TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH PLT06A ĐỀ TÀI: Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và vận dụng trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay Giảng viên h
Trang 1TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
(PLT06A)
ĐỀ TÀI: Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và vận dụng trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Nhóm Lớp:
1
2
Hà Nội, ngày 05 tháng 04 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 2
NỘI DUNG 3
I Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc 3
1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc 3
2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc 4
2.1 Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của các dân tộc 4
2.2 Độc lập dân tộc phải gắn liền tự do, hạnh phúc của nhân dân 5
2.3 Độc lập dân tộc phải là nền độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để, gắn liền với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ 6
2.4 Độc lập cho dân tộc mình, đồng thời độc lập cho các dân tộc khác 7
II Giá trị và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay 7
1 Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc 7
2 Vận dụng tư tưởng HCM về độc lập dân tộc trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam hiện nay 8
2.1 Thực trạng 8
2.2 Nguyên Nhân 10
2.3 Giải Pháp 11
3 Liên hệ bản thân sinh viên 12
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 31
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử dân tộc Việt Nam là một nước anh hùng trong suốt mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước Trong quá trình dựng nước và giữ nước dân tộc ta đã đấu tranh anh dũng chống giặc ngoại xâm và lập nên nhiều chiến công hiển hách như: đánh đuổi thực dân Pháp rút quân về nước, Do vậy, độc lập dân tộc không chỉ
là khát vọng mang tính phổ biến với toàn nhân loại, mà còn là khát vọng độc lập,
tự do của toàn dân tộc Việt Nam Độc lập dân tộc là tư tưởng chủ đạo, chi phối toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh: Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho tổ quốc tôi, đó là tất cả những gì tôi muốn, đó là tất cả những gì tôi hiểu Trong bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Người đã đanh thép khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển các cuộc xung đột kinh tế, chính trị, văn hóa diễn ra ngày càng gay gắt của các nước trên thế giới Đồng thời, đất nước
ta cũng đã và đang phải đối phó với những căng thẳng, xung đột tranh chấp có liên quan đến vấn đề dân tộc cũng như chủ quyền hợp pháp của dân tộc ta Ngoài
ra, các thế lực thù địch đã và đang tìm mọi cách phá hoại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, gây chia rẽ, ly khai dân tộc, ảnh hưởng tới sự toàn vẹn và thống nhất của đất nước Do đó, độc lập dân tộc là một yếu tố cấp thiết và đòi hỏi toàn thể dân tộc Việt Nam giữ gìn và xây dựng Tổ quốc Từ lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, được Đảng ta, chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng vào tình hình thực tiễn đất nước vào việc giải quyết vấn đề độc lập dân tộc, thực hiện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và nhân dân ta trong suốt bề dày lịch
sử, việc tiếp tục hoàn thiện và nâng cao nhận thức về vấn đề độc lập dân tộc trong bối cảnh tình hình hiện nay là rất cần thiết Với ý nghĩa đó, em xin chọn đề tài
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và vận dụng trong xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam hiện nay”
Trang 42
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc Đánh giá tình hình thế giới và đất nước hiện nay và vận dụng tư tưởng đó trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, bài tiểu luận có nhiệm vụ: Làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc; Giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc; Giá trị thực tiễn và lý luận của Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước
Phạm vi của tiểu luận: nghiên cứu một số nột dung chủ yếu về độc lập dân tộc, cũng như đi sâu vào phân tích và vận dụng nó trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách của Đảng Cộng Sản Việt Nam,
