1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Lễ hội việt nam trong sự phát triển du lịch giáo trình dùng cho sinh viên đại học và cao đẳng ngành du lịch dương văn sáu

316 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lễ Hội Việt Nam Trong Sự Phát Triển Du Lịch
Tác giả Dương Văn Sáu
Trường học Trường Đại Học Vân Hòa
Chuyên ngành Du Lịch
Thể loại Giáo Trình
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 316
Dung lượng 14,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện tượng và tên gọi Hàng năm, trên nhiều vùng khác nhau của các khu dân cư trong lãnh thổ đất nước Việt Nam vào những thời điểm nhất định thường diễn ra các hoạt động như: Tổ chức cho

Trang 1

DƯONG VĂN SÀU

Trang 5

MỤC LỤC

Chương 1 TỔNG QUAN LỄ HỘI VIỆT NAM

1.1 Lễ hội Việt Nam: những vấn đề chung 13

L L1 Hiện tượng và tên gọi 13

1 1.2 Nguồn gốc xuất xứ và những cơ sở để 20

ra đời lễ hội truyền thống Việt Nam

\A.3 Hệ thống khái niệm trong lễ hội 24

1.1 5 Tinh chất của lễ hội « 531.2 Bản chất của lễ hội ưuyền thống Việt Nam 751.2.1. Một vài nét về tính cách, tư duy, quan 75 niệm của người Việt Nam

1-2-2 Khái quát bản chất của lể hội truyền 76 thống Việt Nam

1.2.3 Lễ hội truyền thống Việt Nam là kết 77

quả của quá trình "lịch sử hóa" quá khứ và

hiện tại

Trang 6

1.2.4 Lễ hội truyền thống Việt Nam là kết quả 82 của quá trình "sân khấu hóa" đời sôhg xã hội

1.2.5 Lễ hội truyền thống Việt Nam là kết 88 quả của quả trình "xã hội hóa" trong tiến

tể lễ trong lễ hội truyền thống Việt Nam

1.3-3 Tục hèm và trò diễn dân gian trong lể 137 hội truyền thống Việt Nam

1.3-4 Hệ thống các trò chơi dân gian trong lễ 157 hội truyền thống Việt Nam

1.3.5 Hội chợ triển lãm vd Ván hóa ẩm thực 165

trong lễ hội truyền thống Việt Nam

Chương 2 CÁC LOẠI HÌNH LỄ HỘI VIỆT NAM

2.1 Mục đích của việc phân loại lễ hội 1822.2 Phân loại lẽ hội truyền thống của người Việt 183

2.2.1 Phân loại lễ hội theo không gian lãnh 183

thổ

6

Trang 7

2.2.2 Phân loại lễ hội theo thời gian, mùa vụ 188 sản ỵuất

2.2.3. Phân loại lễ hội theo tôn giáo 190

2.2.4 Phản ỉoại lễ hội theo tín ngưỡng 2032.2.5- Phản ỉoạỉ theo tính chất của lễ hội 2112.2.6. Phán loại lễ hội theo loại hỉnh thiết chẻ' 216 tôn giáo - tín ngưỡng

2.2.7 Các hình thức lễ hội chủ yếu à Việt 219 Nam

2.3 Lê hội truyền thống của các dân tộc thiểu số 223 Việt Nam

2.3.1. Những vấn đề chung 2232.3.2- Đặc điểm tổ chức lễ hội của đồng bào 227 các dân tộc thiểu sô'

2.3.3 Một số lễ hội truyền thống của đồng 233 bào các dân tộc thiểu số ỏ Việt Nam

2.4 Lễ hội hiện đại ở Việt Nam 242

Trang 8

3.2.3 Tác động tiêu cực của ỉễ hội đến du 288 lịch và du lịch đến lễ hội

3.3 Những vấn đề đặt ra khi tổ chức lẻ hội du 290 lịch và kinh doanh du lịch lẽ hội

Trang 9

LÒI NÓI ĐẨU

Là một thành tố đặc biệt quan trọng trong kho tàng di sản vãn hóa Việt Nam, lễ hội truyền thống có vai trò to lớĩi, không thể tách rời trong đời sống cửa cộng đổng dân tộc Việt Nam Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự đổi thay nhiều mật của đất nước, lễ hội truyền thống Việt Nam đang có sự biến đổi to lớn, toàn diện, cả về nội dung và hình thức biểu hiện Những hình thức mới chứa đựng những nội dung mới của hoạt động lễ hội đang diẻn ra, biến động và từng bước định hình trong điều kiện mới Đó là cấc lễ hội du lịch, liên hoan đu lịch, lễ hội thượng mại - du lịch, lễ hội văn hóa - thể thao - du lịch v.v đang ngày càng mở rộng với nhiều qui mô, múc độ và nội dung phong phú, đa dạng, sinh động không dễ dàng thẩm định và kiểm soát Tất cả đang đặt

ra cho các nhà nghiên cứu, nhà quản lý tìm cách khai thác sử dụng để đáp ứng các yêu cầu đặt ra

Tiếp thu thành tựu to lớn của những người đi trước trong cổng việc sưu tầm, nghiên cứu về lễ hội truyền thống Việt Nam, trước đòi hỏi thực tế về yêu cầu đào tạo nguổn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực du lịch, chúng

Trang 10

tôi tổ chức biên soạn giáo trình "Lể hội Việt Nam trong sự phát triển đu tịch" nhằm phục vụ việc giảng dạy và học tập trong các trường Đại học, Cao đẳng thuộc khối khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là sinh viên các khoa Du lịch và những khoa có nội dung, chương trình đào tạo liên quan đến lẻ hội truyền thống Việt Nam.

Giáo trình tập hợp, hệ thống hóa các công trình đà được công bố, đặt nó trong sự phát triển cùa xã hội

• đương đại, tiến hành nghiên cứu theo mục tiêu tổng quát Trên cơ sờ đó, xây dựng mô hình, cơ cấu tổng thể

về hệ thống lẻ hội nói chung, áp dụng trong việc tìm hiểu bất kỳ một lễ hội nào đó Giáo trình cũng đề cập đến những vấn dề chung nhất, đổng thòi cụ thể hóa những biện pháp, cách thức tiến hành, triển khai các nội dung của từng công việc trong một lễ hội, từ đó đề ra các biộn pháp nhằm khai thác giá trị nhiều mặt của hệ thống lẻ hội phục vụ kinh doanh du lịch

Có thể nói, việc khai thác, sử dụng và mở rộng, nâng cao các nội dung, thành tố của lễ hội trong kinh doanh

du lịch là một vấn đề mới, hứa hẹn tiềm nàng to lớn, nhưng còn rất nhiều việc phải làm Đây là một yêu cầu cần thiết và cấp bách trong quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực du lịch Góp phin

10

Trang 11

xây dựng nén văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa khai thác các giá trị của văn hóa Việt Nam phục vụ kinh doanh du lịch theo nội dung, tinh thổn của Nghị quyết Trung ương V khóa Vĩĩĩ của Đảng

và Pháp lệnh Du lịch đã được Quốc hội thông qua

Nội dung giáo trình gồm 3 chương:

Chương ỉ: Tổng quan ìễhội Việt Nam.

