1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận môn lịch sử đảng14

8 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 195,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề bài: “Anh/chị hãy phân tích: Tại sao Hội nghị Trung ương lần thứ 8 tháng5 năm 1941, Đảng lại chủ trương đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh?” BÀ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

BÀI LUẬN GIỮA KỲ MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG

Giảng viên: Phạm Minh Thế

Họ và tên: Phùng Thị Ngọc Ánh Lớp: HIS 1001-01 (Thứ 2 tiết 1-2) Khóa : QH2019

Mã số sinh viên: 19041863

Hà Nội – 2022

Trang 2

Đề bài: “Anh/chị hãy phân tích: Tại sao Hội nghị Trung ương lần thứ 8 tháng

5 năm 1941, Đảng lại chủ trương đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu

và thành lập Mặt trận Việt Minh?”

BÀI LÀM

Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, nhanh chóng lan ra các châu lục và ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách cai trị các nước thuộc địa, trong đó

có Việt Nam Chính phủ Đalađiê (Daladier) ngay lập tức thi hành một loạt biện pháp đàn áp lực lượng dân chủ ở trong nước và phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa, nhất là Đông Dương sau khi khu vực này đến giai đoạn cao trào vô sản bùng lên mạnh mẽ dẫn tới hệ quả Đảng Cộng sản Việt Nam, sau đổi tên là Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, cuộc nổi dậy Xô Viết Nghệ - Tĩnh 1930 - 1931, hoạt động sôi nổi mặt trận Dân chủ Phản đế 1936 - 1939… Tháng 6/1940, Đức tấn công Pháp, Chính phủ của Thủ tướng Pêtanh (Pétain) đầu hàng Đức Chính quyền thực dân đê hèn và bè lũ tay sai độc ác vẫn ra sức vơ vét để gửi về Pháp, cống nạp cho

bộ máy chiến tranh Phát xít phục vụ kế hoạch của Hít Le sau khi chiếm một loạt nước châu Âu Tháng 6/1941, Đức tấn công Liên Xô Ở Đông Dương, bộ máy đàn

áp được tăng cường mạnh hơn bao giờ hết, lệnh thiết quân luật được ban bố gắt gao Ngày 28/9/1939, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấm tuyên truyền Cộng sản, đặt Đảng Cộng sản Đông Dương ra ngoài vòng pháp luật, giải tán các hội, đoàn, đóng cửa các tờ báo và nhà xuất bản, cấm hội họp và tụ tập đông người Thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến, Phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng; thực hiện chính sách tăng cường vơ vét sức người, sức của để phục vụ cuộc chiến tranh đế quốc Đồng bào ta khi ấy trải qua cuộc sống vô vàn khổ cực lại ngày càng khắc nghiệt hơn khi tháng 9/1940, quân phiệt Nhật vào Đông Dương, thực dân Pháp đầu hàng và câu kết với Nhật để thống trị và bóc lột nhân dân Đông Dương Nhân dân Đông Dương phải chịu cảnh

“một cổ hai tròng” Pháp - Nhật Cả hai nước đế quốc cùng thực hiện thu thuế, cùng

Trang 3

cả chính phủ nhà Nguyễn bù nhìn là ba tầng bóc lột tận xương tủy, tình thế dân tộc

bị đẩy đến bờ vực sinh tử đang gia tăng gấp ngàn lần khi nguy cấp hơn là Phát xít Nhật bắt nhân dân ta nhổ lúa đi trồng đay để làm dây thừng, dệt bao tải và thầu dầu làm thuốc để phục vụ cho chiến tranh đang lan rộng và diễn ra quyết liệt

Tình hình trong nước và thế giới từ giữa năm 1941 có nhiều biến chuyển quan trọng Tháng 12/1941, chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ Quân phiệt Nhật lần lượt đánh chiếm nhiều thuộc địa của Mỹ và Anh ở trên biển và trong đất liền, với sự tiếp viện của bộ máy bóc lột vơ vét sức người, sức của ở Đông Dương, riêng lực lượng lính thợ bị bắt ở đây theo thống kê là hơn 7 vạn, thực tế nghiên cứu

và tìm hiểu sau này lên tới 12 tới 13 vạn Tình hình thế giới và trong nước dẫn đến những quyết định trọng đại, đường lối phương hướng của cuộc cách mạng ngày càng xác định rõ hơn

Ngày 29/9/1939, Trung ương Đảng gửi toàn Đảng một thông báo quan trọng chỉ rõ: “Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng”

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (11/1939) tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) đã phân tích tình hình và chỉ rõ: “Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ

đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập” Hội nghị nhấn mạnh: “Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mệnh,

cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết” Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, tập hợp tất

cả các dân tộc, các giai cấp, đảng phái và cá nhân yêu nước ở Đông Dương nhằm đánh đổ đế quốc Pháp và tay sai, giành lại độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1939 đã đáp ứng đúng yêu cầu khách quan của lịch sử, đưa nhân dân bước vào thời kỳ trực tiếp vận động giải phóng dân tộc Vậy là trước những thách thức và biến cố to lớn, hoàn cảnh thúc giục gấp gáp, ngọn cờ dẫn dắt nhân dân Việt Nam đã chọn phất lên theo hướng gió Thời đại, tung bay cho chúng ta tin tưởng vào một ngày chiến thắng,