Phương pháp nghiên cứu: bài tiểu luận sử dụng các phương pháp cụ thể, chú trọng phương pháp lịch sử kết hợp với logic, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống
kế, khảo sát và tổng kết thực tiễn,
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận: đề tài góp phần làm rõ nội dung, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc Nêu lên giá trị to lớn của Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với độc lập dân tộc Việt Nam nói riêng và độc lập dân tộc thế giới nói chung
Ý nghĩa thực tiễn: những thành tựu mà Đảng và Nhà nước ta đã đạt được trong việc đề ra những chính sách về độc lập dân tộc, từ đó rút ra bài học thực tiễn cho bản thân
Trang 53
NỘI DUNG
I Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc
1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc
Độc lập dân tộc phải là độc lập với đầy đủ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng Quyền độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm và thể hiện ở tự do, hạnh phúc của dân
Như bao nhiêu người dân Việt Nam yêu nước khác sống kiếp nô lệ dưới thời thuộc Pháp, khát vọng và mong muốn lớn nhất của Hồ Chí Minh là quyết tâm giành độc lập, tự do cho dân tộc Độc lập dân tộc là khát vọng lớn nhất của các dân tộc thuộc địa, đây là khát vọng mang tính phổ biến của các dân tộc bị mất quyền dân tộc, chịu sự đè nén, thống trị của ngoại bang Trong những năm cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa đế quốc đẩy mạnh xâm chiếm thuộc địa để mở rộng thị trường, thực hiện áp bức về chính trị, bóc lột về kinh tế, nô dịch về văn hóa đối với các dân tộc thuộc địa từ đó, đã tạo ra sự bất bình đẳng lớn trong lịch sử nhân loại Hồ Chí Minh phê phán và lên án chủ nghĩa thực dân đã chà đạp và thủ tiêu quyền dân tộc, kìm hãm sự phát triển của các dân tộc thuộc địa
Cách tiếp cận độc lập dân tộc của Hồ Chí Minh xuất phát từ quyền con người Quyền con người là một giá trị được thừa nhận và đề cao trong các bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ và Tuyên ngôn về Nhân quyền và Dân quyền của Pháp Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 của Pháp: “Người ta sinh ra có quyền tự do và bình đẳng về quyền lợi và luôn luôn phải được tự do và bình đẳng
về quyền lợi” và khẳng định: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”
Hồ Chí Minh đã tiếp nhận những nhân tố có giá trị trong hai bản Tuyên ngôn bất hủ đó và phát triển thành quyền dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền
Trang 64
tự do” Với việc tiếp cận vấn đề độc lập dân tộc từ quyền con người tức quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Hồ Chí Minh đã đặt nền tảng cho một pháp lý quốc tế mới về quyền dân tộc và sự bình đẳng giữa các quốc gia dân tộc
2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc
2.1 Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của các dân tộc
Ý trí quyết tâm đấu tranh giành và bảo vệ độc lập tự do được thể hiện xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh Năm 1919, nhân dịp các nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất họp Hội nghị Vécxây (Pháp), thay mặt nhóm những yêu nước Việt Nam ở Pháp, Người đã gửi tới Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam, bao gồm tám điểm với hai nội dung chính: Đòi quyền bình đẳng về chế độ pháp lý cho người bản xứ Đông Dương xóa bỏ chế độ cai trị bằng sắc lệnh
và thay thế vào đó bằng đạo luật; Đòi quyền tự do dân chủ tối thiểu cho nhân dân (tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, cư trú) Đây là hình thức thử nghiệm đầu tiên của Người sử dụng pháp lý tư sản, đấu tranh bằng phương pháp hòa bình Bản yêu sách không mang tính chất cải lương, vì nó gắn chặt mục tiêu đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết với yêu sách cụ thể đòi quyền tự do dân chủ
Vào đầu năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên Người cũng xác định mục tiêu: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến”; “Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”; “Dựng ra chính phủ công nông binh ” Phải đấu tranh, phải đánh đổ thực dân, đế quốc để giành độc lập cho dân tộc, theo Người,