Chương 2: Các loại hình lễ hội Việt Nam.

Chương 3; Lễ hội trong sự phát triển du lịch.

Cuối mỗi chương đều có các câu hỏi ôn tập nhằm hộ thống hóa những nội dung được trình bày ưong chương đó

Tôi xin cám ơn các nhà khoa học ưong lĩnh vực nghiên cứu về vàn hóa và lẽ hộí Việt Nam; Hội đồng khoa học, phòng Quản lý nghiên cứu khoa học trường Đại học Văn hóa Hà Nội, trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, Viện nghiên cứu phát triển Du lịch, cùng các thày

cố giáo trong trường Đại học Vãn hóa Hà Nội đã đóng góp nhiều ý kiến quí báu giúp tôi hoàn thành giáo trình này

Hà nội, tháng 3.2004.

Tác giả

Trang 13

CHƯƠNG 1

TỔNG ỌUAN lễ HỘI Vlậ NAM

1.1 LỄ HỘI VIỆT NAM: NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG

1.1,1 Hiện tượng và tên gọi

Hàng năm, trên nhiều vùng khác nhau của các khu dân cư trong lãnh thổ đất nước Việt Nam vào những thời điểm nhất định thường diễn ra các hoạt động như:

Tổ chức cho nhân dân treo cờ Tổ quốc và cờ hội ở các khu trung tâm văn hóa công cộng của các địa phương, tiến hành các nghi thức, nghi lễ trọng thể, trang nghiêm, tôn kính như cúng bái, tế lễ, rước sách theo phong tục tập quán truyền thống Đây là những hoạt động văn hóa

xã hội mang tính tập thể cao, thu hút sự quan tâm và tham gia đồng đảo của các tầng lớp nhân dân ở các địa phương trong cả nước Ngoài ra, cũng trong những dịp này các địa phương còn tổ chức các trò chơi dân gian, các hình thức diễn xướng dân gian trong đó có các "tục

hèm'\ các hoạt động vui chơi giải trí, biểu diến nghệ

thuật, giao lưu văn hóa nghệ thuật Những hoạt động kể

Trang 14

trên đặc biệt phong phú và đa dạng cả về nội dưng và hình thức thể hiện, thu hút sự quan tâm, tham dự của nhiều người Trong thời gian đó, các cơ quan, đoàn thể, các cấp các ban ngành ở địa phương tiến hành các hoạt động tham quan, thăm viếng, giao lưu và tìm hiểu lẫn nhau giữa các nhân và tập thể ưên một địa bàn nhất định Từ đó tạo ra tinh thần đoàn kết tương thần tương

ái, giúp đỡ lẫn nhau, mở ra và nâng lên một tầng cao mới sự giao lưu hợp tác phát triển giữa các địa phương, đơn vị Đây cũng là dịp diễn ra các hoạt động hội chợ triển lãm, tổ chức quảng bá thông tin, ưưng bày, mua bán, trao đổi sản phẩm hàng hóa, ký kết các hợp đồng kính tế - thương mại - dịch vụ

Quá trình diễn ra các hoạt động lễ hội đồng thời với việc tổ chức các hoạt động.văn hoá ẩm thực diễn ra âr các gia đình, ở những nơi tế lễ công cộng, những dịa điểm

có đông đảo quần chúng tham gia nhầm những mục (đích khác nhau Cũng trong thời gian và không gian diên ra các hoạt động này, địa phương còn tổ chức các hoạt động biểu diên ván hóa, nghệ thuật; thi đấu, trình (diên thể thao và các hoạt động vãn hóa - xã hội khác với những hình thức và nội dung phong phú, đa dạng, nnuôn màu muôn vẻ Các hoạt động trên thường diễn ra tĩrong một khoảng thời gian và không gian xác định, thui hút

14

Trang 15

đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia Trong dịp này, các hoạt động diễn xướng dân gian bao gồm việc biểu diễn dân ca, âm nhạc, sử thi, múa, sân khấu, trò nhại, giả trang, trình diễn thời trang, thì và trình diễn người đẹp, hát đối, trò chơi và các hình thức diẻn xướng dân gian khác được tổ chức Những “diễn xướng dân gian” kể trên

về cơ bản khác với hình thức “diễn xướng cung dinh”

Nó là cơ sở, nền tảng của những diễn xướng cung đình Diễn xướng dân gian là các hoạt động vãn hóa nghệ thuật của quần chúng Hoạt động này do những người dân ỉham gia, biểu diễn trên chính địa bàn mà họ sinh sống, phục vụ người dân của địa phương Những hoạt động diễn xướng dân gian về cơ bản chưa mang tính chuyẻn nghiệp, không mang tính vụ lợi kinh tế Chủ yếu

là hoạt động văn hóa mang tính "cho" "trao gửi" chứ

chưa mang tính "nhân' Ví dụ: hiện nay, dân ca quan họ Bắc Ninh đang tồn tại hai hình thức hoật động: "quan họ doàn/đài’' và "quan họ làng" Quan họ đoàn/đài khác với quan họ của 49 làng quan họ xứ Bắc về hình thức thể hiện: ở 49 làng quan họ xứ Bắc, mọi người dân dù ít hoặc nhiều hầu hết đều biết hát quan họ Đến ngày lễ hội của làng, họ tập hợp nhau lại trong các hình thức thể hiện mối quan hệ truyền thống được gọi là các "liền anh,

liền chị" để hát giao duyên, phục vụ nhân dân ưong làng

Trang 16

xã và du khách trảy hội trên bờ đê, ven sông, trên sân đình, sân chùa của ỉàng Tuy nhiên, những đổi thay mạnh mẽ của xã hội hiện nay đã tác động đến các vùng nông thôn Việt Nam trong đó có cả các làng quan họ Bắc Ninh nên hiện nay càng ngày càng ít người thuộc các làn điệu dân ca truyền thống Để khắc phục tình trạng dó, nhà nước tổ chức "Đoàn dân ca quan họ Bắc Ninh1’, để tập hợp, lưu giữ và phổ biến những vốn vãn hóa truyền thống đặc sắc của dân ca Quan họ, đi biểu diễn, phục vụ nhân dân trong nước và bạn bè trên thế giới Nhờ hoạt động này mà Quan họ Bắc Ninh được bảo tồn và phát triển lên một tầng cao mới, góp phần vào quá trình giao thoa và ảnh xạ văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế, đẩy nhanh quá trình giao thoa và hội nhập với bạn bè quốc tế trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Những hoạt động kể trên thể hiện một phần đời sống vãn hóa cộng đồng ở các đỉa phương Nó hình thành trong quá khứ lịch sử, luôn được nhân dân nuôi dưỡng

và phát triển, trở thành một thành tố đặc biệt quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa dần tộc Những hoạt động vản hóa xã hội như vậy mỗi nơi, mỗi người có những cách tiếp cận khác nhau mà gọi bằng các tên gọi khác nhau Tựu trung, có thể kể đến hai dòng tên gọi như sau:

16

Trang 17

* Dòng tên gọi dán gian

ố Lễ hội dân gian truyền thống

7 Liên hoan du lịch làng nghề truyền thóng

8 Ngày hội vãn hóa thể thao các dân tộc

9 Lễ hội văn hóa - thể thao - du lịch

Trang 18

10 Liên hoan đu lịch quốc tế

11 Lẻ hội du lịch

12 Festival

Những tên gọi dân gian dùng nhiêu từ "làng" trong các cụm từ nói về lề hội, bởi vì hoạt động lễ hội truyền thống về cơ bản mang tính chất là những "hội lànig", tổ chức ở làng, do dân làng tiến hành và để phục vụ đại đa

số quần chúng là dân làng Theo thông lệ và thói quen, người dân gọi các hoạt động đó là "hội" và gắn nó với một địa danh nào đó tạo thành tên của lẻ hội, như hội chùa Hương, hội Phù Đổng, hội đền Hùng Tên cùa lễ hội thường gắn với địa danh hay tên di tích của địa phương đó, ví dụ như: lể hội Đền Hùng (10/3 ám lịch),

lẽ hội chùa Hương (diễn ra trong 3 tháng mùa Xuân) v.v Hoặc tên lễ hội còn gắn với nội dung cơ bản, các sinh hoạt văn hóa đặc sắc, tục hèm hoặc các hình thức diễn xướng dần gian diễn ra trong hội: hội Lỉm quan họ (13-15/1 âm lịch), hội hát đúm làng Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (tổ chức từ ngày mồng 6/1 âm lịch đến 10/1 âm lịch), hội Dưng bất chạch trong chum ở Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc (6/1 âm lịch) v.v

Qua hai hệ thống tên gọi trên, có thể thấy rằng, hệ

18

Trang 19

thống tẻn gọi thứ nhất xuất phát từ hoạt động nội tại của hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, do chính những người tổ chức nói về hoạt động do chính họ tiến hành

Hệ thống tên gọi thứ hai do những người từ bên ngoài nhìn lễ hội với tư cách một thành tố văn hóa, đặt lễ hội trong môi trường hoạt động của nó để diễn giải về nó với cách kiến giải của những người làm công tác nghiên cứu khoa học

Thông thường, ở Việt Nam những lễ hội có từ trước nàm 1945 được gọi bằng các tên gọi "lễ hội cổ truyền",

"lề hội dân gian", "ỉễ hội truyền thống", "lễ hội dân gian truyền thống" những lễ hội ra đời lừ sau năm 1945

được gọi là "lễ hội hiện dại" Có thể nói, lễ hội đã kết tinh những nét đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc, truyền thống đó thể hiện ở một phần ở những tinh hoa lắng đọng trong hoạt động lễ hội Chính ở trong hoạt động vàn hóa đặc sắc này, các tàn dư lạc hậu, không phù hợp với thời cuộc đã và sẽ được sàng lọc, loại bò theo thời gian Khi nghiên cứu tổng thể về lễ hội cổ truyền và

lẻ hội hiện đại, thuật ngữ "lễ hội truyền thống" dề cập đầy đù nhất về hai loại hình lễ hội này Những lễ hội có

từ trước nãm 1945 nay còn tồn tại trong đời sống vãn hóa ờ các địa phượng cùng những lễ hội ra đời từ sau nầm 1945 đã và đang trở thành hoạt động văn hóa

Trang 20

thường niẻn ở các cộng đổng dân cư Cả hai loại hình lễ hội đó đều đã và đang trờ thành truyền thống của dân tộc Việc sử dụng tên gọi "lễ hội truyền thống" vừa thể hiện được đặc trưng của lễ hội dân gian, vừa làm rõ nội dưng của các loại hình lễ hội hiện đại Nghiên cứu lễ hội

từ truyền thống đến hiện đại góp phần tìm hiểu ý nghĩa

xã hội và văn hóa của nó trong tiến trình lịch sử Hiện nay, trong kho tàng di sản vàn hóa dân tộc, hệ thống lễ hội trở thành một thành tố văn hóa phi vật thể không thể thiếu ưong đời sống vần hóa xã hội của đông đảo các tầng lớp nhân dân trên đất nước ta

1.1.2 Nguồn gốc xuất xứ và những cơ sở để ra đời

lễ hội truyền thống Việt Nam

Trong tiến trình lịch sử dân tộc, lễ hội truyền thống Việt Nam hình thành rất sớm, từ khi chưa hình thành nhà nước, chưa có sự phân chia giai cấp Tuy vậy, có thể cho rằng, lễ hội xuất hiện khi xã hội loài người đạt trình

độ phát ưiển cao trong tổ chức đời sống xà hội Cũng như các mặt hoạt động khác của đờỉ sống con người, lẻ hội lừng bước hình thành, không ngừng biến đổi và hoàn thiện để phù hợp với sự phát triển của xã hội ờ từng giai đoạn khác nhau của lịch sử Từ thực tiến cuộc sống, có thể thấy rằng lễ hội được hình thành từ các cơ sở được coi là nguổn gốc sau:

20

Trang 21

* Do phong tục tập quán truyền thống của các địa phương truyền ỉại

Những phong tục tập quán được hình thành từ bao đời, chung đúc qua bao thế hẻ và được ưuyền lại cho các thế hệ kế tiếp, luôn thể hiện một phần đạo lý “uổng nước

nhớ nguồn - ăn quả nhở người trồng cây", đây là nguyên

nỉnân chủ yếu dẫn đến các lễ hội truyền thống Việt Nam Trong dân gian có câu: 'Trống làng nào ỉàng ấy đánh -

Thánh làng nào làng ấy thờ"' điều này vừa phản ánh, thể

hiện yếu tố bản địa, mang tính địa phương, vừa tạo ra sự phiong phú đa dạng của bức tranh văn hóa dân tộc Những lễ hội dân gian diễn ra ở các làng xã thường gắn vớú kỷ niệm ngày sính, ngày hóa của Thần Thành hoàng làng - vị thần bản mệnh của địa phương Cho nên, lệ làmg - phép nước đã góp phần hình thành các ỉễ hội truyền thống Lễ hội bắt nguổn từ trong cuộc sống lao độ)ng sản xuất và chiến đấu của người dân, đồng thời thể hiện sự phong phú đa dạng trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng của một bộ phận dân cư trên một địa bàn cụ thể.Phong tục tập quấn của mỗi vùng, miền là yếu tố quyết định việc tồn tại và phát triển các lễ hội truyền thống ở các địa phương Nó phản ánh và thể hiện nét đặc sắc của bản sắc văn hóa dân tộc của các địa phương vùng miền trong một lầnh thổ quốc gia thống nhất

Trang 22

Chính điều đó thể hiện văn hóa Việt Nam là một nền văn • • •hóa ”thống nhất trong đa dạng", nó được hình thành bởi

sự góp mặt của văn hóa 54 dân tộc anh em Những phong tục tập quán của các địa phương, dân tộc vô cùng phong phú, đa dạng, mang sắc thái riêng tạo nên nét bản sắc của văn hóa Có thể nói, lễ hội ra dời trong lịch sử, tồn tại và vận hành cùng lịch sử, góp phần hình thành truyền thống, hình thành những thuần phong mỹ tục, tập quán, lối sống, nếp sống ở các địa bàn dân cư

* Do qui định của thể chế chính trị - xã hội đương thời

Là một hoạt động văn hóa, lễ hội ra đời, tồn tại và phát triển trong một mồi trường xã hội nhất định Trong từng thời điểm của lịch sử, môi trường xã hội nào cũng gắn với thể chế chính trị cầm quyền của giai đoạn đó

Do lễ hội là hoạt động vãn hóa có tác động và ảnh hưởng sâu rộng tới các tầng lớp nhân dân nên các chính thể cầm quyền đều sử dụng nó như là một"công cụ văn hóa

đa nâng" để phục vụ những mục đích quản lý, duy trì và diều hành hoạt động của đất nước, xã hội Vì thế, hoạt động lễ hội diễn ra trước hết phục vụ cho mục đích trên của chính thể cầm quyền Bên cạnh những lề hội dân gian truyền thống, nhiểu lễ hội được tổ chức nhằm chào

22

Trang 23

mừng các sự kiện chính trị - quân sự - vãn hóa xã hội nổi bật của từng giai đoạn, như các lễ hội chào mừng sự kiện lịch sử, đón nhận danh hiệu thi đua, lễ hội kỷ niệm, đánh đấu các mốc thời gian ra đời, các thành tựu đạt được của các cá nhân, tập thể của một cơ quan, đơn vị v.v

* Do các mục tiêu phát triển kinh tể - văn hóa - xã hội dặt ra.

Là một thành tố vãn hóa có chứa đựng các nội dung

và yếu tố vãn hóa, kinh tế nên lể hội được chính thể cầm quyền sử dụng, khai thác như là một tác động bổ trợ góp phần điều tiết và thúc đẩy xã hội theo những mục tiêu, định hướng phát triển của tìmg thời kỳ, giai đoạn khác nhau Cãn cứ vào tình hình xã hội, đất nước, từ thực trạng các ngành kinh tế, nhu cầu của xã hội, của cuộc sống đặt ra để tổ chức các cuộc triển lãm về thành tựu kinh tế, vàn hóa, khoa học kỹ thuật như các Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao, hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống, các liên hoan du lịch làng nghề truyền thống của các địa phương V.V Mỗi một giai đoạn có một mục tiêu phát triển khác nhau, từ đó lễ hội cũng được khai thác thông qua các hình thức mang tính đặc thù để phát huy thế mạnh vốn có của loại hình vãn hóa -

xã hội này

Trang 24

* Do như cầu vui chơi giải trí của các tầng lớp nhàn dân trong xã hội.

Nhu cầu vui chơi giải trí luôn đặt ra với con người mỗì khi có thời gian nhàn rỗi như sau thời kỳ lao động sản xuất có liên quan đến mùa vụ, hoặc các nghề nghiệp sản xuất khác Người dân sau một thời gian lao động sản xuất mệt nhọc, vất vả, càng thẳng muốn nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, bù đắp năng lượng thiếu hụt đều có mong muốn và nhu cầu bổ xung nguồn nâng lượng tiêu hao, thiếu hụt thông qua việc tham gia các lễ hội ở đố họ được bù đắp, khám phá những mới mẻ, hấp dẫn khác của đời sống văn hóa mà họ chưa có Nhu cầu này thường xuyên, liên tục đối với mỗi con người, như là một tất yếu

để giải toả những ức chế, mệt mỏi trong cuộc sống, thu nạp nãng lượng để bước vào cuộc sống mới Quá trình này chính là quá trình "tích nạp năng lượng", là sự bổ sung điều chỉnh để tự hoàn thiện mình trong những điều kiện, hoàn cảnh mới

1.1.3, Hệ thống khái niệm trong lễ hội

* Khái niệm lễ và nghỉ lễ

Trong tiếng Hán Việt, Lẻ chính là những khuồn mẫu cùa người xưa đã qui đinh; các phép tắc buộc phải tôn trọng, tuân theo trong các mối quan hệ xã hội Đây chính là rường mối, cơ tầng, nên tảng của mọi mối quan

24

Trang 25

hệ giữa người với người trong bất kỳ một xã hội nào Theo quan niệm của người xưa, lễ được coi là những phép tắc theo khuôn mẫu đã được hình thành và củng cố theo (hời gian, được qui định một cách chặt chẽ từ “quan

- hôn ' tang - tế’ đến đi đứng, nói năng, cư xử hàng ngày của mọi người dân Đây là những qui định, lễ nghi, phép lắc buộc mỗi con người phải tuân theo trong các mối quan hệ ứng xử của mình trong xã hội Là một phần của những ’’nghi lễ vòng đời“ trong cuộc đời mỗi con người, trong đó:

- Quan: lễ đội mũ cho con trai 20 tuổi (lẻ trưởng thành, lễ thành đinh), thường gọi là '7ế gia quan" Từ sau lễ này, người con trai được coi là trưởng thành, cố quyền tham gia, chấp hành và được hưởng mọi nghĩa vụ, quyển lợi với tư cách một công dân của xã hội Trong lễ hội truyền thống, sau khi làm lễ mộc dục cho thần tượng

sẽ làm "lễ gia quan", tiến hành thay áo, đội mũ mới cho

Thần

- Hôn: Là những nghi lế, nghi thức được sừ dụng trong hôn nhân, trong lễ cưới hỏi của con người ở mỗi địa phương, gia đình

- Tang: Những nghi thức, tập tục ưong tang ma được tiến hành mỗi khi trong gia đình, dòng tộc có ngườỉ thân mất

Trang 26

- Tế: Những nghi thức tiến hành khi cúng tế, lễ tế thần, cúng Phật, thờ cúng tổ tiên ở trong gĩa đình hay ở những nơi thờ tự công cộng.

Lễ hay nghi lễ trong thờ cúng là những nghi thức được con người tiến hành theo những qui tắc, luật tục nhất định mang tính biểu trưng nhằm đánh dấu hoặc ký niệm một sự kiện, nhân vật nào đó với mục đích cảm tạ, tồn vinh về sự kiện, nhân vật đó với mong muốn nhận được sự tốt lành, nhận được sự giúp đờ từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ cúng Dưới góc độ nào

đó, lễ có thể được coi là ”bức thông điệp" của hiện tại gửi quá khứ, là hoạt động biểu trưng của thế giới hiện thực gửi thế giới siêu hình

Dưới thời phong kiến, các nhà Nho quan niệm rằng:

Lễ nghĩa thiên chi ĩự: Theo họ, Lễ vốn là trật tự, là chữ

đã định sấn của Trời, cần phải có và khống thể đảo ngược Cuộc sống xẫ hội của con người cần có lễ để phân biệt, giữ gìn tôn ty trật tự trong mối quan hệ đa chiều luôn diền ra trong đời sống xã hội Lễ được coi là

cơ sở của một xã hội có tổ chức và đã phát triển đến trình độ nào đó Đối với mỗi người, lễ thể hiện sự tôn kính, thái độ ứng xử của con người đối với đồng loại Lễ nhằm phòng ngừa những hành vi và tình cảm không chính đáng Lễ không chỉ qui định chi tiết về thái độ, cử

26

Trang 27

chỉ bên ngoài mà còn tạo điều kiện hình thành một trạng thái tinh thần tương ứng trong mỗi con người Lẻ cũng đổng thời trở thành phương tiện để tự sửa mình, điều chỉnh mình cho đúng mực, hoàn thiện hơn Những biểu hiện của lê bao giờ cung tương xứng với tuổi tác, vị thế

và vai trò, điều kiện của cá nhân nào đó trong các mối quan hệ gia đình và xã hội của con người đó

Trong chiều dài lịch sử phát triển, Lễ còn được coi ìà

“phong hóa’’ của quốc gia, dân tộc; là nhưng biểu hiện trong thuần phong mỹ tục, những tập tục truyền thống, lối sống, nếp sớng và tập quán sinh hoạt của một cộng đồng cư dân dược hình thành và củng cố theo thời gian.Nghi lễ là những sinh hoạt tinh thần của các cá nhân hay tập thể, là sinh hoạt của cả cộng đổng người trong đời sống tôn giáo - tín ngưỡng Nghi lễ là những ứng xử của các tầng lớp nhân dân dành cho thần, hướng về thần trong mối quan hệ ’’Người - Thần” vốn luôn tồn tại trong tâm thức và hành động của mọi người, mọi thời đại Nghi lễ còn là những hình thức, biện pháp tiến hành trong các hoạt động xã hội của con người nhằm đối ứng

và tương thích với đối tượng thờ cúng, với vị thế xã hội, mói trỉrờng sống của những người tổ chức tiến hành hoạt động nghi lễ Trong những hình thái như vậy, cần phải vượt n ngoài những quan niêm thông tục coi lễ chỉ là lễ

Trang 28

bái, cúng tế mà còn phải coi lễ, nghi lề là rường mối kỷ cương, phép tắc, đạo lý, góp phần tôn vinh, củng cố và bảo vệ sự tổn tại và phát triển của gia đình, xã hội.

Như vậy:

Nghi lễ là những nghi thức tiến hành theo những quị ỉổc, luật tục nhất định mang tính biểu trưng để đánh dấu, kỷ niệm một sự kiện, nhân vật nào dó nhằm mục đích cảm tạ, tôn vinh, ước nguyên về sự kiện, nhân vậĩ

dó với mong muốn nhận được sự may mắn tốt lành, nhận được sự giúp dỡ từ những dối tượng siêu hình mà người

ta thờ cúng.

* Một số lễ chính trong năm

ỉ Lễ SÓC', ngày mồng 1 đầu tháng âm lịch

2 Lễ vọng', ngày 15 giữa tháng âm lịch.

3 Lễ khai hạ', mồng 7/giêng âm lịch.

4 Lễ khai ấn: mồng 7/giêng âm lịch

5 Lễ Thượng ngùỵên: 15/giêng âm lịch.

6 Lễ Xuân tế: ngày Đinh đầu tháng 2 âm lịch; tế ờ

các Vần miếu

7 Tết Thanh minh: 15 ngày sau Xuân phân, tổ chức tảo mộ

28

Trang 29

8 Tết Hàn thực', ngày 3/3 âm lịch.

9. Lể kỳ an: Tổ chức dịp cuối Xuân, đầu hạ

10 Lễ Hạ điền: vào dịp xuống đồng, cầu "phong điều, VU thuận” -mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu

ỉ ỉ Lễ trùng ngữ - Tết Đoan ngọ: mồng 5 tháng 5 âm

lịch, tục gọi là tết "giết sàu bọ", cầu sức khoẻ, mùa màng bội thu

/2 Tết Trung nguyên: Rẳm tháng 7 âm lịch

13 Thu tế: ngày Đinh đầu tháng 8 âm lịch, tế ở các Vãn miếu

14 Tết Trung thu: 15/8 âm lịch.

15 Lễ Thượng điền: Cấy xong, lúa bắt đầu trổ đòng

16 Lễ cơm mới (//Thường tân): vào tháng 9 âm lịch

21 Lễ Táo quản: 23/12 âm lịch.

* Khái niệm Hội

Trong tiếng Việt, hội là danh từ để chỉ sự tập hợp một

Trang 30

số cá nhân vào trong một tổ chức nào đó, tồn tại trong một không gian và thời gian cụ thể Đôi khi hội chỉ sự liên kết giữa các cá nhân, tổ chức có chung mục đích hoặc các mục đích gần giống nhau Hội còn được coi là cuộc vui tổ chức cho đông đảo người đến dự theo phong tục tập quán, hay phong trào, trào lưu ở một thời điểm nào đó trong quá trình phát triển xã hội Đặc điểm cơ bản, xuyên suốt của hội (trong lễ hội) là có sự tham gia

của đông người và trong hội người ta được vui chơi thoải mái. Hội bao giờ cũng mang tính chất công cộng cả về

tư cách tổ chức lẫn mục đích cần đạt được của những người tổ chức và người tham dự Đồng thời đây chính là dịp người ta tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí cho đông đảo những người tham dự Các hoạt động này được diễn ra thường niên theo phong tục tập quán truyền thống của các địa phương, vùng miền hoặc tổ chức vào các dịp đặc biệt trong năm dể hướng tới, tồn vinh với mong muốn đạt được những mục tiêu, giá trị cụ thể nào

đó trong đời sống văn hóa cộng đổng Như vậy, trong hội lưu giữ một phần kho tàng di sản vãn hóa đặc sắc của địa phương và dân tộc Trong các hoạt động của hội còn có thể bao gồm các chương trình vui chơi giải trí hiện đại mang sắc thái thời gian, phản ánh và thề hiện trình độ phát triển của cộng đồng dân cư của một địa

30

Trang 31

phurơĩg hay toàn xã hội ở vào thời điểm mà nó ra đời và tổHì ui Những hoạt động diễn ra trong Hội là một phần

bộ imặt xã hội, là chiếc "phong vũ biểu", tấm gương phản chiíếu khách quan, trung thực đời sống kinh tế, chính trị, vãm tóa - xã hội cùa một địa phương, của đất nước ở thời điểìm diễn ra các hoạt động đó Các hoạt động diễn ra tromg hội bao gồm các trò chơi dàn gian, các hình thức diễm sướng dân gian do người dân trực tiếp tham gia, các hoạt động vãn hóa nghệ thuật truyền thống và cả các hoạt lộng mang tính hiện đại

TTiong hội, có thể tìm thấy những biểu tượng điển hìnỉhcủa sự thể hiện tâm lý cộng đổng; những đặc trưng củăỉ tán hóa dân tộc; những quan niệm, cách ứng xử đối vớÍ! môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của các cá %nh&n và cả cộng đồng người Những hoạt động diễn ra tromg hội luổn phản ánh và thể hiện một phần ỈỊch sử địa phurong, đất nước Do đó:

ỈHội ìà tập hợp những hoạt động kình tế, vấn hóa - xã hộv của một cộng đồng dân cư nhất định; ỉà cuộc vui tổ chútecho đông đảo người dự theo phong tục truyền thống hơệặc nhân những dịp đặc biệt Những hoạt động diễn ra ưorng hội phẩn ánh điều kiện, kha năng và trình độ phát ưiẽỉn cùa địa phương, đất nước ở vào thời điểm diễn ra các: kiện đó.

Trang 32

* Khái niệm hội chợ ĩrien Ịãm ■ ■ ■

ở nước ta, hình thức hội chợ đã xuất hiện khá sớm trong các lẽ hội dưới thời phong kiến, thông qua việc bày bán các sản phẩm hàng hóa là đổ dùng trong sinh hoạt, hàng liêu dùng hay đồ ần thức uống phục vụ nhu cầu sinh tồn của người dân trong địa bàn diên ra lễ hội

và người đến tham dự lễ hội Trong các lễ hội dân gian truyền thống, người dân các địa phương mang đến lễ hội các hàng hóa với nhiều chủng loại, để phục vụ nhu cầu trao đổi cho những người đi dự hội Đây có ỉẽ được coi

là dịp duy nhất xóa bỏ tình trạng "tự cung tự cấp1’ phổ biến ở các làng quê Việt Nam dưới thời phong kiến Là một hoạt động tập thể, nhưng lễ hội không phẳi là một hoạt động văn hóa xã hội thuần nhất yếu lố văn hóa Là một hoạt động truyền thống, lẽ hội mang trong mình nhiều hình thức hoạt động xã hội khác trong đó có hoạt động kinh tế Trước đây, dưới thời phong kiến hoạt động này diễn ra không nhằm mục đích kinh tế mà chỉ nhằm thực hiện các mục đích văn hóa xã hội, tâm linh tinh thần cùa các đông đảo cằc tầng lớp nhân dân Chỉ sau này, các cá nhân, tập thể mới khai thác và sử dụng lễ hội dưới góc độ nào dó để kinh doanh, mang lại các lợi ích kinh tế từ nên tảng cơ sở là các hoạt động diến ra trong

lẻ hội Nhưng về cơ bản, trong suốt tiến trình phát triển

32

Trang 33

của lịch sử dân tộc mục đích kinh tế không phải là mục đích cơ bản của lề hội truyền thống.

Còn hình thức hội chợ triển lãm theo đúng nghĩa tên gọi của nó chỉ thực sự xuất hiện ờ Việt Nam từ thời Pháp thuộc, dưới hình thức các cuộc "đấu xảo" ờ các trung tâm đô thị và một số cuộc đấu xảo ờ Pháp hoặc các thuộc địa khác của Pháp trên đất chàu Phi

Ngày nay, hội chợ triển lãm là một hoạt động văn hóa

xã hội mang nặng yếu tố kinh tế, khoa học kỹ thuật, diễn

ra thường xuyên, liên tục với qui mô và hình thức tổ chức khác nhau Các hoạt động này mang tính thường xuyên định kỳ hoặc đột xuất, có thể diên ra ở nhiều nơi trong cùng một thời gian trên khu vực rộng lớn Hiện nay thường diễn ra tại các trung tâm đô thị, nơi cố sự giao lưu kinh tế phát triển mạnh mẽ: Trung tâm triển làm Việt Nam [Giảng Võ, Hà Nội], Khu triển lãm vàn hóa nghẹ thuật Vân Hồ [Hà Nội], Khu hội chợ triển lãm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ở đường Hoàng Quốc Việt [Hà Nội]; Trung tâm hội chợ triển lãm quốc tế Hải Phòng; Khu hội chợ triển lãm Quang Trung [Thành phố Hồ Chí Minh]; Khu triển lãm, hội chợ thành phố Cần Thơ v.v Hội chợ ưiển lãm thường là các hội chợ kinh tế, khoa học kỹ thuật cập nhật đời sống kinh tế của đia phương và đất nước Hôi chợ triển lãm chủ yếu

Trang 34

mang nội dung kinh tế, dù tầm cỡ, qui mô địa phương, đất nước hay quốc tế nhưng chúng đều mang nội dung văn hóa sâu sắc Trong nội dung hoạt động của các hội chợ ưiển lãm, mặc dù mang nặng yếu tố kinh tế nhưng các hoạt động văn hóa nghệ thuật có một vị trí đặc biệt quan trọng Các hoạt động này không thể thiếu trong quá trình tổ chức, trở thành một yếu tố cấu thành của bất

kỳ một hội chợ triển lãm nào Nó trở thành một nộí dung văn hóa, một hoạt động mang tính nghệ thuật góp phần quảng bá, mời gọi, tãng sức hút hấp dẫn đối với các cá nhân, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp đến tham gia hội chợ triển lãm

Hội chợ triển lãm là các hoạt động kinh tế, văn hóa

xã hội; lổ chức trưng bày, giới thiệu, bán và tiêu thụ sản phẩm hoặc thi các sản phẩm hàng hoá, các thành tựu khoa học kỹ thuật của quốc gia và quốc tế; trao đổi, kỷ kết hợp đồng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, các hội chợ việc làm cung cấp nguồn nhân lực đa dạng về chất lượng

vầ chủng loại cho cấc ngành của nền kỉnh tế ,

* Khái niệm lễ hội

Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa dân gian nguyên hợp mang tính cộng đồng cao của các tầng lớp nhân dân, diễn ra trong những chu kỳ về không gian và thời gian nhất định để tiến hành những nghi thức mang tính biểu

34

Trang 35

trưng về sự kiện nhân vật được thờ cúng Những hoạt động này nhằm để tỏ rõ những ước vọng của con người, điể vui chơi giải trí trong tình cộng đổng cao Lẻ hội là nlhững hoạt động, nhưng sinh hoạt văn hóa mà ở đó có

sụ gắn kết không thổ tách rời cùa cả nội dung và hình tbiức của hai thành tố cơ bản là Lể và Hội Ngoài ra, trong hoạt động lễ hội còn bao gồm một số thành tố khác như: hộ thống các tục hèm, các ưò diễn dân gian, hoạt động hội chợ triển lãm và vãn hóa ẩm thực v.v Các thành tố này luôn có sự gắn kết mật thiết, tương hổ lẫn nhau; sự gắn kết này luôn có trục trung tầm là định hurớng phát triển Các thành tố của lễ hội luôn vận hành qiuanh trục trung tâm đó để đạt được những mục tiêu nlhất đinh, những mục tiêu này nhằm phục vụ lợi ích của

cả cộng đổng, chứ không chỉ phục vụ lợi ích của riêng nlhững người tổ chức hoạt động lễ hội Từ đó thấy rằng:

Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn rca trên một địa bàn dồn cư trong thời gian và không gian xấc định; nhầm nhắc lại một sự kiên, nhân vật ỉịch sử h(ay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiển cách ứng

xử vàn hóa của con người với thiên nhiên - thần thánh vtà con người trong xã hội.

Khái niệm trên đã phản ánh bản chất và những nội duing của lễ hội truyền thống Việt Nam Trước hết, lẽ hội

Trang 36

là sinh hoạt văn hóa cộng đổng, bởi vì đày ỉà hoạt động vãn hóa của tập thể, thuộc về tập thể, do tâp thể lổ chức tiến hành Dù ở bất cứ đâu, vào bất cứ thời gian nào lẻ hội cũng phải do đông đảo quần chúng nhân dân tiến hành Chính họ là những người sáng tạo chân chính những giá trị bắt nguồn từ cuộc sống lao động sản xuất

và chiến đấu Họ là chủ nhân, đồng thời là người đánh giá, thẩm nhận và hưởng thụ những thành quả sáng tạo văn hóa ấy Không bao giờ lễ hội chỉ thuộc về một nhóm người nào đó trong xã hội Không có đóng người tham

dự, không thành hôi!, người ta nói "đông như hôi" chính

là vậy

Lế hội là một hoạt động tập thể do quần chúng nhân dần tiến hành, bất cứ lễ hội nào cũng gắn với các địa bàn dân cư cụ thể, lầ hoạt động vàn hóa của một địa phương

đó Về cơ bản, lể hội truyền thống Việt Nam là những

"lễ hội làng" nhưng cũng có nhiều lể hội do nội dung và tính chất của nó nên được diễn ra trong một không gian rộng lớn hơn, có tính liên làng, liên vùng Những hoạt động lẽ hội này diễn ra không thường xuyên mà chỉ ở một vài thời điểm nhất định vào mùa Xuân hay mùa Thu trong nàm Đây là thời điểm chuyển giao thời tiết, cũng

là thời điểm chuyển giao mùa vụ trong sản xụất nông nghiệp Vào thời điểm này, người ta tổ chức hoạt động lễ

36

Trang 37

hội nhằm các mục đích khác nhau Trước hết, những hoạt động mang tính nghi lễ nhằm nhắc lại sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại đã diễn ra trong quá khứ Đây chính là biểu hiện đạo ỉý truyền thống "ưống nước nhớ nguồn" của dân tộc, thể hiện cách ứng xử văn hóa với thiên nhiên, thần thánh, con người, thông qua các hoạt động trong lễ hội Đó là những ứng xử cùa tập thẻ, của cộng đồng cư dân với cả hai dối tượng: siêu hình (thần thánh) và hữu hình (con người) Nó cũng phản ánh mối quan hệ, giao thoa giữa siêu và thực, giữa con người với con người trong những hoàn cảnh và hoạt động cụ thể.

1.1.4 Mục đích của lễ hộỉ ♦ •

Bất kỳ một hoạt động có ý thức nào của con người đều mang những mục đích nhất định, trong đó lễ hội là một trong những "hoạt động văn hóa cao", "hoạt động văn hóa nổi trội" trong đời sống của con người Hoạt động này diễn ra với những hình thức khác nhau, nhằm mục đích phục vụ iợi ích đa dạng trước mắt và lâu dài của con người, thoả mãn những nhu cầu của các cá nhân

và tập thể trong môi trường mà họ sinh sống Tựu trung lại những mục đích đó bao gồm:

* Lễ hội là dịp tưởng nhớ, tạ ơn và "đòi hỏi" của

Trang 38

đông ddớ quần chúng nhân dán dối với dổi tượng mà họ thờ cúng

Hoạt động của lễ hội là hình thức thể hiện nhằm giiúp con người ta tưởng nhớ và tạ ơn thần thánh Bởi tronìg cuộc sống, con người Việt Nam luôn có những quian

niêm: 11 vạn vật hữu lình", "có thờ cố thiêng - có kiêng có lành", "chẳng thiêng ai gọi là Thần" v,v Chính vì vậy trong dời sống tôn giáo, tín ngưỡng cùa mình, ngtsrời Việt Nam thờ phụng rất nhiều loại thần khác nhau Đối tượng mà người dân thờ cúng là rất phong phú, đa dạtng, trong đó đặc biệt là việc thờ Thành Hoàng làng Thiần thánh trong tín ngưỡng của người Việt có số lượng hớn

về chỏng loại, tính chất, loại hình Đối tượng đó đurợc dân gian gọi là bách thẩn, bao gổm: thiên thần, nhiièn thần, nhân thần, động vật thần v.v Trước dây, nlhìn chung thần thánh được các nhà Nho và các triểu dại phong kiến tập quyền chia ra thành hai loại: Chính thiần

và Tà thần Trong tiến trình phát triển của lịch sử, nnỗi triều đại phong kiến Việt Nam có cách ứng xừ riêng dối với các loại thần này Nếu như dưới thời Trần, nhiều dền miếu thờ dâm thần bị triểu dinh trung ương xóa bỏ ĩthì dưới thời Mạc, những vị thần dân gian như vậy lại có xu hướng được phục hồi Nhìn chung giữa dân gian và cutng đình luôn tồn tại đối lập trong sự thông nhất tương đối

38

Trang 39

trong quan hệ đới ứng Người - Thần Sự ứng đối vái thần của con người trong suốt tiến trình phát triển cùa lịch sử ptaần nào phản ánh chất lượng và diện mạo cuộc sống của các tầng lớp dân cư, phản ánh trình độ và điều kiện pbiát triển của các địa phương trên khắp các miền đất nurớc.

Trong quan niệm của Nho giáo, hệ thống các vị thần đurợc thờ trong tín ngưỡng dân gian của người Việt bao

Hìnhl: Sơ đồ hệ thống phân vị thần Việt Nam

Do nhiều nguyên nhân chi phối, trước hết là ở nhận thtức, con người ta mỏi khi gặp rủi ro, bất trắc, hoặc

Trang 40

trước khi làm một việc gì, ngoài những động thái chuẩn

bị, bổ trợ về mặt thực tế, người ta thường nhờ cây, cMu viện tới sự giúp đỡ cùa thần linh Sau khi thành cồng, H1Ọ không quên sự giúp đỡ của Thánh thần, bày tỏ sự biiết

ơn, kính trọng của mình với thánh thần về sự che chiở, bảo vệ, giúp đỡ đó thồng qua các hoạt động thờ cứng, Itế

lễ quanh nãm, đặc biệt vào các dịp lễ hội

Đặc biệt, người dân một số dân tộc thiểu số, với tâim hồn mộc mạc, hồn nhiên, cụ thể của mình họ thường (CÓ hình thức "giao kèo" với Thần linh thông qua các nglhi thức trong nghi lễ với mục đích cầu Thần linh giúp Ịhọ đạt được những kết quả, những thành tựu trong cuộc

sống Đó là những “giao kèo ” mang tính chất “ràỉtỉg buộc trách nhiệm” đối với Thần linh Ví dụ: trong lề đâm trâu cùa người Banar và một số dân tộc trên địa bần Tây Nguyên, người thầy cúng nói to trước thần lính wà mọi người: “Nay chủng tôi củng Giàng [Yang] một c&n trâu lờn, nhiều vò rượu to, nhiều mâm xôi đầy Giàng hãy nhận lấy và phù trợ cho chúng tôi cho mùa màtng được bội thu, dân làng mạnh khoẻ Sang năm chủng tiôì

sẽ cúng con trâu to to hơn, ché rượu nhiều hơn” Trên

dải đất miền Trung, cộng đồng người Cor (còn có cấc tên gọi khác như Cua, Cùa, Trầu ), có số lượng khoảtng 26.000 người, cư trú trên địa bàn hai huyện: Trà Bồmg

40

Ngày đăng: 19/12/2023, 10:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  2:  Sự đối ứng giữa lễ và hội, - Lễ hội việt nam trong sự phát triển du lịch giáo trình dùng cho sinh viên đại học và cao đẳng ngành du lịch dương văn sáu
nh 2: Sự đối ứng giữa lễ và hội, (Trang 70)
Hình  3:  Mớ  hình bản chốt của lễ hội truyền thống  Việt Nam - Lễ hội việt nam trong sự phát triển du lịch giáo trình dùng cho sinh viên đại học và cao đẳng ngành du lịch dương văn sáu
nh 3: Mớ hình bản chốt của lễ hội truyền thống Việt Nam (Trang 77)
Hình 4:  Mô hỉnh lể hội truyền thòng Việt Nam - Lễ hội việt nam trong sự phát triển du lịch giáo trình dùng cho sinh viên đại học và cao đẳng ngành du lịch dương văn sáu
Hình 4 Mô hỉnh lể hội truyền thòng Việt Nam (Trang 91)
Hình 5: Các yếu tố cấu thành nghi lễ. - Lễ hội việt nam trong sự phát triển du lịch giáo trình dùng cho sinh viên đại học và cao đẳng ngành du lịch dương văn sáu
Hình 5 Các yếu tố cấu thành nghi lễ (Trang 96)
BẢNG THỐNG KÊ  TÊN GỌI  CÁC  TRÒ  CHƠI  DÂN - Lễ hội việt nam trong sự phát triển du lịch giáo trình dùng cho sinh viên đại học và cao đẳng ngành du lịch dương văn sáu
BẢNG THỐNG KÊ TÊN GỌI CÁC TRÒ CHƠI DÂN (Trang 161)
BẢNG  THỐNG KÊ CÁC TÔN GIÁO  Ở  VIỆT NAM  THEO TỔNG ĐIỂU TRA DÂN số NGÀY 01.04.1999 - Lễ hội việt nam trong sự phát triển du lịch giáo trình dùng cho sinh viên đại học và cao đẳng ngành du lịch dương văn sáu
s ố NGÀY 01.04.1999 (Trang 191)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w