Độc lập dân tộc phải được đặt trong khối thống nhất bền vững, đoàn kết chặt chẽ của các tộc người, giữa các tôn giáo và tất cả các giai cấp, quần chúng nhân dân trong nước và kiều bào ta
Trang 11 Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc.
Một là, độc lập dân tộc phải là độc lập thật sự, độc lập hoàn toàn với chủ
quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng an ninh
Theo Người độc lập dân tộc phải là một nền độc lập thật sự, tức là các quyền dân tộc
cơ bản phải được đảo bảo như độc lập – chủ quyền – thống nhất – toàn vẹn lãnh thổ Độc lập dân tộc phải gắn với quyền tự quyết của dân tộc trên tất cả các lĩnh vực đối nội và đối ngoại
Hai là, độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm
Bất kỳ một thế lực nào vi phạm quyền thiêng liêng của Việt Nam đều sẽ bị đánh trả
và “quét” sạch ra khỏi bờ cõi Việt Nam Bất kỳ thành viên nào trong dân tộc cũng đều phải có trách nhiệm bảo vệ nền độc lập trước sự tấn công của kẻ thù
Ba là, độc lập dân tộc phải gắn liền với hòa bình.
Theo Người chỉ có độc lập thật sự mới có một nền hòa bình chân chính; và chỉ có hòa bình chân chính, mới có độc lập dân tộc hoàn toàn.Không thể có độc lập dân tộc thực
sự khi đất nước còn có sự lệ thuộc, hoặc còn có sự hiện diện của quân đội nước ngoài
Bốn là, giá trị thực sự của độc lập dân tộc phải được thể hiện ở các quyền tự do và
hạnh phúc mà nhân dân được hưởng
Độc lập dân tộc phải được đặt trong khối thống nhất bền vững, đoàn kết chặt chẽ của các tộc người, giữa các tôn giáo và tất cả các giai cấp, quần chúng nhân dân trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài
1.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.
Thứ nhất:Về đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội
+ Về kinh tế: Là xã hội có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên LLSX hiện đại, KHKT tiên tiến và chế độ công hữu về các TLSX chủ yếu Đời sống nhân dân không ngừng được nâng lên
Về chính trị: Là chế độ do nhân dân làm chủ thông qua nhà nước của dân, do dân, vì dân Nhà nước phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân.Xây dựng CNXH là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
+ Về Văn hóa, tinh thần: Là xã hội phát triển cao về văn hóa, đạo đức; người với người là ban bè, là đồng chí, là anh em Con người có đời sống tinh thần tươi vui, lành mạnh và được giải phóng triệt để
+ Về xã hội: Là một xã hội công bằng, hợp lý, làm theo năng lực, hưởng theo lao động; không còn áp bức giai cấp, áp bức xã hội; thực hiện công bằng xã hội
Thứ hai: Về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chính là đặc trưng của CNXH sau ki được nhận thức và đạt tới trong quá trình xây dựng và phát triển CNXH
Về chế độ chính trị:Xây dựng chế độ do nhân dân là chủ và làm chủ
Về kinh tế:Xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp
hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến, được tạo lập trên cơ sở sở hữu công cộng về
tư liệu sản xuất
Trang 2Về văn hóa: Phát triển văn hóa là mục tiêu quan trọng của chủ nghĩa xã hội Bởi vậy,
cán bộ phải có văn hóa làm gốc, công nhân và nông dân phải biết văn hóa
Về quan hệ xã hội: Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người Thực hiện
công bằng xã hội là tạo ra động lực cho CNXH
Thứ ba: Chủ nghĩa xã hội tạo cơ sở củng cố, giữ vững độc lập dân tộc
- Chủ nghĩa xã hội sẽ xóa bỏ nguyên nhân kinh tế sâu xa của tình trạng người bóc lột người do chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất sinh ra
Chủ nghĩa xã hội sẽ triệt để giải phóng con người, phát triển lực lượng sản xuất, tạo bước phát triển chưa từng có cho dân tộc
- Chủ nghĩa xã hội là thực hiện cuộc cách mạng về kinh tế, văn hoá khoa học và kỹ thuật
Kết quả là tạo ra một cơ sở - nhân tố cơ bản để thực hiện củng cố, giữ vững độc lập
và phát triển dân tộc
- Chủ nghĩa xã hội là quá trình xây dựng và xác lập một xã hội dân chủ XHCN, là cơ
sở để Việt Nam củng cố, giữ vững độc lập dân tộc
Thứ tư, Những điều kiện bảo đảm cho độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
- Phải xác lập, củng cố, giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng:
- Xây dựng khối liên minh công – nông - trí thức vững chắc làm nền tảng xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc
- Thường xuyên gắn bó cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới
1.3 Quan niệm của HCM về mối quan hệ giữa ĐLDT với CNXH
- Độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp, trước hết
Hồ Chí Minh xác định:
+ Cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa
+ Cách mạng dân tộc dân chủ là cuộc cách mạng đầu tiên, trước hết để đòi độc lập cho dân tộc, được thể hiện ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (3/2/1930)
- Độc lập dân tộc là tiền đề đi lên chủ nghĩa xã hội
Độc lập dân tộc tạo ra các tiền đề để đi lên chủ nghĩa xã hội Thể hiện:
+ Về Chính trị: Xác lập và phát triển các thành tố của hệ thống chính trị như: Vai trò lãnh đạo của Đảng; thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất và thực hiện đoàn kết toàn dân; giành chính quyền và xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân
+ Về kinh tế: Từng bước xây dựng các cơ sở kinh tế có tính chất xã hội chủ nghĩa; bồi dưỡng sức dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất cho toàn dân, trước hết là những người lao động
+ Về văn hóa - xã hội: xây dựng nền văn hóa mới, xây dựng xã hội mới trên nền tảng của Chủ nghĩa Mác – Lênin
- Chủ nghĩa xã hội là bước phát triển tất yếu của độc lập dân tộc
Đi lên chủ nghĩa xã hội là bước phát triển tất yếu hợp lôgic sau khi giành được độc lập cho dân tộc Bởi vì:
+ Tiến lên chủ nghĩa xã hội là con đường cách mạng triệt để nhất, hợp với xu thế thời đại
kể từ sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga
Trang 3+ Chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất có thể giải phóng triệt để dân tộc, giai cấp, con người
1.4 Nội dung liên hệ: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trong thời ký đổi mới
- Bài học xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội
- Trong thời kỳ đổi mới đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Muốn vậy, phải:
+ Đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng
+ Xây dựng thành công CNXH đi đôi với bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN + Kết hợp nội lực với ngoại lực;
+ Xác định rõ lộ trình, bước đi để chủ động và tích cực hội nhập;
+ ĐLDT gắn liền với CNXH phải được thể hiện trong suốt quá trình đổi mới, trên mọi lĩnh vực;
+ Phải đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc lên trên hết
+ Phải giữ vững định hướng XHCN
1 Thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV - đại hội thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên chủ nghĩa
xã hội đã khẳng định: "Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, khi cả nước làm một nhiệm
vụ chiến lược hoặc làm hai nhiệm vụ chiến lược, Đảng ta từ khi ra đời đến nay vẫn luôn luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đó là đường lối, là sức mạnh, là nguồn gốc mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam" Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do Đại hội VII thông qua đã khẳng định trong thời kỳ đổi mới: "Toàn Đảng, toàn dân tiếp tục nắm vững ngọn cờ độc lập, dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và thế hệ mai sau”
Hiện nay, cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vẫn đang tiếp diễn Đảng ta khẳng định: "Trong giai đoạn đổi mới, phải giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”(4) Trong bất kỳ tình huống nào cũng phải thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trong quan hệ quốc tế phức tạp, chằng chéo như hiện nay, để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta, đòi hỏi phải có nhận thức sâu sắc các yếu tố tác động đến độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Chiến tranh lạnh trên thế giới kết thúc, hoà bình, hợp tác phát triển là xu thế chung, nhưng cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp vẫn diễn biến phức tạp, gay gắt Nguy cơ xung đột vũ trang và chiến tranh cục bộ vẫn chưa bị loại trừ; mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ nổ ra ở nhiều nơi và gây mất ổn định nhiều khu vực Chủ nghĩa
đế quốc đang lợi dụng ưu thế về kinh tế và kỹ thuật, nhân danh chống khủng bố, để thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” can thiệp vào công việc nội bộ các nước, buộc các nước xã hội chủ nghĩa, các nước đang phát triển đi vào quỹ đạo của chúng Hiện nay giao lưu kinh tế, giao lưu văn hoá giữa các dân tộc tăng lên Trong khi giao lưu văn hoá phát
Trang 4triển mạnh mẽ, thì các nước đang phát triển cũng đứng trước sự “xâm lăng văn hoá” từ phía các nước đế quốc Trong bối cảnh hiện nay, quan niệm về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội phải được chú ý toàn diện từ độc lập về lãnh thổ, về chủ quyền an ninh quốc gia đến độc lập, tự do về kinh tế, chính trị, văn hóa, lối sống và đạo đức xã hội Không thể có và không thể chấp nhận quan niệm nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia Việc rêu rao nhân quyền của các nước tư bản, trước hết là Mỹ, thực chất là một hình thức mỵ dân, lấy cớ nhân quyền đề can thiệp vào công việc nội bộ nước khác Không thể có độc lập tự do về chính trị nếu bị lệ thuộc về kinh tế Không thể giữ vững độc lập tự chủ nếu lối sống, đạo đức xã hội bị suy thoái, văn hoá dân tộc bị coi rẻ hoặc bị biến dạng Để thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược hiện nay cần chú ý một số nguyên tắc có tính chất phương pháp luận:
- Xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc trước hết phải bằng nguồn nội lực của đất nước, không lệ thuộc vào bên ngoài, nhưng phải biết tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi để gia tăng nguồn lực phát triển quốc gia Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại theo tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện thành công hai nhiệm vụ chiến lược
- Trên cơ sở nhận thức toàn cầu hoá, khu vực hoá và kinh tế là một tất yếu khách quan, từ
đó xác định rõ các bước đi và chủ động hội nhập phù hợp với năng lực của đất nước Hội nhập phải làm tăng sức mạnh đất nước và làm giàu bản sắc dân tộc
- Độc lập dân tộc gắn bó chặt chẽ với chủ nghĩa xã hội phải được thể hiện trong suốt quá trình cách mạng trên mọi lĩnh vực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
2 Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong tiến trình đổi mới
Ngày nay, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội chỉ có thể có được nếu Đảng và nhân dân
ta giải quyết thành công hàng loạt vấn đề trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, đối nội và đối ngoại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trung thành với con đường Hồ Chí Minh đã vạch ra Đảng ta khẳng định trong bất kỳ tình huống nào, cũng phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đề phòng và chống nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa
Hiện nay, đang xuất hiện nhiều vấn đề lý luận nằm trong tổng thể quan niệm chung về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Nhu cầu phát triển đất nước đang đặt ra, đòi lại phải nhận diện và hiểu biết về chủ nghĩa xã hội vừa mang tính tổng thể, vừa trong những chi tiết, đường nét cụ thể Do vậy, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trước hết cần làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản sau:
- Cả trong lý luận và thực tiễn cần khẳng định vấn đề định hướng đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội là duy nhất đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của dân tộc và xu thế thời đại
- Làm rõ và cụ thể hoá mục tiêu của đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội, trước hết là ở mục tiêu mang đậm bản chất nhân văn này
- Xác định rõ bản chất đặc trưng và mô hình cấu trúc của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
- Làm rõ các động lực phát triển của chủ nghĩa xã hội, trong đó động lực con người với nhu cầu và lợi ích của họ giữ vị trí trung tâm Mặt khác việc phát hiện động lực, có chính
Trang 5sách phát huy và kết hợp các động lực phát triển sẽ làm cho chủ nghĩa xã hội sinh động, năng động và mang tính thực tiễn
- Xác định rõ bước đi và cách làm chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trong công cuộc đổi mới hiện nay con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đang bị chi phối, tác động mạnh mẽ của rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan; thách thức rất lớn, nhưng cũng rất nhiều thời cơ, vận hội Trên cơ sở quan niệm đúng đắn của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lại có kinh nghiệm thực tiễn hơn 70 năm qua, đặc biệt là thực tiễn của gần 20 năm đổi mới, cho phép chúng
ta hiểu được thực chất con đường độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh hiện nay Độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội là nhu cầu sống còn, là sự lựa chọn duy nhất đúng của Việt Nam
Chú ý: Nếu câu hỏi đặt ra là: trình bày quan niệm của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa
ĐLDT với CNXH thì chỉ cần trình bày nội dung 1.3 là được
Nội dung liên hệ thì các ý như trên
2 Nội dung đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
- Lực lượng đại đoàn kết dân tộc
Lực lượng đoàn kết dân tộc theo Hồ Chí Minh bao gồm các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, các ngành, các giới, các lứa tuổi, các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam, đồng bào các tôn giáo, đảng phái…hợp thành khối đại đoàn kết rộng rãi toàn dân tộc
Trong đó, liên minh công – nông – trí thức là nền tảng, là gốc quyết định tính vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân
- Hình thức tổ chức đại đoàn kết dân tộc
- Hình thức tổ chức đại đoàn kết dân tộc theo Hồ Chí Minh là đoàn kết trong Mặt trận Dân tộc thống nhất
- Hồ Chí Minh yêu cầu:
Một là, Mặt trận phải lấy liên minh công – nông – trí thức là nền tảng.
Hai là, Mặt trận do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo.
- Vai trò của Mặt trận: là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng Việt
Nam
- Nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc
Thứ nhất, đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở thống nhất giữa lợi ích của quốc gia dân tộc với quyền lợi cơ bản của các giai tầng trong xã hội.
- Hồ Chí Minh đã tìm ra mẫu số chung về lợi ích dân tộc để xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc
+ Một là, chúng ta có chung nguồn gốc.
+ Hai là, chúng ta có chung mục tiêu “Không có gì quý hơn độc lập tự do”
Trên cơ sở đó Người đã xử lý hết sức khoa học các mối quan hệ giữa giai cấp – dân tộc – quốc tế Đặt quyền lợi, lợi ích của giai cấp thống nhất, nằm trong quyền lợi chung của cả dân tộc
Thứ hai, tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của nhân dân.
Vai trò to lớn của nhân dân trong mặt trận đại đoàn kết thể hiện:
+ Dân là gốc rễ, là nền tảng của đại đoàn kết
+ Dân là chủ thể của đại đoàn kết
Trang 6+ Dân là nguồn sức mạnh vô tận của khối đại đoàn kết
+ Dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng Cộng Sản và hệ thống chính trị
Thứ ba, đại đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; đoàn kết lâu dài, chặt chẽ.
Nội dung nguyên tắc:
+ Đoàn kết phải trên lập trường vô sản, theo ngọn cờ chủ nghĩa Mác – Lênin, đó là một tập hợp có tổ chức, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nền tảng là khối liên minh công – nông – trí thức
+ Người dân phải thực sự hiểu được: Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết
+ Đoàn kết phải trên gốc của liên minh công – nông
Thứ tư, đại đoàn kết phải chân thành, thẳng thắn, thân ái; đoàn kết phải gắn với
tự phê bình và phê bình.
- Cơ sở của nguyên tắc:
+ Các thành viên trong mặt trận vừa có mục tiêu chung là độc lập dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân nhưng vẫn tồn tại nhiều nguyện vọng riêng
+ Bên cạnh tính tích cực của nhiều thành viên vẫn còn nhiều thành viên chưa tốt
Vì vậy để phát huy điểm tích cực và khắc phục hạn chế phải tiến hành tự phê bình và phê bình, để khắc phục
+ Hồ Chí Minh đưa ra cách giải quyết đó là “cầu đồng tồn dị” - Lấy điểm chung làm điểm gắn kết nhưng cũng thừa nhận những điểm riêng, cái riêng không làm hại cái chung
+ Tự phê bình và phê bình phải trên tinh thần chân thành, thẳng thắn, nhân bản; phải có niềm tin vào tính hướng thiện của con người, phê bình việc chứ không phê bình người
- Phương pháp đại đoàn kết dân tộc
- Phương pháp tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục.
+ Mục đích: tuyên truyền, vận động nhằm làm cho mọi người thức tỉnh, để họ tự nguyện, tự giác tham gia vào tổ chức trong Mặt trận
+ Yêu cầu: muốn giáo dục, thuyết phục được quần chúng, điều quan trọng hàng đầu là phải có đường lối, chủ trương đáp ứng đúng nguyện vọng, quyền lợi của quần chúng
+ Nội dung tuyên truyền phải phản ánh đúng nguyện vọng và quyền lợi cơ bản của nhân dân
+ Hình thức tuyên truyền cần: Viết phải ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm
+ Đề cao vai trò nêu gương của bản thân người tuyên truyền
- Phương pháp tổ chức.
Đó là phương pháp xây dựng, củng cố, phát triển hệ thống chính trị, bao gồm: Đảng, Nhà nước, mặt trận và các đoàn thể nhân dân
+ Về Đảng: Đảng Cộng sản chính là người tổ chức, hướng dẫn, lãnh đạo khối đại đoàn kết Do vậy Đảng Cộng sản Việt Nam cần:
Phải là một đảng trí tuệ, cách mạng, thống nhất, phải luôn giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình
Đảng phải đề ra được đường lối đoàn kết đúng đắn
Trang 7Đảng phải là một tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật, tự giác
Đảng viên phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân
+ Về Nhà nước: Nhà nước là người tổ chức, quản lý đời sống xã hội
Yêu cầu:
Nhà nước phải đề ra chính sách thực hiện đại đoàn kết đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và phù hợp với thực tiễn
Cán bộ công chức nhà nước là “đầy tớ”, là “công bộc” của dân, phải tận tuỵ, trung thành phục vụ nhân dân
Không ngừng cải cách bộ máy hành chính và hoàn thiện hệ thống pháp luật
+ Về Mặt trận và các đoàn thể:
Mặt trận dân tộc thống nhất càng rộng rãi, càng chặt chẽ, thống nhất thì khối đại đoàn kết càng mạnh mẽ, càng bền vững
Hồ Chí Minh yêu cầu:
Phải xây dựng từ thấp đến cao phù hợp với yêu cầu và trình độ nhận thức của quần chúng
Phải đa dạng về hình thức để phù hợp với từng lứa tuổi, ngành nghề, từng giới Cương lĩnh, chương trình hành động của các đoàn thể phải rõ ràng, thiết thực, nội dung hoạt động phong phú, phù hợp với yêu cầu và nguyện vọng của quần chúng
Cán bộ các đoàn thể phải “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” với nhân dân; phải óc nghĩ, chân đi, mắt thấy, tai nghe, miệng nói, tay làm; phải hiểu được dân tâm, dân tình, dân sinh, dân ý…
- Phương pháp xử lý và giải quyết các mối quan hệ:
Đây là phương pháp kết hợp đồng bộ, hiệu quả các giải pháp để mở rộng nhất trận tuyến cách mạng, thu hẹp đến mức nhỏ nhất trận tuyến kẻ thù, xác định và chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chủ yếu nguy hiểm nhất
+ Đối với lực lượng cách mạng:
Khai thác, phát huy những điểm thống nhất, tương đồng;
Hạn chế, khắc phục, tiến tới xoá bỏ dần những khác biệt về mục tiêu, lợi ích Sự đoàn kết, thống nhất của lực lượng cách mạng là điều kiện tiên quyết giúp cho cách mạng thành công
+ Đối với lực lượng trung gian:
Xoá bỏ mọi thành kiến, mặc cảm,
Khơi gợi , cổ vũ ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước,
Chân thành hợp tác và trọng dụng những người có tài, có đức ra giúp dân giúp nước
+ Đối với lực lượng phản cách mạng:
Phương pháp của Hồ Chí Minh là chủ động, kiên quyết tiêu diệt trên cơ sở phân hoá cô lập chúng cao độ:
Theo dõi chặt chẽ, khai thác triệt để mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù
Lôi kéo, tranh thủ những lực lượng có thể tranh thủ được
Hoà hoãn tạm thời với những lực lượng, bộ phận còn có thể hoà hoãn được
Đối với các thế lực phản động nhất, ngoan cố nhất, Người “kiên quyết không ngừng thế tiến công” và “hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì phải tiếp tục chiến
Trang 8đấu quét sạch nó đi”.
Liên hệ tại địa phương, đơn vị
Trên cơ sở nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc để liên hệ việc thực hiện xây dựng khối đoàn kết ở địa phương, đơn vị Cần làm rõ được:
- Về quan điểm chỉ đạo?
- Hình thức tổ chức đại đoàn kết?
- Về nguyên tắc xây dựng khối doàn kết?
- Phương pháp?
Chú ý: Nếu chỉ yêu cầu liên hệ việc thực hiện nguyên tắc và phương pháp đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì nội dung là:
Thực hiện các nguyên tắc:
Thứ nhất, giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong địa phương, đơn
vị
Thứ hai, đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đoàn kết
tại địa phương, đơn vị
Thứ ba, tin dân, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn vướng mắc
của nhân dân; làm tốt công tác dân vận
- Thực hiện các biện pháp:
+ Xây dựng những chính sách nhằm tăng cường khối đoàn kết tại địa phương, đơn vị
+ Xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh, để Đảng thực sự là hạt nhân lãnh đạo khối đoàn kết
+ Phát huy mạnh mẽ vai trò của chính quyền trong việc thực hiện chính sách đoàn kết
+ Mở rộng và đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vị trí, vai trò của tổ chức Công đoàn và các đoàn thể nhân dân
+ Tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, nâng cao trách nhiệm công dân, xây dựng sự đồng thuận xã hội, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước
(Đây là các ý cơ bản còn khi vận dụng vào từng đơn vị thì phải tùy thuộc vào đặc điểm của đơn vị mình để vận dụng, thực hiện)
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết trong suốt sự nghiệp cách mạng của nước ta, đặc biệt là thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã quán triệt sâu sắc tư tưởng của Người về đại đoàn kết trong các văn kiện của Đảng, như: Nghị quyết số 07/NQ-TW, ngày 17/11/1993 của Bộ Chính trị (Khóa VII) về “Đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận thống nhất”; Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa IX), tháng 01/2004 về “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”…Nhờ có đường lối đại đoàn kết đúng đắn, sau 30 năm đổi mới đất nước toàn diện do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực, vị thế của đất nước trên quốc tế ngày càng tăng, kinh tế tăng trưởng, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt, chính trị ổn định…Tuy nhiên, đến giai đoạn hiện nay - giai đoạn toàn cầu hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế với sự biến động hết sức phức tạp, khó lường của tình hình quốc tế và trong nước, đó là: sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng
Trang 9chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn còn hiện hữu, khủng bố, đảo chính và xung đột vũ trang ngày càng gia tăng ở khắp các khu vực trên thế giới, tranh chấp căng thẳng ở Biển Đông…Còn trong nước nạn tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp, chưa thực sự được đầy lùi Đứng trước những nguy cơ này thì tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết lại càng thể hiện rõ giá trị lý luận và thực tiễn sinh động của nó Về lý luận thì đây là một chân lý khoa học vĩ đại, là chìa khóa hữu hiệu nhất để giải quyết mọi khó khăn, thách thức hiện nay của đất nước, chân lý này đã được Người căn dặn Đảng ta rất kỹ trong di chúc rằng:
“Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”, “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”; về thực tiễn phát huy được khối đại đoàn kết toàn dân tộc là tạo được “sức mạnh
vô địch” mà không có kẻ thù nào có thể chiến thắng được Vì vây, chỉ có dân chủ rộng rãi
và đại đoàn kết thực sự thì chúng ta mới bảo vệ vững chắc được độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội như điều mong muốn cuối cùng của Bác trước lúc vĩnh biệt dân tộc ta để về với thế giới người hiền
3 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân
- Quan niệm của Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân
1: Nhà nước của dân
Quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh là xác lập tất cả mọi quyền lực trongnhà nước và trong xã hội đều thuộc về nhân dân Trong 24 năm làm Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh đã
lãnh đạo soạn thảo hai bản Hiến pháp, đó là Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm
1959 Quan điểm trên của Người được thể hiện trong các bản Hiến pháp đó Chẳng hạn, Hiến pháp năm 1946 nêu rõ: tất cả quyền bính trong nước đều là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo; những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra toàn dân phúc quyết
Nhân dân lao động làm chủ Nhà nước thì dẫn đến một hệ quả là nhân dân có quyền kiểm soát Nhà nước, cử tri bầu ra các đại biểu, ủy quyền cho các đại biểu đó bàn và quyết định
những vấn đề quốc kế dân sinh Đây thuộc về chế độ dân chủ đại diện bên cạnh chế độ dân chủ trực tiếp Quyền làm chủ và đồng thời cũng là quyền kiểm soát của nhân dân thể hiện ở chỗ nhân dân có quyền bãi miễn những đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nào nếu những đại biểu đó tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân
- Là nhà nước của cả dân tộc
- Dân là chủ
- Quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân
- Dân là người có địa vị cao nhất, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của quốc gia, dân tộc
- Cán bộ, công chức là người được nhân dân ủy quyền, là “đầy tớ”, là “công bộc” của nhân dân
2: Nhà nước do dân – dân làm chủ nhà nước
Trang 10Nhà nước do dân lập nên, do dân ủng hộ, dân làm chủ Chính vì vậy, Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh nhiệm vụ của những người cách mạng là phải làm cho dân hiểu, làm cho dân giác ngộ để nâng cao được trách nhiệm làm chủ, nâng cao được ý thức trách nhiệm chăm lo xây dựng nhà nước của mình Hồ Chí Minh khẳng định: việc nước là việc chung, mỗi người đều phải có trách nhiệm "ghé vai gánh vác một phần" Quyền lợi, quyền hạn bao giờ cũng đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ
Hồ Chí Minh đã nêu lên quan điểm dân là chủ và dân làm chủ Dân là chủ có
nghĩa là xác định vị thế của dân, còn dân làm chủ có nghĩa là xác định quyền, nghĩa vụ của dân Trong nhà nước của dân, với ý nghĩa đó, người dân được hưởng mọi quyền dân chủ Bằng thiết chế dân chủ, nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm quyền làm chủ của dân, để cho nhân dân thực thi quyền làm chủ của mình trong hệ thống quyền lực của xã hội Quyền lực của nhân dân được đặt ở vị trí tối thượng Điều này có ý nghĩa thực tế nhắc nhở những người lãnh đạo, những đại biểu của nhân dân làm đúng chức trách và vị thế của mình, không phải là đứng trên nhân dân, coi khinh nhân dân, "cậy thế" với dân,
"quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân" Một nhà nước như thế là một nhà nước tiến bộ trong bước đường phát triển của nhân loại Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh khai sinh ngày 2-9-1945 chính là Nhà nước tiến bộ chưa từng
có trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam bởi vì Nhà nước đó là nhà nước của dân, nhân dân có vai trò quyết định mọi công việc của đất nước
- Nhân dân là người tổ chức nên các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương thông qua chế độ tổng tuyển cử, bỏ phiếu
- Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu, cơ quan nhà nước, Chính phủ nếu như đại biểu, cơ quan nhà nước, chính phủ đi ngược lại lợi ích của nhân dân
- Nhân dân có quyền tham gia công việc quản lý nhà nước
- Nhân dân có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước
- Nhân dân có nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Nhà nước, làm cho nhà nước ngày càng hoàn thiện, trong sạch, vững mạnh
3: Nhà nước vì dân Là nhà nước phục vụ nhân dân
Nhà nước vì dân là một nhà nước lấy lợi ích chính đáng của nhân dân làm mục tiêu, tất cả đều vì lợi ích của nhân dân, ngoài ra không có bất cứ một lợi ích nào khác Đó
là một nhà nước trong sạch, không có bất kỳ một đặc quyền, đặc lợi nào Trên tinh thần
đó Hồ Chí Minh nhấn mạnh: mọi đường lối, chính sách đều chỉ nhằm đưa lại quyền lợi cho dân; việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố gắng làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng cố gắng tránh Dân là gốc của nước Hồ Chí Minh luôn luôn tâm niệm: phải làm cho dân có ăn, phải làm cho dân có mặc, phải làm cho dân có chỗ ở, phải làm cho dân được học hành Cả cuộc đời Người "chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân" Hồ Chí Minh viết: "khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, ủy thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng - cũng vì mục đích đó"
Một Nhà nước vì dân, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, là từ chủ tịch nước đến công chức bình thường đều phải làm công bộc, làm đày tớ cho nhân dân chứ không phải
"làm quan cách mạng" để "đè đầu cưỡi cổ nhân dân" như dưới thời đế quốc thực dân