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”, việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tự do cá nhân, nhân phẩm, danh dự, các quyển và lợi ích hợp pháp của công dân quy định ý nghĩa, nội dung và việc áp dụng pháp Luật Tố tụng hình sự ở nước ta, các nhiệm vụ chung và cụ thể của tố tụng hình sự
Thông quá quá trình giải quyết vụ án hình sự thì người phạm tội bị kết án và chịu trách nhiệm hình sự, dân sự trả lại công lý cho nạn nhân Ngoài bảo vệ công lý cho nạn nhân thì Luật Tố tụng hình sự còn là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội để tránh trường hợp kết án oan người vô tội
Bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân:
Trang 7Luật Tố tụng hình sự có nhiệm vụ bảo vệ Nhà nước, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân khỏi sự xâm hại của tội phạm, góp phần khôi phục và bảo vệ những quyền và lợi ích đó Luật Tố tụng hình sự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
Giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa
và chống tội phạm:
Ngoài ra nhiệm vụ thực hiện chức năng giáo dục còn là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của Bộ Luật Tố tụng hình sự Luật Tố tụng hình sự là những căn cứ để người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng ý thức được phạm vi và mức
độ các quyền hạn và nghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, tác động đến nhận thức và tư tưởng của mọi công dân nhằm giáo dục họ ý thức tuân thủ pháp luật
Thông qua các quy định và việc áp dụng giáo dục công dân ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa, tích cực tham gia vào công tác đấu tranh, xử lý tội phạm, góp phần bảo
vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa
2 Mô hình TTHS là gì? Có những mô hình TTHS nào đã và đang tồn tại trên thế giới? Ưu điểm và hạn chế của từng mô hình TTHS?
- Mô hình tố tụng hình sự được hiểu là quá trình diễn ra các hoạt động TTHS được xem xét theo hai khía cạnh: khía cạnh thứ nhất liên quan đến việc phân chia quá trình đó theo các giai đoạn như thế nào và mối quan hệ giữa các giai đoạn đó; khía cạnh thứ hai liên quan đến việc xác định những chủ thể nào tham gia vào từng giai đoạn tố tụng, nhiệm vụ quyền hạn, vai trò của từng chủ thể và mối quan hệ giữa chúng trong từng giai đoạn
- Trên thế giới có 3 loại mô hình tố tụng hình sự: mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn; mô hình tố tụng hình sự tranh tụng và mô hình tố tụng hình sự pha trộn.
1 Mô hình tố tụng hình sự tranh tụng
Mô hình tố tụng hình sự tranh tụng là một trong các mô hình tố tụng hình sự phổ biến hiện nay trên thế giới; bảo đảm sự bình đẳng tuyệt đối giữa bên buộc tội (cơ quan công tố) và bên bào chữa trong suốt quá trình đi tìm sự thật vụ án Ở giai đoạn tiền xét
xử, công tố viên và luật sư có quyền điều tra, thu thập chứng cứ như nhau Khi xét xử, chứng cứ của họ đều được đưa ra để thẩm tra trước tòa, đều có quyền lựa chọn nhân chứng để thẩm tra… Thông qua đối tụng giữa công tố viên và luật sư mà tòa án gồm đoàn bồi thẩm và thẩm phán chủ tọa phán quyết về sự thật khách quan và định hình phạt
Ưu điểm: Mô hình này cho phép luật sư có thể tham gia đầy đủ vào quá trình tố
tụng nên tòa án có thể thêm được một nguồn thông tin giá trị để khám phá sự thật khách quan của vụ án Thay vì chỉ xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ hình sự thì đoàn bồi thẩm được tiếp cận chứng cứ của cả bên buộc tội và bên gỡ tội Điều này bảo đảm cho mục đích tìm ra sự thật khách quan và chất lượng tranh tụng được nâng lên Ngoài ra, với sự công bằng của quy trình tố tụng, mô hình tranh tụng thể hiện ở mức độ cao hơn sự tôn trọng quyền cơ bản của công dân Vai trò của luật sư giúp giảm
đi sự lạm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng Quyền được suy đoán vô tội của người dân được tôn trọng hơn so với mô hình tố tụng hình sự khác
Trang 8Nhược điểm: Đó là người có nhiệm vụ xét xử tham gia một cách thụ động vào
phiên tòa và là người không chuyên nghiệp, đó chính là thành viên đoàn bồi thẩm Trong khi thực tế cả bên công tố và bên bào chữa trong mô hình tranh tụng đều không
có nghĩa vụ đi tìm sự thật khách quan Trong khi bồi thẩm đoàn là người dân không có kiến thức về pháp luật Họ ra phán quyết về sự thật khách quan của vụ án chỉ thông qua việc nghe bên buộc tội và bên bào chữa xét hỏi nhân chứng và tranh luận theo quan điểm chủ quan của mình
Bên cạnh đó, việc quá đề cao sự đối tụng giữa các lợi ích cá nhân làm cho mô hình tranh tụng không phản ánh được hết tầm quan trọng của việc bảo vệ lợi ích công cộng trong các vụ án hình sự Chính điều này dẫn đến việc áp dụng tràn lan hình thức đàm phán nhận tội dẫn đến khả năng bỏ lọt những tội phạm nghiêm trọng có tác động lớn tới trật tự xã hội
Ngoài ra, mô hình này cho thấy, năng lực của luật sư có vai trò quyết định tới phán quyết của đoàn bồi thẩm Điều này dẫn đến tình trạng các luật sư giỏi sẽ được nhiều người muốn thuê và gây nên bất công cho người nghèo vì không có điều kiện thuê luật sư giỏi, vốn lấy chi phí rất cao
2 Mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn
Tố tụng theo mô hình này nghĩa là huy động các cơ quan tố tụng chuyên nghiệp của Nhà nước (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát/Viện công tố, Tòa án) vào quá trình đi tìm sự thật của vụ án, các cơ quan này cùng được giao trách nhiệm chứng minh tội phạm
Ưu điểm của mô hình này là Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc tìm kiếm
sự thật, nên trong chừng mực nhất định, quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội luôn được bảo vệ tốt hơn khi quyền đó xâm phạm bởi cá nhân người phạm tội Với cách thức thẩm tra truyền thống, sự thật nhanh chóng được tìm kiếm
Với bản chất không đặt nặng hình thức như tố tụng tranh tụng, tố tụng thẩm vấn coi sự thật sau cùng của vụ án là mục đích được mong chờ, do đó, những sai phạm không đáng kể trong thủ tục có thể được bỏ qua nếu mục đích chứng minh tội phạm vẫn được giải quyết Thủ tục phiên tòa đơn giản, nhanh chóng
Nhược điểm: Chứng cứ là do thẩm phán điều tra tập hợp nên việc thẩm vấn bị
xem là đi ngược lại nguyên tắc vô tư, khách quan và việc tranh luận tại phiên tòa trở nên vô nghĩa
Mặt khác, quyền con người trong tố tụng thẩm vấn bị buộc tội bị ảnh hưởng nghiêm trọng Mặc dù mục đích của tố tụng thẩm vấn là bảo vệ người bị buộc tội chống lại những cáo buộc thiếu cơ sở, xong những tiềm tàng do sự lạm dụng kéo dài của thủ tục tố tụng tiền xét xử là hiển nhiên Trên thực tế, bị cáo có thể phải trải qua một thời gian bị giam giữ, thiếu thốn những điều kiện cần thiết cho việc bào chữa Vai trò của người bào chữa bị coi nhẹ và quyền của người bị buộc tội không được bảo đảm Điều này làm mất ý nghĩa của tố tụng hình sự, tạo tiền đề cho sự lạm dụng quyền lực nhà nước, ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân
3 Mô hình tố tụng hình sự pha trộn
Là mô hình tố tụng có sự đan xen, kết hợp của cả hai cách thức tổ chức hoạt động
tố tụng hình sự nêu trên
Trang 9Ưu điểm: Mô hình tố tụng hình sự pha trộn đã phát huy tác dụng tích cực trong
công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và từng bước đáp ứng được yêu cầu bảo đảm dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Nhược điểm: Việc tổ chức các hoạt động tố tụng hình sự này đang có sự chồng
lấn, mâu thuẫn giữa các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự Cùng một chủ thể nhưng lại được giao nhiều chức năng tố tụng khác nhau Tòa án có vai trò quá chủ động, tích cực trong phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm và đang được giao thực hiện một số thẩm quyền không phù hợp với chức năng xét xử (khởi tố vụ án, trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung…) Vai trò của Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm còn khá mờ nhạt, không tạo cơ sở phát huy tính chủ động, tích cực và trách nhiệm của cơ quan buộc tội Đặc biệt, vai trò của người bào chữa còn yếu ớt; chưa có những quy định để bảo vệ quyền của người bào chữa trong việc thực hiện quyền tố tụng Việc thu thập chứng cứ, yếu tố quan trọng nhất liên quan đến việc định tội hoàn toàn do cơ quan nhà nước với những chức năng tố tụng khác nhau hình thành nên hồ sơ vụ án có
xu hướng thiên về chứng cứ buộc tội mà thiếu chứng cứ gỡ tội, dẫn đến quyền suy đoán vô tội của bị cáo khó được tôn trọng một cách thực sự
3 Nêu đặc điểm để nhận diện mô hình TTHS Việt Nam hiện nay? Việt Nam nên đối mới mô hình TTHS theo hướng nào? Tại sao?
Đặc điểm nhận diện mô hình TTHS Việt Nam hiện nay:
Trên cơ sở xác định mô hình TTHS hiện nay của nước ta là mô hình pha trộn, chịu sự ảnh hưởng lớn của mô hình TTHS lục địa
Là kiểu tố tụng hỗn hợp giữa tố tụng thẩm vấn trong giai đoạn trước khi xét xử (hầu như hoàn toàn bí mật, mọi hoạt động ghi chép bằng văn bản,…) và tố tụng tranh tụng tại phiên tòa (sự công khai của phiên tòa xét xử, đảm bảo quyền bào chữa cho bị cáo, đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa Án,…)
Có thể thấy, Việt Nam hiện đang đi theo mô hình pha trộn thiên về thẩm vấn Nhiệm vụ xác định sự thật khách quan, trách nhiệm chứng minh tội phạm được giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng đảm nhiệm Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người bào chữa của họ còn khá thụ động và trong nhiều trường hợp lệ thuộc vào các
cơ quan tiến hành tố tụng Điều tra, thẩm vấn là phương pháp chủ yếu được áp dụng ở tất cả các giai đoạn tố tụng, thậm chí tại phiên tòa
Tổng kết thực tiễn thi hành mô hình tố tụng hình sự ở nước ta thời gian qua cho thấy, mô hình tố tụng hình sự hiện hành đã phát huy tác dụng tích cực trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và từng bước đáp ứng được yêu cầu bảo đảm dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Tuy nhiên, quá trình vận hành mô hình này đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập Việc tổ chức các hoạt động tố tụng hình sự đang có sự chồng lấn, mâu thuẫn giữa các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự Cùng một chủ thể nhưng lại được giao nhiều chức năng tố tụng khác nhau Tòa án có vai trò quá chủ động, tích cực trong phiên tòa
sơ thẩm, phúc thẩm và đang được giao thực hiện một số thẩm quyền không phù hợp với chức năng xét xử (khởi tố vụ án, trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung…)
Trang 10Vai trò của Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm còn khá mờ nhạt, không tạo cơ sở phát huy tính chủ động, tích cực và trách nhiệm của cơ quan buộc tội Đặc biệt, vai trò của người bào chữa còn yếu ớt; chưa có những quy định để bảo vệ quyền của người bào chữa trong việc thực hiện quyền tố tụng Việc thu thập chứng cứ, yếu tố quan trọng nhất liên quan đến việc định tội hoàn toàn do cơ quan nhà nước với những chức năng tố tụng khác nhau hình thành nên hồ sơ vụ án có xu hướng thiên về chứng cứ buộc tội mà thiếu chứng cứ gỡ tội, dẫn đến quyền suy đoán vô tội của bị cáo khó được tôn trọng một cách thực sự
Tham khảo kinh nghiệm về mô hình tố tụng với những ưu, nhược điểm nêu trên, cùng với một số đánh giá về thực trạng mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay,
có thể thấy, việc hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự là cần thiết nhưng phải được thực hiện trên cơ sở giữ nền tảng của mô hình tố tụng thẩm vấn hiện tại Các yếu tố tranh tụng chỉ nên áp dụng ở mức độ giúp nâng cao chất lượng của quá trình tố tụng, tìm kiếm sự thật khách quan và bảo vệ tốt hơn quyền cơ bản của công dân Theo đó, để tránh gây ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án cần đưa người bào chữa vào nhóm các cơ quan tiến hành tố tụng và đổi tên nhóm này thành “chủ thể tiến hành tố tụng” Trong nhóm “chủ thể tiến hành tố tụng”, địa vị pháp
lý người bào chữa cần được nâng lên “ngang bằng với kiểm sát viên trong các giai đoạn tố tụng, đặc biệt là giai đoạn xét xử để tạo thành hai bên “đối tụng” cùng thu thập chứng cứ, xác định sự thật khách quan của vụ án” Người bào chữa phải có quyền tiếp cận tới toàn bộ hồ sơ vụ án hình sự; được tham gia đầy đủ vào quá trình tố tụng ít nhất
là từ khi kết thúc giai đoạn điều tra Cả hai bên đều có trách nhiệm chia sẻ toàn bộ chứng cứ mà mình đã thu thập được Thẩm phán chỉ được căn cứ vào những chứng cứ được xác định tại phiên tòa xét xử để xác định bị cáo có tội hay không có tội Nếu chứng cứ trình bày tại phiên tòa xét xử chưa đủ để định tội thì tòa án phải tuyên bị cáo không có tội; hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung Đây là cơ chế mà rất nhiều mô hình tố tụng học hỏi từ mô hình tranh tụng, thể hiện sự tôn trọng các cam kết quốc tế
về bảo vệ quyền con người mà Việt Nam tham gia cũng như quyền cơ bản của công dân do Hiến pháp quy định
4 Đánh giá quy định của BLTTHS2015 về nguyên tắc "Suy đoán vô tội"?
CSPL: Theo quy định tại Điều 13 Bộ luật TTHS 2015
Nội dung:
- Theo nguyên tắc này được hiểu một người chỉ được xem là có tội chỉ khi có bản
án hay quyết định có hiệu lực của Tòa án còn nếu không đủ căn cứ để buộc tội hay kết tội người đó thì phải kết luật người đó vô tội
- Nghĩa vụ chứng minh một người có tội thuộc về bên có trách nhiệm buộc tội Người bị tình nghi, bị can, bị cáo có quyền chứng minh mình vô tội nhưng không có nghĩa vụ phải chứng minh sự vô tội của mình
- Khi có những nghi ngờ về pháp luật và chứng cứ xuất hiện thì những nghi ngờ này phải được hiểu và giải thích theo hướng có lợi cho người bị tình nghi và bị can, bị cáo