2 TRƯỜNG KHOA THU HOẠCH PHÂN TÍCH NỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC LIÊN HỆ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH CỦA KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC HIỆN NAY Họ tên học viên Mã số học viên Lớp , 2022 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I NỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 2 1 1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 2 1 2 Những nội dung cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 5 II LIÊN HỆ SỰ VẬ.
Trang 1KHOA …
THU HOẠCH
PHÂN TÍCH NỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC LIÊN HỆ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH CỦA KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC
HIỆN NAY
Họ tên học viên:……….
Mã số học viên:
Lớp:……….,
- 2022
Trang 2Trang
I NỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết
1.2 Những nội dung cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kếtdân tộc 5
II.
LIÊN HỆ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH CỦA KHỐI
2.1 Đảng ta lãnh đạo phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kếttoàn dân tộc trong quá trình đổi mới đất nước 9
2.2
Đảng lãnh đạo phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị trong xây dựng khối đoàn kết toàn dân đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 12 2.3 Đoàn kết rộng rãi các giai cấp các tầng lớp nhân dân trên cơsở liên minh công - nông - trí thức 13
2.4
Đảng lãnh đạo tăng cường đoàn kết quốc tế trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, hội nhập
Trang 3MỞ ĐẦU
Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới, là Người sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam Tư tưởng của Người về đại đoàn kết dân tộc là sự kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống dân tộc và thời đại; là sự sáng tạo những giá trị mới, làm phong phú kho tàng trí tuệ của dân tộc Việt Nam; là ngọn cờ tập hợp mọi người Việt Nam yêu nước, thiết tha mong muốn dân tộc được độc lập, đất nước được thống nhất dân chủ và giàu mạnh
Trong những cống hiến to lớn của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Người là một cống hiến đặc sắc, có giá trị lý luận và giá trị thực tiễn hết sức quan trọng là một trong những nhân tố quan trọng nhất bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay, kế thừa và phát triển tư tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, Đảng ta chủ trương “thực hiện đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, thành phần, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi thành viên trong đại gia đình Việt Nam, dù sống ở trong nước hay định
cư ở nước ngoài; phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc, lấy mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng; củng cố và phát triển sâu rộng khối đại đoàn kết toàn dân trong Mặt trận tổ quốc trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân gắn với việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng”1 [2, tr.90] Do đó, nghiên cứu vấn đề “Phân tích nội dung cơ bản tư
tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Liên hệ sự vận dụng của Đảng cộng sản Việt Nam về phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay?” làm đề tài thu hoạch có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
1 Nguyễn Trọng Đại, Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới,
Tạp chí Giáo dục và thời đại, số 178/2018.
Trang 4NỘI DUNG
I NỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được hình thành trên những cơ sở tư tưởng - lý luận và thực tiễn rất phong phú
Trước hết là tinh thần yêu nước gắn liền với ý nghĩa cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, đoàn kết dân tộc đã được hình thành và củng cố trong hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của cả dân tộc, tạo thành một truyền thống bền vững, thấm sâu vào tư tưởng tình cảm, tâm hồn của mỗi con người Việt Nam Tinh thần ý thức ấy đã tạo nên sức mạnh vô địch của cả một dân tộc để chiến thắng mọi thiên tai địch họa, làm cho đất nước được trường tồn, bản sắc dân tộc được giữ vững
Đối với mỗi người Việt Nam, yêu nước - nhân nghĩa, đoàn kết đã trở thành một tình cảm tự nhiên: Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng Tất cả đã ghi đậm dấu ấn trong cấu trúc xã hội truyền thống, tạo thành quan hệ ba tầng chặt chẽ: gia đình - làng xã - quốc gia và cũng trở thành sợi dây liên kết các dân tộc, các giai tầng trong xã hội Việt Nam
Truyền thống ấy không chỉ được phản ánh trong kho tàng văn học dân gian, mà còn được những anh hùng dân tộc ở các thời kỳ lịch sử khác nhau như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trải, Quang Trung đúc kết nâng lên thành phép đánh giặc, giữ nước, “tập hợp bốn phương manh lệ”, “trên dưới đồng lòng,
cả nước chung sức”, “tướng sĩ một lòng phụ tử”, “khoan thư sức dân làm kế sâu
rễ bền gốc”, “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”… Truyền thống ấy được tiếp nối trong tư tưởng tập hợp lực lượng dân tộc của các nhà yêu nước trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược và các thế lực phong kiến tiếp tay cho ngoại bang, mà tiêu biểu nhất là cụ Phan Bội Châu và cụ Phan Chu Trinh ở một phần tư đầu thế kỷ XX
Trang 5Hồ Chí Minh đã sớm tiếp thu được truyền thống yêu nước đoàn kết của dân tộc Người đã khẳng định: từ xưa đên nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn (đoàn kết), nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn,, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước
và lũ cướp nước Hơn nữa còn phải phát huy truyền thống đó trong giai đoạn cách mạng mới của dân tộc: “Phải ra sức giải thích, tuyên truyền tổ chức lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”2 [3, tr.190] Về mặt thực tiễn, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở tổng kết dân tộc những kinh nghiệm của phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng của nhiều nước trên thế giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa Những thành công hay thất bại của các phong trào ấy đều được Người nghiên cứu để rút ra những bài học cần thiết cho việc hình thành tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc
Phong trào yêu nước Việt Nam đã diễn ra rất mạnh mẽ từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta Từ các phong trào Cần Vương, Văn Thân, Yên Thế, cuối thế kỷ XIX, đến các phong trào Đông Du, Duy Tân chống thuế đầu thế kỷ
XX đều bị thất bại Thực tiễn hào hùng, bi tráng của dân tộc đã chứng tỏ rằng, bước vào thời đại mới chỉ có tinh thần yêu nước thì không thể đánh bại được các thế lực xâm lược Vận mệnh đất nước đòi hỏi phải có một lực lượng lãnh đạo cách mạng mới, đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử và những yêu cầu của thời đại mới, đủ sức quy tụ được cả dân tộc vào cuộc đấu tranh chống đế quốc thực dân xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân tộc bền vững thì mới giành được thắng lợi Trước khi ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã thấy được những hạn chế trong việc tập hợp lực lượng của các nhà lịch sử dân tộc Đây chính là điểm xuất phát để Hồ Chí Minh xác định: Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và nước khác Sau khi xem họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta
2 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011.
Trang 6Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tiến hành khảo sát tình hình các nước tư bản chủ nghĩa và các nước châu lục ở hầu hết các châu lục Người đã nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản, đặc biệt là cách mạng Mỹ
và Cách mạng Pháp, nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của giai cấp tư sản cũng như tại sao các cuộc cách mạng tư sản vẫn chỉ là cách mạng “không đến nơi” Tổng kết thực tiễn đấu tranh của các dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh thấy rõ sức mạnh tiềm ẫn to lớn của họ, và cũng thấy rõ những hạn chế: các dân tộc thuộc địa chưa có được sự lãnh đạo đúng đắn, chưa biết đoàn kết lại, chưa có tổ chức
và chưa biết tổ chức
Cách mạng tháng Mười Nga cùng với Lênin, người lãnh đạo thắng lợi cuộc cách mạng đó, đã đưa Hồ Chí Minh đến bước ngoặt quyết định trong việc tìm đường cứu nước Từ chỗ chỉ biết đến cách mạng tháng Mười một cách cảm tính, Người đã nghiên cứu để hiểu một cách thấu đáo con đường cách mạng tháng Mười, và những bài học kinh nghiệm quý báu mà cuộc cách mạng này đã đem lại cho phong trào cách mạng thế giới ; đặc biệt là bài học về huy động, tập hợp lực lượng quần chúng công nông đông đảo để giành và giữ chính quyền cách mạng để đánh tan sự can thiệp của 14 nước đế quốc để xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, mở ra một thời đại mới cho lịch sử nhân loại Hồ Chí Minh nghiên cứu cách mạng tháng Mười không chỉ phải qua sách vở, mà còn ngay trên đất nước của Lênin Điều này đã giúp Người hiểu sâu sắc thế nào là một cuộc “cách mạng đến nơi”, để chuẩn bị cho việc lãnh đạo nhân dân Việt Nam đi vào con đường cách mạng mới những năm sau này
* Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về đoàn kết dân tộc
Cở Sở lý luận quan trọng nhất đối với quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng phải trở thành dân tộc, liên minh công nông
là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng, đoàn kết dân tộc phải gắn với đoàn kết quốc tế, “vô sản các nước, đoàn kết lại”, “vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại”3 [1, tr.178]
3 C.Mác và Ph.ăng-ghen toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 1976
Trang 7Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác-Lênin là vì chủ nghĩa Mác-Lênin, đã chỉ ra cho các dân tộc bị áp bức con đường tự giải phóng, đã chỉ ra sự cần thiết
và con đường tập hợp, đoàn kết các lực lượng cách mạng trong phạm vi từng nước và trên thế giới để giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc đấu tranh chống đế quốc chủ nghĩa thực dân Nhờ đó Người đã có cơ sở khoa học để đánh giá chính xác yếu tố tích cực cũng như những hạn chế trong các di sản truyền thống, trong tưởng tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và các nhà cách mạng lớn trên thế giới, những bài học rút ra từ cách mạng các nước, từ đó hình thành và hoàn chỉnh tư tưởng của Người về đại đoàn kết dân tộc
1.2 Những nội dung cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
* Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh có ý nghĩa chiến lược, nó
là một tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam,
đó là chiến lược tập hợp lực lượng có thể tập hợp được, nhằm hình thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh với kẻ thù dân tộc, giai cấp
Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, có thể và cần thiết phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp cho phù hợp với những đối tượng khác nhau, nhưng đại đoàn kết dân tộc phải luôn được nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng Hồ Chí Minh đã nêu ra những luận điểm có tính chân lý:
Đoàn kết làm ra sức mạnh; “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”.“Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”, “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”
Đoàn kết là điểm mẹ “Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt” Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công”4
[4, tr.154]
* Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng
4 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011.
Trang 8Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, lực lượng lãnh đạo cách mạng duy nhất đối với cách mạng Việt Nam Trong Lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng lao động Việt Nam ngày 3-3-1951, Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng tuyên bố trước toàn thể dân tộc: “Mục đích của Đảng lao động Việt Nam có thể gồm 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự tổ quốc”5 [5, tr.192] Nói chuyện với cán bộ tuyên huấn miền núi về cách mạng xã hội chủ nghĩa, Người chỉ rõ: Trước cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến, thì nhiệm vụ tuyên huấn là làm sao cho đồng bào các dân tộc hiểu được mấy việc Một là đoàn kết Hai là làm cách mạng hay kháng chiến để đòi độc lập Chỉ đơn giản thế thôi Bây giờ mục đích tuyên truyền huấn luyện là: “Một là đoàn kết Hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội Ba là đấu tranh thống nhất nước nhà”
Đại đoàn kết dân tộc không phải chỉ là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc Như vậy đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi khách quan của bản thân quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng, là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng, Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn chuyển những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức, thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho con người
* Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, các khái niệm Dân, Nhân dân, có nội hàm rất rộng Người dùng các khái niệm này để chỉ “mọi con dân nước Việt”, “mỗi một người con Rồng cháu Tiên”, không phân biệt dân tộc thiểu số với dân tộc đa
số, người tín ngưỡng với người không tín ngưỡng, không phân biệt “già, trẻ, gái trai, giàu nghèo, quý tiện” Như vậy, Dân, Nhân dân vừa là một tập hợp đông đảo quần chúng, vừa được hiểu là mỗi con người Việt Nam cụ thể, và cả hai đều
là chủ thể của đại đoàn kết dân tộc Nói đến đại đoàn kết dân tộc cũng có nghĩa
là phải tập hợp đựơc mọi người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung
5 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011.
Trang 9Người đã nhiều lần nêu rõ: “Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của tổ quốc; ta phải còn đoàn kết để xây dựng nước nhà Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ” Ta ở đây vừa là Đảng, vừa là mọi người dân của tổ quốc Việt Nam Với tinh thần đoàn kết rộng rãi, Người đã dùng khái niệm đại đoàn kết dân tộc để định hướng cho việc xây dựng khối đoàn kết toàn dân trong suốt tiến trình của cách mạng Việt Nam
* Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất, thông qua
tổ chức Mặt trận dân tộc thống nhất
Đại đoàn kết dân tộc không thể chỉ dừng lại ở quan niệm, ở tư tưởng, ở
những lời kêu gọi, mà phải trở thành một chiến lược cách mạng, trở thành khẩu hiệu của toàn Đảng, toàn dân ta Nó phải biến thành sức mạnh vật chất có tổ chức
Tổ chức thể hiện khối đoàn kết dân tộc chính là mặt trận dân tộc thồng nhất
Cả dân tộc hay toàn dân chỉ trở thành lực lượng to lớn, trở thành sức mạnh vô địch khi được giác ngộ về mục tiêu chiến đấu chung, được tổ chức lại thành một khối vững chắc và hoạt động theo đường lối chính trị đúng đắn Nếu không thế, quần chúng nhân dân dù có hàng triệu, hàng triệu con người cũng chỉ
là một số đông không có sức mạnh Thất bại của phong trào yêu nước trước kia
đã chứng minh rất rõ vấn đề này
Ngay từ khi tìm thấy con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã rất chú ý đến việc đưa quần chúng nhân dân vào những tổ chức yêu nước phù hợp với từng giai tầng, từng giới, từng ngành nghề, từng lứa tuổi, từng tôn giáo; hơn nữa còn phù hợp với từng bước phát triển của phong trào cách mạng Đó là các hội hữu
ái, hay tương trợ, công hội hay nông hội, đoàn thanh niên hay phụ nữ, đội thiếu niên nhi đồng hay hội phụ lão, hội phật giáo cứu quốc, công giáo yêu nước hay hội nghiệp đoàn, vv Và bao trùm nhất là Mặt trận dân tộc thống nhất, nơi quy
tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, tập hợp mọi con dân nước Việt, không phải chỉ ở trong nước mà còn bao gồm cả những người Việt Nam định cư ở nước ngoài, dù ở bất cứ phương trời nào nếu tấm lòng vẫn hướng về quê hương đất nước, về tổ quốc Việt Nam
Trang 10Tuỳ theo từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, Mặt trận dân tộc thống nhất có thể có những tên gọi khác nhau; Hội phản đế đồng minh (1930), Mặt trận dân chủ (1936), Mặt trận nhân dân phản đế (1939), Mặt trận việt minh (1941), Mặt trận liên việt (1946), Mặt trận giải phóng Miền Nam (1960), Mặt trận tổ quốc Việt Nam (1955), (1976), nhưng thực chất chỉ là một, đó là tổ chức chính trị rộng rãi, tập hợp đông đảo các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, các tổ chức và cá nhân yêu nước ở trong nước và nước ngoài, phấn đấu vì mục tiêu chung là độc lập, thống nhất của tổ quốc và tự do, hạnh phúc của nhân dân Mặt trận phải có cương lĩnh, điều lệ phù hợp với yêu cầu, nhiệm
vụ của từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng
* Đảng cộng sản vừa là thành viên của Mặt trận dân tộc thống nhất, lại vừa là lực lượng lãnh đạo Mặt trận, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững chắc.
Theo Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam không phải chỉ là sản phẩm của sự kết hợp của chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân, mà còn với
cả phong trào yêu nước Việt Nam Bởi lẽ, Đảng ra đời trong bảo táp cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân gắn chặt với cuộc đấu tranh của cả dân tộc Những người tham gia Đảng cộng sản không phải chỉ là những người tiên tiến thuộc giai cấp công nhân, mà số đông lại là những người tiên tiến thuộc giai cấp nông dân, tiểu tư sản, các tầng lớp lao động chân tay và trí óc, kể cả những người vốn thuộc các giai cấp bóc lột đã từ bỏ lợi ích và hệ tư tưởng của giai cấp mình, giác ngộ lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Vì vậy, Đảng vừa là Đảng của giai cấp công nhân, lại vừa là Đảng của nhân dân lao động và của cả dân tộc Luận điểm này của Hồ Chí Minh hoàn toàn khác với luận điểm về “đảng toàn dân” của những người theo chủ nghĩa xét lại đã nêu ra trong những năm 60 của thế kỷ XX Theo Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân vì Đảng mang bản chất giai cấp công nhân và “lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm gốc” Là Đảng của nhân dân lao động và của cả dân tộc, vì Đảng ra đời trong lòng giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đại biểu cho cả lợi ích dân tộc Hơn nữa, trong cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng đặt lợi ích dân tộc