Trang 4

đồng bào đồng lòng cùng quyết tâm bỏ hết mọi lợi ích giai cấp để giành độc lập dân tộc trước tiên

Diễn biến nhanh trên các mặt trận khiến khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra khi quyết định hoãn không đến được cơ quan chỉ huy và ngay những ngày đầu nổ súng đã gặp bất lợi Ngày 17/1/1940, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ bị địch bắt Nhiều đồng chí ủy viên Trung ương cũng sa vào tay giặc Đây liệu có phải là mốc đánh dấu sự hoang mang, lo lắng, trăn trở trong việc quyết định đường lối tiếp theo của Đảng

để dẫn dắt Cách mạng nhân dân để thành công trọn vẹn?

Tháng 11/1940, hơn một tháng sau khi Nhật vào Đông Dương, Hội nghị cán

bộ Trung ương họp, lập lại Ban Chấp hành Trung ương và đưa ra nhận định: “Cách mạng phản đế và cách mạng thổ địa phải đồng thời tiến, không thể cái làm trước cái làm sau” “Mặc dầu lúc này khẩu hiệu cách mạng phản đế - cách mạng giải phóng dân tộc cao hơn và thiết dụng hơn song nếu không làm được cách mạng thổ địa thì cách mạng phản đế khó thành công Tình thế hiện tại không thay đổi gì tính chất cơ bản của cuộc cách mạng tư sản dân quyền Đông Dương” Trung ương Đảng vẫn chưa thật sự dứt khoát với chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu được đề ra tại Hội nghị tháng 11/1939 Nhưng đó cũng là bài toán khó mà phải chờ lời giải chuẩn xác nhất từ các bậc lãnh đạo sáng suốt, bởi chỉ một sai lầm nhỏ trong lúc nhân dân bị đày đọa, nước sôi lửa bỏng này cũng dẫn đến hệ quả khó lường, đi nhầm đường là coi như công sức bao năm gây dựng, đặc biệt là thời cơ chín muồi coi như bỏ phí

Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước và dừng chân ở Cao Bằng Sự xuất hiện của người là điểm sáng khi tình hình rối ren, bóng tối Đế quốc, Phát xít bao trùm toàn cõi Đông Dương, bao hiểu biết, tầm nhìn sâu sắc sau những năm tháng bôn ba tìm lý tưởng, hòa mình vào cùng học hỏi, rèn luyện cùng những người Cộng sản Bôn Sê Vích đã đưa dân tộc Việt Nam đến cái đích cuối cùng mong ước nung nấu từ ngày đầu tiên Người đi tìm hình của nước Tháng 5/1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Hội nghị đanh thép khẳng định: “Vấn đề chính

Trang 5

là nhận định cuộc cách mạng trước mắt của Việt Nam là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc; lập Mặt trận Việt Minh, khẩu hiệu chính là: Đoàn kết toàn dân, chống Nhật, chống Pháp, tranh lại độc lập; hoãn cách mạng ruộng đất” Trung ương bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư Hội nghị Trung ương nêu rõ những nội dung quan trọng:

Thứ nhất, hết sức nhấn mạnh mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải được giải quyết cấp

bách là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp và Phát xít Nhật, bởi vì dưới hai tầng áp bức Nhật - Pháp, “quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng”

Thứ hai, khẳng định dứt khoát chủ trương “phải thay đổi chiến lược” và giải thích:

“Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”” Trung ương Đảng khẳng định: “Chưa chủ trương làm cách mạng tư sản dân quyền

mà chủ trương làm cách mạng giải phóng dân tộc” Hội nghị chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dân tộc”

Thứ ba, giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương, thi

hành chính sách “dân tộc tự quyết” Sau khi đánh đuổi Pháp - Nhật, các dân tộc trên cõi Đông Dương sẽ “tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành lập một quốc gia tùy ý” “Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận

và coi trọng”

Thứ tư, tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân tộc, “không phân biệt thợ thuyền, dân

cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra giành quyền độc lập, tự do

Trang 6

cho dân tộc” Đây cũng là nguyên nhân ta cần một mặt trận để đoàn kết mọi lực lượng thành sức mạnh nhấn chìm bè lũ cướp nước và bán nước dẫn tới việc quyết định thành lập mặt trận Việt Minh Các tổ chức quần chúng trong Mặt trận Việt Minh đều mang tên “cứu quốc” Trong việc xây dựng các đoàn thể cứu quốc, “điều cốt yếu là không phải những hội viên phải hiểu chủ nghĩa cộng sản, mà điều cốt yếu hơn hết là họ có tinh thần cứu quốc và muốn tranh đấu cứu quốc” Tư tưởng này đã xuyên suốt quá trình tập hợp, đoàn kết các lực lượng để thực hiện thành công Cách mạng tháng Tám và sau đó đánh thắng Pháp, Mỹ giành độc lập hoàn toàn

Thứ năm, chủ trương sau khi cách mạng thành công sẽ thành lập nước Việt Nam

Dân chủ Cộng hòa theo tinh thần tân dân chủ, một hình thức nhà nước “của chung

cả toàn thể dân tộc”

Thứ sáu, Hội nghị xác định chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của

Đảng và nhân dân; “phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù” Đây cũng là nguyên nhân để cần 1 mặt trận tập hợp tất cả “tinh thần và lực lượng” để giành thắng lợi quyết định trên chiến trường sau này.Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh chủ trương chiến lược được đề ra từ Hội nghị tháng 11/1939, khắc phục triệt để những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10/1930, khẳng định lại đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc Đó là ngọn cờ dẫn đường cho toàn dân Việt Nam đẩy mạnh công cuộc chuẩn bị lực lượng, tiến lên trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập, tự do

Qua đây, ta thấy rõ được sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng: Ngày 6/11/1939, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, Hội nghị VI đã phân tích tính chất của Chiến tranh thế giới thứ hai, vị trí của Đông Dương trong cuộc chiến tranh đó, chính sách của thực dân Pháp và thái độ chính trị của các giai cấp xã hội Từ sự phân tích đó, Hội nghị đã xác định mục tiêu trước mắt của cách mạng Đông Đương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông

Trang 7

Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập: “Cách mệnh phản đế và điền địa

là hai cái mấu chốt của cách mệnh tư sản dân quyền Không giải quyết được cách mệnh điền địa thì không giải quyết được cách mệnh phản đế Trái lại, không giải quyết được cách mệnh phản đế thì không giải quyết được cách mệnh điền địa Cái nguyên tắc chính ấy không bao giờ thay đổi được nhưng nó phải ứng dụng một cách khôn khéo thế nào để thực hiện được nhiệm vụ chính cốt của cách mệnh là đánh đổ đế quốc Đó là sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược quan trọng nhất được đặt ra từ Hội nghị Trung ương VI và được hoàn thiện tại Hội nghị Trung ương VIII (tháng 5/1941) Đây chính là sự khẳng định và phát triển sáng tạo tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, là bước trưởng thành vượt bậc của Đảng ta về lãnh đạo chính trị, về đổi mới tư duy, xây dựng đường lối cứu nước, vượt qua những biểu hiện của bệnh ấu trĩ “tả khuynh” và giáo điều trong những năm đầu sau khi mới thành lập Vậy là, bằng nhận định đúng đắn đầy quyết đoán của vị lãnh tụ thiên tài với tầm nhìn, tiên đoán, và quan trọng hơn người biết lựa chọn thời điểm, đoàn kết, thống nhất các ý kiến của tất cả cánh hữu phe tả trong nội bộ Đảng, con đường đã được vạch ra rõ ràng và nhất quán để mang lại một đất nước Việt Nam

“hoàn toàn độc lập, nhân dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc ai cũng được học hành’’ sau này

Thực hiện tư tưởng giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước của Nghị quyết VIII, Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) được

thành lập ở Việt Nam (Mặt trận Việt Minh là mặt trận đại đoàn kết dân tộc Việt

Nam, là nơi tập hợp, giác ngộ và rèn luyện lực lượng chính trị rộng lớn, một lực lượng cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong tổng khởi nghĩa giành chính quyền sau này) Mười chính sách mà Việt Minh đề ra gồm chính sách chung cho toàn dân

tộc và những chính sách cụ thể đáp ứng lợi ích cho từng giai tầng xã hội Coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật - Pháp để dựng nên nước Việt Nam tự do, độc lập Do những chính sách đề ra đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân

Trang 8

nên được nhân dân đồng tình, hưởng ứng, đi theo Có thể nói, sự ra đời của Mặt trận Việt Minh là yếu tố quyết định cho thắng lợi Cách mạng Tháng Tám

Trong những hoàn cảnh nhất định thì “với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn” Hội nghị còn xác định những điều kiện chủ quan, khách quan, dự đoán thời cơ tổng khởi nghĩa và mặt trận Việt Minh luôn sẵn sàng Tóm lại, mặt trận Việt Minh ra đời là tất yếu và cũng là thiết yếu để toàn thể dân tộc Việt Nam có một “thỏi nam châm” khổng lồ thu hút mọi sức mạnh, mọi lực lượng, hậu phương và tiền tuyến cùng thống nhất ý chí vật chất để xông lên tự chặt đứt xiềng xích nô lệ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam: Dành cho bậc đại học không

chuyên lý luận chính trị (2021), NXB Chính trị Quốc gia Sự thật.

2 Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên) (2007), Tiến trình lịch sử Việt Nam, NXB

Giáo dục

Ngày đăng: 14/10/2022, 00:08