Học trực tuyến có lợi thế về sự thuận tiện, về chi phí và tính linh hoạt… Tuy nhiên, cũng có một số bất cập như không được thực hành trực tiếp, bị hạn chế giao tiếp xã hội… Vì vậy, tôi t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA DU LỊCH HỌC
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN NHẬP MÔN NĂNG
LỰC THÔNG TIN PHÁT TRIỂN VIỆC HỌC TRỰC TUYẾN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƯỚC TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19
Giảng viên: TS Trần Thị Thanh Vân
Ths Nguyễn Thị Kim Lân
Họ và tên sinh viên: Đinh Thị Huyền Trang Lớp: K64- Quản trị khách sạn
Mã số sinh viên: 19031703
Hà Nội, tháng 8 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 5
5 Tổng quan nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu khoa học 7
7 Phạm vi nghiên cứu 8
NỘI DUNG 8
Chương I Cơ sở lí luận về tác động của Đại dịch Covid-19 đến việc học trực tuyến của sinh viên 8
1.1 Các khái niệm 8
1.1.1 Khái niệm virus Corona 8
1.1.2 Khái niệm học trực tuyến (E-Learning) 9
1.2 Nguồn gốc của Virus Corona 10
1.3 Tình hình Đại dịch Covid-19 trên thế giới và tại Việt Nam 10
1.4 Lịch sử hình thành phương pháp học trực tuyến 11
1.5 Đặc điểm của học trực tuyến 12
1.6 Tác động của Đại dịch Covid-19 đến việc học trực tuyến của sinh viên .12
Chương II Sử dụng phương pháp học trực tuyến trong Đại dịch Covid-19 của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn hiện nay 12
2.1 Thực trạng học trực tuyến trong mùa dịch Covid – 19 của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 12
2.2 Ưu điểm và nhược điểm khi tham gia học tập trực tuyến đối với sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 13
2.2.1 Về hình thức học 13
2.2.2 Về sự tác động tới thói quen hàng ngày 14
2.2.3 Về một số trang web, ứng dụng phục vụ việc học trực tuyến 16
Chương III Đề xuất giải pháp giúp sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn học tập trực tuyến hiệu quả hơn 16
3.1 Đối với sinh viên 16
3.2 Đối với giảng viên 17
KẾT LUẬN 18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3DANH MỤC VIẾT TẮT
1 ĐHKHXH&NV Đại học Khoa học Xã hôi và Nhân văn
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Đánh giá mức độ yêu thích cách thức học tập 13
Biểu đồ 2.2 Đánh giá tác động của việc học trực tuyến tới thói
Biểu đồ 2.3 Đánh giá nhận xét “ Học trực tuyến là nâng cao
tính tự giác của sinh viên” 15
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong thời kì cách mạng công nghệ 4.0 đang ngày càng phát triển, chất lượng con người ngày càng nâng cao, sự cạnh tranh ngày một mạnh mẽ thì giáo dục là một nhân
tố vô cùng quan trọng để quyết định sự tồn tại và phản ánh trình độ phát triển của một quốc gia Việc học tập là một quá trình dài không phân biệt tuổi tác, cấp bậc, cần học tập xuyên suốt và có thể học tập trong cả cuộc đời Vì vậy, việc học trực tuyến là hướng đi tất yếu, hữu hiệu phù hợp với đa số đối tượng học tập có thể tiếp cận được nhiều nguồn tri thức khác nhau cũng như có thể đưa nền giáo dục Việt Nam tiếp cận gần hơn với giáo dục quốc tế
Đặc biệt trong tình hình đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp thì việc triển khai phương thức học tập trực tuyến là tất yếu, đây cũng chính là giải pháp hữu hiệu nhất cho nền giáo dục ngay lúc này
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam phương thức học trực tuyến đã được tổ chức Tùy từng mục tiêu và mức độ đào tạo mà hình thức tổ chức lớp học cũng khác nhau Học trực tuyến có lợi thế về sự thuận tiện, về chi phí và tính linh hoạt… Tuy nhiên, cũng có một số bất cập như không được thực hành trực tiếp, bị hạn chế giao tiếp xã hội… Vì vậy, tôi thực hiện đề tài “ Phát triển việc học trực tuyến cho sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ( ĐHKHXH&NV) trước tác động của đại dịch Covid-19” để tìm hiểu thực trạng học tập của sinh viên, khảo sát sinh viên khi tham gia học tập trực tuyến thấy được những ưu nhược điểm gì? Có mặt tích cực hay tiêu cực không? Từ đó phân tích tổng hợp để đưa ra một số giải pháp giúp sinh viên học tập hiệu quả hơn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích nghiên cứu chỉ ra thực trạng, ưu nhược điểm khi tham gia học tập trực tuyến của sinh viên trường Đại học KHXH&NV Từ đó tìm ra giải pháp khắc phục các nhược điểm của việc học trực tuyến, góp phần nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 5+ Khảo sát, chỉ ra thực trạng, tình hình học tập trực tuyến của các bạn sinh viên trong mùa dịch Covid-19
+ Chỉ ra những ưu điểm và nhược điểm của phương pháp học này
+ Đưa ra các giải pháp giúp các bạn sinh viên học trực tuyến hiệu quả hơn
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Phát triển phương pháp học trực tuyến trong thời kì dịch CoVid-19 cho sinh Viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
- Câu hỏi nghiên cứu
+ Thực trạng việc học trực tuyến của sinh viên trong mùa dịch như thế nào? Việc học trực tuyến có tác động như thế nào đối với sinh viên?
+ Ưu và nhược điểm của phương pháp học này là gì?
+ Chúng ta cần làm gì để phát huy tối đa những ưu điểm vốn có và khắc phục những nhược điểm còn hạn chế của việc học trực tuyến?
- Giả thuyết nghiên cứu:
Giả thuyết nghiên cứu:
+ Dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp, ngày sinh viên toàn quốc trở lại trường chưa thể xác định được, vì thế tinh giản chương trình, đẩy mạnh dạy học trực tuyến được xem là giải pháp cần thiết lúc này Hầu hết tất cả trường đại học đều triển khai phương pháp học trực tuyến, vì vậy việc học trực tuyến đã trở phổ biến với tất cả sinh viên
+ Hình thức học trực tuyến cho phép người đọc được đào tạo mọi lúc mọi nơi, người dạy có thể truyền đạt kiến thức theo yêu cầu học viên, học viên có thể tiếp thu kiến thức truy cập các khóa học bất kỳ nơi đâu Tuy nhiên, không phải ai cũng cập nhật và nắm bắt được công nghệ thông tin nhanh chóng việc học online sẽ là trở ngại cho những học viên không thành thạo sử dụng vi tính hoặc những học viên ở miền núi là
Trang 6nơi không sử dụng mạng Internet Ngoài ra, thói quen hàng ngày của sinh viên cũng sẽ
có sự thay đổi
+ Một số giải pháp để sinh viên học trực tuyến hiệu quả: trước tiên phải rèn luyện tính tự giác cũng như quyết tâm cao độ vào việc học; lập mục tiêu cụ thể để biết học trực tuyến có hiệu quả hay không từ đó có thể thay đổi phương pháp học tập,cách tiếp thu kiến thức cho bản thân; ghi chép và chuẩn bị bài đầy đủ,chủ động học hỏi,tìm kiếm những thông tin liên quan bài học
5 Tổng quan nghiên cứu
- Các nghiên cứu có liên quan:
Nhận thấy hiệu quả của việc học tập trực tuyến là vô cùng to lớn vì vậy nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã tích cực đầu tư nghiên cứu , xây dựng các mã nguồn mở như LMS, LCMS, các công trình đóng gói nội dung học tập…Mĩ và Châu Âu là những nước tiên phong đi đầu có những chương trình dự án đầu tư vào phương pháp học tập E-Learning nhằm phát triển phương thức học tập đào tạo trực tuyến trong các
tổ chức và các trường đại học
Tại Việt Nam hiện nay đã có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến hình thức học trực tuyến Phương thức học trực tuyến đã xuất hiện khoảng từ 20 năm tại Việt Nam, một
số Hội thảo, Hội nghị đã được tổ chức như Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo ĐHQGHN năm 2000, Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT / rda 2/2003 , Hội thảo khoa học quốc gia lần II về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT / rda 9/2004 , và hội thảo khoa học “ Nghiên cứu và triển khai E learning ” do Viện Công nghệ Thông tin ( ĐHQGHN) và Khoa Công nghệ Thông tin ( Đại học Bách khoa Hà Nội ) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học
về E-learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam
Một trong những công trình nghiên cứu lớn phải kể đến như thuyết minh đề tài nghiên cứu khoa học cấp Quốc gia với công trình “ Nghiên cứu về phương thức học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin (E-learning) trong giáo dục Đại học và đào tạo trực tuyến mở dành cho đại chúng MOOCs (Massive Online Open Courses): Kinh nghiệm thế giới và ứng dụng tại Việt Nam” của phó Giáo sư Võ Hữu Đức Nghiên cứu
Trang 7của (Nguyễn Việt Anh, 2005) về “ Nghiên cứu ứng dụng mã nguồn mở phục vụ đào tạo trực tuyến” (Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu khoa hoc do Trường quản lý cấp ĐHQGHN) QC.04.02 Nghiên cứu Luận văn Thạc sĩ của (Trần Thanh Sơn, 2007) với
đề tài “ Xây dựng công cụ tạo bài giảng điện tử mô phỏng phần mềm ứng dụng trong đào tạo điện tử (E-Learning)
Hay nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lí học tập trực tuyến của sinh viên như Luận văn Thạc sĩ quản lí Giáo dục của (Lê Khắc Quyền, 2008) “ Biện pháp quản lý công tác đánh giá kết quả học tập của học viên trong đào tạo trực tuyến ở Trường đại học Sư phạm Hà Nội ”, nghiên cứu về “Đánh giá cảm xúc trạng thái của người học khi tham gia hệ thống E-Learning” của (Đặng Thị Hương, 2014)…
- Nhận xét chung và các vấn đề cần nghiên cứu:
Nhìn chung, đa phần các nghiên cứu đều đã làm rõ được một số nội dung lớn như sau:
Thứ nhất, khẳng định được sự xuất hiện của phương pháp học trực tuyến là tất yếu
Thứ hai, chứng minh được vai trò và những tiện ích của phương pháp học trực tuyến
Thứ ba, phân tích được một số tác động, xây dựng và đưa ra giải pháp để phương pháp học trực tuyến dễ dàng tiếp cận với công tác học tập nghiên cứu
Từ các nghiên cứu trên có thể thấy việc học trực tuyến là hữu ích phù hợp để sinh viên học tập mà không giới hạn không gian, thời gian Tuy nhiên, các bài nghiên cứu trên đa phần chưa phân tích được thực trạng và những khó khăn mà sinh viên gặp phải khi học tập trực tuyến mà chỉ đề cập sâu về lợi ích phương thức học này.Vì vậy, bài nghiên cứu của tác giả sẽ tìm hiểu về thực trạng cảm nhận của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn về ưu nhược điểm khi tham gia học trực tuyến từ
đó đưa ra giải pháp rõ ràng hơn, đặc biệt nghiên cứu trong tình hình đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, và sinh viên đều học tập trực tuyến như hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu khoa học
Phương pháp phỏng vấn sâu: Dùng phương pháp này để thu thập thông tin, ý kiến của một số bạn sinh viên về thực trạng của việc học trực tuyến trong mùa dịch, về
Trang 8những tác động, sự ảnh hưởng tới chất lượng việc học và thói quen hàng ngày, phỏng vấn nhằm làm rõ hơn một số thông tin trong bảng hỏi
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tiến hành khảo sát thực trạng học trực tuyến của các bạn sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội Và Nhân Văn với số lượng khảo sát là 100 bạn sinh viên của các trường với 11 câu hỏi
Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu: Phân tích các số liệu, thông tin thu được từ việc phỏng vấn, điều tra bảng hỏi; từ đó lập bảng biểu, tổng hợp số liệu để đưa ra nhận xét, đánh giá
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu văn bản pháp quy của Bộ giáo dục và Đào tạo, văn bản pháp quy của Trường Đại học Khoa học Xã hội Và Nhân Văn về phương thức học trực tuyến
7 Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn nghiên cứu: Trường Đại học Khoa học Xã hội Và Nhân Văn – Đại học Quốc gia Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 7 năm 2021 đến tháng 8 năm 2021
NỘI DUNG
Chương I Cơ sở lí luận về tác động của Đại dịch Covid-19 đến việc học trực tuyến của sinh viên
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm virus Corona
Theo (TS.Nguyễn Xuân Hưng, 2020) Phó Việu trưởng kiêm Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học Viện Nghiên cứu Tế bào gốc & Công nghệ Gen Vimec cho biết Corona
là một họ virus lớn, trong đó một số chủng có khả năng gây bệnh khi bị xâm nhiễm từ động vật sang người, một số khác chỉ xâm nhiễm và tồn tại ở các loài động vật bao gồm lạc đà, mèo và dơi Đôi khi virus corona từ động vật tiến hóa để lây sang người, rồi sau đó lây từ người sang người như trường hợp Hội chứng Hô hấp Trung Đông (MERS) và Hội chứng Hô hấp cấp (SARS)
Trang 91.1.2 Khái niệm học trực tuyến (E-Learning)
E-Learning là một hình thức giáo dục, học tập dựa trên sự kết nối của Internet Giảng viên và học viên đều có thể tham gia học và đào tạo trên hệ thống E-learning trên máy tính, máy tính bảng, hoặc điện thoại thông minh có kết nối Internet Thông qua nền tảng E-learning giảng viên có thể trực tiếp giảng dạy cho học sinh hoặc gửi, lưu trữ những bài giảng, dữ liệu bài học trên hệ thống bằng các hình ảnh, video, âm thanh Và học viên có thể theo dõi nhiều bài giảng theo phương thức online hoặc offline, trao đổi với giáo viên- học viên khác, tạo chủ đề thảo luận trong forum, thực hiện các bài kiểm tra,…
Nói tóm lại: E-learning là một hình thức học tập và đào tạo từ xa dựa trên các thiết bị công nghệ hiện đại và có kết nối Internet
Ngoài ra có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về học trực tuyến (hay còn gọi là E-elearning), dưới đây là một số khái niệm phổ biến và được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng nhất:
Theo (Đặng Thị Hương, 2014) viết trong luận văn Ths Công nghệ thông tin thì có thể định nghĩa khái niệm học trực tuyến (hay còn gọi là E-learning) như sau: E – learning (viết tắt của từ Electronic Learning) là thuật ngữ mới dùng để mô tả việc học tập đào tạo, trên công nghệ thông tin và truyền thông
(Đỗ Hoàng Kiên, 2007) tổng hợp trong luận văn “ Học cộng tác trong đào tạo trực tuyến” một số định nghĩa được nhiều nhà nghiên cứu công nhận và sử dụng :
E-Learning là sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập (William
Horton)
- E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông ( Compare Infobase Inc)
- E-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc quản lý
sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục ( MASIE Center)
Trang 101.2 Nguồn gốc của Virus Corona
Hiện tại vẫn chưa rõ nguồn gốc của virus Corona Nhưng theo nghiên cứu giải trình
tự hệ gen của Virus cho thấy chủng virus này có độ tương đồng 96,3% với virus corona từ dơi, do đó có khả năng cao đây là chủng virus từ dơi bị đột biến rồi xâm nhiễm sang người
1.3 Tình hình Đại dịch Covid-19 trên thế giới và tại Việt Nam
• Tình hình Đại dịch Covid-19 trên thế giới
Theo (Phan An, 2021) Từ trang thống kê worldometers.info, tính đến 21h30 ngày 8/8 (theo giờ Việt Nam), trên thế giới có tổng cộng 203.178.675 ca mắc COVID-19 và 4.304.126 ca tử vong Số ca được điều trị khỏi là 182.540.258 ca
Mỹ tiếp tục là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất với 616.718 ca tử vong trong số 35.739.777 ca mắc Tiếp đến là Brazil với 562.752 ca tử vong trong số 20.151.779 ca mắc, Ấn Độ với 427.862 ca tử vong và 31.934.455 ca mắc, Mexico với 244.248 ca tử vong và 2.964.244 ca mắc, Peru với 196.873 ca tử vong và 2.124.128 ca mắc
Điểm nóng của dịch COVID-19 trên thế giới hiện nay vẫn là khu vực Đông Nam Á Ngày 8/8, Malaysia ghi nhận số ca tử vong cao nhất từ đầu dịch với 360 ca, trong khi Philippines cũng ghi nhận số ca tử vong cao nhất kể từ tháng 4 với 287 ca Về số ca mắc mới, Malaysia tăng thêm 18.688 ca lên 1,26 triệu ca, Philippines tăng 9.671 ca lên 1,66 triệu ca, Thái Lan tăng 19.983 ca lên 756.505 ca Đáng chú ý, tại Brunei, các ca nhiễm trong cộng đồng bùng phát trở lại sau hơn 1 năm đã buộc chính phủ nước này phải áp đặt các biện pháp hạn chế nghiêm ngặt Theo đó, Chính phủ Brunei đã đóng cửa tất cả các địa điểm tôn giáo, trung tâm giải trí, rạp chiếu phim, hủy các sự kiện xã hội, các sự kiện lớn chỉ được giới hạn 30 người, các trường học chuyển sang học trực tuyến, các nhà hàng chỉ được bán mang về trong 2 tuần Ngoài ra, tất cả người dân phải đeo khẩu trang, kể cả những người đã hoàn thành tiêm vaccine phòng COVID-19
• Tình hình Đại dịch Covid-19 tại Việt Nam
Thống kê từ Bộ Y tế sáng 7/8 cho biết, tính từ 18h30 ngày 6/8 đến 6h ngày 7/8 trên
Hệ thống Quốc gia quản lý ca bệnh COVID-19 ghi nhận 3.794 ca nhiễm mới, ghi nhận trong nước 17 tỉnh, thành phố