đó phải là mục tiêu đầu tiên của cách mạng nước ta Cách mạng Tháng Tám thành công, Người khẳng định “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và
sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do
và đọc lập ấy” Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946, Người thể hiện lòng quyết tâm với trái tim sắt đá, bảo vệ cho rằng nền độc lập dân tộc
mà nhân dân mới giành được: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định
Trang 75
không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” Trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ, Người đã nêu lên một chân lý thời đại, một tuyên ngôn bất hủ của các
dân tộc khao khát nền độc lập, tự do trên thế giới “Không có gì quý hơn Độc lập
tự do” Với chân lý đó nhân dân Việt Nam đã đồng lòng, anh dũng chiến đấu và
giành thắng lợi vẻ vang, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris, cam kết tôn trọng
các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, rút quân Mỹ về nước Tư tưởng
của Bác, độc lập dân tộc là một mệnh đề hành động gắn với cuộc đấu tranh vì sự
nghiệp giải phóng dân tộc, giai cấp, con người
Quan điểm trên của Người vừa có giá trị lý luận, thực tiễn to lớn, vừa có ý
nghĩa bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin về quyền dân tộc, cụ thể là quyền
độc lập, tự do
2.2 Độc lập dân tộc phải gắn liền tự do, hạnh phúc của nhân dân
Độc lập phải gắn liền với tự do, đó là lẽ đương nhiên trong đấu tranh cách
mạng của các dân tộc Hồ Chí Minh tiếp thu và đánh giá cao học thuyết “Tam
dân” của Tôn Trung Sơn: dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc
Người cũng từng viện dẫn Tuyên ngôn nhân quyên và Dân quyền của Cách mạng
Pháp năm 1791 để khẳng định dân tộc Việt Nam cũng phải được tự do và bình
đẳng về quyền lợi “Đó là lẽ phải không ai chối cãi được”
Độc lập cũng phải gắn với sự tự do, hạnh phúc của nhân dân Là một dân tộc
thuộc địa bị đế quốc thực dân thống trị, bóc lột, nhân dân phải sống trong cảnh
lầm than, cơ cực, đói rét, nên mong muốn, khát khao lớn nhất của dân tộc Việt
Nam là làm sao nước nhà được độc lập, ai ai cũng tự do, hạnh phúc, cơm no, áo
ấm Xuất phát từ tâm tư, nguyện vọng tha thiết, chính đáng trên, sau khi giành độc
lập dân tộc, Người tiếp tục đấu tranh vì mục đích cơm no, áo ấm, cho nhân dân
Người chỉ rõ: “Nước được độc lập, mà dân không được hưởng ấm no, hạnh phúc
thì độc lập chẳng có nghĩa lý gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do khi được ăn no,
mặc đủ”
Trang 86
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc luôn gắn liền với tự
do, hạnh phúc cho nhân dân, như Bác đã từng bộc bạch tâm huyết: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” Sự ham muốn đầy tính nhân văn và thắm đượm tình thương yêu dân tộc của Người và đó cũng là mục tiêu tối thượng trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người
2.3 Độc lập dân tộc phải là nền độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để, gắn liền với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
Độc lập của dân tộc Việt Nam trước đây là độc lập dưới chế độ phong kiến Mọi quyền hành đều do giai cấp phong kiến thống trị chi phối còn tuyệt đại đa số nhân dân không có quyền tự do, dân chủ, sống dưới thân phận những người nô bộc
Chủ nghĩa thực dân cũ và mới đều gieo ảo tưởng về “độc lập tự do” trong nhân dân, nhưng Hồ Chí Minh chỉ cho rằng đó chỉ là “cái bánh vẽ”, chỉ là “độc lập hình thức”, “độc lập giả hiệu”, thực chất mọi quyền hành về chính trị, kinh tế đều nằm trong tay bọn thực dân, đế quốc Vì vậy, theo Hồ Chí Minh phải đấu tranh giành cho được nền độc lập thật sự
Nền độc lập thật sự, tức là dân tộc đó phải được độc lập về tất cả các mặt chính trị, kinh tế, toàn vẹn lãnh thổ Độc lập phải gắn liền với quyền tự quyết dân tộc Mọi vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia phải do nhân dân của dân tộc đó tự quyết định, không có sự can thiệp của nước ngoài
Nền độc lập thực sự, hoàn toàn phải được thực hiện triệt để theo nguyên tắc thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc là một nguyên tắc không thể nhân nhượng “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, “Miền nam Việt Nam là máu của máu Việt Nam, thịt của thị Việt Nam”, “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam Sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi”
Trang 97
2.4 Độc lập cho dân tộc mình, đồng thời độc lập cho các dân tộc khác
Quyền độc lập, tự do là quyền bất khả xâm phạm của các dân tộc Chúng ta không chỉ đấu tranh cho độc lập của dân tộc mình mà còn đấu tranh cho độc lập của tất cả các dân tộc bị áp bức Hồ Chí Minh luôn gắn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng Tư tưởng độc lập dân tộc của Hồ Chí Minh mang nội dung sâu sắc, triệt để gắn với cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giai cấp, con người Tư tưởng đó khẳng định những căn cứ pháp
lý về quyền con người, quyền dân tộc, có ý nghĩa thời đại sâu sắc và mang tính nhân văn cao cả
Là một chiến sĩ yêu nước, Hồ Chí Minh không chỉ đấu tranh cho độc lập của dân tộc Việt Nam, mà đấu tranh cho độc lập của tất cả các dân tộc bị áp bức Nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, thực hiện nguyên tắc về quyền dân tộc tự quyết, nhưng Bác cũng không quên nghĩa vụ quốc tế trong việc ủng hộ các cuộc đấu giải phóng dân tộc trên thế giới Người nhiệt liệt ủng hộ cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Mỹ xâm lược của nhân dân Lào và Campuchia, đề ra khẩu hiệu “giúp bạn là tự giúp mình"
II Giá trị và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay
1 Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc
Giá trị lý luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc đã bổ sung và phát triển sáng tạo làm phong phú học thuyết chủ nghĩa Mác-Lênin xuất phát từ tình hình thực tiễn bối cảnh đất nước ta Ngoài ra, nó cũng đã làm chuyển hóa phong trào yêu nước, tạo điều kiện cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và cũng
là cơ sở để Đảng ta đề ra đường lối chủ trương đối với vấn đề dân tộc trong tình hình hiện nay Và Đảng ta tiếp tục khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là một vấn đề mang tính chiến lược cách mạng trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều phức tạp như vậy, thì phải giữ vững được độc lập dân tộc trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược đó là xây dựng và bảo
Trang 108
vệ Tổ quốc Việt Nam và trên cơ sở đó nhà nước đề ra các chính sách và các cơ chế để chúng ta có thể phát triển đúng theo các định hướng xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, nó còn đặt cơ sở để xây dựng nên đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng, soi đường thắng lợi cho cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam Giá trị thực tiễn: Đây là quan điểm có ý nghĩa thực tiễn to lớn, giúp cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không thụ động, ỷ nại chờ sự giúp đỡ từ bên ngoài mà luôn phát huy tính độc lập tự chủ, tự lực, tự cường Nhờ đó mà cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi vĩ đại Đồng thời nó cũng góp phần định hướng cho phong trào giải phóng dân tộc ở các nước khác trên thế giới trong thời
kì bấy giờ Thực tiễn cách mạng ở một số nước thuộc địa và cách mạng Việt Nam
đã chứng minh rằng đây là một tư tưởng hoàn toàn đúng đắn
2 Vận dụng tư tưởng HCM về độc lập dân tộc trong xây dựng và bảo
vệ tổ quốc Việt Nam hiện nay
2.1 Thực trạng
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, những năm qua, nước ta đã giành được nhiều thắng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Một là, xác định con đường đúng đắn, phù hợp với thực trạng tình hình của đất nước về mọi mặt
Về kinh tế: bước đầu xây dựng được các cơ sở kinh tế mang tính chất xã hội chủ nghĩa, từng bước cải thiện đời sống nhân dân và đã đạt được những thành tựu nổi bật: quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020, đạt 342,7 tỷ đô la
Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN,
Về văn hoá, xã hội, đời sống tinh thần: trong cách mạng dân tộc dân chủ, khối quần chúng công-nông-trí thức và các giai tầng xã hội khác đã có ý thức giác ngộ, đoàn kết trong một mặt trận dân tộc thống nhất; những nhân tố mới của văn hoá, giáo dục đã được hình thành dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh