1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phong tục tập quán lễ hội Việt Nam

82 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phong Tục Tập Quán Lễ Hội Việt Nam
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 720,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thờ cúng tổ tiên đã trở thành một tập tục truyền thống, có vị trí hết sức đặc biệt trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam, là một trong các thành tố tạo nên bản sắc văn hóa Việt N

Trang 1

CHƯƠNG 1 PHONG TỤC TẬP QUÁN

MỤC TIÊU HỌC TẬP

I KIẾN THỨC:

- Học sinh nắm bắt được khái niệm, đặc điểm của phong tục tập quán truyền thống Việt Nam Trình bày được phong tục tập quán Việt Nam về tục ăn trầu, tục cưới hỏi, tục thời cúng tổ tiên

- Học sinh có thái độ yêu nghề, yêu quê hương đất nước, đoàn kết dân tộc

- Học sinh có ý thức xây dựng ngành nghề phát triển

Trang 2

Bài 1: KHÁT QUÁT VỀ PHONG TỤC TẬP QUÁN

I KHÁI NIỆM

Giáo sư – tiến sĩ Trần Ngọc Thêm định nghĩa phong tục: “là những thói quen

ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo (phong: gió; tục: thói quen; phong tục: thói quen lan rộng)”

Từ điển tiếng Việt đã định nghĩa:

- “Phong tục: lối sống, thói quen đã thành nề nếp, được mọi người công nhận, tuân theo”

- "Tập quán" là làm nhiều thành quen, là thói quen hình thành từ lâu trong đời

sống, được mọi người làm theo

Như vậy, có thể hiểu phong tục tập quán là toàn bộ những hoạt động sống của con người đã được hình thành trong điều kiện tự nhiên, đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt hằng ngày và ổn định thành nền nếp, được cộng đồng thừa nhận và

tự giác thực hiện, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính tương

đối thống nhất của cộng đồng; là những kinh nghiệm dân gian cha ông đúc rút được

qua đời sống thực tế và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, có những phong tục đã trở thành luật tục, ăn sâu bén rễ bền chặt, có sức mạnh hơn cả luật pháp

Phong tục tập quán là một bộ phận của văn hoá, có trong mọi mặt đời sống và có vai trò quan trọng trong việc hình thành truyền thống của một dân tộc, địa phương, thậm chí chế định nhiều ứng xử của cá nhân trong cộng đồng Trong quá trình hình thành phong tục có những phong tục phù hợp (mỹ tục) và những phong tục không phù hợp (hủ tục)

Phong tục có thể cải hóa được nhưng phải được cộng đồng chấp nhận Phong tục hình thành từ nếp sống của cộng đồng nên nếu nó không còn thích dụng nữa thì cộng đồng sẽ điều chỉnh, không một cá nhân nào có thể áp đặt lên cộng đồng, trừ những tập tục đặc biệt nguy hại được Nhà nước cưỡng chế bãi bỏ (như tục ma lai, ma cà rồng) và cộng đồng với ý thức cao sẽ điều chỉnh phong tục của mình cho phù hợp với lối sống, nếp sống đương đại Điều đó chứng tỏ cộng đồng luôn loại thải những điều lạc hậu, thu nhận những điều mới mẻ, tốt đẹp của cuộc sống, làm giàu cho phong tục quê hương mình

Trang 3

Biết được về cội nguồn dân tộc để nhận ra những giá trị đích thực của văn hóa

cổ truyền, những cái hay, cái lạ của ông cha ta thời trước nhằm gìn giữ những vốn quý hay lạ, hợp lẽ đời, để đối nhân xử thế đầy nhân hậu, yêu thương và đồng cảm giữa người với người trên quê hương Việt Nam

II ĐẶC ĐIỂM

- Phong tục gắn với tín ngưỡng, tiếp nối tín ngưỡng Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày Nó trở thành một tập quán xã hội ổn định, tương đối bền vững và tương đối thống nhất, được hình thành chậm và lâu dài trong quá trình phát triển lịch sử

- Phong tục của một dân tộc, một địa phương, một tầng lớp xã hội, thậm chí của một dòng họ và gia tộc, thể hiện qua nhiều chu kì khác nhau của đời sống con người Là cơ chế tâm lý bên trong, nó điều khiển, điều chỉnh hành vi, lối sống của các cá nhân trong cộng đồng tuân thủ theo quy định của luật tục hay hương ước Nó

có tính bảo thủ rất lớn nhưng có tác động tâm lý mạnh mẽ tới đời sống vật chất và tinh thần của con người, người vi phạm có thể bị phạt vạ

- Phong tục tập quán được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác bằng con đường truyền đạt, bắt chước thông qua giao tiếp của cá nhân Ban đầu phong tục của các dân tộc có những đặc điểm riêng, do trong quá trình tiếp xúc, giao lưu lẫn nhau nên có sự ảnh hưởng nhất định

- Cùng với sự phát triển của xã hội, một số phong tục không còn phù hợp với thời đại mới bị đào thải, trong khi các phong tục mới sẽ được hình thành

1 Chức năng của phong tục tập quán:

- Chức năng tâm lý xã hội:

Chức năng tâm lý xã hội của phong tục hay còn gọi là chức năng giáo dục cộng đồng Những phong tục hay, tốt đẹp, sẽ góp phần củng cố đoàn kết dòng tộc, cộng đồng, tạo dựng ý thức dân tộc Nói một cách khác, chính những giá trị tương

đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) của phong tục được tích lũy và tái tạo trong

cộng đồng người qua không gian và thời gian, đã được cố định hóa và đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội Thông qua một số phong tục là mục tiêu đánh thức ý thức nguồn cội trong cộng đồng Những giá trị truyền thống của phong tục đã thực hiện chức năng giáo dục, vừa đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người, đồng thời đảm bảo tính kế tục của lịch sử

Trang 4

- Chức năng tâm linh:

Chức năng tâm linh của phong tục thể hiện ở việc gắn kết các thế hệ xuyên không gian và thời gian, đặc biệt là ở tập tục thờ cúng tổ tiên kết nối thế giới hữu hình

và vô hình, sử dụng năng lực thần thánh để xua đuổi quỷ ma (như cúng giao thừa)

Thờ cúng tổ tiên đã trở thành một tập tục truyền thống, có vị trí hết sức đặc biệt trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam, là một trong các thành tố tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên rất giản dị: tin rằng tổ tiên mình là thiêng liêng, họ đi vào cõi vĩnh hằng nhưng vẫn sống cạnh con cháu, họ phù

hộ cho con cháu khi gặp tai ách, khó khăn; vui mừng khi con cháu gặp may mắn, khuyến khích cho con cháu khi gặp điều lành và cũng quở trách con cháu khi làm những điều tội lỗi Với đạo lý uống nước nhớ nguồn này, một mặt con cháu bày tỏ lòng biết ơn đối với các bậc sinh thành, lúc họ còn sống cũng như khi đã chết Mặt khác, nó cũng thể hiện trách nhiệm liên tục và lâu dài của con cháu đối với nhu cầu của tổ tiên Trách nhiệm được biểu hiện không chỉ trong các hành vi sống (giữ gìn danh dự và tiếp tục truyền thống của gia đình, dòng họ, đất nước) mà còn ở trong các hành vi cúng tế cụ thể

- Chức năng đáp ứng nhu cầu thực tế (chức năng giải trí):

Phong tục có chức năng đáp ứng các nhu cầu thực tế cơ bản của con người, đó

là nhu cầu được nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí sau những ngày, mùa đồng áng lao động vất vả; nhu cầu giải nhiệt, bảo vệ sức khoẻ, ăn uống, dọn dẹp vệ sinh môi trường; nhu cầu giao tiếp, sinh hoạt cộng đồng; nhu cầu cải tạo, tác động và làm biến đổi tự nhiên… Chức năng đáp ứng nhu cầu thực tế của phong tục còn góp phần điều chỉnh

xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội

2 Phân loại phong tục tập quán:

- Phong tục vòng đời: là những hình thức, nghi lễ, thói quen, tập tục liên quan đến chu kỳ một vòng đời người, trong đó có 3 mốc quan trọng là:

+ Sinh đẻ, trưởng thành, lên lão

+ Hôn nhân (hỏi, cưới xin)

+ Tang ma

- Phong tục theo đời sống: Tục ăn trầu, nhuộm răng, xăm mình, mừng nhà

Trang 5

- Phong tục theo thời gian (lễ tết): Phong tục lễ tết Á Đông nói chung, Việt Nam nói riêng có hệ thống phong tục liên quan đến hoạt động của con người gắn liền chu kỳ thời tiết trong năm, đó chính là những tập tục lễ tết và lễ hội

+ Các lễ tết gắn với các ngày tháng có thành tố lẻ (tết trùng ngày trùng tháng): nương theo thời tiết tự nhiên chuyển vần theo mùa vụ một năm như tết

Cả (tết Nguyên Đán 1/1 nương theo cái tiết Lập Xuân), Tết Hàn thực (3/3 hay tiệc bánh trôi), Tết Đoan Ngọ (5/5 khoảng trước sau ngày Hạ chí), Tết Trung thu (15/8 khoảng tiết Thu phân), Tết Trùng Cửu (9/9 AL) Tết cơm mới (10/10AL hay mồng 1/10 tuỳ vùng khoảng tiết Đông chí)

+ Các lễ tết gắn với chu kỳ của Trăng: Rằm tháng Giêng (ngày trăng

tròn đầu tiên của năm, ngày Vía đức Phật Adi-đà, còn gọi là Tết Thượng Nguyên), 7 (tết Trung Nguyên –Địa quan xá tội, lễ Vu Lan của Phật giáo), 8 (tết Trung Thu đánh dấu ngày trăng tròn nhất năm, thời tiết mát mẻ), 10 (Tết

Hạ Nguyên – Thủy quan giải ách cũng là ngày tết Cơm Mới) nhân mùa vụ gieo trồng nông nghiệp đã xong, thời tiết dịu đi, là lúc “muôn vật thảnh thơi”, người ta mở hội cầu mùa, ca hát vui chơi

+ Lễ tết khác: Tết Ông Táo, Tết Thanh Minh…

- Phong tục theo không gian (lễ hội): là phong tục của từng địa phương

Trang 6

BÀI 2: PHONG TỤC TẬP QUÁN CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

I TỤC ĂN TRẦU

Người Việt Nam xưa có thói quen ăn trầu, thể hiện nếp sinh hoạt mang đậm tính dân tộc độc đáo của Việt Nam Tục này theo các nhà sử học có từ thời Văn Lang-Vua Hùng gắn với sự tích trầu cau, và đã đi vào văn học nghệ thuật

Mời trầu

Trầu này trầu quế trầu bồi Trầu loan trầu phượng trầu tôi lấy mình Trầu này trầu tính trầu tình Trầu nhân, trầu nghĩa, trầu mình lấy tôi

Ăn trầu gồm 4 thứ nguyên liệu: cau (vị ngọt), lá trầu không (vị cay), rễ (vị đắng) và vôi (vị cay nồng) Khi ăn cau (tươi hoặc khô) với một miếng lá trầu không, quyệt ít vôi cuộn lại như tổ sâu, và cắt một miếng vỏ cây đay, cây chát hay hột mây, hột móc, mấy thứ đó hợp làm một mà nhai sẽ cảm nhận được vị ngọt của cau, vị cay của trầu, vị nồng của vôi, cái dòn và bùi của vỏ cây… giúp thơm miệng, hạ khí, tiêu cơm, chặt chân răng, môi đỏ tươi

Tục ăn trầu tiềm ẩn triết lý về sự hòa hợp âm dương: biểu hiện ở sự tổng hợp của nhiều chất khác nhau: cây cau vươn cao biểu hiện của trời (dương), vôi đất đá tượng trưng cho đất (âm), dây trầu quấn quanh thân cau biểu tượng cho sự hòa hợp hài hòa giữa âm và dương

Tính linh hoạt của người Việt cũng thể hiện qua việc ăn trầu: nhai mà không nuốt, không phải ăn, không phải uống lại càng không phải hút, mà miếng trầu làm cho người ta cởi mở, gần gũi với nhau hơn

Miếng trầu còn tiềm ẩn tình nghĩa anh em, vợ chồng phải sống hòa thuận, quấn quýt bên nhau

Phàm việc lễ nghĩa, cưới xin, tang ma, tế tự đều lấy miếng trầu làm trọng Cưới xin thì nhà trai phải lễ vài ba buồng để chia vui với bà con, khách đến chơi nhà cũng phải có trầu cau thiết đãi để niềm vui được nhân lên, nỗi buồn được chia sẻ cảm thông khi nhà có tang ma Cúng giỗ tổ tiên phải có cơi trầu, tế tự thường dùng

cả buồng cau để lễ thể hiện lòng thành kính của thế hệ sau với thế hệ đi trước Dân thôn ai có việc gì đến nhà tôn trưởng hoặc vào nhà quan cũng đem buồng cau vào là quý Trong buôn bán, đã ăn miếng trầu thì phải nể nhau, nên có câu: “Miếng trầu là

Trang 7

đầu thuốc câm”, dân gian cũng có câu: miếng trầu là đầu câu chuyện, nghĩa là miếng trầu rất hay dùng trong giao tiếp hàng ngày

Đàn bà ăn nhiều hơn đàn ông, có người nghiện ăn trầu cả ngày kèm với miếng thuốc Nhiều người ăn kèm với điếu thuốc lào môi lúc nào cũng tím lại Mỗi ngày chỉ nên ăn một vài miếng cho khỏi chua miệng, ăn nhiều bị vôi đóng vào chân răng gây hư răng

Khi khách đến chơi nhà, ngoài trầu cau người ta thường đem điếu thuốc lào ra mời khách Đây là phong tục rất đặc biệt của nước ta Thuốc lào là một loại lá cây phơi khô có nhiều ở vùng Hải Dương, Nam Định, được xắt nhỏ ra rồi dùng điếu cày

để hút Điếu cày thường được làm bằng ống tre, điếu bát (bằng sành hoặc sứ), và điếu đóng (bằng gỗ hay ngà) Nhà giàu thì có điếu bát cổ, điếu chạm trỗ, cẩn xà cừ… Mỗi nhà có một bình điếu, khi khách vào chơi tất phải có chén nước, miếng trầu và điếu thuốc lào để điểm vào câu chuyện Người sang trọng đi đâu thường có một thằng đầy tớ sách điếu đi hầu và kề điếu đến tận miệng Các văn sĩ phải hút mới nảy được tứ cho nên học trò vào trường thường phải đem theo ống điếu Nông dân đi cày, đi câu cũng đem theo ống điếu cày bằng lóng tre, khi ngồi vệ đường hút nghe sòng sọc để giải sầu cho cái miệng

Ban đầu họ cho rằng hút thuốc lào trừ được sơn lam chướng khí, hay đồn đại

rằng hút thuốc lào an toàn hơn nhiều so với thuốc lá, hút thuốc qua bát điếu chứa nước thì không độc nữa… nhưng thực tế hút thuốc lào sinh đờm, sinh ho, lượng

cacbon monoxit trong máu còn cao hơn hút thuốc lá hay thuốc rê Theo tạp chí Y học dự phòng Mỹ (2009): số lần nuốt khói trung bình của người hút thuốc lào cao hơn hút thuốc lá tới 48 lần và cả hai kiểu hút đều đưa nicotin vào máu, gây thói quen nghiện ngập và nguy cơ cao về bệnh tim mạch, thậm chí tử vong

II PHONG TỤC CƯỚI HỎI (HÔN NHÂN)

Như ta đã biết, một trong hai đặc trưng cơ bản của làng xã là tính cộng đồng

Người Việt Nam là con người của cộng đồng Mọi việc liên quan đến cá nhân cũng đồng thời liên quan đến cộng đồng, kể cả hôn nhân là lĩnh vực riêng tư nhất Hôn

nhân truyền thống của người Việt Nam không đơn thuần là việc hai người lấy nhau,

mà là việc hai bên cha mẹ, “hai họ” dựng vợ gả chồng cho con cái, xác lập quan hệ qua lại giữa hai gia tộc, vì vậy hôn nhân là sự lựa chọn của hai bên gia đình (xem có

tương xứng, có môn đăng hộ đối hay không: lấy vợ kén tông, lấy chồng kén giống)

Trang 8

Hôn nhân là công cụ thiêng liêng và duy nhất để duy trì nòi giống và phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng công việc đồng áng – “đông tay hơn hay làm” -

vì vậy, người Việt Nam coi con cái là của cải duy nhất Quan niệm đôi vợ chồng trẻ phải sinh đông con nhiều cháu, và có trách nhiệm làm lợi vật chất và tinh thần cho

gia đình: phải giỏi giang, tháo vát, đem lại vẻ vang cho gia đình chồng/vợ (“Mua

heo chọn nái, lấy gái chọn dòng” hoặc tục trải chiếu cho lễ hợp cẩn, “chồng sang

vợ được đi giày, vợ ngoan chồng được tối ngày cậy trông”)

Từ xa xưa, người Việt Nam đã rất coi trọng lễ cưới, đó là một sự kiện, điều hệ trọng nhất của cuộc đời nhằm công bố với xã hội sự hình thành của một gia đình mới Lễ cưới mang ý nghĩa thiêng liêng, sâu sắc là mốc son khẳng định họ trở thành

vợ chồng, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi và vượt qua khó khăn trong cuộc sống, đồng thời nhắc nhở mọi người phải ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình với gia đình và xã hội Ngoài mục đích chính xây dựng tổ ấm hạnh phúc riêng cho lứa đôi, còn chứa đựng ý thức sinh con cái để duy trì nòi giống, bảo tồn thuần phong mỹ tục, giữ gìn nề nếp truyền thống của ông cha ta

Ngày cưới là ngày vui của đôi nam nữ, cũng là ngày vui chung của 2 gia đình, dòng tộc, bạn bè Trong đám cưới, bậc làm cha mẹ rất hạnh phúc, bởi đám cưới là sự thể hiện sự trưởng thành của con cái, họ coi đây là sự đền đáp lớn nhất mà con cái dành cho mình

Đám cưới truyền thống của người Việt Nam mang đậm dấu ấn văn hóa phương Đông với những thủ tục và nghi lễ rất trang trọng Phong tục tổ chức cưới hỏi được hình thành cách đây 3500 năm đến 4000 năm Ngày nay, dù tiếp thu nhiều cái mới, nhưng những nghi lễ quan trọng nhất vẫn không hề thay đổi, vì đó là nét văn hóa riêng ngàn đời của người Việt Nam

Theo Phan Kế Bính, tuổi đính hôn của con trai, con gái độ mười lăm, mười sáu là sắp sửa lấy chồng Vợ chồng hơn kém nhau một hai tuổi là vừa đôi Lễ cưới ngày xưa nhất là trong giới học giả, quan lại, nhà giàu từ lúc bắt đầu cho tới lúc kết thúc theo Trung Hoa thường có 6 lễ: Lễ nạp thái, Lễ vấn danh, Lễ Nạp cát, Lễ nạp

tệ, Lễ thỉnh kỳ, Lễ thân nghinh tương ứng với lễ dạm ngõ, lễ dạm hỏi, lễ sêu, lễ trao thư thách cưới, lễ cưới, lễ đưa dâu của Việt Nam

1 Lễ dạm ngõ:

Trước hết kén chỗ môn đăng hộ đối, xem đôi tuổi không xung khắc nhau mới mượn mối lái nói với cha mẹ người con gái bằng lòng gả rồi, nhà trai sắm cơi trầu,

Trang 9

thuốc lá, chè sang nhà gái nói chuyện chính thức cho đôi nam nữ tự do gặp gỡ để tìm hiểu kỹ càng trước khi tiến đến hôn nhân Theo tục Trung Hoa thì sau khi hai nhà

nghị hôn thì nhà trai sẽ đem con nhạn (là loài chim lúc nào cũng có cặp đôi để tỏ ý

hôn nhân bền chặt) đến nhà gái để là lễ để tỏ ý đã kén chọn nơi ấy

Ngày xưa trai gái không có quyền lựa chọn người bạn đời, không có quyền tự

do yêu đương, tìm hiểu trước khi kết hôn mà do cha mẹ định đoạt và thông qua ông mai mối điều đình (cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy) và quan tâm nhiều đến môn đăng

hộ đối (sự tương đồng về kinh tế, địa vị xã hội, tuổi tác, trình độ học vấn của 2 bên cha mẹ), đặc biệt việc xem tông tích 2 bên được xem trọng hàng đầu, sắc đẹp không phải là yếu tố quan trọng nhất mà đề cao đạo đức, tính tình của cô gái

2 Lễ dạm hỏi:

Nếu tuổi của đôi trẻ tương hợp thì Ông mối cùng cha mẹ nhà trai mang lễ lộc đến nhà gái lễ Gia tiên (cau trầu, trà, lợn xôi…), đánh dấu bước tiến quan trọng, cô gái được hỏi đã chính thức là vợ chưa cưới của chàng trai, trở thành con dâu tương lai trong gia đình

Trong lễ ăn hỏi ngoài trầu cau (tượng trưng cho tình yêu chung thủy) còn có lễ vật như: bánh su sê (biểu tượng của triết lý âm dương cho sự vẹn toàn, hòa hợp của đất trời và con người), mứt sen, chè, rượu, thuốc lá, trong đó bánh su sê là quan trọng nhất – là biểu tượng của đôi vợ chồng duyên phận vẹn toàn Ở Quảng Nam, Thừa Thiên Huế thường không thể thiếu đôi bông tai vàng Những lễ vật ăn hỏi được đựng trong những quả tráp sơn son thếp vàng Những thanh niên chưa vợ được đội tráp phải quần áo chỉnh tề, thắt dây lưng đỏ khi đưa lễ sang nhà gái Nếu hai nhà gần nhau thì đi bộ, nếu hai nhà ở xa nhau thì dùng các phương tiện di chuyển (xích lô) rồi dừng trước nhà gái khoảng 100m để sắp xếp đội hình cho chỉnh tề rồi mới tiến vào nhà gái làm lễ

Lễ vật ăn hỏi thể hiện lòng biết ơn của nhà trai đối với công dưỡng dục của cha mẹ cô gái và thể hiện sự tôn trọng của nhà trai đối với cô dâu tương lai Bởi vậy

lễ ăn hỏi được tổ chức trang trọng với sự tham dự của các bậc cao niên, có uy tín trong gia tộc Các lễ vật được lấy ra mỗi thứ một ít đem lên bàn thờ để cô dâu chú rễ thắp hương gia tiên Trước khi nhà trai về, nhà gái có phần biếu lại gọi là “Lại quả” Đây là lễ thông báo chính thức với gia đình và xã hội là cô gái đã có người chính thức hỏi về làm vợ, có nơi có chốn không ai được đặt vấn đề hôn nhân nữa Đồng thời tạo sự giám sát của cả cộng đồng trong mối quan hệ giữa cô gái và các chàng

Trang 10

trai khác Cũng trong ngày này, hai họ định luôn ngày cưới cho đôi trai gái Khi nhà trai đem sính lễ đến nhà gái báo hiệu việc hôn nhân đã thành Sau lễ hỏi, nhà gái đem trầu cau biếu họ hàng, làng xóm để báo tin mừng

Thời gian từ lễ hỏi đến lễ cưới có thể nhanh hay chậm: mấy chục năm (nếu hai nhà đính hôn từ nhỏ), vài năm, vài tháng hoặc có thể chỉ vài ngày (cưới chạy tang)

Ngày nay, lễ vật ăn hỏi có nhiều sự thay đổi theo thời gian, nhiều nơi còn có thêm heo sữa quay, bánh gato, hoa quả…được bày trang trọng trong tráp được phủ vải đỏ Số lượng quả còn thay đổi tùy theo quan niệm của từng gia đình: thường là

số lẻ được coi là may mắn và có ý nghĩa (số 5, 9 được cho là số sinh, phát tài phát lộc)

3 Lễ sêu:

Trong thời gian chờ lễ cưới, những ngày lễ, tết, giỗ người con trai phải đi

“lễ” cho nhà gái gọi là sêu Sêu thì mùa nào thức ấy Có nơi một năm sêu bốn mùa, tháng ba sêu vải, tháng năm sêu dưa hấu, đường, mắm, chim, ngỗng, tháng chín sêu hồng, cốm, gạo mới, tháng chạp sêu cam, mứt, bánh cốm Đồ sêu nhà gái lấy một nửa, một nửa trả lại cho nhà trai gọi là đồ lại mặt Đôi khi người con trai phải làm đỡ công việc cho nhà gái

4 Lễ trao thư, thách cưới:

Đôi bên nhà trai nhà gái phải quang quẻ, nghĩa là người chủ hôn không có tang chế Nhà trai viết thư hỏi nhà gái xem lễ vật thách cưới như thế nào? Và nhà gái phải viết thư trả lời nhà trai Nhà trai liệu lo được thì chọn ngày lành tháng tốt, đính ước ngày cưới với nhà gái Nếu không lo được thì nhà trai xin bớt đi ít nhiều, có khi việc phải hoãn lại nếu nhà gái không chấp nhận Nhà trai buộc phải lo có khi hai bên sui gia sinh ra oán ghét nhau

Đồ thách cưới đại khái bao nhiêu lợn, gạo, trà, bao nhiêu cau, rượu, vòng, nhẫn, quần áo, chăn màn, kèm bao nhiêu tiền bạc… Tùy nơi thành thị hay nông thôn, giàu hay nghèo mà đồ thách cưới sẽ khác nhau

5 Lễ cưới:

Sêu xong nửa năm hoặc một năm (có khi hai ba năm) thì cưới Lúc đi phải chọn giờ Hoàng đạo, trong đám cưới chọn ông hiền lành, vợ chồng còn song toàn, lắm con nhiều cháu cầm một bó hương đi trước, rồi đến người dẫn lễ (mâm cau, lợn, rượu ), chú rễ khăn áo lịch sự cùng người thân thích Khi đến nhà gái dàn bày đồ lễ,

Trang 11

Cha mẹ, đại diện họ hàng 2 bên sẽ tặng quà cưới cho cô dâu chú rễ như là của hồi môn để chăm lo cho cuộc sống riêng sau này

Sau phần lễ là phần đãi gia đình họ hàng ăn uống, là dịp để Tân lang – Tân nương ra mắt hai họ, làng xóm, bạn bè… Họ hàng ăn uống xong thì lấy phần đem về gọi là cỗ cưới

6 Lễ đưa dâu:

Hai gia đình quy ước trước về ngày giờ và thành phần tham dự Tuy nhiên để

đề phòng bất trắc, tin thất thiệt, người xưa đặt ra lễ xin dâu trước giờ đón dâu – biểu hiện sự cẩn trọng trong hôn lễ Người đi xin dâu là cha hoặc mẹ chú rể, hoặc cô dì chú bác … khi đi mang theo một cơi trầu, báo trước giờ mà đoàn đón dâu đến để nhà gái sẵn sàng đón tiếp …đây là phong tục khẳng định với nhà gái chắc chắn sẽ đón dâu, trong trường hợp bất trắc về giao thông … thì nhà gái chủ động hơn, không lo lắng, bất an Nếu hai nhà gần nhau hoặc quá xa nhau thì có thể bàn với nhau bỏ bớt

lễ này, hoặc có thể nhập chung lễ xin dâu và đón dâu là một

Đến ngày đưa dâu thì nhà trai quần áo đẹp, chọn giờ tốt để sang nhà gái rước dâu Chọn người đi rước dâu phải còn đủ 2 người, gia đình hạnh phúc Khi nhà trai đến gần nhà gái, thường gặp những đám giăng dây/đóng cửa (Trung Hoa gọi là lan giai, nghĩa là chặn đường) Và nhà trai phải trả tiền cho làng người nhà gái để họ mở dây/mở cửa cho đi qua Tục này còn gọi là tục nộp cheo

Đi đầu là chủ hôn bưng tráp trầu cau và tư trang của cô dâu, người dẫn lễ, chú

rể, rể phụ, cha mẹ chú rể, sau mới đến họ hàng (Đám cưới to còn có hai đứa trẻ đi trước ôm cặp ngỗng, hai đứa trẻ xách đèn lồng vì thường đi cưới vào chiều tối hoặc đêm) Khi vào nhà gái thì Chủ hôn và chú rể sẽ làm lễ gia tiên và làm lễ Tơ hồng (lễ vật là xôi, gà, trầu, rượu bày ở ngoài sân, cô dâu chú rể cùng tế lễ) Sau đó chú rể làm lễ Cha mẹ vợ, họ hàng ăn uống xong thì rước dâu về

Khi đưa dâu, nhà gái chọn 1 Ông già cầm bó hương đi trước, họ hàng dẫn cô dâu đi sau (mẹ không đưa dâu) Khi cô dâu đi đường thường cài kim vào áo choàng

để trấn áp lời không hay hoặc có nơi đặt hỏa lò cho cô dâu bước qua; Có nơi dâu mới đến cửa, mẹ chồng cầm bình vôi tránh đi một lúc: Trong gia đình phụ nữ là nội tướng, người mẹ chồng lánh đi có ý nhường quyền nội tướng cho con dâu, để gia đình trên dưới thuận hòa, mẹ chồng-nàng dâu khỏi xung khắc trong tương lai Đến nhà trai thì một bà già dẫn cô dâu vào làm lễ gia tiên, lễ nhà thờ họ (nếu có), lễ cha

mẹ chồng

Trang 12

Giao duyên: Tối hôm cưới, người chồng lấy trầu thăm (trầu tế lễ Tơ hồng)

trao một nửa cho vợ, rót một chén rượu mỗi người uống một nửa, gọi là lễ hợp cẩn hay là lễ giao duyên Có nơi còn có tục hai vợ chồng cùng ăn chung một đĩa cơm nếp; Ý nghĩa của tục này là lời cầu chúc cho hai vợ chồng luôn gắn bó với nhau: dính nhau như dính cơm nếp, say nhau như say rượu Ở nhà đại gia còn thêm tục vợ trải chiếu lạy chồng hai lạy, chồng vái một vái đáp lễ

Lễ lại mặt: thường tiến hành vào ngày thứ hai hoặc thứ tư sau ngày cưới (gọi

là nhị hỷ hoặc tứ hỷ) tuỳ theo khoảng cách xa gần và hoàn cảnh cụ thể mà định ngày Hai vợ chồng tân hôn trở về nhà gái mang theo lễ vật để tạ gia tiên ông bà cha

mẹ, đi chào họ hàng thân nhân bên nhà gái Thành phần chủ khách rất hạn chế, chỉ gói gọn trong phạm vi gia đình Sau đó đón bố mẹ và vài thân nhân sang nhà chú rể

Kể từ buổi đó, mẹ cô dâu mới chính thức tới nhà chú rể và nhà thông gia, vì trong lễ cưới, mẹ cô dâu (có nơi cả bố) không đi đưa dâu

Trường hợp hai nhà xa xôi cách trở, ông già bà lão thì nên miễn cho nhau, cô dâu chú rể nếu bận công tác cũng nên được miễn thứ Nếu điều kiện cho phép thì nên duy trì, vì lễ này mang nhiều ý nghĩa tốt đẹp: Nhắn nhủ con đạo hiếu, biết tạ ơn sinh thành, coi bố mẹ vợ cũng như bố mẹ mình, thắt chặt và mở rộng mối quan hệ thông gia, họ hàng ngay từ buổi đầu, tình cảm được nhân đôi đồng thời hai gia đình cùng trao đổi rút kinh nghiệm về việc tổ chức hôn lễ và bàn bạc về trách nhiệm của hai bên

bố mẹ trong việc tác thành cuộc sống cho đôi trẻ trong tương lai

Theo Đại Việt sử ký toàn thư - Bộ quốc sử của triều Lê – có ghi chép rằng: những thủ tục trong lễ cưới trên gây khá nhiều phiền hà cho nhà trai, nên vào tháng Chạp năm Mậu Tuất, niên hiệu Hồng Đức (đầu năm 1479), Vua Lê Thánh Tông đã

ra chỉ dụ quy định nghi lễ hôn nhân với những trình tự cụ thể sau: Trước hết nhà trai phải nhờ bà mối đi lại bàn định với nhà gái, rồi định lễ cầu thân, lễ dẫn cưới, chọn ngày đẹp đón dâu Ngày hôm sau chào cha mẹ vợ, ngày thứ 3 đi lễ nhà thờ tổ của nhà trai, không được để nhà trai dẫn cưới đến 3-4 năm rồi mới đón dâu

Trong dòng phát triển của lịch sử của cũng như sự giao lưu văn hóa giữa các vùng miền, dân tộc, phong tục cưới của người Việt đã ít nhiều có nhiều thay đổi và

định hình thành 3 lễ chính: lễ dạm ngõ, dạm hỏi và lễ cưới Trong đó lễ dạm hỏi và

lễ đưa dâu là nghi thức quan trọng nhất mang giá trị tinh thần cao và bộc lộ rõ nét nhất nét dấu ấn văn hóa truyền thống của Việt Nam

Trang 13

Việt Nam là một đất nước đa dân tộc, các dân tộc đều có phong tục tín ngưỡng riêng gắn liền với đời sống kinh tế và tâm linh của riêng mình Theo đó phong tục tổ chức lễ cưới cũng như phong tục của từng vừng miền mang đậm bản sắc văn hóa đặc trưng riêng

Cây có gốc, nước có nguồn Gốc có tốt, cây mới xanh cành xanh lá Nước có ngọn nguồn mới trở thành biển cả sông sâu

Người Kinh và nhiều dân tộc thiểu số khác rất coi trọng phong tục thờ cúng tổ tiên, cúng giỗ những người đã mất Bởi vậy trong lễ cưới cũng có những nghi thức thể hiện lòng thành kính đối với tổ tiên, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn và biết

ơn công sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ Những ngày tổ chức cưới, gia đình đều làm mâm cơm dâng lên tổ tiên, lễ vật ăn hỏi, xin dâu cũng được dâng lên ông

bà tổ tiên nhằm báo với gia tiên, tiền tổ về việc lập gia thất của con cháu trong gia tộc

Trong đám cưới xưa, cô dâu chú rể thường mặc áo dài, khăn đóng là trang phục mang đặc trưng riêng của dân tộc Kinh Tuy mỗi vùng miền, mỗi dân tộc có cách tổ chức lễ cưới khác nhau nhưng cùng thể hiện mong muốn của đôi bên gia đình, tạo sự khởi đầu thuận lợi cho một gia đình mới, mong cho đôi bạn trẻ ấm no, hạnh phúc và gia đình bền vững Trước khi con gái về nhà chồng, cha mẹ thường trao cho con của hồi môn nhằm tạo dựng một chút kinh tế cho đôi trai gái Những người thân và bạn bè khi đến dự lễ cưới cũng mang theo quà cưới thể hiện sự vung đăp cho cô dâu chú rể với mong muốn đôi trai gái có cuộc sống thuận lợi sau này

"Trải qua bao thăng trầm dâu bể và không ngừng chịu sự bào mòn của thời gian, cũng như sự chi phối chuyển hóa bởi nếp sống văn minh qua nhiều thời đại, những tập tục cơ bản trong hôn nhân cưới gả mang tính truyền thống lâu đời của dân tộc vẫn luôn được thế hệ sau nâng niu, gìn giữ cho đến ngày nay Sở dĩ như vậy là vì hôn nhân cưới gả chính là một vấn đề vô cùng hệ trọng không chỉ đối với đôi thanh niên nam nữ tiến đến hôn nhân, mà còn đối với gia đình, dòng họ, đến đời sống đạo đức văn hóa xã hội, ảnh hưởng mật thiết đến đạo lý gia phong gia lễ của cả dân tộc." (Đức Quang)

Ngày nay, cha mẹ tôn trọng sự lựa chọn của con cái khi lập gia đình, bỏ bớt các tục đã lỗi thời (như tục giăng dây-nộp cheo cho làng, bỏ tệ thách cưới quá cao, tảo hôn, gả ép, môn đăng hộ đối, tổ chức tiệc cưới linh đình, tốn kém… ) Điều cốt

Trang 14

lõi nhất của lễ cưới là đôi nam nữ được tự do yêu đương, tự do quyết định hạnh phúc của cuộc đời mình Lễ cưới ngày nay cũng giữ được nét truyền thống cơ bản nhưng cũng có một số cách tân cho phù hợp: váy cưới trắng, vét-tông theo phương Tây, bộ ảnh cưới để lưu giữ Ở quê thường tổ chức tại nhà, khác với thành phố tổ chức tại nhà hàng khách sạn cho hiện đại, thuận tiện, nhanh gọn

Phong tục lễ cưới xưa và nay không chỉ thể hiện nhân sinh mà còn mang đậm nét văn hóa truyền thống bởi những nghi lễ trong lễ cưới truyền thống là kết tinh của một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Những giá trị văn hóa ấy được lớp trẻ tiếp nới, lưu truyền mãi muôn đời

III TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN

Tín ngưỡng cơ bản của người tiểu nông Việt Nam trồng lúa nước cổ truyền, pha đậm đặc thêm bởi ảnh hưởng Đạo Nho nên tín ngưỡng phổ biến của người Việt Nam là thờ cúng tổ tiên, không phân biệt tôn giáo Phong tục thờ cúng tổ tiên của người Việt có từ rất lâu đời, đó là một phong tục đẹp, giàu bản sắc, có tính chất giáo dục truyền thống cho các thế hệ con cháu giữ gìn đạo lý, nề nếp gia phong, sống tình nghĩa thủy chung, tu thân, hướng thiện Tự bản thân phong tục thờ cúng tổ tiên đã mang trong nó những giá trị văn hóa nhân bản

Trong văn hóa tâm linh truyền thống của người Việt Nam nói riêng và người phương Đông nói chung, thờ cúng là một việc hết sức thiêng liêng và hệ trọng, là một nét đẹp văn hóa của người Việt xưa nay Không chỉ nhớ về nguồn cội, nhân dân

ta coi tổ tiên của gia đình chính là các vị thần linh thiêng luôn ở bên cạnh để phù hộ

độ trì cho con cháu

Phong tục thờ cúng tổ tiên bắt nguồn từ niềm tin cho rằng: chết chưa phải là hết, tuy thể xác tiêu tan nhưng linh hồn của người đã khuất vẫn còn hiện hữu trong thế giới này, ngự trên bàn thờ để gần gũi, giúp đỡ con cháu, dõi theo những người thân để phù hộ họ khi nguy khó, mừng khi họ gặp may mắn, khuyến khích họ làm những điều lành và cũng quở phạt khi họ làm những điều tội lỗi, do đó cũng ảnh hưởng đến hành động và cách cư xử của những người còn sống trong gia đình, họ thường tránh làm những việc xấu vì sợ vong hồn cha mẹ buồn, đôi khi muốn quyết định việc gì đó cũng phải cân nhắc xem liệu khi còn sinh tiền thì cha mẹ có đồng ý như thế hay không

Họ cũng tin rằng dương sao thì âm vậy, người sống và người chết có quan hệ tâm linh cho nên người sống hưởng thế nào, buồn vui ra sao cũng không được quên

Trang 15

người chết Khi sống cần những gì thì chết cũng cần những thứ ấy, cho nên dẫn đến tục thờ cúng, với quan niệm thế giới vô hình và hữu hình luôn có sự quan hệ liên lạc với nhau và sự thờ cúng chính là môi trường trung gian để 2 thế giới này gặp gỡ

Quan niệm như vậy nên việc cúng lễ là cần thiết, và việc thờ phụng tổ tiên không thể không có được Thờ cúng tổ tiên là biểu hiện của lòng hiếu thảo và nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục của tiền nhân, nhớ đến cội nguồn của mình Trong ngày tất niên, ngày giáp tết đi tảo mộ, ngày giỗ kỵ, những việc hệ trọng của gia đình như vợ sinh con, đầy tháng/đầy năm, con cái đi thi/thi đỗ, dựng vợ/gã chồng, xây nhà mới… con cháu họ hàng đoàn tụ để làm cỗ cúng người đã khuất để báo cáo tổ tiên, cầu mong sự che chở được khỏe mạnh, hạnh phúc Đặc biệt là trong dịp Tết Nguyên Đán, tục thờ cúng tổ tiên càng được thể hiện rõ Tháng 12 lịch cổ truyền là tháng Lạp - Chạp, người ta đi “chạp mả”, sửa sang, thắp hương trên các mộ phần, khấn khứa mời ông bà ông vải tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu cùng với mâm cỗ cúng Ông Táo 23 tết và phút giao thừa là mâm cỗ cúng tổ tiên trên bàn thờ

trong Nhà Tình cảm gia đình của người Việt Nam xưa rất nặng: Tháng Giêng ăn Tết

ở nhà Dù đi làm ăn buôn bán nơi đâu quanh năm suốt tháng, gần ngày Tết người ta

cũng tìm mọi cách trở về quê, về nhà để cúng Tổ tiên, sum họp gia đình, cộng cảm cùng thân quyến nội ngoại Trong 3-5 ngày đầu năm mới sửa cỗ cúng Tổ Tiên hưởng “hương hoa” Sau đó làm lễ và cỗ cúng “hoá vàng”, đốt tiền giấy và tiễn tổ tiên về lại thế giới của người đã khuất Từ dương cơ người đang sống, tổ tiên trở lại chốn âm phần… Đây là nền tảng cơ sở cho quan hệ thân tộc, máu mũ gia đình

Qua trường kỳ lịch sử dân tộc, tục thờ cúng tổ tiên có những biến đổi nhất định, ở cả nội dung và hình thức nhưng nhìn chung những giá trị cốt lõi thì vẫn được gìn giữ Hình thức thờ cúng ở mỗi dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam có thể khác nhau nhưng cùng chung quan niệm là “Uống nước nhớ nguồn”, luôn biết công

ơn sinh thành, dưỡng dục của ông cha

Trang 16

chăm sóc và tôn kính của con cháu đối với ông bà tổ tiên mà còn là sự chăm sóc đến cái tôi tâm linh ở mỗi con người, điều đó có ý nghĩa rất lớn trong đời sống tinh thần của người Việt Nam

Hướng đặt bàn thờ cũng được người Việt rất quan tâm Theo đạo Phật thì hướng Nam là nơi của bát nhã, tức trí tuệ, hướng của sự sáng tạo, của sinh lực tràn trề, đầy dương khí Nhiều khi cũng đặt bàn thờ hướng tây vì người ta nghĩ hướng này hợp với sự đối đãi của âm dương, nên yên ổn và phát triển, nghĩa là vị thần được

an toạ Kiểu bàn thờ truyền thống có 4 chân, có bàn nghi ở giữa, có lư nhang, bộ chưng đèn, phía trong đặt giường thờ Vào năm 1910, đổi lại kiểu bàn thờ nhỏ gọn hơn, có thợ từ Bắc vào chạm trổ cẩn xà cừ hoa văn chữ Hán Cạnh bàn thờ có tranh

vẽ trên kiếng nói về ước vọng sâu xa của con nguời muốn vươn tới chân, thiện, mỹ

và cuộc sống ấm no, thịnh vượng, thái bình ; Khi có sự du nhập nền văn hóa phương Tây vào khoảng 1920 thì không gian thờ phụng thu hẹp hơn (nhất là ở đô thị), tủ thờ cách tân theo kiểu tủ người Pháp nhưng không mở cửa tủ trước mà chỉ

mở cửa hông hai bên để giữ gìn ý tứ và cử chỉ tôn kính tổ tiên Ngày nay, nhà cửa xây dựng khang trang hơn thì người Việt Nam thường dành hẳn một phòng tĩnh lặng

để thờ cúng tổ tiên, bàn thờ được đúc bằng bê tông, lát gạch men hoặc mặt kính dày, lúc này không gian thờ tự cũng rộng và dài hơn Bàn thờ mặt nhìn ra tiền diện có nhiều cửa hướng đất trời thiêng liêng trong sáng, dưới đáy bàn thờ là ngăn hộc tủ đựng lễ vật và tài sản quý báu Thờ phụng người quá cố từ nhỏ - tầng thấp đến các bậc ông sơ, ông cố ở tầng cao

Trên bàn thờ tổ tiên, ở chính giữa đặt bát hương (tượng trưng cho tinh tú) và trên bát hương có cây trụ để cắm hương vòng (tượng trưng cho trục vũ trụ); hai bát hương khác đặt ở bên trái và bên phải tạo nên tư thế Tam tài; ở hai góc ngoài bao giờ cũng có hai cây đèn dầu (hoặc nến) tượng trưng cho mặt trời ở bên trái và mặt trăng ở bên phải Khi cần giao tiếp với tổ tiên (có lúc thỉnh cầu, có khi sám hối ), người ta thường đốt nến (đèn dầu) và thắp hương để mọi nguyện cầu theo các vòng khói hương chuyển đến ông bà tổ tiên Phía trước bát hương để một bát nước trong được xem như nước thiêng, hai cây mía đặt ở hai bên bàn thờ là để các cụ chống gậy

về với con cháu, dẫn linh hồn tổ tiên từ trên trời về hạ giới

Đặc trưng của văn hóa nông nghiệp cũng được thể hiện ở trên bàn thờ tổ tiên của người Việt Thông thường, ở ngay sau bát hương đặt một chiếc Tam sơn (tượng trưng cho Tam giáo) trên đó đặt ba cái đài nhỏ đựng ba chén nước trong Nếu không

Trang 17

tỏ lòng thành kính Phía sau Tam sơn, thường có một cái đỉnh ba chân, nắp đỉnh được vẽ hình con lân với ý nghĩa sức mạnh bề trên kiểm soát tinh thần con cháu khi đứng trước bàn thờ Bàn thờ tổ tiên luôn cần được thanh tịnh, vì thế đồ tế lễ thường

là hương, hoa, trà, quả Những ngày giỗ, con cháu muốn dâng cúng cỗ mặn phải đặt ở một chiếc bàn phụ phía trước và thấp hơn bàn thờ chính bày hoa quả, rượu nếp, ngũ cốc, thịt gà, heo; vài bộ quần áo, giấy tiền vàng mã cho các cụ, một vài cái chung (ly nhỏ, thấp) và một bình trà để ông bà yên lòng nhìn thấy các cháu con biết giữ gìn truyền thống ''dĩ nông vi bản'' và đem sức lao động cần cù làm ra thành quả từ lòng đất quê hương của ông cha để lại Sau khi tàn một nửa tuần hương, đồ

vàng mã và tiền âm phủ được đem đốt, được gọi là hoá vàng, còn chén rượu cúng thì

đem rót xuống đống tàn vàng Tục truyền rằng phải làm như vậy người chết mới nhận được đồ cúng tế, vì hương khói bay lên trời, nước (rượu) hòa với lửa mà thấm xuống đất

Y môn là chiếc cửa vải, chiếc màn dùng để ngăn cách bàn thờ bên ngoài và

bàn thờ bên trong, gồm ở phía trên một lớp ngang bằng vải lụa hoặc nhung the màu

và thường được thêu chữ, hai bên là hai cánh vải dài bằng the hoặc nhung hồng/đỏ,

có viền hoặc thêu xung quanh/thêu các mép Hai cánh này thường ngày được vén lên, chỉ buông xuống tròn ngày cúng giỗ lúc Gia trưởng đã cúng xong và con cháu

đã lễ bái xong Y môn buông xuống để tổ tiên hưởng lễ một cách tự nhiên, không bị con cháu nhìn ngó

Trước y môn có chiếc đèn gọi là “tự đăng” được thắp suốt trong ngày giỗ tết tượng trưng cho hương hồn tổ tiên đang tại vị trên bàn thờ

Tại các nhà thờ thường thấy những bức Hoành phi – những tấm biển gỗ có khắc chữ treo trên cao trước mé bàn thờ - được sơn son thếp vàng/sơn đen chữ vàng/ sơn đen chữ khảm xà cừ (những nhà nghèo thường dùng cót đóng nẹp rồi dán chữ/ viết lên) Chữ trên hoành phi thường là Kính Như Tại (con cháu kính trọng tổ tiên như lúc tại vị trên bàn thờ), Phúc Mãn Đường (gia đình đầy đủ dư phúc đức), Bách Thế Bất Thiên (co cháu ăn ở đúng mực, không thiên lệch) Trên hoành phi còn có niên hiệu năm làm, người cúng hoành phi…

Việc lau dọn sạch sẽ bàn thờ là công việc được thực hiện hàng ngày một cách cẩn thận, tỉ mỉ Chổi quét hoặc khăn lau bàn thờ thường được dùng riêng, và rất hạn chế sự chung đụng Nước lau bàn thờ thường được dùng từ nguồn nước sạch sẽ, có người còn dùng nước mưa thậm chí nước nấu từ lá trầu, lá bồ đề để lau Công việc

Trang 18

bà tổ tiên Ấy chính là nét văn hóa truyền thống góp phần bảo tồn di sản tinh thần và đạo đức trong đời sống con người lưu truyền tự ngàn xưa Đặc biệt vào những ngày năm hết tết đến hoặc giỗ chạp, người ta thường đánh sáng lại bộ tư đồng, lau chùi khung ảnh, thay cát bát hương (nhang)… thể hiện cho nhu cầu giao hòa, gắn kết mật thiết giữa thế giới hữu tình và thế giới tâm linh thiêng liêng

Việc bày biện, thắp hương (nhang) trên bàn thờ không phân biệt nam nữ, tuổi tác như ở thôn quê nhưng công việc này thường dành cho đàn ông vì người đàn ông

là chủ gia đình, phải đại diện chăm lo nơi cư ngụ của tổ tiên để tỏ lòng hiếu kính; Phụ nữ trong nhà thì lo việc bếp núc, nấu nướng và dọn dẹp gian bếp Tuy nhiên, để giữ nếp xưa, mọi nhà vẫn mời người lớn tuổi nhất họ hay nhất nhà ra khấn và thắp hương cho ông bà tổ tiên trong những ngày quan trọng như: tất niên, đêm giao thừa, mừng năm mới, cúng tiễn…

Trong ngày Tết, lễ vật dâng cúng thường bao gồm đĩa hoa quả lớn đặt ở trung

tâm bàn thờ, một bình hoa lớn (hoa tươi - hoa cúc, hoa huệ, hoa lay ơn, hoa mai,

hoa đào), hoa làm bằng giấy bạc (một bạc, một vàng biểu tượng cho một âm một dương, âm dương giao hòa-để có thể dùng được lâu), một bình rượu ngon, xung

quanh bày thêm bánh mứt cho cân đối và đẹp mắt Tùy theo điều kiện kinh tế hay văn hóa từng miền mà trên bàn thờ có thêm cặp dưa hấu xanh, gói thuốc lá, cặp bánh chưng hay bánh tét… Bàn thờ ngày Tết được thắp sáng bắt đầu từ ngày 30 Có nhà

sử dụng loại hương vòng, hay hương que loại lớn, cháy liên tục trong nhiều ngày tạo nên một không khí ấm cúng nơi gian thờ, gắn kết tình cảm và ước nguyện hạnh phúc của mọi người trong một gia đình, đồng thời có nghĩa biểu trưng như các vì tinh tú đang tỏa sáng, sự chăm lo ân cần của con cháu… Hương dùng cho những ngày Tết cũng thường là các loại hương có mùi thơm đặc biệt ví dụ như hương bài, hương trầm, hương nhài… là những loại hương có mùi thơm hết sức đặc trưng cho nhân dân ba miền ở Bắc – Trung – Nam Ngày nay còn dâng cúng nhiều loại rượu bia, bánh hộp, sô cô la, hạt dẻ

Ngày tết không thể thiếu mâm ngũ quả Việc bày mâm ngũ quả xuất phát từ lý thuyết về ngũ hành: thuỷ – hỏa – mộc – kim – thổ, những yếu tố tạo nên vũ trụ và sự vận hành của nó Thông thường ngũ quả gồm 5 màu khác nhau: xanh, vàng, đỏ, trắng, cam tượng trưng cho mong ước: Phú (giàu có) – quý (sang trọng) – thọ (sống lâu) – khang (khỏe mạnh) – ninh (bình yên) Mâm ngũ quả của miền Nam thường có mãng cầu (thoả mãn trong sự cầu xin), sung (chỉ sự sung túc, sung mãn), quả dừa

Trang 19

Bắc thường có quả phật thủ (hay nải chuối như bàn tay che chở của đức Phật cho tất

cả mọi người); quả bưởi (hoặc dưa hấu thể hiện cho sự đầy đặn, trọn vẹn căng đầy sức sống), quýt, hồng (sự may mắn, phồn thịnh cát tường) Ngày nay mâm quả trên bàn thờ tết người Việt phong phú hơn về chủng loại bởi sự góp mặt của những hoa quả ngoại nhập Với tính dung hợp trong văn hóa, người Việt Nam luôn có thể tìm thấy tất cả những yếu tố thích hợp, có giá trị ý nghĩa đối với đời sống tâm linh của dân tộc mình, thường là những sản vật đẹp mắt nhất, tinh tuý nhất, được dâng bày với những tình cảm hiếu kính, trang trọng và thiết thân nhất

Bàn thờ tết không chỉ là nơi mà mọi người bày tỏ tình cảm gia đình, huyết thống mà đó còn là nơi chúng ta gửi gắm những lời chúc may mắn và một năm mới

an khang, thịnh vượng hơn Người Việt hiểu sâu sắc rằng có quá khứ mới có hiện tại

và tương lai Ta nhìn vào nơi thờ tổ tiên để thấy truyền thống và vẻ đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc

2 Bàn thờ vọng:

Nền kinh tế nông nghiệp tự cung, tự cấp, người nông dân đa số người ta đều sống và sinh cơ lập nghiệp ngay tại quê hương, suốt đời không rời quê cha đất tổ, chuyển cư sang làng bên cạnh cũng đã gọi là biệt quán, ly hương Vì vậy bàn thờ vọng chưa phải là phong tục chủ yếu

Bàn thờ vọng ông bà cha mẹ chỉ được lập trong trường hợp sống xa quê, con cháu có lòng thành hướng vọng về quê, thờ cha mẹ ông bà tổ tiên, hương khói trong những ngày giỗ, tết Hiện tại, tập tục này rất hay và rất có ý nghĩa, bởi lẽ chữ Hiếu là trên hết, người Việt Nam lấy chữ Hiếu làm trọng, con cháu dù ở đâu cũng nhớ ơn tổ tiên, hướng về nguồn cội

Trước khi lập bàn thờ vọng, chủ nhà phải về quê để báo cáo với tổ tiên tại bàn thờ chính, xin phép chuyển một vài lư hương phụ hoặc một vài nén hương đang cháy giở đến bàn thờ vọng để thắp tiếp Bàn thờ vọng có thể đặt ở phòng riêng hoặc kết hợp với phòng khách, phải đặt cao hơn chỗ tiếp khách, không nên đặt tại những chỗ

uế tạp, cạnh lối đi Bàn thờ đặt hướng về quê chính để gia chủ vái lạy thuận hướng

về quê chính Đôi khi chỉ cần đặt một lọ cắm hương đầu giường nằm của mình cũng

đủ, miễn là có lòng thành kính, không cần câu nệ hướng nào, cao thấp hay rộng hẹp

vì kính tại tâm, “tâm động quỷ thần tri”

"Vọng bái" nghĩa là vái lạy từ xa Ngày xưa, khi triều đình có những điển lễ lớn, các quan trong triều tập trung trước sân rồng làm lễ, các quan ở các tỉnh hoặc

Trang 20

nơi biên ải, thiết lập hương án trước sân công đường, thắp hương, nến, hướng về kinh đô quỳ lạy Thiên tử Khi nghe tin cha mẹ hoặc ông bà mất, con cháu chưa kịp

về quê chịu tang, cũng thiết lập hương án ngoài sân, hướng về quê làm lễ tương tự Các thiện nam tín nữ hàng năm đi trẩy hội đền thờ Đức Thánh Trần ở Vạn Kiếp, đức Thánh Mẫu ở Đền Sòng dần dần về sau, đường sá xa xôi, cách trở, đi lại khó khăn, cũng lập bàn thờ vọng như vậy Nơi có nhiều tín đồ tập trung, dần dần hình thành tổ chức Các thiện nam tín nữ quyên góp nhau cùng xây dựng tại chỗ một đền thờ khác, rồi cử người đến bàn thờ chính xin bát hương về thờ, những đền thờ đó gọi là vọng

từ (như "Sùng Sơn vọng từ" ở Hà Nội là Đền thờ vọng của núi Sòng, thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh)

3 Tổ chức ngày giỗ ông bà, cha mẹ, người đã quá cố:

Điều quan trọng nhất của thờ cúng tổ tiên là cúng giỗ - là ngày kỷ niệm người chết qua đời, còn gọi là ngày kỵ nhật Các tôn giáo chấp nhận thờ cúng tổ tiên mới cúng giỗ, còn lại chỉ làm giỗ để kỷ niệm ngày mất (không có nghi thức cúng) Trong ngày giỗ, người ta thường mời thân bằng quyến thuộc, ở quê thường mời những người đã từng mời mình ăn uống, gọi là trả nợ miệng

Tùy theo gia cảnh, con cháu, tùy vào sự liên lạc giữa người sống và người chết mà người ta làm giỗ làm to hay nhỏ Giỗ ông bà, cha mẹ thường làm to còn giỗ anh em, chú bác cùng các vị cao tằng khảo, tỷ thường chỉ cúng đơn sơ để khỏi bỏ giỗ - gọi là giỗ mọn, không mời bạn bè họ hàng mà chỉ người trong nhà với nhau

Giỗ đầu: là kỷ niệm đầu tiên của người chết đúng một năm sau còn gọi là

ngày Tiêu tường Khi cúng tế, người ta mặc phục và khóc như ngày đưa tang để chứng tỏ với vong hồn người đã khuất nỗi nhớ thương chưa nguôi, vết thương chưa lành, chưa xóa được kỷ niệm giữa người sống và người chết Lúc khấn lễ, con trai người đã khuất phải dùng gậy (đã mặc trong đám tang, được thờ tại bàn thờ người đã khuất) để lễ và đáp lễ khách đến ăn giỗ trước bàn thờ Ở những nhà khá giả thường cúng lớn, có mời phường kèn thổi đến hết ngày giỗ Cũng trong dịp này, con cháu đốt vàng mã cho người đã khuất: quần áo, bát đĩa, gà vịt, xe cộ, thuyền bè…- là những đồ dùng con người thường dùng trong sinh hoạt để sử dụng ở cõi âm Bên cạnh đó còn có hình nhân, người ta tin rằng sau khi được hóa phép sẽ trở thành người hầu hạ người đã khuất Tục tin rằng đốt vàng mã là mã biếu: người chết nhận được đồ dùng phải đem biếu các ác thần để được yên ổn, tránh quấy nhiễu (như người sống đút lót quan tham)

Trang 21

Giỗ hết hay Đại tường: là ngày giỗ năm thứ hai sau khi người chết đã qua

đời Trong ngày này con cháu cũng mặc áo sô gai để cúng giỗ và đáp lễ như lễ Tiêu tường Gia đình khá giả thường có cuộc tế vong

Trong ngày giỗ hết, mọi người thường nhắc đến những kỷ niệm với người

chết Câu thường được nói nhất: Chóng thật! Mới ngày nào! Sống thì lâu chứ chết

chẳng mấy chốc đã ra người thiên cổ Vào ngày này, con cái sắp sửa bỏ hết tang

phục, và sẽ không còn nhắc đến người đã khuất thường xuyên nữa

Người vợ trong thời gian để tang chồng không được dự cuộc vui nào, không được đến những nơi đình đền cúng lễ, không được tắm gội, thậm chí không được xỉa răng

Sau ngày đại tường sẽ chọn một ngày tốt để làm ngày trực trừ (là ngày phế bỏ cái gì cũng tốt) làm lễ trừ phục, tức là lễ bỏ tang: người ta đem đốt hết áo tang, mũ, gậy tang … Sau lễ trừ tịch, người vợ mới được tham dự các cuộc vui, đi lễ bái, tắm gội…

4 Cỗ cúng tổ tiên:

Cỗ cúng gia tiên bao giờ cũng phải thanh khiết và phải dành riêng, không con cháu nào được đụng tới, và không thể thiếu một bát cơm úp vào một quả trứng luộc làm đầu Cỗ bàn nấu xong phải cúng gia tiên trước con cháu mới được ăn Nếu người gia trưởng chưa kịp làm lễ cúng, những món nấu xong phải múc để dành riêng dùng cho việc cúng lễ Cũng như khi còn sống, cha mẹ chưa ăn thì con cháu không được ăn

Cỗ bàn thì tùy gia đình mà làm nhiều hay ít Nhiều nhà mời bà con họ hàng thì

họ mang trà, cau, rượu, vàng hương … đến lễ rồi mới uống rượu Nhà có chức sắc thì làm rất to, ăn uống cũng rất phiền phí

Trong việc cúng lễ tổ tiên, sự thành kính phải đặt lên hàng đầu, “Tâm động

quỷ thần tri” – trong lòng nghĩ thế nào ma quỷ đều thấy rõ Việc cúng bái tổ tiên

thiếu thành kính là thiếu hiếu thảo, tổ tiên không chứng giám

Trang 22

con cháu đi tảo mộ: chăm sóc mộ phần và mang theo hương, vàng mã để đốt trước

mộ, có nhà còn mang theo cỗ để cúng trước mộ

Mộ phần tổ tiên luôn được con cháu chăm sóc cẩn thận, khi mộ bị đào sút, rễ cây ăn vào xương cốt, tục tin rằng tổ tiên báo mộng hay ứng điềm cho con cháu biết, nếu con cháu không biết trong nhà sẽ có người đau ốm hoặc công việc làm ăn không suôn sẻ Con cháu phải ra thăm mộ, đắp lại mộ và làm lễ tạ lỗi với tổ tiên vì không chăm sóc mộ phần kỹ càng, đồng thời cúng vị Thổ thần (Ngũ đạo tướng quân và Đương xứ Thổ Địa) nơi có mộ phần Lễ vật tạ mộ gồm trầu cau, rượu gà, vàng hương

Trước thời cuộc biến đổi, sợ rằng hồn phách tổ tiên không yên, người ta cũng tạ

mộ để cầu bình an cho vong hồn người đã khuất, hoặc chiếu theo số tử vi đến ngày tháng cần tạ mộ thì con cháu cũng làm cỗ tạ mộ tổ tiên

Trang 23

CÂU HỎI ÔN TẬP

Câu 1: Đặc điểm, chức năng của phong tục tập quán?

Câu 2: Phân tích đặc trưng văn hóa trong phong tục hôn nhân Việt Nam? Các tục lễ trong hôn nhân Việt Nam

Câu 3: Nguồn gốc và ý nghĩa của tục thờ cúng tổ tiên?

Câu 4: Các biểu hiện của tục thờ cúng tổ tiên? Liên hệ thực tế thực hành phong tục trong đời sống hàng ngày

Trang 24

CHƯƠNG 2 TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VIỆT NAM

MỤC TIÊU HỌC TẬP

I KIẾN THỨC:

- Học sinh nắm bắt được khái niệm, đặc điểm của tín ngưỡng dân gian Việt Nam Trình bày được các loại tín ngưỡng dân gian: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, con người và thần linh

- Học sinh có thái độ yêu nghề, yêu quê hương đất nước, đoàn kết dân tộc

- Học sinh có ý thức xây dựng ngành nghề phát triển

Trang 25

BÀI 1: KHÁI QUÁT VỀ TÍN NGƯỠNG VIỆT NAM

I KHÁI NIỆM

Yếu tố hình thành và vận hành nên tín ngưỡng dựa vào hai yếu tố cơ bản: Cái

Thiêng (của đối tượng được tín ngưỡng/sùng kính) và Đức Tin (của người có tín

ngưỡng/sùng kính) Cái Thiêng và Đức Tin là cốt lõi của tín ngưỡng, và tín ngưỡng không nằm bên ngoài con người mà luôn tiềm ẩn trong mỗi con người

Cái Thiêng đã xuất hiện từ rất sớm ở loài người, họ cho sự thiêng liêng, huyền

bí là đặc tính của thế giới tự nhiên bao quanh con người (ánh sáng, cây cối, thú vật):

có thể mang đến niềm hạnh phúc nhưng cũng có thể ảnh hưởng, đe dọa đến đời sống của con người Từ đó con người thể hiện hai thái độ ứng xử với thế giới tự nhiên: Một là sự tôn kính và biết ơn khi được quả phúc; hai là sợ hãi trước sức mạnh bí ẩn

đó làm gia tăng cái Thiêng là những lực lượng siêu nhiên Người ta cầu khấn sự che chở, ban phúc của các lực lượng Thiêng, trong lời cầu khấn ấy chứa đựng Đức Tin rằng các lực lượng Thiêng ấy nghe được, hiểu được, thấu hiểu được và chờ mong các lực lượng Thiêng đáp lại “lòng thành” của mình Chính Đức Tin đó đã tạo ra và tăng thêm chất Thiêng của tín ngưỡng Đức Tin, các nhân vật và lực lượng chứa đựng cái Thiêng để được Tin, cho dù huyễn hoặc có phi lý cũng là cái cốt lõi, cái hạt nhân để tín ngưỡng ra đời và phát triển Vì vậy, tín ngưỡng không nằm ngoài con người mà luôn tiềm ẩn trong mỗi con người

Theo Từ điển Việt Hán của Đào Duy Anh (1950), Tín ngưỡng Việt Nam, còn gọi là tín ngưỡng truyền thống hay tín ngưỡng dân gian, là tín ngưỡng của các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam, là lòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa

Theo Từ điển nghiệp vụ công an (1977) cho rằng tín ngưỡng là tin theo một tôn giáo thờ cúng một loại thần thánh Theo từ điển tiếng Việt thì tín ngưỡng là tin theo một tôn giáo nào đó

Theo nhà nghiên cứu, TS Nguyễn Minh San, tín ngưỡng là một biểu hiện của

ý thức về một hiện tượng thiêng, một sức mạnh thiêng do con người tưởng tượng ra hoặc do con người suy tôn, gán cho một hiện tượng, một sức mạnh chỉ cảm thụ được

mà chưa nhận thức được

Trang 26

Như vậy, tín ngưỡng là niềm tin sâu sắc vào một điều gì đó vô hình, được hình thành tự phát trong mối quan hệ giữa con người với chính mình, với người khác

và với thế giới tự nhiên, nó chi phối toàn bộ đời sống con người, con người tin vào

để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an về mặt tinh thần cho cá nhân và cộng đồng con người

II ĐẶC ĐIỂM

Tín ngưỡng Việt Nam là tấm gương phản ánh những đặc trưng của văn hóa nông nghiệp lúa nước:

- Sự tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên: cuộc sống gắn với thiên

nhiên, thiên nhiên đem lại nguồn của cải nuôi sống con người, vì thế họ biết ơn, bảo

vệ thiên nhiên, tôn trọng thiên nhiên, đồng thời cầu mong cho thiên nhiên tiếp tục phù hộ cho cuộc sống người dân được ấm no, đầy đủ…

- Tín ngưỡng Việt Nam phản ánh đậm nét nguyên lý âm dương: Là con đẻ

của nền văn hóa nông nghiệp, việc duy trì và phát triển sự sống là nhu cầu thiết yếu nhất của con người Để duy trì cuộc sống, cần sự sinh sôi nảy nở, mùa màng tốt tươi,

để phát triển sự sống cần cho con người sinh sôi… đó là sự kết hợp giữa trời và đất,

mẹ và cha, giữa âm và dương biểu hiện ở đối tượng thờ cúng (trời-đất, chim-thú, tiên- rồng), đến cách thức giao lưu giữa hai cõi (xin keo, các cặp đôi ông đồng – bà cốt, đồng cô- đồng cậu…)

- Phương thức sản xuất nông nghiệp lúa nước mang nặng yếu tố âm tính,

cho nên nữ giới được gắn với quyền năng sáng tạo, sinh sản, làm tăng trưởng các loại cây trồng… nên gắn liền với cuộc sống nông nghiệp và nguyên lý âm dương là

khuynh hướng đề cao phụ nữ: nữ tính hóa các hiện tượng tự nhiên, biến các thần tự

nhiên thành các nữ thần và tôn phong nhiều vị nữ thần như Mẹ/Mẫu Người Việt cũng như các tộc người khác coi lực lượng tự nhiên là mẹ và đề cao vai trò nữ giới trong đời sống xã hội

- Trong tiến trình lịch sử của mình người Việt Nam đã sáng tạo và thực hành

nhiều loại tín ngưỡng, tạo nên tín ngưỡng đa thần giáo, tín ngưỡng này biểu hiện ở

tính cộng đồng (Tập thể các thần sống và làm việc theo lối cộng đồng: như cặp đôi

biểu tượng phồn thực, tiên rồng, tam phủ, tứ phủ, ba vị thổ công, Thành Hoàng làng thường là tập thể hàng chục vị…); Họ quan hệ với nhau và với con người theo

nguyên tắc dân chủ thể hiện ở quan niệm dân gian về quyền lợi và trách nhiệm hai chiều giữa thần linh và con người: con người có trách nhiệm thờ cúng, thần linh có

Trang 27

trách nhiệm phù hộ độ trì cho con người (Ở nhiều làng khi bị hạn hán thì đem bài vị

thần phơi khô, khi lũ lụt thì đem tượng thần ra ngâm nước Trong các bài khấn của đồng bào Tây Nguyên thường theo công thức: Hỡi các thần (kể tên từng vị), chúng tôi muốn (nêu yêu cầu), chúng tôi đã cho các vị (nêu vật hiến tế) …, nếu các vị không giúp chúng tôi, sang năm chúng tôi sẽ không cúng các vị nữa…)

- Tín ngưỡng con người phụ thuộc nhiều vào trình độ, nhận thức và hoàn

cảnh, điều kiện của từng người nên không theo trật tự tự nhiên, logic, và thường không ổn định và thiếu bền vững

Người Việt Nam thực hành tín ngưỡng ngoài niềm tin như một biện pháp bảo trọng cuộc sống (của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng), mong được yên lành (có thờ có thiêng, có kiêng có lành), cũng như là một biện pháp “kỹ thuật” phụ trợ thêm vào các biện pháp khoa học kỹ thuật lao động sản xuất khác nhằm đem lại mùa màng tốt tươi, còn là một phương thức để họ thực hành và di dưỡng đạo đức và luân

Toan Ánh cũng cho rằng dân ra thực hành tín ngưỡng là vì lễ - chịu ơn thì phải trả ơn, được giúp đỡ thì phải báo đền lại Mặt khác người Việt Nam rất yêu quý cuộc sống, lo sợ bị quấy phá, nên dùng thái độ tôn kính để ngăn chặn tai họa Vì vậy xuyên suốt những lời khấn cầu xin thần linh là nhằm cho con người có sức khỏe, yên

ổn, con đàn cháu đống, thời tiết thuận lợi, mùa màng bội thu, đất nước thanh bình

III PHÂN LOẠI TÍN NGƯỠNG

Theo GS Ngô Đức Thịnh phân loại tín ngưỡng tôn giáo theo hình thái học (dựa vào đặc trưng và thực chất của tôn giáo, coi tôn giáo là một hiện tượng xã hội, mang tính lịch sử và kế tục lịch sử, tính tương quan giữa các hình thức tôn giáo tín ngưỡng) có các hình thức tín ngưỡng:

- Thờ cúng tổ tiên (gia tộc, dòng họ, quốc gia)

- Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng

- Tín ngưỡng vòng đời người (sinh đẻ, cưới xin, tang ma…)

- Tín ngưỡng nghề nghiệp (nghi lễ phồn thực, thờ tổ nghề, thần tài, cá Ông)

- Tín ngưỡng thờ thần (Đạo Mẫu, Đức Thánh Trần, các anh hùng dân tộc) Theo nhà nghiên cứu tín ngưỡng dân gian Lê Như Hoa thì tín ngưỡng bao gồm:

- Những hình thái tín ngưỡng dân gian (gắn với văn hóa lúa nước, văn minh nông nghiệp)

Trang 28

+ Tục thờ đá + Tín ngưỡng hồn lúa + Tín ngưỡng thờ nước + Tín ngưỡng phồn thực + Tín ngưỡng thần mặt trời

- Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên

- Tín ngưỡng sùng bái con người

- Tín ngưỡng sùng bái thần linh

Trang 29

BÀI 2: CÁC LOẠI TÍN NGƯỠNG VIỆT NAM

I TÍN NGƯỠNG PHỒN THỰC:

Để duy trì và phát triển sự sống, con người cầu mong cho sự sinh sôi nảy nở,

đủ đầy của con người và tự nhiên, mong muốn cho con đàn cháu đống, mùa màng bội thu hình thành đó là cơ sở để hình thành nên tín ngưỡng phồn thực: sùng bái sự sinh sôi, nảy nở của giới tự nhiên và con người Tín ngưỡng này được hình thành từ thuở hồng hoang của loài người, thông qua “cơ chế” liên tưởng giữa chính sự sinh sản của con người và sự sinh trưởng của cây cối và động vật mà nhờ đó con người

và muôn vật được bảo tồn và phát triển nòi giống Tín ngưỡng này tồn tại dưới hai dạng:

1 Thờ sinh thực khí (thờ cơ quan sinh dục Nam-nữ):

Sinh là đẻ, thực là nảy nở, khí là công cụ Thờ sinh thực khí là hình thái đơn giản của tín ngưỡng phồn thực, phổ biến ở hầu hết các nền văn hóa nông nghiệp trên thế giới Nhưng khác với hầu hết các nền văn hóa khác (Ấn Độ) là chỉ thờ sinh thực khí nam, tín ngưỡng phồn thực Việt Nam có nếp sống quân bình âm dương nên thờ sinh thực khí của nam lẫn nữ

Việc thờ sinh thực khí được tìm thấy ở trên các cột đá có niên đại hàng ngàn năm trước Công nguyên, trang trí nhà mồ Tây Nguyên, cột đá hình sinh thực khí nam khắc nổi hình cặp rồng ở chùa Dạm (Hà Bắc) Có nhiều địa phương có tục thờ

nõ nường (nõ là cái nêm tượng trưng cho sinh thực khí nam, nường là nang tượng trưng cho sinh thực khí nữ)

Ngoài ra nó còn xuất hiện ở các lễ hội như lễ hội ở làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh)

có tục rước cặp sinh thực khí bằng gỗ vào ngày 6/1, đám rước đi từ đền làng về đình

do bô lão có chức sắc dẫn đầu Vị này cầm hai sinh thực khí bằng gỗ, một âm và một dương Ông dẫn đầu đám rước, vừa đi vừa hát: “cái sự làm sao, cái sự làm vậy; cái

sự thế này, cái sự làm sao” Vừa hát vừa cử hành một số động tác (còn gọi là điệu múa âm dương) Hát 3 lần và thực hiện động tác 3 lần Sau đó hai sinh thực khí được đốt đi, lấy tro than chia cho mọi người để lấy may Ở nhiều vùng thuộc Phú Thọ, Hà Bắc, Hà Đông trước đây vào dịp hội làng có lễ rước 18 bộ sinh thực khí, sau đám rước người ta tranh nhau vì tin rằng nó đem lại may mắn, no đủ cho cả năm

Trang 30

trong dịp hội đền Hùng, lễ hội Trò Trám ở Phú Thọ (Nửa đêm ông từ mở khám thờ ở

miếu Trám bưng ra cái tráp sơn son thếp vàng lấy hai vật linh là cái dùi gỗ và cái

mo cau khoét lỗ tượng hình vật giống nam và nữ Ông Từ cúng vật linh trước hương

án rồi đưa cho cặp nam thanh nữ tú, nam cầm dùi, nữ mảnh mo cau Nam cởi trần đóng khố, nữ mặc yếm, váy cộc Khi ông từ hỏi: Cái sự làm sao? Nam nữ cùng đáp: Cái sự làm vầy Rồi chọc dùi vào lỗ mo cau Sau ba lần hỏi đáp và nõ nường chạm nhau thì tắt hết đèn nến Chiêng trống nổi lên đôi nam nữ theo ông từ chạy ra ngoài Dân làng chầu trực ở điếm Trám cũng ùa sang chạy sau họ Họ chạy quanh miếu Trò ba vòng theo chiều ngược kim đồng hồ, vừa chạy vừa hú)

Phong tục giã cối đón dâu (nhà trai bày chày cối trước cổng khi cô dâu về thì

cầm chày đâm vào cối), chày và cối là biểu tượng cho sinh thực khí nam và nữ, việc

giã gạo là tượng trưng cho hành động giao phối …hình ảnh này được tìm thấy trên trống đồng Ngọc Lũ, tranh khắc gỗ đầu thế kỷ…

Giây phút giao thừa, điểm thời giao chuyển tiết giữa năm Cũ - năm Mới, được huyền thoại quan niệm như sự giao hoà Âm - Dương, phối ngẫu Đất Trời, để từ trong cái Chết - Cũ nảy sinh sự Sống - Mới giao hoà, giao hợp là triết lý Phồn Thực

Ngôi chùa Một Cột hình vuông (âm) đặt trên cột đá tròn (dương), cột tròn này lại đặt trong một hồ vuông (âm); Tháp Bút hình cái chày (dương) và đài Nghiêng hình cái cối (âm),

Cái mõ: làm bằng gỗ là hành Mộc, được đặt ở bên trái (phương Đông) là dương và cái chuông làm bằng đồng là hành Kim, đặt ở bên phải (phương Tây) là

âm, tiếng chuông vang và tiếng mõ trầm tượng trưng cho âm dương hòa hợp thì cuộc sống mới vĩnh hằng

3 Trống đồng - biểu tượng của tín ngưỡng phồn thực:

Trống Đồng là biểu tượng của sức mạnh, quyền lực của người xưa trở thành biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực cho thấy vai trò của tín ngưỡng trong đời sống của người Việt cổ là rất lớn

Trang 31

Hình dáng của trống đồng phát triển từ cối giã gạo

Cách đánh trống theo lối cầm chày dài mà đâm lên mặt trống được khắc trên chính các trống đồng là mô phỏng động tác giã gạo – động tác giao phối

Tâm mặt trống là hình Mặt Trời với những tia sáng biểu trưng cho sinh thực khí nam, và giữa các tia sáng là hình lá có khe rãnh ở giữa biểu trưng cho sinh thực khí nữ

Xung quanh mặt trống đồng thường gắn tượng cóc – là “Cậu Ông Trời”, mang theo mưa khiến mùa màng tốt tươi cũng là một biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực

Tiếng trống đồng rền vang như mô phỏng âm thanh của tiếng sấm cũng mang

ý nghĩa như trên

II TÍN NGƯỠNG SÙNG BÁI TỰ NHIÊN:

Việt Nam là quốc gia sống bằng nghề nông nghiệp lúa nước nên cuộc sống gắn bó chặt chẽ với tự nhiên, tôn thờ, sùng bái tự nhiên hình thành nên tín ngưỡng tôn thờ yếu tố/ lực lượng tự nhiên vũ trụ, thờ động vật, thực vật… Đặc trưng âm tính của văn hóa lúa nước dẫn đến lối sống thiên về tình cảm, trọng phụ nữ nên trong tín ngưỡng tôn thờ hình tượng Nữ thần Và người Việt luôn hướng tới sự phồn thực nên

nữ thần của ta không phải là những cô gái trẻ đẹp mà là các Bà Mẹ, các Mẫu

1 Thờ Tam phủ, Tứ phủ:

Trước hết là thờ Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước – ba nữ thần cai quản ba miền tự nhiên quan trọng nhất, thân thiết nhất với cuộc sống của người làm nông nghiệp lúa nước

- Bà Trời dưới dạng Mẫu Cửu Trùng hay Cửu Thiên Huyền Nữ : chùa Thiên

Mụ, Thiên Yana ở Huế, bàn thờ Bà Thiên ở sân nhà Bà Đất tồn tại dưới tên Mẹ Đất (Địa Mẫu), Bà Nước tồn tại dưới tên Bà Thủy Ở nhiều vùng Bà Đất, Bà Nước còn tồn tại dưới dạng nữ thần khu vực như Bà Chúa Xứ, Bà Chúa Sông, Bà Chúa Lạch

Trong dân gian ba nữ thần này được thờ chung như một bộ tam tài dưới dạng tín ngưỡng Tam Phủ với ba bà cai quản ba vùng trời-đất-nước: Mẫu Thượng Thiên (Bà Trời), Mẫu Thượng Ngàn (Bà Đất), Mẫu Thoải (âm đọc chệch từ chữ Thủy, bà Nước)

Tục thờ Mặt Trời là một tín ngưỡng đặc biệt phổ biến ở vùng nông nghiệp Đông Nam Á biểu hiện ở trống đồng, thạp đồng khắc hình mặt trời ở tâm; ở phương Nam toàn dân thờ Trời: nhà nào cũng có bàn thờ Thiên, lễ Nam Giao (lễ tế trời) và

Trang 32

Đã có ba bà ở ba cõi Trời-Non-Nước nên cần một bà ở cõi Nhân Sinh Đó là Thánh mẫu Liễu Hạnh cai quản “Nhân phủ” Theo truyền thuyết, Liễu Hạnh vốn là tiên nữ có tên Quỳnh Hoa ở thượng giới, vì làm vỡ chén quý của Ngọc Hoàng nên bị đày xuống trần gian đầu thai vào một nhà họ Lê ở thôn Vân Cát (huyện Vụ Bản, Nam Định ngày nay), đời vua Lê Anh Tông, thế kỷ 16 Bà lấy chồng ở làng Thiên Hương, sinh được hai người con thì viên tịch về trời Nhưng vì thương chồng con, thương nước, thương dân nên bà đã hiển thánh để phù hộ cho dân, cho nước được yên bình thịnh trị Bà được sắc phong là Mã hoàng công chúa, Chế thắng Hòa diệu Đại Vương vì đã giúp Vua đánh giặc ngoại xâm, được nhân dân tôn là Thánh Mẫu – luôn giúp cho người dân mưa thuận gió hòa, diệt trừ cái ác, ban phước cho dân lành

Bà mất ngày 3-3AL và được nhân dân thờ ở khắp nơi nhưng chính là tại Phủ Giày – Nam Định (Tháng Tám giỗ Cha, Tháng Ba giỗ Mẹ) Mẫu Liễu Hạnh còn được thờ

trong một tín ngưỡng riêng gọi là Tam Tòa Thánh Mẫu.

Dân gian thờ Tam Phủ - Tứ Phủ để cầu mong được che chở, bảo vệ, an khang, may mắn Người dân luôn tri ân, tôn vinh các Mẫu, thờ cúng Mẫu vì đó là hồn của đất, là sông suối ao hồ đầy nước, là cơm gạo ngô khoai, là cây rừng che phủ,

là hoa trái bốn mùa tốt tươi, là cội nguồn dân tộc Tục thờ Mẫu ở nước ta đã có từ ngàn xưa là một nét đặc trưng rất độc đáo, rất đẹp, theo đạo lý uống nước nhớ nguồn của văn hóa Việc thờ các loại Mẫu ở Việt Nam mạnh đến nỗi có thể coi là một tôn giáo đặc biệt – Đạo Mẫu

2 Thờ Tứ pháp:

Tứ pháp là danh từ để chỉ các thần Mây-Mưa-Sấm-Chớp, đại diện cho các hiện tượng tự nhiên có vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống của cư dân nông nghiệp lúa nước Tín ngưỡng “Tứ Pháp” hình thành từ truyền thuyết Man Nương Phật Mẫu như sau:

Nàng Man theo cha học đạo và hàng ngày cơm nước, giúp việc cho nhà sư Khâu-đà-la Một hôm nhà sư đi giảng đạo về khuya, nàng Man nấu cháo xong thì ngồi ở cửa chờ và ngủ thiếp đi, khi nhà sư về vô tình bước qua người nàng, từ đó Nàng Man có thai Đến 14 tháng sau, vào ngày 8/4, nàng Man sinh một bé gái và mang trả cho nhà sư Nhà sư mang đứa bé đến gốc cây cổ thụ ở ngã ba sông và khấn xin thần cây cho gởi bé gái, tức thì gốc cây mở ra một hốc lớn và nhà sư đặt đứa bé vào, gốc cây khép lại Nhà sư đưa nàng Man một chiếc gậy và dặn: khi nào có hạn hán thì cắm gậy xuống đất sẽ có nước cứu dân Nói đoạn nhà sư từ biệt, nàng Man

Trang 33

Man về già, một hôm mưa to gió lớn, cây cổ thụ trốc gốc trôi đến khúc sông nhà bà Man thì dừng lại, dân làng kéo vào không được nhưng Bà Man chỉ kéo nhẹ thì cây

đã vào bờ

Dân làng cưa than cây ra làm bốn đoạn và tạc thành bốn pho tượng và đưa vào thờ trong bốn ngôi chùa: Pháp Vân (thần mây) thờ ở chùa Bà, Pháp Vũ (thần mưa) thờ ở chùa Bà Đậu, Pháp Lôi (thần sấm) thờ ở chùa Bà Tướng, Pháp Điện (thần chớp) thờ ở chùa Bà Dàn Khi đẽo tới hốc cây nơi nhà sư giấu đứa bé thì chỗ ấy đã hóa thành phiến đá rất cứng không thể đẽo được Ném phiến đá xuống nước thì đã

ấy tỏa hào quang Mọi người liền rước vào điện Phật mà thờ, đặt là Thạch Quang Phật Bà Man sau khi chết được tôn thành Phật Mẫu hay Man Nương Phật Mẫu

Từ đó về sau, khi có hạn hán, mưa dầm, nhà Vua đều về đây hoặc rước tượng Pháp Vân về kinh đô làm lễ cầu mưa, cầu tạnh, tương truyền đều rất linh nghiệm Từ

đó tín ngưỡng Tứ Pháp hình thành và tục thờ Tứ Pháp xuất hiện ở nhiều nơi

3 Thờ động vật và thực vật:

Khác với văn hóa phương Tây gắn với văn hóa du mục nên thờ những con thú

dữ, có sức mạnh như hổ, sói, sư tử, chim ưng, thì nếp sống tình cảm, hiếu hòa của văn hóa nông nghiệp dẫn người Việt Nam thờ các con thú hiền lành, gần gũi với cuộc sống của người dân như trâu, nai, cóc…

Riêng loại hình nông nghiệp lúa nước còn thờ một số động vật ở nước như chim, rắn, cá sấu hình các con vật này được khắc rất nhiều trên trống đồng, đây là những loài phổ biến ở vùng sông nước, được sùng bái hàng đầu Người Việt có câu: Nhất Điểu, Nhì xà, Tam Ngư, tứ tượng Thiên hướng nghệ thuật của loại hình văn hóa nông nghiệp còn đẩy lên mức biểu trưng: Tiên, Rồng Theo truyền thuyết thì tổ tiên người Việt thuộc họ Hồng Bàng (là chim nước lớn) và giống Rồng Tiên (Rồng được trừu tượng hóa từ giống chim (mẹ Âu Cơ đẻ trứng), Rồng được trừu tượng hóa

từ rắn và cá sấu-chúa tể cai quản vùng sông nước) Việt Nam có thành ngữ con Hồng cháu Lạc, con Rồng cháu Tiên; nhiều địa danh được đặt tên Rồng như Thăng Long, Hạ Long, Hàm Rồng, Hàm Long, Cửu Long, Bạch Long Vĩ, Long Điền

…Các dân tộc khác ở Đông Nam Á cũng thờ rắn nhưng chỉ dừng ở mức trừu tượng thành rắn Naga chín đầu mà thôi

Thực vật được tôn sùng nhất là cây lúa: thờ ở khắp nơi dù là người Việt hay dân tộc khác đều có tín ngưỡng thờ Thần Lúa, Hồn Lúa, Mẹ Lúa Thứ đến là các loài cây xuất hiện sớm như cây Đa, cây Cau, cây Dâu

Trang 34

III TÍN NGƯỠNG SÙNG BÁI CON NGƯỜI

Trong vũ trụ bao la và huyền bí, người Việt có hướng tôn vinh Con người ở vị trí trung tâm hình thành nên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên nòi giống dân tộc, có thể là con người thực và con người huyền thoại hình thành nên tín ngưỡng tôn thờ, sùng bái con người Người Việt Nam có vùng đất tổ Phong Châu – Phú Thọ, có Âu Cơ-Lạc Long Quân là thủy tổ giống nòi, có Hùng Vương là vua tổ dựng nước, trong mỗi gia đình lại có tục thờ cúng tổ tiên, là ông bà cha mẹ, vì thế tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, giống nòi dân tộc là sợi dây cố kết cộng đồng dân tộc luôn vững vàng trong các cuộc đấu tranh dành độc lập, xây dựng và bảo vệ tổ quốc

1 Hồn và vía:

Cơ sở quan trọng đầu tiên cho việc hình thành bất cứ tôn giáo tín ngưỡng nào cũng là quan niệm tâm linh của con người về thế giới Cũng như nhiều dân tộc khác, người Việt xuất phát từ nhận thức “vạn vật hữu linh” - mọi vật đều có linh hồn, và bắt đầu từ giới tự nhiên xung quanh mình như nhiên thần (thần cây, thần núi, thần sông ) Bằng cách huyền thoại hóa, các vị nhiên thần đã được mang khuôn mặt của con người (hiền hậu hay dữ tợn), tâm lý của con người (vui mừng hay giận giữ) đã tạo ra một bước chuyển cho việc hình thành hệ thống nhân hóa Đây cũng chính là giai đoạn con người bắt đầu khám phá về bản thân mình Đến một thời điểm nào đó, mối quan hệ giữa cái hữu hình và cái vô hình, nhất là cái sống và cái chết đã làm con người bận tâm Vẫn với quan niệm vật linh kể trên, trong con người có cái vật chất

và cái tinh thần Cái tinh thần thì trừu tượng, khó nắm bắt nên người xưa thần thánh hóa thành khái niệm “linh hồn” và linh hồn trở thành đầu mối của tín ngưỡng sùng bái con người

Người Việt tin rằng trong mỗi con người đều có phần “hồn” và “vía” (linh hồn) - được hình dung như phần trung gian giữa thể xác cụ thể và hồn trừu tượng, và người Việt cũng cho rằng người có ba hồn nhưng nam có bảy vía và nữ có chín vía Hồn vía là sản phẩm của trí tưởng tượng của trí tuệ bình dân với những con số ước

lệ 3-7-9 quen thuộc Ba hồn gồm: Tinh (sự tinh anh trong nhận thức), Khí (là khí lực, là năng lượng làm cho cơ thể hoạt động) và Thần (thần thái, là sự sống nói chung) Vía với vai trò trung gian giữa hồn bên trong và thế giới bên ngoài, dễ hiểu

là được liên hệ với các quan năng – nơi cơ thể tiếp xúc với môi trường xung quanh Đàn ông được người Việt xưa hình dung là có ba hồn bảy vía Bảy vía cai quản hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và miệng (gọi là thất khiếu), phụ nữ thì có thêm hai vía nữa

Trang 35

Từ xác đến vía, từ vía đến tinh, từ tinh đến khí và từ khí đến thần là cả một chuỗi mắt xích với mức độ trừu tượng và tầm quan trọng tăng dần Vì vậy người ta tin rằng nếu các vía liệt mà hồn còn thì con người còn tồn tại Nếu mất hồn thứ nhất (Tinh) thì con người rơi vào trạng thái hôn mê, nếu mất cả hồn thứ hai (Khí) thì con người không còn cử động nhưng vẫn còn sống, nếu mất cả hồn thứ ba (Thần) thì mới hết hẳn

Hồn vía được người xưa dùng để giải thích hiện tượng trẻ con hay đau ốm, ngủ mê, ngất, chết… Vía phụ thuộc vào thể xác: có người lành vía, dữ vía, yếu vía… cho nên khi gặp người có vía độc, khi chạm vía phải giải vía, trừ vía… Hồn trừu tượng hơn nên được xem là độc lập với thể xác, như hiện tượng ngủ mê được giải thích là hồn lìa khỏi xác đi chu du Khi bệnh nặng ngất đi, bất tỉnh nhân sự thì có tục gọi hồn, hú hồn…Hồn của người này có thể nhập vào xác của người khác (như Hồn Trương Ba, da hàng thịt)

Khi người chết hồn và vía đều lìa khỏi xác, vía gần với thể xác hơn nên bay là

là mặt đất rồi tiêu tan, còn hồn nhẹ hơn nên tiếp tục tồn tại trong một thế giới khác Khi chết là cơ thể chuyển từ trạng thái động sang trạng thái tĩnh nên theo triết lý âm dương thì hồn từ cõi Dương (dương gian, dương thế) sang cõi Âm (âm ty, âm phủ) Vùng âm-dương ngăn cách nhau bằng chín suối và phải đi bằng thuyền, cho nên thời Đông Sơn người chết được chôn trong quan tài hình thuyền, ngày nay trong tang lễ còn có lễ nghi “chèo đưa linh” hay múa chèo đò và hát những câu tiễn linh hồn người chết về nơi chín suối

Khác với người phương tây coi trọng ngày sinh, người Việt coi trọng ngày mất nên coi trọng ngày cúng giỗ, bởi người ta tin rằng đó là ngày con người đi vào cõi vĩnh hằng Ngoài ngày giỗ thì việc cúng tổ tiên còn được thực hiện đều đặn vào ngày sóc vọng (mồng một và ngày rằm), vào dịp lễ tết, cưới vợ gả chồng, làm nhà,

đi xa, thi cử… thường làm cỗ cúng để báo cáo, tạ ơn ông bà tổ tiên

Trang 36

Bàn thờ tổ tiên bao giờ cũng được đặt ở nơi trang trọng nhất Người Việt quan niệm âm sao dương vậy nên lễ vật cúng tổ tiên cũng rất gần gũi: hoa quả thì mùa nào thức ấy, cỗ mặn hoặc chay, đồ mặc-đồ dùng-tiền nong bằng vàng mã, hương hoa, trà, rượu gạo, đặc biệt không thể thiếu nước lã, vì nó đơn giản nhất, nhà nào và lúc nào cũng sẵn có, vì ý nghĩa triết lý: nước là thứ quý nhất của dân nông nghiệp lúa nước Sau khi tàn hương, vàng mã được đốt, chén rượu được rót vào tàn tro, có như vậy người chết mới nhận được đồ cúng tế Hương khói bay lên trời, rượu (nước) hòa với lửa mà thấm xuống đất – đó là sự hòa quyện âm dương (lửa nước) và tam tài (trời-đất-nước)

3 Tổ nghề:

Tổ nghề là những con người bình thường (một hoặc nhiều người) nhưng có công lớn đối với việc sáng lập và truyền bá một nghề, được thế hệ sau tôn trọng và suy tôn, gọi là Thánh Sư/ Tiên sư/Nghệ sư có miếu thờ riêng và ngày giỗ riêng (còn gọi là giỗ phường – phường nghề) để tưởng nhớ đến người sáng lập nghề và truyền

bá rộng rãi trong xã hội thể hiện tinh thần "Uống nước nhớ nguồn", đây cũng là dịp

để những người cùng nghề giao lưu, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau làm cho ngành nghề ngày càng phát triển

Người Việt Nam bao giờ cũng nhớ ơn những người có công với mình nên ngoài bàn thờ chung ở phường, mỗi phường viên đều thờ Thánh sư tại nhà Bàn thờ Thánh sư được đặt ngang với bàn thờ Thổ Công, có kê bài vị, bức chân dung hoặc tượng của Thánh sư và bình hương/đỉnh trầm, hai bên là đôi nến/ đôi ống hương

Ngoài cùng bàn thờ có chiếc y môn (là chiếc màn cửa dùng để ngăn cách bàn thờ

bên ngoài và bàn thờ bên trong)

Vào ngày giỗ tổ đều làm cỗ cúng Tổ Ở Việt Nam giỗ tổ nghề thợ may vào12 tháng Chạp, tổ nghề xây dựng (bao gồm các nghề: thợ xây, thợ mộc, thợ cơ khí) vào 13/6 và 20 tháng Chạp, Tổ nghề Kim hoàn vào 7/2 và 27/2 AL, tổ nghề sân khấu vào 12/8 AL, Tổ nghề rèn vào 12/2 AL…

Nghề xây dựng khi cúng Tổ phải có lễ Tam sanh gồm 1 con gà trống trắng, một con heo đực và một vò rượu nếp trắng hoặc một bộ tam sên (một quả trứng luộc, một con tôm nướng, một miếng thịt heo quay) và một chai rượu nếp trắng Chủ lễ là một người thợ có uy tín hoặc lớn tuổi nhất đứng ra bái lễ… Ngoài ra, các thợ mới vào nghề, đây là lễ nhập môn để ra mắt Tổ Lễ vật cho một thợ mới là một chú gà trống choai, một chai rượu nếp trắng và một thẻ nhang thơm Đặt lên bàn thờ Tổ

Trang 37

khấn vái rồi ba xá, ba lạy Chủ lễ tiếp nhận lễ và trao lại cho "tân môn đồ" một ly rượu trắng, sau đó "tân môn đồ" lễ phép nâng ly rượu mời người thợ mà mình tôn làm thầy để thọ giáo Thầy uống cạn ly với ý nghĩa: sẽ dạy nghề cho môn đồ thật chí tình, trọn nghĩa Sau đó, tất cả thợ và khách quây quần lại với nhau, cùng vui ly rượu với những mẩu chuyện vui buồn trong nghề và truyền cho nhau những kinh nghiệm,

bí quyết tay nghề để học hỏi lẫn nhau

4 Thành Hoàng làng:

Tín ngưỡng thờ Thần của Việt Nam không chỉ đóng khung trong gia đình mà còn thờ chung các vị thần linh của thôn xã hoặc toàn dân tộc Người Việt Nam có truyền thống “Uống nước, nhớ nguồn” Hầu hết ở các làng quê hay thành thị đều lập đình (đền hoặc miếu) thờ vị Thành Hoàng của làng hay phường hội Dân làng hay phường hội đi lập nghiệp nơi khác cũng xây miếu, đền thờ Thành Hoàng quê gốc của mình tại nơi ở mới Dưới các triều Vua thường sắc phong cho Thành Hoàng có công với nước gồm có ba hạng: thượng đẳng thần, trung đẳng thần và hạ đẳng thần

Được phong thần là những vị có tên tuổi, tước vị rõ ràng, đó là những người

có công lập ra làng xã, những vị anh hùng dân tộc từng sinh sống và mất đi ở làng… được dân làng tôn vinh Ngoài ra, dân làng còn thờ những người vốn là trẻ em, người ăn mày, ăn trộm, người mù, người chết nghẹn… (những người lý lịch không

“hay ho” gì – gọi là tà thần), vì họ chết vào giờ thiêng nên đã gây nên dịch bệnh, hỏa hoạn … khiến dân làng lo sợ

Hàng năm, ngày giỗ Thành Hoàng là ngày hội đông vui nhất của làng, của phố Ngoài các nghi lễ như tế lễ, rước kiệu, tái hiện lại sự tích về Thành Hoàng, còn

tổ chức các trò vui chơi như đấu võ, chọi gà, thổi cơm, bơi thuyền, cờ người, múa hát … Già hay trẻ, đàn ông hay đàn bà đều mong mỏi để được tham dự, nhất là trai gái đương lứa vì đây là dịp gặp gỡ, giao lưu, kết bạn, tỏ tình

Ở phạm vi gia đình, người Việt thờ tổ tiên và Thổ Công, ở phạm vi làng xã, người Việt thờ Thành hoàng Giống như Thổ công, Thành Hoàng cai quản và quyết định họa phúc của một làng

5 Vua tổ:

Trong nhà thờ gia tiên, làng xã thờ Thành Hoàng, ở phạm vi quốc gia, người Việt thờ Vua tổ - Vua Hùng Trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc nhưng ở đời nào, triều đại nào nhân dân ta đều tổ chức lễ hội Đền Hùng vào ngày 10/3 âm lịch hàng năm Đây là lễ hội lớn mang tính quốc gia để tưởng nhớ các Vua Hùng đã có công

Trang 38

dựng nước, là ngày toàn quốc, toàn dân và trong tâm thức dân gian Việt Nam nó mang tính thiêng liêng cao cả - bởi người dân đất Việt tự hào là dòng giống Lạc Hồng, con Rồng cháu Tiên Vì thế lễ hội được tổ chức long trọng với nghi thức đại

lễ quốc gia, với sự hành hương “trở về cội nguồn dân tộc” của hàng ngàn người từ khắp đất nước và cả kiều bào về Phong Châu, Phú Thọ- mảnh đất đóng đô của các Vua Hùng ngày xưa

Hội lễ đền thờ các Vua Hùng còn gọi là hội Đền Hùng hay lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức vào ngày 10/3 âm lịch hàng năm tại Đền thờ các Vua Hùng Khu di tích là một quần thể kiến trúc đẹp trên núi Ngũ Lĩnh, tức núi Hùng (Phong Châu, Phú Thọ) Trước kia được làm bằng đá để thờ Thần Núi và Vua Hùng, về sau được trùng tu sửa chữa khang trang như ngày nay

Khu Di tích lịch sử Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Từ cổng đền Đại Môn đến đền Hạ (nơi bà Âu Cơ sinh trăm trứng), đền Giếng thờ 2 vị công chúa của Vua Hùng thứ 18 là Tiên Dung và Ngọc Hoa; đền Trung là nơi các Vua Hùng thường họp bàn việc nước, nơi nghỉ ngơi của Vua cùng các tướng lĩnh sau suộc du săn bắn dài ngày, gắn với sự tích bánh chưng, bánh dày Đền Thượng trên núi Ngọc Lĩnh là nơi nhà Vua thường tổ chức tế trời, cầu cho Thần Lúa cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, con cháu Việt ngàn đời được sống trong cảnh bình an, no đủ, hạnh phúc Tại đây cũng được lập bàn thờ Thánh Gióng để tưởng niệm và ghi nhớ công lao của Phù Đổng Thiên Vương; Cạnh đền Thượng có một lăng nhỏ, truyền là mộ Tổ (mộ của Hùng Vương thứ 6) Trước đền có cột đá thề, tục truyền trước khi lên ngôi, vua Thục An Dương Vương dựng cột đá thề trên núi Hy Cương – nơi tọa lạc kinh đô thời đó và Núi Hùng ngày nay – nguyện sẽ đời đời cha truyền con nối thờ phụng 18 đời Vua Hùng đã dựng nên non nước tươi đẹp này

Từ đền Thượng chiêm ngưỡng 99 ngọn núi lớn nhỏ hình bầy voi quỳ hướng

về núi Mẹ - Ngũ Lĩnh, riêng một con quay đầu lại (“ăn ở ra lòng riêng tư”) đã bị mất đầu, xa lìa bầy đàn, nguồn cội

Đồ tế trong Giỗ tổ Hùng Vương ngoài hương hoa, các loại quả, có cỗ tam sinh (1 lợn, 1 bò, 1 dê), bánh chưng, bánh dày và xôi nhiều màu, nhạc khí là trống đồng

cổ Sau một hồi trống đồng vang lên, các vị chức sắc, các vị bô lão, nhân dân và khách hành hương vào tế lễ dưới sự điều khiển của chủ lễ Sau phần lễ là đến phần hội gồm các trò chơi, cuộc thi mang đậm chất dân gian, truyền thống như cờ tướng,

Trang 39

cuộc thi rước kiệu và hội hát xoan Ngoài ra còn có các hoạt động khác như: hát ca trù, đánh đu, ném côn, đấu vật, chọi gà, hát trống quân…

Đền thờ Vua Hùng có trên khắp đất nước do dân nhân ta tôn kính và thờ vọng Ngày Giỗ tổ cũng tổ chức viếng và cúng giỗ, quy mô lớn nhỏ tùy vùng Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương thể hiện tinh thần đại đoàn kết dân tộc và gắn kết cộng đồng, tạo nên sức mạnh của dân tộc Việt Nam để luôn vượt qua khó khăn, thách thức trong tiến trình xây dựng, phát triển đất nước và chống giặc ngoại xâm Trong bối cảnh hội nhập văn hóa, đa dạng văn hóa, việc Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được công nhận chứng tỏ sức sống của văn hóa Việt Nam, gắn với dòng chảy văn hóa hội nhập vào thế giới Ngày 6/12/2012, UNESCO thông qua quyết định công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

6 Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần:

"Đức Thánh Trần" là một hiện tượng đặc biệt của đời sống văn hóa dân gian người Việt, là minh chứng tiêu biểu về mối liên hê giữa các yếu tố lịch sử và dân gian Những hồi ức về lịch sử, đậm màu sắc dân gian được dân chúng bảo tồn, tiềm

ẩn trong sâu thẳm của tâm linh, và được truyền tụng từ đời này sang đời khác Trong dòng tâm thức sùng kính đến mức thần hóa những người có công với nước với làng, người Việt đã tôn Thánh Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn - vị anh hùng dân tộc với chiến công lẫy lừng ba lần đánh bại quân Nguyên Mông Ông là một nhân

thần - một vị THẦN-NGƯỜI có thật trong lịch sử - tên là Trần Quốc Tuấn, sinh

khoảng từ 1230 – 1234, là anh trai vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) Là người văn

võ song toàn, (giặc phương Bắc vì sợ mà gọi là An Nam Hưng Đạo Vương), có trung

có hiếu: "Bệ hạ hãy chém đầu tôi trước rồi hãy hàng", "Khoan thư sức dân là kế sâu

rễ bền gốc" là câu nói biểu hiện lòng trung thành tuyệt đối của ông đối với đất nước,

luôn đặt quyền lợi của đất nước lên trên hết Đối với cấp dưới, Ông sống có tín

nghĩa, biết thu phục và trọng dụng người hiền tài (như Yết Kiêu, Phạm Ngũ Lão,

Trương Hán Siêu…) Ông được Vua Trần Thánh Tông tặng danh hiệu “Thái sư

thượng phụ, thượng quốc công; nhân võ Hưng Đạo đại vương” Sử thần Phan

Huy Chú có viết lời án: "Danh tướng nhà Trần như Hưng Đạo Vương không mấy

đời có; kiêm cả văn võ, thừa trí dũng, dựng nên công lao sự nghiệp kỳ vĩ … Ông không những là anh hùng của một thời đại mà cho đến các bậc tướng thần cổ kim

cũng ít ai bì kịp" Ông nhiều lần được nhận sắc phong Thượng đẳng tối linh thần

Trang 40

của các vương triều, được Nhà nước chính thức đưa vào thờ phụng trong các đền miếu đế vương

Người dân Việt trong suốt bảy thế kỷ qua đã phong tặng là ĐỨC THÁNH TRẦN, là VUA CHA, là ĐẾ Cũng vì thế, vị Thánh này đã có ảnh hưởng khá lớn trong chiều sâu tâm tưởng và đời sống hàng ngày của những người dân lao động đất Việt Ông được xem như một vị Thánh có nguồn gốc trên thượng giới: tương truyền

bà Thiện Đạo quốc Mẫu nằm mơ thấy có "Thanh tiên đồng tử" (hay "em bé áo xanh") đầu thai xin được làm con Khi Trần Hưng Đạo ra đời, trong nhà tràn ngập hương thơm và ánh sáng Một vị đạo sĩ xem tướng tinh rằng: "Người này tốt lắm, về sau cứu nước giúp đời làm sáng sủa cho non sông đó" Và dân gian cũng tin rằng: sau khi mất, Đức Thánh trở về Thiên đình được phong là Cửu Thiên Vũ Đế với sứ mệnh diệt trừ yêu ma, tà đạo ở cả ba cõi Thượng giới (Thiên đình), Trung giới (trần gian), và Hạ giới (âm phủ), theo đó xem Vị Thánh là Tiên giáng trần cứu dân lành, sau khi hoàn thành sứ mệnh dẹp yên bờ cõi, trừ bọn yêu ma, lại quay trở về cõi Tiên

và được phong Đế để tiếp tục giúp dân giúp nước

Vào ngày 18/8 năm 1300, Vương đang tụng kinh ở trên núi, nghe nói chị

mình mắc bệnh, bèn xuống hỏi thăm Bà chị nói ngày tới sẽ về tiên tổ, Vương đáp

"em còn chút việc bận, chị hãy đợi em đến sáng 20 cùng đi một thể" Đến ngày đó, Vương không có bệnh gì mà mất Trước khi mất, xem thiên văn thấy một vị tướng tinh cực to bay từ đông bắc sang tây nam rồi sà xuống đất, sáng lóe ra 10 trượng Ông dặn dò các con: "Khi ta sống ba lần đánh quân Nguyên giết hại chúng rất nhiều, nên sau khi ta mất, họ sẽ tìm mộ ta Trong tháng này, bí mật chôn ta ở vườn An Lạc, giả nói rằng an táng chị ta, táng xong nên để đá rất sâu rồi trồng cây lên trên Sang tháng, về Tức Mặc phao tin ta mất ở đó rồi làm nghi thức an táng Hài cốt phải dùng của viên quan sang trọng, chớ dùng của người thường dân, khó che mắt chúng Ta

đã dâng biểu tâu vua cho khu Bảo Lộc làm dân tạo lệ, lúc sống chưa từng đặt chân tới đó, không biết nay như thế nào Vậy phải cho quan coi nơi nào đẹp đẽ hãy làm

mộ giả và đốc việc chôn cất cho trang trọng mới che được con mắt ngờ vực của người ngoài" Vì thế nay tại Bảo Lộc có một lăng ghi lăng mộ Hưng Đạo Vương, có quan tài bằng đồng nhưng tương truyền là của một viên bộ tướng

Truyền thuyết về Hưng Đạo Vương có biểu tượng thanh kiếm thần cũng

được khai thác nhiều: thanh kiếm như là một vật thiêng tạo cho Đức Thánh Trần một sức mạnh siêu phàm Sau khi thắng giặc, Ông quay lại và cắm một thanh kiếm trên

Ngày đăng: 11/10/2022, 23:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Viết An, Phong tục cổ truyền Việt Nam và các nước, Nxb Văn hóa Dân tộc, 2003.- 275tr 2. Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa thông tin, 2006.- 369tr 3. Toan Ánh, Tín ngưỡng Việt Nam: quyển thượng, Nxb Trẻ, 2005, 395tr Khác
4. Toan Ánh, Tín ngưỡng Việt Nam: quyển hạ Nxb Trẻ, 2005, 395tr Khác
5. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nxb Văn hóa thông tin, 2001, 484 tr Khác
6. Chu Xuân Diên, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, 2002, 335tr Khác
7. Đỗ Hạ, Những lễ hội truyền thống Việt Nam, Nxb Lao động xã hội, 2006.- 223tr 8. Cao Đức Hải, Nguyễn Khánh Ngọc, Giáo trình quản lý lễ hội và sự kiện, NxbĐại học Quốc gia Hà Nội, 2010, 184tr Khác
9. Hoàng Quốc Hải, Văn hóa tín ngưỡng, Nxb Phụ Nữ, 2005.- 567tr Khác
10. Lê Như Hoa, Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, 2001, 430 tr 11. Vũ Ngọc Khánh, Văn hóa lễ hội truyền thống cộng đồng các dân tộc Việt Nam,Nxb Quân đội nhân dân, 2007.- 201tr Khác
12. Thu Linh, Đặng Văn Lung, Lễ hội truyền thống và hiện đại, Nxb Văn hoá Thông tin, 1984, 232tr Khác
13. Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh, Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ, Nxb KHoa học xã hội, 1992, 273tr Khác
14. Nguyễn Minh San, Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam, Nxb VHDT, 1998, 392tr 15. Dương Văn Sáu, Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch, Nxb Đại học Vănhóa Hà Nội, 2004, 314 tr Khác
16. Lê Văn Thanh Tâm, Lễ hội trong đời sống xã hội hiện đại ở Tp. Hồ Chí Minh: Luận văn thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, 1997 Khác
17. Huỳnh Quốc Thắng, Khai thác lễ hội và các sự kiện góp phần phát triển du lịch tại Tp.HCM, Nxb Trẻ, 2007 Khác
18. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa VN, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 2001, 690tr Khác
19. Ngô Đức Thịnh, Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb Trẻ, 2012, 586 tr Khác
20. Vũ Mai Thùy, Phong tục tập quán người Việt, Nxb Văn hóa thông tin, 2004.- 277tr 21. Nguyễn Văn Thuyên, Văn minh Việt Nam , Nxb Hội nhà văn, 2005.- 413tr 22. Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý, Lễ hội Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, 2005, 1200tr Khác
23. Lê Trung Vũ, Lễ hội cổ truyền, Nxb Khoa học xã hội, 1992, 367tr Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG