Các đợt kiểm kê khí nhà kính được tiến hành ở các ngành kinh tế chính có các mức phát thải cao, bao gồm năng lượng; các quy trình công nghiệp; sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm
Trang 1Phát thải khí nhà kính, các phương án giảm thiểu ở Việt Nam và
các dự án hỗ trợ của Liên hợp quốc
Bản tin ngày 5 tháng 2 năm 2013
Việt Nam đã ký Công ước khung Liên Hiệp Quốc (LHQ) về biến đổi khí hậu (BĐKH) ngày 11 tháng 6 năm 1992
và phê chuẩn Công ước ngày 16 tháng 11 năm 1994 Việt Nam đã ký Nghị định thư Kyoto ngày 3 tháng 12 năm
1998 và phê chuẩn Nghị định thư ngày 25 tháng 9 năm 2002 Bản tin chuyên đề này tập trung vào phát thải khí nhà kính và tiềm năng giảm thiểu của Việt Nam
1 PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH, SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG VÀ ĐỘ CHE PHỦ RỪNG
Việt Nam đã tiến hành 05 đợt kiểm kê quốc gia về khí nhà kính (GHG), bao gồm:
1 1990: do các Chuyên gia Kỹ thuật Quốc gia thực hiện trong khuôn khổ dự án “Biến đổi khí hậu ở Châu
Á: Việt Nam”;
2 1993: do các Chuyên gia Kỹ thuật Quốc gia thực hiện trong khuôn khổ dự án “Chiến lược giảm khí nhà
kính với kinh phí thấp nhất ở Châu Á (ALGAS)”;
3 1994: tiến hành trong quá trình xây dựng Thông báo quốc gia lần thứ nhất trong khuôn khổ của Công
ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC);
4 1998: tiến hành trong Sáng kiến quốc gia;
5 2000: thực hiện trong quá trình xây dựng Thông báo quốc gia lần thứ hai trong khuôn khổ Công ước
khung của Liên Hiệp Quốc về về biến đổi khí hậu (UNFCCC)
Các đợt kiểm kê khí nhà kính được tiến hành ở các ngành kinh tế chính có các mức phát thải cao, bao gồm năng lượng; các quy trình công nghiệp; sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF); nông nghiệp; và chất thải (xem Hình 1) Đợt kiểm kê năm 1994 về ngành năng lượng không tính gộp các mức phát thải từ việc sử dụng củi đốt, mặc dù củi đốt là một nguồn năng lượng quan trọng ở Việt Nam Những thông tin này được Việt Nam báo cáo trong các Thông báo quốc gia lần thứ nhất và lần thứ hai (SNC) theo quy định của Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về về biến đổi khí hậu (UNFCCC)
Hình 1 Tóm tắt kết quả kiểm kê khí nhà kính các năm 1994, 1998 và 20001
Năm
Ngành
Phát thải khí CO2tương đương (triệu tấn)
% Phát thải khí CO2
tương đương (triệu tấn)
% Phát thải khí CO2
tương đương (triệu tấn)
Trang 2 Tiêu thụ năng lượng sơ cấp tăng với tỷ lệ trung bình là 6,5% năm, từ 32,235 triệu tấn dầu tương đương (MTOE) năm 2000 lên 50,221 MTOE năm 2007 (xem Hình 2)2
Hình 2 Tổng mức tiêu thụ năng lượng sơ cấp theo loại năng lượng
Năm Loại năng lượng
(Đơn vị: triệu tấn dầu tương đương (MTOE) mỗi năm) 3
Tuy nhiên, số liệu của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) có khác đôi chút Tổng năng lượng sơ cấp các năm 2000, 2003 và 2007 nhẽ ra tương ứng với 37,1 , 44,0 và 55,8 MTOE, trong đó 22,4 , 23,3 và 24,5 MTOE là “năng lượng tái tạo và chất thải dễ cháy” (thay vì “năng lượng phi thương mại” như ở Hình 2), giảm tới 44% năng lượng sơ cấp sử dụng trong năm 2007 Tỷ lệ các nhiên liệu hóa thạch (than, dầu và khí đốt) tăng từ 20,4% năm 1990 lên 51,4% năm 2007 (xem Hình 3) Tăng tiêu thụ dầu trong giao thông, cũng như than và khí đốt trong phát điện đã tạo ra những chuyển dịch đó
Hình 3 Tổng nhu cầu năng lượng sơ cấp theo loại nhiên liệu và GDP 1971 - 20074
Dầu thô, chất lỏng khí
Than đá và các sản phẩm từ than đã
GDP thực (trục bên phải)
Trang 3 Cường độ năng lượng của Việt Nam đã giảm vào khoảng 35%, từ 400 KgOE/1,000 USD GDP (PPP) năm
1991 xuống khoảng 260 KgOE/1,000 USD năm 20085, nhưng cao hơn các nước có thu nhập trung bình tính bình quân vào khoảng 13% năm 2008: Việt Nam sử dụng năng lượng trên đầu người ít hơn hầu hết các nước có thu nhập trung bình, nhưng sử dụng năng lượng kém hiệu quả hơn6 (xem Hình 3, cùng các Hình 8
& 9)
Các nhiên liệu hóa thạch ngày càng có ý nghĩa quan trọng đối với ngành điện ở Việt Nam Năm 1995 thủy điện chiếm 72% của tổng sản lượng điện 14,6 TWh (tỷ Wat/giờ), nhưng đến 2010 thủy điện chỉ chiếm vào khoảng 24% của tổng sản lượng điện 97,3 TWh Từ năm 1995 đến 2010, phát điện tuốc bin khí đã mở rộng
từ 746 MWh (triệu Wat/h) lên 45 TWh (khoảng từ 5% lên tới 46% sản lượng điện) và phát điện từ các nhà máy nhiệt điện đốt than tăng từ 2 TWh lên hơn 16,5 TWh (từ khoảng 13% lên 17%), cùng lúc đó mức nhập khẩu điện từ Trung Quốc cũng tăng lên7 (xem Hình 4, so sánh với Hình 25)
Hình 4 Những thay đổi trong cơ cấu sản xuất điện của Việt Nam 1995-2010 (TWh)8
Mức tiêu thụ năng lượng tính theo ngành đang chuyển dịch với xu hướng tăng lên trong lĩnh vực công nghiệp và giao thông, và với tỷ lệ giảm lượng tiêu thụ ở hộ gia đình (xem Hình 5, theo Thông báo quốc gia lần thứ hai)
Hình 5 Cơ cấu tiêu thụ năng lượng theo ngành9
Ngành Tiêu thụ năng lượng năm 2000 Tiêu thụ năng lượng năm 2007
Trang 4 Việt Nam là nước hoàn toàn xuất khẩu năng lượng (xem Hình 6, Hình 7) song tăng trưởng kinh tế nhanh
đã dẫn đến nhu cầu năng lượng tăng mạnh và nhiều khả năng Việt Nam sẽ trở thành nước nhập khẩu năng lượng hoàn toàn vào năm 2015-2016 (lưu ý xu thế này được trình bày ở Hình 7 và xem phần 2).10
Hình 6 Nhập khẩu và xuất khẩu năng lượng (2000-2009)11
Hình 7 Thực nhập năng lượng giai đoạn 1994-2009 (% sử dụng năng lượng)12
Theo Văn phòng Biến đổi khí hậu và Bảo vệ tầng ôzôn quốc gia, tính đến tháng 9 năm 2012, Việt Nam có
140 dự án cơ chế phát triển sạch (CDM) được Ban Điều hành CDM đăng ký với tổng mức cắt giảm phát thải là 67,8 triệu tấn CO2 tương đương (CO2e)13
Công suất phát điện theo thiết kế năm 2010 tổng cộng là 21.542 MW14 Hình 8 trình bày tỷ lệ nhiên liệu theo loại công suất thiết kế phát điện năm 2010, cho thấy mức sử dụng các nhiên liệu hóa thạch là đáng
kể
Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, GDP tính theo sức mua tương đương (PPP) trong từng đơn vị năng lượng sử dụng tính theo kilôgam dầu tương đương ở Việt Nam tăng trong giai đoạn 1990-200915, thể hiện những cải thiện trong sử dụng năng lượng có hiệu quả, cho dù có bị chững lại trong những năm gần đây (xem Hình 9)
Trang 5Hình 8 Công suất thiết kế theo nhiên liệu (2010)16
Hình 9 GDP trong từng đơn vị năng lượng sử dụng (tính theo USD dựa vào chuyển đổi sức mua
tương đương năm 2005 trong từng kilogram dầu tương đương) (1990-2009)17
Sử dụng năng lượng (kilôgam dầu tương đương ) trong từng 1000 đô la Mỹ GDP (PPP) ở Hình 10 là ngược lại với “GDP (PPP) trong từng đơn vị năng lượng sử dụng” ở Hình 9 (nhưng xin lưu ý là, nguồn số liệu của những con số đó khác nhau) Các số liệu cho thấy mặc dù hiệu quả năng lượng có phần cải thiện, nhưng sự cải thiện hàng năm ở mức độ khiêm tốn và không tách rời được việc tăng trưởng từ mức tiêu thụ năng lượng
Coal thermal18.5%
Oil thermal2.7%
Gas Turbine, CCGT31.4%
Import4.7%
Diesel2.5%
Gas thermal2.2%
SPP, Renewable3.2%
Trang 6Hình 10 Năng lượng sử dụng (kg dầu tương đương) cho từng 1,000 đô la Mỹ GDP (tính theo đô la
Mỹ dựa vào chuyển đổi sức mua tương đương năm 2005 (1990-2008)18
Sự phát thải khí CO2 (tổng số, theo đâu người và theo từng đơn vị đô la Mỹ GDP (PPP)) được nhấn mạnh bằng chỉ số 7.2 trong khung Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ (MDG) Mức phát thải CO2 theo đầu người
đã tăng hơn 4 lần trong giai đoạn 1990-2007, từ 0,32 tấn CO2 năm 1990 lên 1,46 tấn CO2 năm 2008 (xem Hình 11)19
Hình 11 Mức phát thải CO2, tấn CO2 đầu người (1990-2008)20
Trang 7 Tổng phát thải CO2 bao gồm các ngành năng lượng, các quy trình công nghiệp, nông nghiệp, chất thải, cũng như ngành sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp Tổng mức phát thải CO2 ở Việt Nam tăng them 6 lần trong giai đoạn 1990-2008 (xem Hình 12)21
Hình 12 Phát thải khí (CO2) (đơn vị nghìn tấn CO2) (1990-2008)22
Mức phát thải CO2 đơn vị kg trong từng đô la Mỹ GDP (PPP) trong giai đoạn 1990-2008 đạt giá trị cao nhất
là 0.62 kg CO2năm 2004và các năm sau đó bắt đầu giảm23, như trình bày trong Hình 13
Hình 13 Các mức phát thải CO2, kg CO2 trên USD GDP (PPP) ở Việt Nam (1990-2008)24
Trang 8 Tỷ lệ diện tích đất được rừng che phủ là chỉ số 7.1 trong khuôn khổ các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) Năm 1943, Việt Nam có 14,3 triệu ha rừng tự nhiên, chiếm 43% tổng diện tích đất Tuy nhiên đến
1990, độ che phủ rừng đã giảm mạnh xuống còn 9,18 triệu ha, hay 27% tổng diện tích đất cả nước Từ năm 1995, diện tích rừng đã tăng liên tục nhờ trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên25 Đến cuối 2010, tổng diện tích có rừng đạt 13.39 triệu ha, hay 39.5% tổng diện tích đất, bao gồm 10.30 triệu ha rừng tự nhiên và 3.08 triệu ha rừng trồng26 (xem Hình 14 và Hình 15)
Hình 14 Xu hướng thay đổi của diện tích và độ che phủ rừng, 1943-201027
Hình 15 Độ che phủ rừng năm 2010 (ha)28
Diện tích 2010 (ha) % diện tích đất cả nước Tổng diện tích rừng
Trang 92 SO SÁNH VỚI CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Hình 16 Phát thải CO2 /người năm 1990 & 200930
Những so sánh với các nước trên thế giới
được thực hiện dựa trên dữ liệu báo cáo của
các quốc gia Mặc dù các dữ liệu thường
không cập nhật, nhưng việc so sánh vẫn
mang lại những thông tin hữu ích
(Xem Hình 16)
Sự so sánh cho thấy, Hoa Kỳ, Canada, Liên
bang Nga, Vương quốc Anh và Pháp có xu
hướng giảm phát thải trong giai đoạn
1990-2009
Phát thải của Trung Quốc đang tăng mạnh,
nhưng lượng phát thải tính theo đầu người
vẫn thấp hơn đáng kể so với các nước thuộc
Tổ chức Hợp tác & Phát triển kinh tế (OECD)
và các nước đang trong thời gian chuyển đổi
Phát thải của Việt Nam cũng đang tăng, từ
0.3 tấn CO2/người năm 1990 lên 1.6 tấn CO2
/người năm 2009, song mức phát thải tính
theo đầu người vẫn thấp hơn nhiều so với
nhiều nước, như Trung Quốc
Năm 2004, Việt Nam phát thải 0.3% tổng
lượng phát thải CO2 toàn cầu, tăng so với
0.1% năm 199029
Lượng phát thải trên đầu người của Việt
Nam thấp so với thế giới, nhưng đang tăng
rất nhanh
Trang 10 Trong giai đoạn 1990-2009, mức phát thải CO2 tính theo đầu người của Vương quốc Anh giảm, nhưng vẫn còn cao hơn mức phát thải trên đầu người của Việt Nam Tuy nhiên, mức phát thải CO2 trên mỗi đô la Mỹ GDP (PPP) của Vương quốc Anh lại thấp hơn của Việt Nam và các nước lân cận (xem Hình 17 & Hình 18)
Mức phát thải CO2 tính theo đầu người của Trung Quốc tăng, nhưng mức phát thải trên mỗi đô la Mỹ GDP (PPP) giảm đáng kể, đặc biệt trong giai đoạn 1990-2000 Mức phát thải CO2 tính theo đầu người và theo mỗi đô la Mỹ GDP (PPP) ở Trung Quốc cao hơn ở Việt Nam và các nước lân cận (xem Hình 17 & Hình 18)
Hình 17 Các mức phát thải CO2, tấnCO2 /người (CDIAC)31
Hình 18 Mức phát thải CO2, kg CO2 / USD GDP (PPP) (CDIAC)32
Trong một số nước lân cận, Việt Nam là quốc gia duy nhất đang tăng cường sử dụng các-bon hơn thay vì giảm đi (Hình 18) Điều này có thể giải thích một phần là do than chiếm ưu thế trong việc mở rộng ngành sản xuất điện, mà trước đây chủ yếu là thủy điện (xem Hình 4) và một phần do tăng trưởng trong ngành giao thông (xem Hình 3)
Thailand Philippines Viet Nam
Trang 113 ƯỚC TÍNH TỔNG QUÁT PHÁT THẢI TRONG TƯƠNG LAI
Tổng mức phát thải khí nhà kính được ước tính ở Việt Nam từ 3 ngành phát thải chủ yếu được trình bày trong Hình 19, như trong Thông báo quốc gia của Việt Nam lần thứ hai trong khuôn khổ của Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu33 Các số liệu này không bao gồm phát thải của các quy trình công nghiệp và chất thải chiếm 6,1% năm 1994 và 11,8% tổng mức phát thải năm 2000 (là năm kiểm kê phát thải khí nhà kính quốc gia gần đây) Theo ước tính, đến 2010 ngành năng lượng là ngành có mức phát thải cao nhất do tăng nhu cầu năng lượng được đáp ứng chủ yếu bằng các nhiên liệu hóa thạch, như than
và khí đốt để phát điện và các sản phẩm lọc dầu để sử dụng trong giao thông34 Cũng theo ước tính, đến năm 2010 lĩnh vực sử dụng đất và thay đổi sử dụng đất sẽ trở thành bồn chứa các-bon, chủ yếu thông qua việc cải thiện quản lý rừng
Hình 19 Mức phát thải khí nhà kinh ước tính ở Việt Nam trong những năm 2010, 2020, & 2030
(Thông báo quốc gia lần thứ 2)35
(Đơn vị: triệu tấn CO2 tương đương hàng năm)
Hình 20 trình bày các mức cắt giảm phát thải khí nhà kính mà có thể đạt được từ việc thực hiện Chiến lược Tăng trưởng xanh của Việt Nam (VGGS) so với đường cơ sở động36 Xin lưu ý là ở đây có liên quan đến các kết quả mô hình, đưa ra những so sánh rõ ràng giữa các kịch bản trong tương lai; tuy nhiên, các kết quả này không phải là các kết quả dự báo và kết quả về độ lớn tuyệt đối của kịch bản và của các mức tiết kiệm được dự tính là không chắc chắn
Trang 12Hình 20 Các hệ lụy của các mục tiêu Chiến lượng Tăng trưởng xanh về tăng trưởng phát thải khí
nhà kính ước tính37
Giá trị ước tính thứ nhất về đường cơ sở động ở Hình 20 lấy từ Thông báo quốc gia lần thứ hai trong khuôn khổ của Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu Đường cơ sở phát thải cập nhật được xây dựng dùng cho nghiên cứu đường cong chi phí cận biên giảm phát thải (MACC) đối với 3 ngành phát thải chủ yếu (năng lượng, lâm nghiệp, nông nghiệp)38 Việc thực hiện Chiến lược Tăng trưởng xanh Việt Nam có thể có hoặc không có sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật quốc tế và do đó 2 kịch bản giảm thiểu phát thải đã được nghiên cứu: có hỗ trợ quốc tế (“int.”), và không có hỗ trợ quốc tế (“Domestic”, có nghĩa
là, các nỗ lực giảm thiểu phát thải khí nhà kính được phát triển dần trên cơ sở các kế hoạch tổng thể hiện
có cho các ngành) Hai kịch bản được mô hình hóa về cả đường cơ sở trong Thông báo quốc gia lần thứ hai (= các tổng ở Hình 19) và đường cơ sở này sau khi được cập nhật cao hơn ước tính đường cơ sở trong Thông báo quốc gia lần thứ hai bởi vì được đưa vào các mục tiêu cập nhật từ Quy hoạch Phát triển Điện năng VII và Quy hoạch tổng thể phát triển ngành than cho giai đoạn 2011-2030 (xem phần 3)
Nghiên cứu này cho thấy, đến 2020 phát thải khí nhà kính hàng năm có thể được cắt giảm khoảng 10% và 24% đến 2030 đối với kịch bản “tự nguyện” trong nước, so với đường cơ sở trong Thông báo quốc gia lần thứ hai Nhiều hành động giảm phát thải trong kịch bản hỗ trợ quốc tế có thể dẫn đến cắt giảm 15% vào năm 2020 và 35% vào năm 2030, so với đường cơ sở trong Thông báo quốc gia lần thứ hai Các kết quả mô hình hóa cũng tương tự như đối với đường cơ sở cập nhật của “MACC” có nghĩa là, đường cơ sở động cao hơn không gây ảnh hưởng nhiều đến tỷ lệ tiết kiệm phát thải trong tương lai do việc thực hiện Chiến lược Tăng trưởng xanh (10% năm đến 2020 và 23% năm đến 2030 bằng các biện pháp trong nước; 15% năm đến 2020 và 33% năm đến 2030 có sự hỗ trợ quốc tế)
Trang 134 PHÁT THẢI TRONG TƯƠNG LAI CỦA NGÀNH NĂNG LƯỢNG
Nhu cầu năng lượng và phát thải khí nhà kính ước tính từ “các cơ sở công nghiệp năng lượng” (sản xuất điện, chủ yếu là các nhà máy nhiệt điện) và sử dụng năng lượng được trình bày ở Hình 21 và Hình 22 Các
số liệu lấy từ Thông báo quốc gia lần thứ hai của Việt Nam và được phát triển từ mô hình Quy hoạch các giải pháp thay thế năng lượng dài hạn (LEAP)
Hình 21 Dự tính nhu cầu năng lượng sử dụng cuối cùng các năm 2010, 2020 và 2030 (SNC)39
(Đơn vị: triệu tấn CO2 tương đương, năm)
Kịch bản Phát triển năng lượng Việt Nam được xây dựng sử dụng mô hình Hệ thống mô phỏng tính toán kinh tế đơn giản (mô hình Simple_E), cho thấy nhu cầu sử dụng năng lượng trong công nghiệp, giao thông,
thương mại và dịch vụ, cũng như khu vực dân cư, sẽ đều tăng vọt từ năm 2010 đến 2030 (xem Hình 23)41
Mô hình Simple_E này sử dụng số liệu đầu vào như tỷ lệ tăng dân số (chính thức), cũng như áp dụng cả 3 kịch bản tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, dẫn đến các ước tính khác nhau về nhu cầu năng lượng, tức là tình huống cơ sở và một kịch bản tăng trưởng cao và một kịch bản tăng trưởng thấp Theo như tình huống
cơ sở (Hình 23), nhu cầu của công nghiệp được ước tính tăng từ 17.498 kTOE năm 2010 lên 59.881 năm